Trả Lời Một Số Câu Hỏi Liên Quan Đến Loạt Bài Giảng về Loài Người

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?26lx0dplqcx58vh

Huỳnh Christian Timothy

Chúng tôi nhận được qua email một số câu hỏi liên quan đến loạt bài giảng về loài người. Chúng tôi xin tóm lược và trả lời trong bài này.

Xin vào nối mạng dưới đây để đọc và tải xuống các bài giảng về loài người:
http://thanhoc.timhieutinlanh.net/taxonomy/term/70

Xin vào nối mạng dưới đây để nghe và tải xuống mp3 các bài giảng về loài người:
http://timhieutinlanh.net/node/1034

Các Câu Hỏi

1. Loài người cũng ra từ Thiên-Chúa Cha, nhưng ra bởi lời phán của Ngài. Kinh thánh biểu tượng cho sự “ra” đó như sau : “7 GIA-VÊ là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật.” Như vậy loài người muốn hằng hữu phải có Thần-linh sự sống của chính bản thể Thiên-Chúa-Cha.

2. Nếu giải nghĩa kinh thánh hoàn toàn theo nghĩa đen tôi nhận thấy không hoàn toàn đúng và có khi còn sai trật nguy hiểm cho người đọc.

3. Kinh thánh biểu tượng cho sự “ra” đó là tôi muốn nhấn mạnh rằng nếu cứ nhất mực hiểu : “7 GIA-VÊ là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật.” theo nghĩa mặt chữ như vậy; vô tình, người viết đã biến Thiên-Chúa vốn toàn năng thành một Thiên-Chúa hữu hạn, nghĩa là Ngài phải : Ngài gom bụi của đất để làm nên một hình thể giống như hình thể vật chất của Ngài; theo như cách mà Anh đã viết.

4. Để khỏi dài dòng tôi xin nêu một ví dụ sau đây : “9 Giê-hô-va Đức Chúa Trời khiến đất mọc lên các thứ cây đẹp mắt, và trái thì ăn ngon; giữa vườn lại có cây sự sống cùng cây biết điều thiện và điều ác.” (St 2:9)

Nếu giải nghĩa câu trên theo nghĩa mặt chữ, nghĩa là hai cây đó có thực !!!

Chúng ta đã biến một Thiên-Chúa bản chất Ngài là đấng siêu-việt thành ra một Thiên-Chúa hữu hạn; nghĩa là, Ngài cũng sợ hãi, ích kỷ, tham lam….

5. Vì sao ??? Xin đọc kỹ lời Chúa sau đây :

22 Giê-hô-va Đức Chúa Trời phán rằng: Nầy, về sự phân biệt điều thiện và điều ác, loài người đã thành một bực như chúng ta; vậy bây giờ, ta hãy coi chừng, e loài người giơ tay lên cũng hái trái cây sự sống mà ăn và được sống đời đời chăng. (St 3:22)

Thiên-Chúa sợ. Và một điều vô lý nữa : Trước khi Adam chưa vi phạm ông ta đã từng ăn trái cây sự sống. Vậy sau khi ông ta vi phạm Chúa lại e ông ta ăn trái cây đó để sống mãi !!!

6. Chúa sợ, Ngài phải đuổi Adam ra khỏi Eden?

7. Tôi xin chứng minh về hai cây trong St 3:9 chỉ là biểu tượng mà Chúa dùng để nói đến hai sự chọn lựa trong lòng Adam đối với lệnh truyền trong St 1:28 như sau : “9 Giê-hô-va Đức Chúa Trời khiến đất mọc lên các thứ cây đẹp mắt,và trái thì ăn ngon; giữa vườn lại có cây sự sống cùng cây biết điều thiện và điều ác”.

8. Tóm tắt : Nếu hiểu hoàn toàn nghĩa đen từ câu số 8 cho đến câu số 24 của chương ba chúng ta sẽ biến một Thiên-Chúa toàn năng, toàn ái thành một Thiên-Chúa đầy thù hận, ghen tương, ích kỷ như loài người hữu hạn hôm nay.

Như chúng ta biết, sau khi Adam vi phạm, Thiên-Chúa phải công bố một loạt những vấn đề cần thiết cho sự sống đời đời của loài người.

Nếu giải nghĩa nội dung St 3:22-24 theo mặt chữ, thì ý nghĩa của câu số 22 như sau : Ngài nhận thấy Adam ngang bằng với mình rồi thì Ngài SỢ . Sợ, rồi Ngài ĐUỔI Adam ra khỏi vườn (St 3:23); chưa đủ, để cho yên chí Ngài lại phải cho các Thiên-sứ CANH GIỮ đường dẫn đến cây sự sống (St 3:24). Như vậy chúng ta thấy một loạt những hành động sau của một Thiên Chúa “toàn năng” bao gồm : Sợ, Đuổi, Canh giữ. Nếu theo nghĩa đen giải nghĩa chúng ta thấy sao ???

9. Một mâu thuẫn nữa không thể giải nghĩa được mà nếu có cố tình giải nghĩa thì cũng sẽ làm cho vấn đề đã sai lại càng thêm sai. Đó là trước khi Adam vi phạm ông ta đã từng ăn trái của “cây sự sống”. Vậy tại sao khi ông ta ăn trái của “cây cho biết thiện-ác” ông ta lại phải chết ???

Các Câu Trả Lời

1. Thánh Kinh chép: “Giê-hô-va Thiên Chúa bèn lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sanh khí vào lỗ mũi; thì người trở nên một loài sanh linh” (Sáng Thế Ký 2:7).

Thánh Kinh chép: “Vả, hơi sống của Thiên Chúa dầu có dư dật, chỉ làm nên một người mà thôi. Nhưng vì sao chỉ làm một người? Ấy là vì tìm một dòng dõi thánh. Vậy các ngươi khá cẩn thận trong tâm thần mình; chớ đãi cách phỉnh dối với vợ mình lấy lúc tuổi trẻ” (Ma-la-chi 2:15).

Vậy, có phải hơi sống của Đấng Hằng Hữu đã tạo nên loài người hằng hữu hay không? Nếu hơi sự sống này không phải là sự sống bản thể của Thiên Chúa thì nó là sự sống của bản thể gì? Anh lẫn lộn giữ linh hồn là bản thể của loài người với thân thể xác thịt là áo mặc, là nhà trọ của linh hồn.

Khi linh hồn của người có Chúa ra khỏi thân thể xác thịt thì sẽ đi ở với Đấng Christ. Thánh Kinh chép: “Ví thử tôi cứ sống trong xác thịt, là ích lợi cho công khó tôi, thì tôi chẳng biết nên lựa điều chi. Tôi bị ép giữa hai bề muốn đi ở với Đấng Christ, là điều rất tốt hơn; nhưng tôi cứ ở trong xác thịt, ấy là sự cần hơn cho anh em” (Phi-líp 1:22-24). Cái gì đi ở với Đấng Christ? Cái gì sống trong hay ở trong xác thịt?

Thánh Kinh chép: “Vậy tôi nói, chúng ta đầy lòng tin cậy, muốn lìa bỏ thân thể nầy đặng ở cùng Chúa thì hơn. Cho nên chúng ta dầu ở trong thân thể nầy, dầu ra khỏi, cũng làm hết sức để được đẹp lòng Chúa” (II Cô-rinh-tô 5:8-9). Cái gì lìa bỏ thân thể này đặng đi ở với Chúa?

Thân thể xác thịt có thể biến cải (phân rã thành các nguyên tố hóa học) nhưng vẫn còn lại đời đời vì mọi loài Thiên Chúa sáng tạo đều hằng hữu.

Thánh Kinh chép về sự hằng hữu của trái đất:

Thi Thiên 78:69 “Ngài xây đền thánh Ngài giống như nơi rất cao, Khác nào trái đất mà Ngài đã sáng lập đời đời.”

Thánh Kinh chép về sự hằng hữu của muôn loài thọ tạo(Thi Thiên 148):

1 Ha-lê-lu-gia! Từ các từng trời hãy tôn vinh Đức Giê-hô-va! Hãy tôn vinh Ngài trong nơi cao cả!

2 Hỡi hết thảy các thiên sứ Ngài, hãy tôn vinh Ngài! Hỡi cả cơ binh Ngài, hãy tôn vinh Ngài!

3 Hỡi mặt trời, mặt trăng, hãy tôn vinh Ngài! Hỡi hết thảy ngôi sao sáng, hãy tôn vinh Ngài!

4 Hỡi trời của các từng trời, hỡi nước trên các từng trời, Hãy tôn vinh Ngài!

5 Cả thảy khá tôn vinh danh Đức Giê-hô-va; Vì Ngài ra lịnh, thảy bèn được sáng tạo.

6 Ngài lập cho vững các vật ấy đến đời đời vô cùng; Cũng đã định mạng, sẽ không có ai vi phạm mạng ấy.

2. Dĩ nhiên, Thánh Kinh phải có lúc giải theo nghĩa bóng, nhưng chỉ khi nào văn mạch cho phép. Thí dụ: Ta là người chăn. Ta là đường đi. Ta là cửa của chiên. Hãy chăn chiên Ta. Sông nước hằng sống…

3. Đó là anh ý kiến của anh, còn Thánh Kinh thì khẳng định: thân thể xác thịt của loài người là bụi của đất và sau khi phạm tội thì sẽ trở về bụi đất.

Sáng Thế Ký 3: 17-19 chép:

17 Ngài lại phán cùng A-đam rằng: Vì ngươi nghe theo lời vợ mà ăn trái cây ta đã dặn không nên ăn, vậy, đất sẽ bị rủa sả vì ngươi; trọn đời ngươi phải chịu khó nhọc mới có vật đất sanh ra mà ăn.

18 Đất sẽ sanh chông gai và cây tật lê, và ngươi sẽ ăn rau của đồng ruộng;

19 ngươi sẽ làm đổ mồ hôi trán mới có mà ăn, cho đến ngày nào ngươi trở về đất, là nơi mà có ngươi ra; vì ngươi là bụi, ngươi sẽ trở về bụi.

Nếu anh muốn giải thích chữ đất trong câu 19 theo "nghĩa bóng" thì anh cũng phải giải thích các chữ đất trong câu 17 và 18 theo nghĩa bóng. Vậy, theo anh, nghĩa bóng của chữ đất là gì?

4. Mời anh nghe ba bài giảng của tôi về hai cây này tại đây: http://timhieutinlanh.net/node/962

5. Sự sống đời đời khác với sự thực hữu và hằng hữu. Loài người thực hữu vì được Thiên Chúa sáng tạo. Loài người hằng hữu vì ra từ Đấng Hằng Hữu. Thánh Kinh định nghĩa rõ ràng: Sự sống đời đời là thực hữu trong sự nhìn biết Đức Cha và Đức Con: "Vả, sự sống đời đời là nhìn biết Ngài, tức là Thiên Chúa có một và thật, cùng Jesus Christ, là Đấng Ngài đã sai đến" (Giăng 17:3 ), tức là thực hữu trong sự mãi mãi hiểu biết Thiên Chúa trong một thân thể vật chất không bị băng hoại và không có khả năng phạm tội vì không biết điều ác, mà chỉ biết điều thiện.

Sự chết đời đời là sự thực hữu mà không được tiếp tục hiểu biết Thiên Chúa trong một thân thể bị băng hoại bởi sự hình phạt của Thiên Chúa. Thánh Kinh cũng định nghĩa rõ ràng sự chết đời đời (Ma-thi-ơ 25:41, 46; Khải Huyền 20:10, 14-15; 21:8). Lý do của sự chết đời đời là vì không vâng phục Thiên Chúa, tức không nhận biết Ngài. Vì không nhận biết Ngài nên mới dám phản nghịch Ngài.

Khi A-đam được dựng nên, ông chưa có sự sống đời đời (tức chưa có sự mãi mãi nhận biết Thiên Chúa). Ông phải chọn ham muốn được sự sống đời đời bằng cách ăn trái của cây sự sống. Tuy nhiên, ông chưa kịp ăn trái cây sự sống đời đời thì ông đã ăn trái cây biết điều thiện và điều ác, nghịch lại thánh ý của Thiên Chúa và dẫn đến hậu quả là ông không còn được cơ hội để mãi mãi nhận biết Thiên Chúa. Chúng ta biết A-đam chưa ăn trái cây sự sống vì nếu ông đã ăn thì ông đã mãi mãi nhận biết Thiên Chúa và sẽ không có khả năng phạm tội, không biết điều ác. Khi đó Thiên Chúa sẽ hủy diệt cây biết điều thiện và điều ác.

Trái của cây sự sống đời đời (đạt được bằng sự vâng lời Thiên Chúa: ăn nó và không ăn trái của cây biết điều thiện điều ác – loài người chỉ có thể làm một trong hai lựa chọn: ăn trái của cây sự sống thì trái của cây biết điều thiện và điều ác sẽ bị cất đi, và ngược lại) có tính chất giúp cho loài người được đời đời nhận biết Thiên Chúa và tương giao với Thiên Chúa trong hạnh phúc khi loài người không nhiễm tội. Sự nhận biết Thiên Chúa và tương giao với Thiên Chúa là một tiến trình kéo dài cho đến đời đời. Mỗi lúc chúng ta càng hiểu biết Chúa hơn và càng khắng khít với Chúa hơn.

Một khi loài người phạm tội thì sự nhận biết Thiên Chúa bị chấm dứt ngay, họ không thể nào tiếp tục nhận biết Ngài cho đến khi được Ngài ban cho cơ hội ăn năn và họ tiếp nhận sự ban cho ấy. Nếu đã phạm tội mà vẫn đời đời ở trong sự nhận biết Thiên Chúa, tức sự sống đời đời, thì đó sẽ là một hình phạt kinh khủng còn hơn là hồ lửa. Vì càng nhận biết Thiên Chúa càng hơn, thì càng lộ ra sự ô uế, xấu xa, gian ác của mình càng hơn, và càng đau khổ hơn. Vì thế, Thiên Chúa đã không để cho A-đam có thể ăn trái cây của sự sống, sau khi ông phạm tội, tức là không cho phép ông tiếp tục hiểu biết Thiên Chúa ngày càng hơn trong khi ông đang ở trong địa vị bị mãi mãi xa cách Ngài.

6. Đó là sự kết luận chủ quan của anh. Thánh Kinh không hề có chỗ nào nói Chúa sợ! Ngài thương xót, không muốn A-đam mất cơ hội được tái sinh phải đau khổ đời đời trong sự mãi mãi nhận biết Chúa mà bản thân mình chưa được tha tội và sạch tội, nên Ngài không cho ông ăn trái của cây sự sống sau khi ông phạm tội. Nói cách này để cho dễ hiểu. Đối với một người bình thường, khi đang đói mà được ai cho một nồi đậu phụng luộc nóng hổi, thì người ấy sẽ tận hưởng sự thơm ngon của đậu luộc và được no lòng. Nhưng, đối với người bất bình thường, có sự khiếm khuyết trong cơ thể, bị dị ứng với chất đậu phụng, thì nồi đậu phụng luộc đối với anh ta không còn công dụng giúp cho anh ta no nê, thỏa lòng mà sẽ là nguồn của sự đau khổ khủng khiếp khi anh ta ăn vào.

7. Chính câu Thánh Kinh anh trích dẫn đã chứng minh, cả hai: cây sự sống và cây biết điều thiện điều ác đều là những cây theo nghĩa đen như các cây khác.

8. Đó chỉ là những suy luận chủ quan của anh hoàn toàn không có trong Thánh Kinh. Tôi không thấy Thiên Chúa sợ hay ích kỷ mà tôi chỉ thấy Thiên Chúa đầy lòng thương xót và ý định khôn ngoan của Ngài. Lý luận quy chụp theo kiểu trên đây là ngụy biện, gán ghép những điều Thánh Kinh không nói cho Thánh Kinh.

9. Xin cho tôi biết chỗ nào Thánh Kinh nói A-đam ăn trái của cây sự sống trước khi ăn trái của cây biết điều thiện và điều ác? Vả lại, các chữ "sống" và "chết" phải hiểu theo định nghĩa của Thánh Kinh:

  • Xác thịt sống: linh hồn và tâm thần ở trong xác thịt.
  • Tâm thần sống: linh hồn ở trong tâm thần và tâm thần giúp linh hồn tương giao với Thiên Chúa, nhận biết Thiên Chúa ngày càng hơn; luật pháp và điều răn của Thiên Chúa được ghi chép trong tâm thần; năng lực của Đức Thánh Linh tuôn đổ trong tâm thần, giúp cho linh hồn có những quyết định đúng theo thánh ý của Thiên Chúa và có năng lực làm tròn những việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn cho linh hồn.
  • Linh hồn sống: linh hồn nhận biết Thiên Chúa và vâng phục Thiên Chúa.
  • Sự sống đời đời: linh hồn đã được tái sinh ở trong một tâm thần đã được tái sinh và ở trong một xác thịt đã được phục sinh hoặc đã được biến hóa, mãi mãi ở trong trạng thái và địa vị nhận biết Thiên Chúa và hạnh phúc bên Ngài. Sự nhận biết Thiên Chúa cứ tăng tiến mãi, không ngừng nghỉ, cho đến đời đời.
  • Sự chết xác thịt: linh hồn và tâm thần rời khỏi xác thịt, xác thịt trở về cùng bụi đất.
  • Sự chết tâm thần: tâm thần không còn tương giao với Thiên Chúa, sẽ trở về cùng Thiên Chúa khi sự chết của xác thịt xảy ra.
  • Sự chết linh hồn: linh hồn không được tiếp tục nhận biết Thiên Chúa (nhưng vẫn duy trì sự nhận thức về Thiên Chúa mà Ngài đã đặt để trong linh hồn loài người khi Ngài sáng tạo loài người); hành động thiếu sự dẫn dắt của Thiên Chúa, khi sự chết của thể xác xảy ra thì rời khỏi thể xác, rời khỏi tâm thần, đi vào âm phủ, chờ ngày xác thịt được sống lại để chịu phán xét.
  • Sự chết đời đời của loài người: linh hồn ở trong thân thể xác thịt đã được phục sinh, đời đời không còn được tiếp tục nhận biết Thiên Chúa, (nhưng vẫn duy trì sự nhận thức về Thiên Chúa mà Ngài đã đặt để trong linh hồn loài người khi Ngài sáng tạo loài người), chịu hình phạt đời đời trong hỏa ngục.

Qua đó, chúng ta thấy rõ ràng: sự hằng hữu khác với sự sống đời đời và khác với sự chết đời đời. Hay nói cách khác, sự sống đời đời là hằng hữu trong sự tiếp tục nhận biết Thiên Chúa không ngừng nghỉ. Sự chết đời đời là hằng hữu trong sự không còn được tiếp tục nhận biết Thiên Chúa mà phải chịu khổ vì sự lựa chọn không vâng phục Thiên Chúa của mình [1].

Tôi nhận thấy, anh theo trường phái thần học biểu tượng cho nên anh đã hiểu Thánh Kinh theo phong cách của họ. Với tôi, hiểu cây sự sống và cây biết điều thiện điều ác theo nghĩa đen hay nghĩa bóng không liên quan gì đến sự cứu rỗi của một người. Hễ ai công nhận mình là tội nhân, vì mình sống nghịch lại điều răn và luật pháp của Thiên Chúa như đã soi sáng trong lương tâm và ghi chép trong Thánh Kinh, thật lòng ăn năn, từ bỏ tội, tin nhận chỉ một mình sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ, và hết lòng làm những gì Thánh Kinh bảo làm, tránh những gì Thánh Kinh bảo tránh thì người đó sẽ nhận được sự sống đời đời. Khi đó, họ sẽ biết sự sống đời đời là gì!

Tôi mạn phép chấm dứt thảo luận về đề tài này vì những điều tôi trình bày trên đây và trong các bài giảng của tôi là những điều tôi tin. Tôi không muốn tốn thì giờ để tranh biện điều tôi đã tin và tôi cũng đã trình bày hết những gì tôi có thể trình bày về đề tài này.

Cám ơn anh đã dành thời gian để chia sẻ và thảo luận.

Trong ân điển của Đức Chúa Jesus Christ.

Huỳnh Christian Timothy
12.12.2012

[1] Xin xem thêm bài “Sự Sống Đời Đời và Sự Chết Đời Đời” tại đây: http://thanhoc.timhieutinlanh.net/node/303


Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry.
Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Đọc Tiếp →

Tiếng Mới và Ân Tứ Nói Ngoại Ngữ Không Phải Là Hiện Tượng Nói Tiếng Lạ

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?93rqt3ac144dve3

Huỳnh Christian Timothy

Dẫn Nhập

Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống đã dùng bốn từ ngữ: "tiếng mới," "tiếng lạ," "các thứ tiếng," và "tiếng ngoại quốc" để dịch hai từ ngữ hoàn toàn khác nhau trong nguyên ngữ Hy-lạp. Sự dùng từ ngữ “tiếng lạ” trong Bản Dịch Truyền Thống đã khiến cho rất nhiều người hiểu lầm hiện tượng “nói tiếng lạ” trong các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần, là ân tứ nói ngoại ngữ do Đức Thánh Linh ban cho Hội Thánh. Chắc chắn là “tiếng mới” khác với ân tứ “nói ngoại ngữ” và cả hai hoàn toàn không phải là sự “nói tiếng lạ” của những người Ân Tứ và Ngũ Tuần.

Trong bài này, chúng tôi nêu lên tất cả những câu Thánh Kinh trong Bản Dịch Truyền Thống có những từ ngữ: "tiếng mới," "tiếng lạ," "các thứ tiếng," và "tiếng ngoại quốc,” đối chiếu với Bản Hiệu Đính 2012. Bản Hiệu Đính 2012 là bản hiệu đính Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống (1926), còn được gọi là Bản Dịch Phan Khôi, do chúng tôi đang tiến hành mà bạn đọc có thể tham khảo trên mạng tại đây: http://www.tt2012.thanhkinhvietngu.net/. Sau đó, chúng tôi sẽ nêu lên phần nhận xét.

Dữ kiện

Trước hết, xin liệt kê các câu Thánh Kinh Việt ngữ có các từ ngữ "tiếng mới," "tiếng lạ," "các thứ tiếng" và "tiếng ngoại quốc." Kèm theo các từ ngữ đó là nguyên ngữ Hy-lạp và từ Anh ngữ tương đương được đặt trong hai dấu ngoặc vuông [ ]. Xin chú ý, cách dùng số ít "language" và số nhiều "languages" trong tiếng Anh là phản ánh trung thực từ nguyên ngữ:

1. Tiếng mới

Mác 16:17 "Vậy những kẻ tin sẽ được các dấu lạ nầy: lấy danh Ta mà trừ quỉ; dùng tiếng [γλωσσαις, glōssa – languages] mới [καιναις, kainos – new] mà nói." Bản Hiệu Đính 2012: "Và những dấu hiệu này sẽ theo những kẻ tin: Trong danh Ta họ sẽ đuổi quỷ, họ sẽ nói những thứ tiếng mới."

2. Tiếng lạ

I Cô-rinh-tô 12:30"Cả thảy đều được ơn chữa bịnh sao? Cả thảy đều nói tiếng lạ [γλωσσαις, glōssa – languages] sao? Cả thảy đều thông giải tiếng lạ [trong nguyên ngữ chỉ có chữ "diermēneuō" nghĩa là phiên dịch, không có chữ "glōssa"] sao?" Bản Hiệu Đính 2012: "Cả thảy đều được ơn chữa bịnh sao? Cả thảy đều nói các ngoại ngữ sao? Cả thảy đều thông giải sao?"

I Cô-rinh-tô 13:8"Tình yêu thương chẳng hề hư mất bao giờ. Các lời tiên tri sẽ hết, sự ban cho nói tiếng lạ [γλωσσαι, glōssa – languages] sẽ thôi, sự thông biết hầu bị bỏ." Bản Hiệu Đính 2012: "Tình yêu thương chẳng hề hư mất bao giờ. Các lời tiên tri sẽ hết, sự ban cho nói các ngoại ngữ sẽ thôi, sự thông biết hầu bị bỏ."

I Cô-rinh-tô 14:2"Vì người nào nói tiếng lạ [γλωσση,glōssa – languages], thì không phải nói với người ta, bèn là với Đức Chúa Trời, bởi chẳng có ai hiểu (ấy là trong tâm thần mà người kia nói lời mầu nhiệm)." Bản Hiệu Đính 2012: "Vì người nào nói các ngoại ngữ, thì không phải nói với người ta, bèn là với Đức Chúa Trời, bởi chẳng có ai hiểu (ấy là trong tâm thần mà người kia nói lời mầu nhiệm)."

I Cô-rinh-tô 14:4"Kẻ nói tiếng lạ [γλωσση, glōssa – language], tự gây dựng lấy mình; song kẻ nói tiên tri, gây dựng cho Hội thánh." Bản Hiệu Đính 2012: "Kẻ nói ngoại ngữ, tự gây dựng lấy mình; song kẻ nói tiên tri, gây dựng cho Hội thánh."

I Cô-rinh-tô 14:5"Tôi ước ao anh em đều nói tiếng lạ [γλωσσαις,glōssa – languages] cả, song tôi còn ước ao hơn nữa là anh em nói tiên tri. Người nói tiên tri là trọng hơn kẻ nói tiếng lạ [γλωσσαις, glōssa – languages] mà không giải nghĩa để cho Hội thánh được gây dựng." Bản Hiệu Đính 2012: "Tôi ước ao anh em đều nói các ngoại ngữ cả, song tôi còn ước ao hơn nữa là anh em nói tiên tri. Người nói tiên tri là trọng hơn kẻ nói các ngoại ngữ mà không giải nghĩa để cho Hội thánh được gây dựng."

I Cô-rinh-tô 14:6"Hỡi anh em, ví bằng tôi đến cùng anh em, nói các thứ tiếng lạ [γλωσσαις, glōssa – languages], mà lời nói tôi chẳng tỏ sự mầu nhiệm, chẳng có sự thông biết, chẳng có lời tiên tri, chẳng có sự khuyên dạy, thì ích gì đến anh em?" Bản Hiệu Đính 2012: "Hỡi anh em, ví bằng tôi đến cùng anh em, nói các thứ ngoại ngữ, mà lời nói tôi chẳng tỏ sự mầu nhiệm, chẳng có sự thông biết, chẳng có lời tiên tri, chẳng có sự khuyên dạy, thì ích gì đến anh em?"

I Cô-rinh-tô 14:13"Bởi đó, kẻ nói tiếng lạ [γλωσση, glōssa – language], hãy cầu nguyện để được thông giải tiếng ấy." Bản Hiệu Đính 2012: "Bởi đó, kẻ nói ngoại ngữ, hãy cầu nguyện để được thông giải tiếng ấy."

I Cô-rinh-tô 14:14"Vì nếu tôi cầu nguyện bằng tiếng lạ [γλωσση, glōssa – language], thì tâm thần tôi cầu nguyện, nhưng trí khôn tôi lơ lửng." Bản Hiệu Đính 2012: "Vì nếu tôi cầu nguyện bằng ngoại ngữ, thì tâm thần tôi cầu nguyện, nhưng trí khôn tôi lơ lửng."

I Cô-rinh-tô 14:18"Tôi tạ ơn Đức Chúa Trời, vì đã được ơn nói tiếng lạ [γλωσσαις, glōssa – languages] nhiều hơn hết thảy anh em." Bản Hiệu Đính 2012: "Tôi tạ ơn Đức Chúa Trời, vì đã được ơn nói các ngoại ngữ nhiều hơn hết thảy anh em."

I Cô-rinh-tô 14:19"nhưng thà tôi lấy năm lời bằng trí khôn mình mà rao giảng trong Hội thánh, để được dạy bảo kẻ khác, hơn là lấy một vạn lời bằng tiếng lạ [γλωσση, glōssa – language]." Bản Hiệu Đính 2012: "nhưng thà tôi lấy năm lời bằng trí khôn mình mà rao giảng trong Hội thánh, để được dạy bảo kẻ khác, hơn là lấy một vạn lời bằng ngoại ngữ."

I Cô-rinh-tô 14:21"Trong luật pháp có chép rằng: Chúa phán: Ta sẽ nhờ những người nói tiếng lạ [ετερογλωσσοις, heteroglōssos – foreign languages], và môi miệng người ngoại quốc mà phán cho dân nầy; dầu vậy họ cũng chẳng nghe ta." Bản Hiệu Đính 2012: "Trong luật pháp có chép rằng: Chúa phán: Ta sẽ bởi các ngoại ngữ và môi miệng những người ngoại quốc mà phán cho dân nầy; dầu vậy họ cũng chẳng nghe Ta."

I Cô-rinh-tô 14:23"Vậy thì cả Hội thánh nhóm lại một nơi, nếu ai nấy đều nói tiếng lạ [γλωσσαις, glōssa – languages], mà có kẻ tầm thường hoặc người chẳng tin vào nghe, họ há chẳng nói anh em là điên cuồng sao?" Bản Hiệu Đính 2012: "Vậy thì cả Hội Thánh nhóm lại một nơi, nếu ai nấy đều nói các ngoại ngữ, mà có kẻ tầm thường hoặc người chẳng tin vào nghe, họ há chẳng nói anh em là điên cuồng sao?"

I Cô-rinh-tô 14:26"Hỡi anh em, nên nói thể nào? Khi anh em nhóm lại với nhau, trong anh em, ai có bài ca, hoặc bài giảng dạy, hoặc lời tỏ sự kín nhiệm, hoặc nói tiếng lạ [γλωσσαν, glōssa – languages], hoặc giải tiếng lạ [trong nguyên ngữ chỉ có chữ "hermēneia" nghĩa là thông giải, không có chữ "glōssa"] chăng? Hãy làm hết thảy cho được gây dựng." Bản Hiệu Đính 2012: "Hỡi anh em, nên nói thể nào? Khi anh em nhóm lại với nhau, trong anh em, ai có bài ca, hoặc bài giảng dạy, hoặc lời tỏ sự kín nhiệm, hoặc nói các ngoại ngữ, hoặc thông giải chăng? Hãy làm hết thảy cho được gây dựng."

I Cô-rinh-tô 14:27"Ví bằng có người nói tiếng lạ [γλωσση, glōssa – language], chỉ nên hai hoặc ba người là cùng; mỗi người phải nói theo lượt mình, và phải có một người thông giải." Bản Hiệu Đính 2012: "Ví bằng có người nói ngoại ngữ, chỉ nên hai hoặc ba người là cùng; mỗi người phải nói theo lượt mình, và phải có một người thông giải."

I Cô-rinh-tô 14:39"Ấy vậy, hỡi anh em, hãy trông mong ơn nói tiên tri, và đừng ngăn trở chi về điều nói tiếng lạ [γλωσσαις, glōssa – languages]." Bản Hiệu Đính 2012: "Ấy vậy, hỡi anh em, hãy trông mong ơn nói tiên tri, và đừng ngăn trở chi về điều nói các ngoại ngữ."

3. Các thứ tiếng

Công Vụ Các Sứ Đồ 2:4"Hết thảy đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh, khởi sự nói các thứ tiếng [γλωσσαις, glōssa – languages] khác [ετεραις, heteros – other], theo như Đức Thánh Linh cho mình nói." Bản Hiệu Đính 2012: "Hết thảy đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh, khởi sự nói các ngoại ngữ khác, theo như Đức Thánh Linh cho mình nói."

I Cô-rinh-tô 14:22"Thế thì, các thứ tiếng [γλωσσαι, glōssa – languages] là một dấu, chẳng cho người tin Chúa, song cho người chẳng tin; còn như lời tiên tri là một dấu, chẳng phải cho người không tin, song cho người tin Chúa." Bản Hiệu Đính 2012: "Thế thì, các ngoại ngữ là một dấu, chẳng cho người tin Chúa, song cho người chẳng tin; còn như lời tiên tri là một dấu, chẳng phải cho người không tin, song cho người tin Chúa."

4. Tiếng ngoại quốc

Công Vụ Các Sứ Đồ 10:46"Vì các tín đồ nghe họ nói tiếng ngoại quốc [γλωσσαις, glōssa – languages] và khen ngợi Đức Chúa Trời." Bản Hiệu Đính 2012: "Vì các tín đồ nghe họ nói các ngoại ngữ và tôn vinh Đức Chúa Trời."

Công Vụ Các Sứ Đồ 19:6 "Sau khi Phao-lô đã đặt tay lên, thì có Đức Thánh Linh giáng trên chúng, cho nói tiếng ngoại quốc[γλωσσαις, glōssa – languages] và lời tiên tri." Bản Hiệu Đính 2012: "Sau khi Phao-lô đã đặt tay lên, thì có Đức Thánh Linh giáng trên chúng, cho nói các ngoại ngữ và lời tiên tri."

Nhận Xét

1. Ân tứ ngoại ngữ không phải là hiện tượng “nói tiếng lạ”

Trước hết, chúng ta cần xác định ý nghĩa của chữ "glōssa" trong nguyên tác Hy-lạp. Theo Thayer’s Greek Definitions (Bộ Định Nghĩa Tiếng Hy-lạp của Thayer) thì "glōssa" bao gồm các nghĩa như sau:

(1) cái lưỡi, một chi thể của thân thể, một cơ quan của sự nói

(2) một ngôn ngữ: ngôn ngữ hay thổ ngữ được dùng bởi một sắc dân khác với [ngôn ngữ hay thổ ngữ] của các quốc gia khác.

Như vậy, chữ "glōssa" được dùng trong tất cả các câu Thánh Kinh trưng dẫn trên đây dù là số ít hay số nhiều cũng đều mang nghĩa thứ (2), tức là ngôn ngữ. Khi chữ "glōssa" được dùng ghép với động từ "laleō" (nói) thành "laleō glōssa" thì luôn luôn mang ý nghĩa: "nói tiếng ngoại quốc" hay gọn hơn: “nói ngoại ngữ.” Chúng ta thấy trong các câu Thánh Kinh được trích dẫn không hề có tính từ "xenos" (lạ) kèm theo "glōssa" cho nên không thể dịch là "tiếng lạ." Điển hình về việc dùng tính từ "xenos" (lạ) là:

"Vì Ta đói, các ngươi đã cho Ta ăn; Ta khát, các ngươi đã cho Ta uống; Ta là khách lạ [ξενος, xenos – strange], các ngươi tiếp rước Ta." (Ma-thi-ơ 25:35)

"Rồi họ bàn với nhau dùng bạc đó mua ruộng của kẻ làm đồ gốm để chôn những khách lạ [ξενοις, xenos – strange]." (Ma-thi-ơ 27:7)

"Anh em chớ để cho mọi thứ đạo lạ [ξεναις, xenos – strange] dỗ dành mình; vì lòng nhờ ân điển được vững bền, ấy là tốt, chớ không phải nhờ đồ ăn, là sự chẳng ích chi cho kẻ làm như vậy." (Hê-bơ-rơ 13:9)

Như vậy, trừ trường hợp của Mác 16:17 mà chúng ta sẽ bàn tiếp dưới đây, tất cả các câu Thánh Kinh còn lại có từ ngữ "laleō glōssa" nên dịch thành "nói tiếng ngoại quốc" hoặc "nói ngoại ngữ."

Sách Công Vụ Các Sứ Đồ ghi lại ba trường hợp các môn đồ được đầy dẫy Thánh Linh và được ơn nói tiếng ngoại quốc mà chúng ta có thể dùng đó để xác chứng chỉ có ân tứ nói ngoại ngữ chứ không hề có ân tứ “nói tiếng lạ!" Điểm cần chú ý là, mỗi khi ân tứ nói ngoại ngữ được thể hiện thì đều có sự ấn chứng của những người chứng kiến, rằng người đang nói ngoại ngữ đó nói lên những sự cao trọng của Đức Chúa Trời mà tôn vinh Ngài hoặc nói tiên tri. Đây là điểm rất quan trọng để phân biệt giữa ân tứ nói ngoại ngữ do Đức Thánh Linh ban cho con dân Chúa với sự "nói tiếng lạ" đến từ tà linh. Chúng tôi đã từng chứng kiến cảnh một tín đồ gốc Ân Tứ bị quỷ ám "nói tiếng lạ" và sau đó "nói ngoại ngữ" (tiếng Anh) một cách lưu loát để giảng Tin Lành. Người này trước đó không thông thạo Anh ngữ. Mặc dù người ấy giảng Tin Lành một cách thông suốt, đúng Thánh Kinh, nhưng lại tự xưng là Đức Chúa Jesus và lại nói rằng rất yêu người nữ tín đồ đang bị nhập xác đó, muốn có con với người nữ tín đồ đó… thì rõ ràng là hiện tượng quỷ nhập, chưa kể các biểu hiện nói lãm nhảm, cười, khóc, trợn trắng, thè lưỡi, sùi nước bọt rất là bất bình thường. Chính nạn nhân vào lúc tỉnh cũng biết mình bị quỷ nhập.

2. Tiếng mới

Từ ngữ này chỉ được dùng có một lần trong Mác 16:17. Sự nói các thứ tiếng mới của người tin nhận Chúa chắc chắn là khác hẵn với ân tứ nói ngoại ngữ. Trong khi ân tứ nói ngoại ngữ là một trong các ân tứ do Đức Thánh Linh "theo ý Ngài muốn, phân phát sự ban cho riêng cho mỗi người" không phải tín đồ nào cũng nhận được (I Cô-rinh-tô 12:11), thì sự nói các thứ tiếng mới là dấu hiệu đi theo tất cả những ai là môn đồ thật của Chúa:

Mác 16:17"Vậy những kẻ tin sẽ được các dấu lạ nầy: lấy danh Ta mà trừ quỷ; dùng tiếng [γλωσσαις, glōssa – languages] mới [καιναις, kainos – new] mà nói."

Trong nguyên ngữ Hy-lạp, tính từ "kainos" có nghĩa là "mới," được dùng chung với danh từ "glōssa" số nhiều. Nếu dịch câu trên cho sát với nguyên ngữ thì sẽ như sau: "Và những dấu hiệu này sẽ theo những kẻ tin: Trong danh Ta họ sẽ đuổi quỷ, họ sẽ nói những thứ tiếng mới."

Tiếng mới hay ngôn ngữ mới ở đây khác với ngoại ngữ hay tiếng ngoại quốc được dùng trong những câu Thánh Kinh chúng ta vừa bàn đến phía trên. Tiếng mới này là tiếng của những người đã được dựng nên mới sử dụng: Tiếng của sự yêu thương! Ngôn ngữ của những người thật sự ở trong Chúa! Hễ những ai đã được dựng nên mới trong Đức Chúa Jesus Christ thì tự nhiên họ sẽ dùng thứ tiếng mới này. Khi một người đã được dựng nên mới thì "những sự cũ đã qua đi" trong đó có luôn thứ ngôn ngữ cũ của hận thù, cay đắng, châm chọc, mỉa mai, thô tục, kiêu ngạo… Các thứ tiếng mới chính là các thứ tiếng mẹ đẻ đã được đổi mới trong Chúa của những người đã được dựng nên mới trong Chúa.

"Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới."(II Cô-rinh-tô 5:17)

Chúng tôi xin lập lại điều quan trọng này: Trong khi "nói ngoại ngữ" là một trong các ân tứ do Đức Thánh Linh "theo ý Ngài muốn, phân phát sự ban cho riêng cho mỗi người," nghĩa là không phải con dân Chúa nào cũng nhận được, thì "nói tiếng mới" là một dấu hiệu đi theo tất cả những kẻ tin! Nghĩa là, bất cứ ai thực lòng tin nhận Chúa, được tái sinh thì đều nói tiếng mới! Từ ngữ "tiếng mới" được dùng trong Mác 16:17 dưới hình thức số nhiều cho chúng ta biết người thuộc dân tộc nào, ngôn ngữ nào, khi được đổi mới sẽ dùng tiếng mới của chính dân tộc đó, ngôn ngữ đó. Nếu tôi là người Việt Nam được dựng nên mới trong Đấng Christ thì tôi sẽ nói một thứ tiếng Việt Nam mới, là thứ tiếng Việt Nam thể hiện sự thương xót, công bình và thánh khiết của Đức Chúa Trời.

Người không thật lòng tin Chúa thì không có được các dấu hiệu "nói tiếng mới," và không thể nào "trong danh Chúa trừ quỷ…" cho nên, họ vẫn còn nói năng thô tục, giả ngộ tầm phào, bàn chuyện huyễn, và không ngại thốt ra những lời cay độc, kiêu căng, ngạo mạn… Những người như thế dễ dàng bị sập bẫy của Sa-tan để khoác cho mình những thứ ân tứ giả như: "nói tiếng lạ," "chữa bệnh," "đuổi quỷ," "nói tiên tri," thậm chí làm ra các “phép lạ” trong danh Chúa (Ma-thi-ơ 7:21-23). Con dân chân thật của Chúa có thể nhìn ra họ cách dễ dàng, vì họ không có được một trong các dấu hiệu thật của những người đã thật sự "tự bỏ mình đi, mỗi ngày vác thập tự giá mình mà theo" Chúa, là dùng “tiếng mới” mà nói!

Kết Luận

Ngày nay, hiện tượng "nói tiếng lạ" là một trong những động cơ phá tán Hội Thánh Chúa một cách đáng sợ nhất. Nhiều người chăn bầy thiếu khôn ngoan (mà lại không cầu xin Chúa – Gia-cơ 1:5) để phân biệt ân tứ nói ngoại ngữ đến từ Đức Thánh Linh với hiện tượng "nói tiếng lạ" đến từ tà linh, cho nên, đã dung chứa các sứ giả của Sa-tan trong Hội Thánh (II Cô-rinh-tô 11:14, 15). Hậu quả là trong vòng ba năm, Hội Thánh địa phương bị phá tán và biến thành hội của Sa-tan (Khải Huyền 2:9)!

Hy vọng rằng, trong các bản hiệu đính hoặc trong các bản dịch tương lai, Thánh Kinh Việt ngữ sẽ không còn những thiếu sót về thuật ngữ khiến gây ra những hiểu lầm, ảnh hưởng tai hại đến sự hiểu biết và áp dụng Lời Chúa vào trong cuộc sống của con dân Chúa người Việt.

 

Huỳnh Christian Timothy
28.12.2009
Hiệu Đính Lần Thứ Nhất 14.12.2012


Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry.
Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Đọc Tiếp →

Mạng Lệnh của Thiên Chúa về Thức Ăn của Loài Người

Huỳnh Christian Timothy

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?4yvf9157dubb7jn

Bấm vào nối mạng dới đây để nghe và tải xuống MP3 bài giảng này:
http://timhieutinlanh.net/node/1012

 

Dẫn Nhập

Gần đây, có vài anh chị em đang sinh hoạt trong Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm đã đến với khu mạng www.timhieutinlanh.net và đồng thuận về việc chúng tôi rao giảng rằng, con dân Chúa không được vi phạm Mười Điều Răn; nhưng phản đối việc chúng tôi rao giảng rằng, con dân Chúa thời Tân Ước không cần phải kiêng các thức ăn vốn bị xem là không tinh sạch trong thời Cựu Ước.

Vào năm 2007 chúng tôi đã có bài viết giải thích, vì sao con dân Chúa thời Hội Thánh không cần phải kiêng các thức ăn vốn bị xem là không tinh sạch nữa. Bài này được đăng trong mục Hỏi & Đáp của khu mạng www.tinlanhbiengiao.net. Nay chúng tôi xin viết lại đầy đủ hơn để quý con dân Chúa dùng làm tài liệu tham khảo.

Trước hết, chúng ta cần phân biệt các thời kỳ khác nhau về thức ăn trong lịch sử loài người. Từ khi sáng thế đến nay, loài người đã trải qua bốn thời kỳ:

  • Thời kỳ loài người được sống trong vườn Ê-đen.
  • Thời kỳ loài người bị đuổi ra khỏi vườn Ê-đen cho đến khi cơn Nước Lụt.
  • Thời kỳ sau cơn Nước Lụt cho đến khi Thiên Chúa thiết lập Cựu Ước.
  • Thời kỳ Cựu Ước.

Hiện nay, loài người đang ở trong thời kỳ Tân Ước. Thiên Chúa có những mạng lệnh rõ ràng, quy định các thức ăn cho con dân của Ngài trong mỗi thời kỳ.

Thời Kỳ Sống Trong Vườn Ê-đen

Đây là thời kỳ loài người chưa phạm tội, các thánh đồ của Chúa lúc bấy giờ chỉ có A-đam và Ê-va. Mạng lệnh của Thiên Chúa về thức ăn cho loài người và loài thú được Ngài phán truyền rất rõ ràng như sau:

Sáng Thế Ký 1:29-30

29 Thiên Chúa lại phán rằng: Nầy, Ta sẽ ban cho các ngươi mọi thứ cỏ kết hột mọc khắp mặt đất, và các loài cây sanh quả có hột giống; ấy sẽ là đồ ăn cho các ngươi.

30 Còn các loài thú ngoài đồng, các loài chim trên trời, và các động vật khác trên mặt đất, phàm giống nào có sự sống thì Ta ban cho mọi thứ cỏ xanh đặng dùng làm đồ ăn; thì có như vậy.

Trong thời kỳ này không có sự phân biệt giữa loài vật tinh sạch và loài vật không tinh sạch. Loài người ăn các loại cỏ (rau) có hột và các loại trái cây có hột. Loài thú ăn mọi thứ cỏ xanh. Thánh Kinh không cho chúng ta biết thời kỳ này kéo dài bao lâu.

Thời Kỳ Bị Đuổi Khỏi Vườn Ê-đen cho đến khi Cơn Nước Lụt

Sau khi A-đam và Ê-va phạm tội thì họ bị đuổi ra khỏi vườn Ê-đen. Từ đó, tội lỗi ngày càng gia tăng, cho đến khi Thiên Chúa dùng một cơn nước lụt toàn cầu để hủy diệt các loài thú và loài người, ngoại trừ gia đình tám người của Nô-ê và những thú vật cùng ông lánh nạn trên chiếc tàu, mà ông đã vâng lời Thiên Chúa xây dựng trong 120 năm. Thời kỳ này kéo dài khoảng 1,700 năm. Dù trong thời kỳ này đã có sự phân biệt giữa các loài vật tinh sạch với các loài vật không tinh sạch (Sáng Thế Ký 7:2) nhưng sự phân biệt này chỉ áp dụng cho việc dâng sinh tế lên Thiên Chúa (Sáng Thế Ký 8:20), không áp dụng cho thực phẩm của loài người. Trong suốt thời kỳ này, Thiên Chúa không hề cho phép loài người ăn thịt. Vì thế, thức ăn của loài người và loài thú vẫn như trong thời kỳ trước, lúc loài người còn sống trong vườn Ê-đen: Loài người ăn các loại cỏ (rau) có hột và các loại trái cây có hột. Loài thú ăn mọi thứ cỏ xanh.

Thời Kỳ sau Cơn Nước Lụt cho đến khi Thiên Chúa Thiết Lập Cựu Ước

Sau cơn Nước Lụt, liền sau khi gia đình Nô-ê và các loài thú vật ra khỏi tàu, thì Thiên Chúa đã truyền cho Nô-ê mạng lệnh thay đổi về thức ăn của loài người, như sau:

Sáng Thế Ký 9:3-4

3 Phàm vật chi hành động và có sự sống thì dùng làm đồ ăn cho các ngươi. Ta cho mọi vật đó như ta đã cho thứ cỏ xanh.

4 Song các ngươi không nên ăn thịt còn hồn sống, nghĩa là có máu.

So sánh Sáng Thế Ký 9:3 với nguyên ngữ Hê-bơ-rơ và Bản Dịch King James có kèm theo mã số Strong, chúng ta sẽ thấy ý nghĩa của từng chữ được dùng trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ của Thánh Kinh:

Gen 9:3
כלH3605רמשׂH7431אשׁרH834הואH1931חיH2416לכם יהיהH1961לאכלהH402כירקH3418עשׂבH6212נתתיH5414לכם אתH853כל׃H3605

Gen 9:3
EveryH3605moving thingH7431thatH834livethH2416shall beH1961meatH402for you; even as the greenH3418herbH6212have I givenH5414you(H853)all things.H3605

  • “kôl,” H3605 = Mỗi một, tất cả (every).
  • “remeś,” H7431 = bò, lướt tới: như chim bay trên trời, như cá lội dưới nước (moving).
  • “'ăsher,” H834 = vật chi (thing that).
  • “chay,” H2416 = sống (live, living).
  • “hâyâh,” H1961 = là (be).
  • “'ôklâh,” H402 = thức ăn, đồ ăn (food, meat).

Rõ ràng, mạng lệnh của Thiên Chúa bao gồm mọi loài thú vật sống động, không ngoại trừ những loài thú vật không tinh sạch, nhưng ngoại trừ loài thú vật đã chết (không sống động) và ngoại trừ việc ăn huyết. Vì thế, thức ăn của loài người trong thời kỳ này bao gồm các loài cỏ có hột, các loài trái cây có hột, và thịt các loài thú đang sống được làm cho ráo huyết khi xẻ thịt. Thời kỳ này kéo dài khoảng 1,100 năm.

Thời Kỳ Cựu Ước

Thời kỳ này bắt đầu từ khi Thiên Chúa ban hành Mười Điều Răn và luật pháp tại núi Si-na-i (năm 1446 TCN) và kéo dài cho đến khi Đức Chúa Jesus Christ hoàn thành sự chuộc tội cho nhân loại trên thập tự giá (năm 30) [1]. Trong thời kỳ này, Thiên Chúa một lần nữa phán truyền mệnh lệnh thay đổi về thức ăn của loài người (Lê-vi Ký 7:22-27; Lê-vi Ký 11). Loài người vẫn được ăn thịt nhưng ngoài việc kiêng cử thịt thú vật đã chết ngột và kiêng cử huyết, thì có thêm việc kiêng cử mỡ và thịt các loài thú vật không tinh sạch. Thời kỳ này kéo dài khoảng 1475 năm (không có năm 0 giữa năm 1 TCN và năm 1 CN).

Thời Kỳ Tân Ước

Thời kỳ này bắt đầu liền sau khi Đức Chúa Jesus Christ hoàn thành sự chuộc tội cho nhân loại trên thập tự giá vào năm 30 và kéo dài cho đến ngày hôm nay. Trong thời kỳ này, thức ăn dành cho loài người giống như trước thời Cựu Ước, bao gồm các loài cỏ có hột, các loài trái cây có hột, và thịt các loài thú vật đang sống được xẻ thịt và làm cho ráo huyết, chỉ ngoại trừ huyết, thịt thú vật chết ngột, và các thức ăn đã được dâng cúng cho thần tượng (Công Vụ Các Sứ Đồ 10:9-16; 15:29).

Công Vụ Các Sứ Đồ 10:9-16

9 Bữa sau, trong lúc ba người ấy đương đi đường và đã đến gần thành, vừa nhằm giờ thứ sáu Phi-e-rơ leo lên mái nhà để cầu nguyện.

10 người đói và thèm ăn; khi người ta đương dọn cho ăn, thì người bị ngất trí đi.

11 Người thấy trời mở ra, và có vật chi giống như một bức khăn lớn níu bốn chéo lên, giáng xuống và sa đến đất:

12 thấy trong đó có những thú bốn cẳng, đủ mọi loài, côn trùng bò trên đất, và chim trên trời.

13 Lại có tiếng phán cùng người rằng: Hỡi Phi-e-rơ, hãy dậy, làm thịt và ăn.

14 Song Phi-e-rơ thưa rằng: Lạy Chúa, chẳng vậy; vì tôi chẳng ăn giống gì dơ dáy chẳng sạch bao giờ.

15 Tiếng đó lại phán cùng người lần thứ hai rằng: Phàm vật chi Đức Chúa Trời đã làm cho sạch, thì chớ cầm bằng dơ dáy.

16 Lời đó lặp lại ba lần; rồi vật ấy liền bị thâu lên trên trời.

Công Vụ Các Sứ Đồ 15:28-29

29 ấy là Đức Thánh Linh và chúng ta đã ưng rằng chẳng gán gánh nặng nào khác cho anh em ngoài những điều cần dùng,

29 tức là anh em phải kiêng ăn của cúng thần tượng, máu, thú vật chết ngột, và chớ tà dâm; ấy là mọi điều mà anh em khá kiêng giữ lấy vậy. Kính chúc bình an.

Trong khải tượng Chúa ban cho Sứ Đồ Phi-e-rơ, được ghi lại trong Công Vụ Các Sứ Đồ 10:9-16 chúng ta nhận thấy những ý nghĩa sau đây:

  • Đức Chúa Trời đã làm sạch mọi thứ không tinh sạch, từ loài vật cho đến loài người. Đức Chúa Trời ba lần lập lại cùng một lời phán với Phi-e-rơ: “Phàm vật chi Đức Chúa Trời đã làm cho sạch, thì chớ cầm bằng dơ dáy.”
  • Từ đó trở đi, người Do-thái không được coi khinh các dân tộc khác là ô-uế, không tinh sạch vì cớ họ không chịu cắt bì.
  • Cũng không còn sự phân biệt các loài thú vật tinh sạch hoặc không tinh sạch. Các loài thú vật đều được dùng làm thực phẩm cho loài người như trước thời kỳ Cựu Ước.

Thẩm Quyền Tuyệt Đối của Đức Chúa Trời

Qua sự hiện thấy của Phi-e-rơ chúng ta học được một điều là: Khi Đức Chúa Trời muốn, Ngài có thể làm bất cứ điều gì, kể cả thay đổi các định luật, các quy chế… Nói cho cùng, Ngài là Đức Chúa Trời toàn năng cho nên Ngài muốn làm gì thì làm. Nhưng Ngài là tình yêu, cho nên bất cứ những gì Ngài làm đều không đi ngược lại thuộc tính yêu thương của Ngài, vì thế, Đức Chúa Trời là "thiện, sự nhân từ Ngài còn đến đời đời!" Đức Chúa Trời tùy theo từng giai đoạn trong lịch sử loài người mà ban hành những mệnh lệnh khác nhau về cùng một sự việc. Thánh Kinh dạy rõ những điều sau đây:

  • Trong các thời kỳ trước thời kỳ Cựu Ước, không hề có chuyện ngăn cấm anh chị em ruột kết hôn lẫn nhau; nhưng từ thời kỳ Cựu Ước đến nay thì anh chị em ruột không được kết hôn lẫn nhau.
  • Trong các thời kỳ trước cơn Nước Lụt, loài người không được ăn thịt; nhưng từ sau cơn Nước Lụt loài người được phép ăn thịt.
  • Trong thời kỳ Cựu Ước, loài người không được phép ăn thịt các loài thú vật không tinh sạch, thú vật chết ngột, mỡ và huyết. Trong thời kỳ Tân Ước, loài người chỉ bị cấm ăn huyết, thú vật chết ngột ,và thức ăn đã dâng cúng thần tượng.
  • Trong thời kỳ Cựu Ước, ai vi phạm trầm trọng luật pháp của Thiên Chúa thì bị dân chúng ném đá cho đến chết; nhưng trong thời kỳ Tân Ước thì Đấng Christ đã gánh thay án chết cho mọi tội nhân
  • Trong thời kỳ Cựu Ước, chỉ có thầy tế lễ thượng phẩm của dân I-sơ-ra-ên mới có thể mỗi năm một lần vào nơi chí thánh trong đền thờ dưới đất, để làm lễ chuộc tội cho con dân Chúa, ngoài ra, không một ai có thể vào trong nơi chí thánh. Trong thời kỳ Tân Ước, sau khi Đức Chúa Jesus Christ, là thầy tế lễ thượng phẩm đời đời, đã vào nơi chí thánh trên trời một lần để làm lễ chuộc tội cho toàn thể nhân loại, thì tất cả những ai tin nhận sự chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ đều được tự do vào trong nơi chí thánh trên trời (trong tâm thần).

Hê-bơ-rơ 10:19 “Hỡi anh em, vì chúng ta nhờ máu Đức Chúa Jesus được dạn dĩ vào nơi rất thánh.”

Vì Sao Có Sự Khác Biệt Về Các Loài Thú Vật Tinh Sạch và Không Tinh Sạch?

Dù Thánh Kinh không nói rõ nhưng chúng ta có thể hiểu rằng, sau khi loài người phạm tội, tội lỗi vào trong thế gian làm cho mọi loài xác thịt bị thoái hóa và dẫn đến sự chết. Hậu quả là, có những loài thú vật mang nhiều mầm bệnh, nhất là những loài ăn tạp, ăn cả phân hoặc xác chết các loài khác. Những loài thú đó bị xem là không tinh sạch, không thể dâng làm sinh tế lên Thiên Chúa.

Đến khi Thiên Chúa cho phép loài người được ăn thịt trong thời kỳ sau cơn Nước Lụt thì Ngài vẫn chưa ban hành lệnh cấm ăn thịt các loài thú vật không tinh sạch, có lẽ, vì lúc đó hệ thống miễn nhiễm của loài người chưa bị thoái hóa nhiều. Đến thời kỳ Cựu Ước thì mọi loài xác thịt đã bị suy thoái nhiều, các loài thú vật không tinh sạch thì càng mang thêm những mầm bệnh, còn loài người thì hệ thống miễn nhiễm cũng đã quá suy yếu. Vì thế, luật cấm anh chị em ruột kết hôn lẫn nhau và luật cấm ăn thịt các loài thú vật không tinh sạch được ban hành. Ngày nay, y khoa biết được: anh chị em ruột kết hôn lẫn nhau sẽ sinh ra con cái bị nhược trí, rối loạn thần kinh hoặc dị tật; các sinh vật mà Thánh Kinh xếp loại không tinh sạch là những sinh vật có chứa nhiều mầm bệnh, như: sán sơ-mít trong thịt heo, chất cholesterol xấu trong các loài tôm, cua…

Tuy nhiên, thời Tân Ước, Chúa đã phán rõ ràng ba lần về các loài thú vật không tinh sạch, rằng Ngài đã làm cho chúng trở nên tinh sạch. Vì thế, con dân Chúa có thể dùng “vật chi hành động và có sự sống” làm thức ăn theo tinh thần của Sáng Thế Ký 9:3; Công Vụ Các Sứ Đồ 10:15 và 15:29; nghĩa là: ăn mọi thứ thịt nhưng không ăn thịt chưa ráo máu, không ăn thịt thú vật chết ngột, không ăn huyết, và không ăn các thức ăn đã dâng cúng cho thần tượng.

Nhờ Đâu Các Loài Thú Vật Không Tinh Sạch Được Trở Nên Tinh Sạch?

Đức Chúa Trời đã làm điều đó qua sự Ngài chấp nhận huyết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ. Ví cớ loài người phạm tội mà muôn vật dưới quyền cai trị của loài người bị họa lây, cho nên, khi sự cứu chuộc tội lỗi của loài người được hoàn tất thì muôn vật cũng được tinh sạch:

Rô-ma 8:22 “Vì chúng ta biết rằng muôn vật đều than thở và chịu khó nhọc cho đến ngày nay.”

Cô-lô-se 1:20 “và qua Ngài mà phục hòa muôn vật với chính Ngài, dầu là những vật dưới đất hoặc những vật trong các tầng trời; bởi Ngài đã làm nên sự hòa bình thông qua máu của thập tự giá Ngài.”

Muôn vật, trong đó có loài người, được trở nên tinh sạch nhờ vào huyết của Đức Chúa Jesus Christ, nhờ đó mà muôn vật mới có thể phục hòa với Đấng Christ. Tuy nhiên, với loài người, thì mỗi người phải tiếp nhận sự thánh hóa và phục hòa mà Đấng Christ đã ban cho. Ngài đã ban cho sự tha tội, Ngài đã làm cho mỗi người được tinh sạch khỏi tội lỗi, nhưng mỗi người phải nhận lãnh cho chính mình.

Lý Luận của Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm

Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm và một vài giáo hội khác cho rằng khải tượng của Sứ Đồ Phi-e-rơ chỉ có ý nghĩa, rằng Đức Chúa Trời đã làm cho dân ngoại được tinh sạch chứ không phải các loài thú vật. Tuy nhiên, câu hỏi được đặt ra là: Nếu Đức Chúa Trời vẫn không cho phép loài người ăn thịt các loài thú vật không tinh sạch thì tại sao Đức Chúa Trời lại bảo Phi-e-rơ hãy làm thịt và ăn các loài thú vật không tinh sạch. Nếu Đức Chúa Trời chỉ muốn truyền lệnh cho Phi-e-rơ đừng kỳ thị dân ngoại, xem họ là ô uế nữa, thì Ngài không cần bảo Phi-e-rơ hãy làm thịt và ăn các loài thú không tinh sạch. Ngài chỉ cần trực tiếp phán bảo ông hãy đi giảng Tin Lành cho dân ngoại, như Đức Chúa Jesus Christ đã phán cùng toàn thể môn đồ trong Ma-thi-ơ 28:19 “Vậy, hãy đi khiến cho muôn dân trở nên môn đồ, trong danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh hãy làm phép báp-tem cho họ;” hoặc cho ông có sự mạc khải tương tự như Ngài đã ban cho Sứ Đồ Phao-lô, được ghi lại trong Công Vụ Các Sứ Đồ 16:9-10 “Đương ban đêm, Phao-lô thấy sự hiện thấy; có một người Ma-xê-đoan đứng trước mặt mình, nài xin rằng: Hãy qua xứ Ma-xê-đoan mà cứu giúp chúng tôi. Phao-lô vừa thấy sự hiện thấy đó rồi, chúng ta liền tìm cách qua xứ Ma-xê-đoan, vì đã định rằng Chúa gọi chúng ta rao truyền Tin Lành ở đó.” Hơn nữa, Phi-e-rơ nhận được khải tượng trong khi ông đang đói và thèm ăn.

Đức Chúa Trời đã dùng cơ hội đó để dạy cho Hội Thánh, thông qua Phi-e-rơ, rằng huyết của Đấng Christ đã làm cho muôn vật được tinh sạch để muôn vật có thể phục hòa cùng Đấng Christ. Phủ nhận sự kiện các loài thú không tinh sạch đã được Đức Chúa Trời làm cho tinh sạch là phủ nhận ba lần lời phán của Đức Chúa Trời: “Phàm vật chi Đức Chúa Trời đã làm cho sạch, thì chớ cầm bằng dơ dáy” (Công Vụ Các Sứ Đồ 10:15-16), đồng thời phủ nhận luôn các câu Thánh Kinh sau đây:

Ma-thi-ơ 15:11 “Chẳng phải điều chi vào miệng làm dơ dáy người; nhưng điều chi ở miệng ra, ấy mới là điều làm dơ dáy người vậy!”

Cô-lô-se 1:19-20 “Vì chưng, mọi sự đầy dẫy được vui mà ở trong Ngài, và qua Ngài mà phục hòa muôn vật với chính Ngài, dầu là những vật dưới đất hoặc những vật trong các tầng trời; bởi Ngài đã làm nên sự hòa bình thông qua máu của thập tự giá Ngài.”

Tít 1:15 “Mọi sự là tinh sạch cho những người tinh sạch, nhưng, cho những kẻ dơ dáy và chẳng tin, thì không sự gì là tinh sạch cả; trái lại, tâm thần và lương tâm họ là dơ dáy nữa."

I Ti-mô-thê 4:4 “Vả, mọi vật Đức Chúa Trời đã dựng nên đều là tốt lành cả, không một vật chi đáng bỏ, miễn là mình cảm ơn mà ăn lấy thì được.”

Nếu trong thời Tân Ước vẫn còn phân biệt các loài thú vật tinh sạch hoặc không tinh sạch thì trong Công Vụ Các Sứ Đồ 15:29 Đức Thánh Linh đã phán rằng: Anh em phải kiêng ăn của cúng thần tượng, máu, thú vật chết ngột cùng các loài thú vật không tinh sạch… Nếu quả thật vẫn còn có sự phân biệt tinh sạch và không tinh sạch thì không có lý do gì Đức Thánh Linh nhắc đến máu và thú vật chết ngột mà lại không nhắc đến các loài thú vật không tinh sạch. Chúng ta cũng nhận thấy, trong thời kỳ Tân Ước mỡ cũng không còn bị cấm ăn, bởi vì, trong thời kỳ Tân Ước sự biệt riêng mỡ để dâng lên Thiên Chúa cũng không còn nữa. Huyết vẫn bị cấm ăn vì trong huyết có sự sống và thú vật bị chết ngột vẫn bị cấm ăn vì khi thú vật bị chết ngột thì huyết vẫn còn trong thân thể chúng.

Thái Độ Nên Có của Con Dân Chúa Đối Với Các Thức Ăn

Thánh Kinh đã dạy rõ cho con dân Chúa thái độ nên có đối với các thức ăn:

  • Không được ăn huyết.
  • Không được ăn thịt thú vật chết ngột.
  • Không được ăn các thức ăn đã dâng cúng cho thần tượng.
  • Ngoài ra, mọi sự là tinh sạch cho những người tinh sạch, tức là, đối cới con dân Chúa, không còn sự phân biệt tinh sạch và không tinh sạch đối với các loài thú vật dùng làm thức ăn: "Mọi sự là tinh sạch cho những người tinh sạch, nhưng, cho những kẻ dơ dáy và chẳng tin, thì không sự gì là tinh sạch cả; trái lại, tâm thần và lương tâm họ là dơ dáy nữa." (Tít 1:15)

Về sau, trong các thư tín, Sứ Đồ Phao-lô cũng dạy rằng, luật phân biệt các thức ăn tinh sạch với thức ăn không tinh sạch chẳng còn áp dụng cho tín đồ nữa. Tuy nhiên, nếu ai muốn tiếp tục kiêng cử thì cứ kiêng cử nhưng đừng xét đoán người không kiêng cử. Theo Phao-lô, người kiêng cử là người có đức tin yếu đuối (vì không dám tin vào khải tượng Chúa đã tỏ ra cho Phi-e-rơ):

Rô-ma 14:1-6

1 Hãy bằng lòng tiếp lấy kẻ kém đức tin, chớ cãi lẫy về sự nghi ngờ.

2 Người nầy tin có thể ăn được cả mọi thứ; người kia là kẻ yếu đuối, chỉ ăn rau mà thôi.

3 Người ăn chớ khinh dể kẻ không ăn; và người không ăn chớ xét đoán kẻ ăn, vì Đức Chúa Trời đã tiếp lấy người.

4 Ngươi là ai mà dám xét đoán tôi tớ của kẻ khác? Nó đứng hay ngã, ấy là việc chủ nó; song nó sẽ đứng, vì Chúa có quyền cho nó đứng vững vàng.

5 Người nầy tưởng ngày nầy hơn ngày khác, kẻ kia tưởng mọi ngày đều bằng nhau; ai nấy hãy tin chắc ở trí mình.

6 Kẻ giữ ngày là giữ vì Chúa; kẻ ăn là ăn vì Chúa, vì họ tạ ơn Đức Chúa Trời; kẻ chẳng ăn cũng chẳng ăn vì Chúa, họ cũng tạ ơn Đức Chúa Trời.

(Sự giữ ngày nói đến trong những câu trên đây không phải là sự giữ ngày Sa-bát theo điều răn của Đức Chúa Trời mà con dân Chúa trong mọi thời đại phải vâng giữ, kể cả thời ngàn năm bình an, nhưng là sự giữ ngày kiêng ăn, là điều Thánh Kinh không quy định, cho nên, ai muốn kiêng ăn vào ngày nào thì cứ kiêng ăn vào ngày đó. Ngay cả sự kiêng ăn, Thánh Kinh cũng không đặt thành điều răn, ngoại trừ việc kêu gọi tội nhân kiêng ăn trong sự ăn năn tội và kêu gọi con dân Chúa kiêng ăn để đuổi những thứ quỷ dữ.)

I Ti-mô-thê 4:1-5

1 Vả, Đức Thánh Linh phán tỏ tường rằng, trong đời sau rốt, có mấy kẻ sẽ bội đạo mà theo các thần lừa dối, và đạo lý của quỷ dữ,

2 bị lầm lạc bởi sự giả hình của giáo sư dối, là kẻ có lương tâm đã lì,

3 họ sẽ cấm cưới gả, và biểu kiêng các thức ăn Đức Chúa Trời đã dựng nên cho kẻ có lòng tin và biết lẽ thật, tạ ơn mà dùng lấy.

4 Vả, mọi vật Đức Chúa Trời đã dựng nên đều là tốt lành cả, không một vật chi đáng bỏ, miễn là mình cảm ơn mà ăn lấy thì được;

5 vì nhờ Lời Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được nên thánh.

Nhờ Lời Đức Chúa Trời tức là nhờ lời Ngài đã phán ba lần cùng Sứ Đồ Phi-e-rơ: “Phàm vật chi Đức Chúa Trời đã làm cho sạch, thì chớ cầm bằng dơ dáy” (Công Vụ Các Sứ Đồ 10:15). Nhờ lời cầu nguyện tức là nhờ lời mà chúng ta cảm tạ Chúa khi nhận lãnh thức ăn.

Kết Luận

Mỗi con dân Chúa là một đền thờ của Đức Chúa Trời có Đức Thánh Linh ngự trong thân thể mình. Vì là đền thờ của Chúa, đã được rưới bằng huyết của Chúa rồi (Khải Huyền 1:6), nên thân thể của chúng ta trở nên rất thánh. Vật chi đụng vào chúng ta thì cũng trở nên thánh:

Xuất Ê-díp-tô Ký 29:37 “…bàn thờ sẽ trở nên rất thánh, phàm vật chi đụng đến đều sẽ được nên thánh vậy.”

Các thức ăn không thể làm ô uế chúng ta. Chính Đức Chúa Jesus Christ đã phán dạy như vậy:

Ma-thi-ơ 15:11 “Chẳng phải điều chi vào miệng làm dơ dáy người; nhưng điều chi ở miệng ra, ấy mới là điều làm dơ dáy người vậy!”

Ngay cả người chồng hay người vợ chưa tin Chúa mà bằng lòng sống chung với chúng ta sau khi chúng ta tin nhận Chúa, và con cái của chúng ta có với họ, cũng đều nhờ chúng ta mà được nên thánh:

I Cô-rinh-tô 7:14 “Bởi vì, chồng không tin Chúa, nhơn vợ mình được nên thánh, vợ không tin Chúa, nhơn chồng mình tin Chúa được nên thánh; bằng chẳng vậy, con cái anh em nên chẳng sạch, song nay đều là thánh.”

(Sự nên thánh này không phải là sự nên thánh để được cứu rỗi, tức là sự được tha tội và làm cho sạch tội, mà là sự được Đức Chúa Trời biệt riêng [2] họ ra để chúng ta có thể sống chung với họ. Nếu họ không ăn năn tội và tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời thì họ vẫn ở trong địa vị bị hư mất đời đời. Câu Thánh Kinh này cũng không hàm ý cho phép con dân Chúa được kết hôn với người chưa tin Chúa. Đây là trường hợp của những cặp vợ chồng không tin Chúa, nhưng sau đó, một trong hai người tin nhận Chúa.)

Dầu trong thời Tân Ước, các loài thú vật đều đã được Đức Chúa Trời làm cho tinh sạch, nhưng không phải thức ăn nào cũng có ích cho chúng ta. Có người bị dị ứng với một số thức ăn và tham ăn thì sẽ làm hại sức khỏe. Vậy, chúng ta kiêng cử một số thức ăn là vì nó không hợp với khẩu vị của chúng ta hoặc không hợp với thể chất của chúng ta, chứ không phải vì tin rằng ăn thức ăn đó là vi phạm luật pháp của Thiên Chúa.

Nguyện Đức Thánh Linh luôn dắt chúng ta vào trong mọi lẽ thật của Lời Chúa. A-men!

Huỳnh Christian Timothy
09.10.2012

Ghi Chú

[A] Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012. Quý bạn có thể đọc trên mạng: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.netwww.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

[B] Dùng hai nối mạng dưới đây để tra xem ý nghĩa trong Anh ngữ và nghe cách phát âm của một từ ngữ Hê-bơ-rơ trên Internet:

[C] Dùng hai nối mạng dưới đây để tra xem ý nghĩa trong Anh ngữ và nghe cách phát âm của một từ ngữ Hy-lạp trên Internet:

[1] Xem bài “Ngày Chúa Chết và Ngày Chúa Phục Sinh” tại đây: http://timhieutinlanh.net/node/579 hoặc tải xuống tại đây: http://www.divshare.com/download/15657691-93e

[2] Chữ thánh ngoài nghĩa tinh sạch còn có nghĩa là biệt riêng ra cho một mục đích nào đó.


Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry.
Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Đọc Tiếp →

Hỏi & Đáp: Ý Nghĩa I Cô-rinh-tô 12

Copyright Notice:Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry – All Rights Reserved © 2007 Vietnamese Christian Mission Ministry, Inc. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức với điều kiện giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Mục Tử
Bấm vào đây để download bài viết này

[656]

Hỏi:

Xin Tin-Lành Biện Giáo vui lòng giảng dạy thêm đoạn Thánh Thư của vị Sứ Đồ khả kính Phao-lô gởi cho Hội Thánh Cô-rinh-tô: I Cor. 12:1-31.(Tran d. Phung)

Đáp:

Thưa bạn Tran d. Phung,

Nhận được yêu cầu trên đây của bạn gửi đến Ban Biên Tập tinlanhbiengiao.net, Mục Tử mạn phép cậy ơn Chúa để chia sẻ sự hiểu biết của mình về đoạn Thánh Kinh I Cô-rinh-tô 12.

1 Hỡi anh em, tôi không muốn anh em chẳng biết về các sự ban cho thiêng liêng.

Sứ Đồ Phao-lô muốn cho tín hữu của Hội Thánh Cô-rinh-tô và "mọi người bất luận ở nơi nào, cầu khẩn danh Đức Chúa Jesus Christ chúng ta, là Chúa của những người ấy và của chúng ta" (I Cô-rinh-tô 1:2) được hiểu biết về các sự ban cho thiêng liêng, tức là sự ban cho:

1. Quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, được tái sinh trong Đấng Christ, trở thành chi thể của Ngài
(câu 12-27)
2. Các chức vụ trong Hội Thánh (câu 5, 28-30)
3. Các công vụ của Đức Thánh Linh trong Hội Thánh (câu 6-11)

Sau khi có sự hiểu biết tỏ tường về các sự ban cho thiêng liêng thì tín hữu mới có thể hiểu được sự ban cho lớn hơn hết mà Phao-lô trình bày trong đoạn 13 (câu 31).

2 Anh em biết khi mình còn là người ngoại đạo, bị khuyên dỗ hướng về các thần tượng câm, tùy ý người ta dẫn dụ mình.

Khi nói "anh em biết" là Phao-lô khẳng định mỗi tín hữu đều biết lẽ thật này: ấy là khi còn là người chưa tin nhận Chúa, chúng ta bị người khác dụ dỗ chúng ta thờ lạy các thần tượng câm. Thần tượng câm có nghĩa là thần tượng không có lời sự sống, khác với Đức Chúa Trời là Đấng có Ngôi Lời và Ngôi Lời là sự sống và sự sáng của thế gian (Giăng 1:4). Chữ "tùy ý" trong câu này có nghĩa là người ta bảo sao, chúng ta làm vậy, bất kể có đúng lời Chúa hay không.

Ngày nay, nhiều người vẫn bị người khác "tùy ý" dẫn dụ đi xa lẽ thật, đi xa lời sự sống và sự sáng của Đức Chúa Trời. Những phong trào "hòa đồng tôn giáo" như Thần Học Hội Nhập, Thần Học Con Mắt Thứ Ba, Sống Theo Đúng Mục Đích, Hội Thánh Theo Đúng Mục Đích, Nói Tiếng Lạ (Người Công Giáo và người Tin Lành "thông công" với nhau trong những buổi cầu nguyện tiếng lạ)… là điển hình cho sự "tùy ý dẫn dụ" trong câu này.

Chỉ có những người "ngoại đạo" mới bị dẫn dụ mà thôi. Những người thật sự "ở trong đạo" và "đạo ở trong họ" (Giăng 15:5) thì không thể bị dẫn dụ. Nhiều người đã cầu nguyện tin nhận Chúa, đã làm báp-tem, sốt sắng các công việc trong Hội Thánh, thậm chí làm chứng cho nhiều người tin Chúa, hoặc là giáo sĩ, là người chăn được xem là "đầy ơn" nhưng vẫn là người "ngoại đạo." Những người "ngoại đạo" mang bảng hiệu "trong đạo" này thờ lạy các thần tượng: bằng cấp, chức vụ, giáo phái… là những thần tượng có thể thấy được bên ngoài. Sâu kín trong tâm thần của họ là các thần tượng: tham lam, kiêu ngạo, tà dâm… là những thần tượng khó thể thấy, trừ khi chúng ta nhờ ơn Chúa đục một cái lỗ để nhìn vào (Ê-xê-chi-ên 8).

3 Bởi đó, tôi tỏ cùng anh em, chẳng ai cảm Thánh Linh của Đức Chúa Trời, mà nói rằng: Đức Chúa Jêsus đáng nguyền rủa! Nếu không cảm Đức Thánh Linh, cũng chẳng ai xưng Đức Chúa Jêsus là Chúa!

Một người buông lời nguyền rủa Đức Chúa Jesus là một người bị quyền lực của tà linh tác động. Dễ nhận diện nhất là những người công khai mang bảng hiệu "ngoại đạo" như Trần Chung Ngọc, Charlie Nguyễn, và nhóm Giao Điểm. Rất khó để nhận diện là những người mang bảng hiệu "trong đạo" nhưng thật ra, họ là những người "ngoại đạo," là sói đội lốt chiên, là những kẻ giúp việc Sa-tan, mạo làm kẻ giúp việc công bình (Ma-thi-ơ 7:15; 2 Cô-rinh-tô 11:14-15). Khi một người không vâng phục lời Chúa là người ấy lên mình kiêu ngạo. Một người lên mình kiêu ngạo, lập tức rơi vào quyền lực của Sa-tan. Vì vậy, những người "được ơn nói tiếng lạ," nếu nói tiếng lạ ngoài quy định của Thánh Kinh, thì coi chừng lòng kiêu ngạo của mình là cái cớ để Sa-tan "thần cảm" cho mình nói tiếng lạ nguyển rủa Đấng Christ mà mình không biết, lại còn tự hào là đang thông công với Đức Chúa Trời. Đừng để cho cảm giác đánh lừa. Vấn đề không phải là cảm giác hay hiện tượng. Vấn đề là chúng ta có vâng phục lời Chúa hay không.

Người ta thường lấy câu sau đây để chứng minh là họ được thần cảm bởi Đức Thánh Linh: "Nếu không cảm Đức Thánh Linh, cũng chẳng ai xưng Đức Chúa Jêsus là Chúa!" Ý của Phao-lô nói ở đây không phải là hình thức xưng Đức Chúa Jesus là Chúa bên ngoài môi miệng (mà lòng thì cách xa Ngài lắm). Nếu như vậy, thì các quỷ dữ khi bị Chúa đuổi ra khỏi thân thể các nạn nhân, xưng Ngài là Chúa cũng được cảm Đức Thánh Linh hay sao? Công An giả mạo làm tín đồ, mục sư xưng Đức Chúa Jesus là Chúa cũng được cảm bởi Đức Thánh Linh hay sao? Chẳng phải vậy. Sự xưng Đức Chúa Jesus là Chúa mà Phao-lô nói ở đây, có nghĩa xưng nhận Đức Chúa Jesus làm Chúa của mình. Lời xưng nhận này là kết quả của lòng ăn năn, thống hối về tội lỗi của mình, tiếp nhận ân điển cứu rỗi của Đấng Christ, và dâng hiến cuộc đời mình cho Ngài, đặt sự sống và sự chết của mình trong bàn tay của Đấng Christ (Rô-ma 8:8-10; 14:7-9). Sự đầu phục đó phải được thần cảm bởi Đức Thánh Linh. Sự đầu phục đó, nghĩa là sự hoàn toàn đặt để sự sống và sự chết của mình trong bàn tay của Đấng Christ, là ấn chứng của sự tái sinh.

4 Vả, có các sự ban cho khác nhau, nhưng chỉ có một Đức Thánh Linh.

Các sự ban cho của Đức Chúa Trời, còn gọi là ân tứ, dù có khác nhau, nhưng chỉ xuất phát từ Đức Thánh Linh, vì vậy, không thể có sự mâu thuẫn giữa các sự ban cho này. Cũng chính vì thế mà những người thật sự ở "trong đạo" nhận biết đâu là ân tứ thật sự đến từ Đức Thánh Linh, đâu là ân tứ giả mạo đến từ Sa-tan. Người thật sự đã được tái sinh, không chạy theo danh tiếng và phép lạ thì không thể bị Sa-tan dẫn dụ, gạt gẫm; vì trong người ấy có Đức Thánh Linh là Thần Lẽ Thật, dẫn người vào trong "mọi lẽ thật" của lời Chúa và dùng lời Chúa thánh hóa người (Giăng 16:13; 17:17).

5 Có các chức vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa.

Trong Hội Thánh có nhiều chức vụ khác nhau do Chúa kêu gọi và ban cho mỗi tín hữu để gây dựng bản thân và phát triển Hội Thánh. Mặc dù các chức vụ khác nhau nhưng đều đến từ một Chúa, đều được xức chung một Thánh Linh cho nên không thể có bất đồng và bất hòa. Hội Thánh nào mà người chăn và các chấp sự, các trưởng lão có sự xung khắc với nhau là Hội Thánh đó đang có "sói đội lốt chiên" trong hàng ngũ lãnh đạo.

6 Có các việc làm khác nhau, nhưng chỉ có một Đức Chúa Trời, là Đấng làm mọi việc trong mọi người.

Các việc làm ở đây là các việc Đức Chúa Trời làm ra ở trong Hội Thánh qua mỗi tín hữu. Vì là cùng một Đức Chúa Trời cho nên các việc trong Hội Thánh không thể có sự mâu thuẫn. Vấn đề là chúng ta có bằng lòng đầu phục Chúa trọn vẹn để Ngài làm mọi việc trong chúng ta hay không.

7 Đức Thánh Linh tỏ ra trong mỗi một người, cho ai nấy đều được sự ích chung.

Mỗi một ân tứ của Đức Thánh Linh ban cho bất kỳ ai trong Hội Thánh đều nhằm một mục đích là đem lại ích lợi chung cho toàn thể Hội Thánh, không phải để xây dựng vinh hiển và của cải vật chất cho riêng một cá nhân nào. Chữ "tỏ ra" (manifestation) trong câu này có ý nói tất cả các ân tứ của Đức Thánh Linh đều giúp cho chúng ta nhận thấy thuộc tính của Đức Thánh Linh (Ga-la-ti 5:22):

·         lòng yêu thương

·         sự vui mừng

·         sự bình an

·         sự nhịn nhục

·         sự nhơn từ

·         sự hiền lành

·         sự trung tín

·         sự mềm mại

·         sự tiết độ.

Bất kỳ một sự thể hiện ân tứ nào mà không hội đủ các thuộc tính trên đây thì ân tứ đó không đến từ Đức Thánh Linh. Đây là câu Thánh Kinh hàm chứa nguyên tắc giúp chúng ta nhận biết ân tứ thật của Đức Thánh Linh. Ân tứ thật của Đức Thánh Linh luôn luôn tỏ ra đầy trọn thuộc tính của Đức Thánh Linh.

8 Vả, người nầy nhờ Đức Thánh Linh, được lời nói khôn ngoan; kẻ kia nhờ một Đức Thánh Linh ấy, cũng được lời nói có tri thức.

Lời nói khôn ngoan đem lại sự hòa thuận trong Hội Thánh. Lời nói tri thức (cả thuộc thể lẫn thuộc linh) khiến cho Hội Thánh được thông biết, tránh được cái họa bị diệt (Ô-sê 4:6).

9 Bởi một Đức Thánh Linh, cho người nầy được đức tin; cũng bởi một Đức Thánh Linh ấy, cho kẻ kia được ơn chữa tật bịnh;

Chúng ta đã biết, nhờ ân điển, bởi đức tin mà chúng ta được cứu. Ân điển và đức tin đều là sự ban cho của Đức Chúa Trời. Sau khi có đức tin vào trong sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, là đức tin dẫn đến sự tái sinh, chúng ta tiếp tục sống bởi đức tin:

Vì trong Tin Lành nầy có bày tỏ sự công bình của Đức Chúa Trời, bởi đức tin mà được, lại dẫn đến đức tin nữa, như có chép rằng: Người công bình sẽ sống bởi đức tin. (Rô-ma 1:17).

Đức Thánh Linh ban thêm đức tin cho chúng ta tùy theo sự khao khát được tăng trưởng trong Chúa của chúng ta. Một người cha công bình sẽ chia tài sản nhiều hơn cho những đứa con hết lòng muốn tạo dựng sự nghiệp. Đó là ý nghĩa của sự đức tin dẫn đến đức tin mà sự chọn lựa nhận nhiều hay ít là do tấm lòng của chúng ta. Những đức tin mà Đức Thánh Linh ban thêm cho chúng ta có thể là đức tin cần phải có để đứng vững, trung tín với Chúa khi bị cám dỗ, thử thách, hoặc bị bách hại, nhất là khi những sự đó đến từ gia đình hoặc từ những người ở trong Hội Thánh mà không thánh.

10 người thì được làm phép lạ; kẻ thì được nói tiên tri; người thì được phân biệt các thần; kẻ thì được nói nhiều thứ tiếng khác nhau, người thì được thông giải các thứ tiếng ấy.

Đây là một câu Thánh Kinh quan trọng cho thấy giáo lý dạy rằng: Hễ một người được báp-tem bằng Thánh Linh thì phải biết nói tiếng lạ, là ngụy giáo lý. Rõ ràng lời Chúa dạy: "kẻ thì được nói nhiều thứ tiếng khác nhau, người thì được thông giải các thứ tiếng ấy" cho thấy không phải tất cả mọi người trong Hội Thánh đều được ân tứ nói tiếng lạ hoặc tất cả mọi ngưòi trong Hội Thánh đều được ân tứ thông giải tiếng lạ. Cũng vậy, không phải tất cả mọi người trong Hội Thánh đều được ơn nói tiên tri, hoặc ơn phân biệt các thần. Chính vì không phải ai cũng được ân tứ giống nhau cho nên Hội Thánh phải nhóm họp lại để nghe người được ơn nói tiên tri rao giảng lời Chúa, nghe người được ơn phân biệt các thần chỉ ra các thứ "thần cảm giả mạo," nghe người được ơn nói tiếng lạ rao giảng những điều kỳ diệu của Đức Chúa Trời khi có người thông giải cho sự rao giảng ấy (I Cô-rinh-tô 14:26-28). Không có người thông giải tiếng lạ mà cầu nguyện và rao giảng tiếng lạ trong Hội Thánh là lên mình kiêu ngạo, chống nghịch lời Chúa (I Cô-rinh-tô 14:37). Người như thế sẽ bị Sa-tan xâm nhập để giả mạo tiếng lạ mà nguyền rủa Đấng Christ ngay trong Hội Thánh của Ngài.

11 Mọi điều đó là công việc của đồng một Đức Thánh Linh mà thôi, theo ý Ngài muốn, phân phát sự ban cho riêng cho mỗi người.

Đây lại là một câu Thánh Kinh quan trọng cho thấy giáo lý dạy rằng: Hễ một người được báp-tem bằng Thánh Linh thì phải biết nói tiếng lạ, là ngụy giáo lý. Vì nói tiếng lạ là một trong các ân tứ của Đức Thánh Linh, theo ý Ngài muốn, phân phát sự ban cho riêng cho mỗi người. Chúng ta thấy hai nguyên tắc như sau:

1. Ân tứ được Đức Thánh Linh phân phát theo ý Ngài muốn, chứ không phải theo sự nài xin của chúng ta mà được, mặc dù chúng ta nên có lòng khao khát, mong ước tất cả những sự tốt đẹp đến từ Đức Chúa Trời.
2. Đức Thánh Linh phân phát riêng cho mỗi người ân tứ mà Ngài muốn ban cho người ấy chứ không có chuyện mọi người cùng lãnh nhận ân tứ như nhau.

12 Vả, như thân là một, mà có nhiều chi thể, và như các chi thể của thân dầu có nhiều, cũng chỉ hiệp thành một thân mà thôi, Đấng Christ khác nào như vậy.
13 Vì chưng chúng ta hoặc người Giu-đa, hoặc người Gờ-réc, hoặc tôi mọi, hoặc tự chủ, đều đã chịu phép báp-tem chung một Thánh Linh để hiệp làm một thân; và chúng ta đều đã chịu uống chung một Thánh Linh nữa.
14 Thân cũng chẳng phải có một chi thể, bèn là nhiều chi thể.
15 Nếu chơn rằng: vì ta chẳng phải là tay, nên ta không thuộc về thân, thì chẳng phải bởi đó chơn không có phần trong thân.
16 Và nếu tai rằng: Vì ta chẳng phải là mắt, nên ta không thuộc về thân, thì tai chẳng phải bởi đó không có phần trong thân.
17 Ví bằng cả thân đều là mắt, thì sự nghe ở đâu? Nếu cả thân đều là tai, thì sự ngửi ở đâu?
18 Nhưng bây giờ, Đức Chúa Trời đã sắp đặt các chi thể của thân chúng ta, ban cho mỗi một chi thể cái địa vị theo ý Ngài lấy làm tốt mà chỉ định.
19 Nếu chỉ có một chi thể mà thôi, thì cái thân ở đâu?
20 vậy, có nhiều chi thể, song chỉ có một thân.
21 Mắt không được nói với bàn tay rằng: Ta chẳng cần đến mầy; đầu cũng chẳng được nói với chơn rằng: Ta chẳng cần đến bay.
22 Trái lại, các chi thể của thân xem ra rất yếu đuối lại là cần dùng.
23 Chi thể nào trong thân chúng ta nghĩ là hèn hạ hơn, thì chúng ta tôn trọng hơn; chi thể nào chẳng đẹp, thì chúng ta lại trau giồi hơn,
24 còn như cái nào đã đẹp rồi, thì không cần trau giồi. Nhưng Đức Chúa Trời đã sắp đặt thân người, để chi thể nào thiếu thốn thì được quí trọng hơn,
25 hầu cho trong thân không có sự phân rẽ, mà các chi thể phải đồng lo tưởng đến nhau.

Đức Thánh Linh, qua Phao-lô mượn hình ảnh hiệp một của thân thể xác thịt chúng ta mà dạy chúng ta về sự hiệp một của Hội Thánh là thân thể Đấng Christ. Có nhiều giáo phái hay hệ phái không phải là vấn đề. Vấn đề là các giáo phái và hệ phái không hiệp một trong sự gây dựng và phát triển thân thể của Đấng Christ. Thực tế phủ phàng cho chúng ta thấy:

– Đại hội Baptist không được CMA ủng hộ,
– Đại hội CMA không được Baptist ủng hộ.

Đã không ủng hộ mà còn "tẩy chay" mới là tệ hại! Nhiều khi, ngay cả cùng một giáo phái mà cũng không có sự hiệp nhứt. Chúng tôi từng biết có những "mục sư" tuyên bố đại khái: "Nếu có mục sư ABC đến thì tôi sẽ không đến!". Khi vào thiên đàng, không biết những người  này có dám tuyên bố: "Nếu có mục sư ABC trong thiên đàng thì tôi sẽ không vào"? Nhiều "mục sư" không tham dự và tẩy chay những buổi nhóm cầu nguyện cho Hội Thánh và quê hương, dân tộc Việt Nam do các tín hữu đứng ra tổ chức. Cái tinh thần ganh tỵ, kiêu ngạo dẫn đến sự bất hợp tác trong Hội Thánh Việt Nam thật là lớn lắm.

Thiết tưởng, chúng ta cần phải lấy lời Chúa làm thẩm quyền tuyệt đối chứ không phải nội quy, điều lệ, tín lý… của một giáo hội. Đấng Christ chỉ tạo nên Hội Thánh, Ngài không tạo ra các giáo hội.

Ngày nào, Hội Thánh dùng đến tên gọi của Hội Thánh do Đức Thánh Linh đã bày tỏ trong Thánh Kinh: Hội Thánh Của Đấng Christ hoặc Hội Thánh Của Đức Chúa Trời (Rô-ma 16:16; 1 Cô-rinh-tô 1:2; 10:32; 11:16; 15:9; 2 Cô-rinh-tô 1:1; Ga-la-ti 1:13; 1 Tê-sa-lô-ni-ca 2:14; 2 Tê-sa-lô-ni-ca 1:4; 1 Ti-mô-thê 3:15) thay vì những tên gọi do loài người đặt ra (như: Hội Thánh Baptist, Hội Thánh Giám Lý, Hội Thánh Trưởng Lão…) thì ngày đó chắc sự hiệp một trong thân thể của Đấng Christ được thành toàn.

26 Lại, trong các chi thể, khi có một cái nào chịu đau đớn, thì các cái khác đều cùng chịu; và khi một cái nào được tôn trọng, thì các cái khác cùng vui mừng.

Đây là tiêu chuẩn để nhận biết một người có thật đã ăn năn tội, đã được tái sinh vào trong Hội Thánh của Chúa hay chưa. Những ai không hề chạnh lòng trước những đau khổ, bất công, và sự bách hại đang giáng xuống trên con dân của Chúa ở khắp nơi, thì đó là những người không thuộc về Hội Thánh, vì nếu họ thuộc về Hội Thánh, họ phải tự nhiên đau đớn và tích cực xoa dịu, chăm sóc phần chi thể bị đau.  Những ai có lòng ganh tỵ khi thấy anh chị em trong Đấng Christ được đầy ơn, được tôn trọng, thì những người đó cũng không thuộc về Hội Thánh, vì lẽ tự nhiên là bất kỳ một chi thể nào được khen ngợi thì cả thân thể đều vui mừng.

27 Vả, anh em là thân của Đấng Christ, và là chi thể của thân, ai riêng phần nấy.
28 Đức Chúa Trời đã lập trong Hội thánh, thứ nhứt là sứ đồ, thứ nhì là đấng tiên tri, thứ ba là thầy giáo, kế đến kẻ làm phép lạ, rồi kẻ được ơn chữa bịnh, cứu giúp, cai quản, nói các thứ tiếng.
29 Có phải cả thảy là sứ đồ sao? Cả thảy là tiên tri sao? Cả thảy đều là thầy giáo sao? Cả thảy đều làm phép lạ sao?
30 Cả thảy đều được ơn chữa bịnh sao? Cả thảy đều nói tiếng lạ sao? Cả thảy đều thông giải tiếng lạ sao?

Một lần nữa, Phao-lô tái xác định địa vị, chức vụ, và ân tứ khác nhau của mỗi người trong Hội Thánh. Một người có thể cùng lúc nhận được nhiều ân tứ khác nhau. Một người có thể chỉ nhận được có một ân tứ duy nhất. Không ai nhận lãnh gống nhau vì tất cả đều tùy thuộc vào sự ban cho của Đức Thánh Linh, ai riêng phần nấy, theo thánh ý của Ngài! Những câu Thánh Kinh trên đây một lần nữa chứng minh giáo lý: Hễ một người được báp-tem bằng Thánh Linh thì phải biết nói tiếng lạ, là ngụy giáo lý:

– Cả thảy đều được ơn chữa bịnh sao? Không phải vậy, chỉ những ai Đức Thánh Linh ban cho ơn chữa bịnh.
– Cả thảy đều nói tiếng lạ sao? Không phải vậy, chỉ những ai được Đức Thánh Linh ban cho ơn nói tiếng lạ.
– Cả thảy đều thông giải tiếng lạ sao? Không phải vậy, chỉ những ai được Đức Thánh Linh ban cho ơn thông giải tiếng lạ.

Nói tiếng lạ là một ơn theo sau các ơn: làm sứ đồ, nói tiên tri, làm thầy giáo, làm phép lạ, chữa bệnh, cứu giúp, và cai quản. Nói tiếng lạ không phải là một ơn mà tín hữu nào cũng được ban cho!

31 Hãy ước ao cho được sự ban cho lớn hơn hết. Bây giờ, tôi sẽ chỉ dẫn cho anh em con đường tốt lành hơn.

Sau khi giảng giải cho các tín hữu hiểu biết nguồn gốc, mục đích, ý nghĩa các sự ban cho của Đức Thánh Linh, Phao-lô hướng tâm trí tín hữu đến sự ban cho lớn hơn hết, món quà mà bất kỳ tín hữu nào cũng được nhận lãnh và còn đến đời đời, đó là TÌNH YÊU THƯƠNG!

Mục Tử
03.09.2007

Đọc Tiếp →