Những Lý Luận Chống Nghịch Sự Vâng Giữ Mười Điều Răn

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2011 Vietnamese Christian Mission Ministry, Inc.  –  Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry  –  Xin quý bạn đọc vui lòng tiếp tay phổ biến bài viết nầy dưới mọi hình thức, nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Huỳnh Christian Timothy
Nhấp vào đây để download bài viết này

[219]

Bài viết này tổng hợp những lý luận chống nghịch sự vâng giữ Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời rồi dùng Lời Chúa để phản biện những lý luận đó. Kính mời quý bạn đọc tham khảo thêm các bài viết và bài giảng được liệt kê trong phần Ghi Chú ở cuối bài viết này.

Lý Luận 1:Luật pháp là nội dung của Giao Ước Cũ còn gọi là Giao Ước Môi-se và ân điển là nội dung của Giao Ước Mới. Vì Hội Thánh sống trong Giao Ước Mới nên không cần phải vâng giữ luật pháp là điều thuộc về Giao Ước Cũ.

Phản Biện:Giao Ước Mới không hề hủy đi hoặc thay thế Giao Ước Cũ mà vẫn dựa trên nền tảng của Giao Ước Cũ nhưng thêm vào các điều kiện mới để giải quyết những điều không thể thực hiện được trong Giao Ước Cũ. Giao Ước Cũ như là một em bé dù vất vả, gắng hết sức, nhưng không thể hoàn tất một công việc phải làm vì không có đủ năng lực; còn Giao Ước Mới như là em bé đã trưởng thành có năng lực để hoàn tất công việc đó trong sự thỏa lòng. Nội Dung của Giao Ước Cũ Lẫn Giao Ước Mới đều bao gồm luật pháp và ân điển. Trong Giao Ước Cũ: luật pháp được chép trên hai bảng đá; nhờ ân điển mà tội nhân có thể dâng con sinh làm tế lễ chuộc tội cho sự vi phạm luật pháp của mình. Trong giao ước mới: luật pháp được chép vào trong trí, trong lòng của con dân Chúa; còn ân điển là Đấng Christ dâng chính mình Ngài làm tế lễ chuộc tội một lần đủ cả cho sự vi phạm luật pháp của tội nhân.

"6 Nhưng thầy tế lễ thượng phẩm chúng ta đã được một chức vụ rất tôn trọng hơn, vì Ngài là Đấng trung bảo của giao ước tốt hơn, mà giao ước ấy lập lên trên lời hứa tốt hơn.
7 Vì nếu ước thứ nhứt không thiếu gì, thì chẳng có chỗ nào lập ước thứ hai.
8 Vả, trong những lời nầy thật có ý trách, là lời Đức Chúa Trời phán cùng dân Giu-đa rằng: Chúa phán: kìa, nhựt kỳ đến, Khi đó Ta sẽ cùng nhà Y-sơ-ra-ên và nhà Giu-đa lập một ước mới,
9 Không phải như ước Ta đã lập với tổ tiên chúng nó, Trong ngày Ta cầm tay họ dẫn ra khỏi xứ Ê-díp-tô. Vì họ không bền giữ lời ước Ta, Nên Ta không đoái xem họ, ấy là lời Chúa phán.
10 Chúa lại phán: Nầy là lời ước mà Ta sẽ lập với nhà Y-sơ-ra-ên. Sau những ngày đó: Ta sẽ để luật pháp Ta trong trí họ, và ghi tạc vào lòng; Ta sẽ làm Đức Chúa Trời họ, Họ sẽ làm dân Ta."
(Hê-bơ-rơ 8:6-10)

"…Ngài làm việc đó một lần thì đủ cả, mà dâng chính mình Ngài làm tế lễ" (Hê-bơ-rơ 7:27).

 "Đấng yêu thương chúng ta, đã lấy huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta, và làm cho chúng ta nên nước Ngài, nên thầy tế lễ của Đức Chúa Trời là Cha Ngài, đáng được sự vinh hiển và quyền năng đời đời vô cùng! A-men" (Khải Huyền 1:6).

Điểm giống nhau trong cả hai giao ước cũ và mới là con dân Chúa đều phải vâng giữ điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời. Điểm khác biệt là: trong Giao Ước Cũ con dân Chúa phải tự dùng sức riêng để sống theo luật pháp, khi phạm tội nhẹ thì phải dâng sinh tế để chuộc tội, khi phạm tội nặng thì phải bị xử tử; còn trong Giao Ước Mới con dân Chúa được chết đi bản ngã xác thịt, được tái sinh thành một con người mới, được ban cho Thánh Linh của Chúa để có thể vâng giữ trọn vẹn luật pháp; nếu có phạm tội thì không cần dâng sinh tế chuộc tội hoặc không bị xử tử, vì Đấng Christ đã gánh thay mọi hình phạt; người phạm tội chỉ cần ăn năn, xưng tội với Chúa. Nhưng tuyệt đối không hề có chuyện trong Giao Ước Mới con dân Chúa không cần sống theo luật pháp của Chúa. Để có thể bước vào Giao Ước Mới, một người trước hết phải ăn năn tội, tức là phải từ bỏ tội, tức là phải bằng lòng sống một nếp sống không vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 4:17; Công Vụ Các Sứ Đồ 2:38). Sau khi một người đã ở trong Giao Ước Mới rồi thì vẫn phải tiếp tục sống một nếp sống không vi phạm luật pháp của Chúa (Rô-ma 6:1-14) nhờ ân điển của Đấng Christ (Phi-líp 4:13). Lời của Chúa khẳng định con dân Chúa sống trong Giao Ước Mới vẫn phải vâng giữ điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời:

"Chịu cắt bì chẳng hề gì, không chịu cắt bì cũng chẳng hề gì; sự quan hệ là giữ các điều răn của Đức Chúa Trời"(I Cô-rinh-tô 7:19).

"Phải giữ điều răn, ở cho không vết tích và không chỗ trách được, cho đến kỳ sự hiện ra của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta"(I Ti-mô-thê 6:14).

Lý Luận 2:Giao Ước Cũ chỉ được Đức Chúa Trời lập ra với dân Israel, không phải lập với người ngoại hay Hội Thánh. Mười Điều Răn thuộc về Giao Ước Cũ nên không áp dụng cho người ngoại hoặc Hội Thánh.

Phản Biện:Cả Giao Ước Cũ lẫn Giao Ước Mới đều được Đức Chúa Trời thiết lập với toàn thể nhân loại qua dân Israel. Về Giao Ước Cũ, trong chính điều răn thứ tư đã nhắc đến dân ngoại bang: "Nhưng ngày thứ bảy là ngày nghỉ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi: trong ngày đó, ngươi, con trai, con gái, tôi trai, tớ gái, súc vật của ngươi, hoặc khách ngoại bang ở trong nhà ngươi, đều chớ làm công việc chi hết" (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:10). Khách ngoại bang được nói đến ở đây là những người đã cùng dân Israel rời bỏ xứ nô lệ Ê-díp-tô, dầu Đức Chúa Trời không kêu gọi họ: "Lại có vô số người ngoại bang đi lên chung luôn với chiên, bò, súc vật rất nhiều" (Xuất Ê-díp-tô Ký 12:38). Nói cách khác, một người không phải Israel vẫn được dự phần trong giao ước với Đức Chúa Trời, nếu người đó chịu vâng giữ luật pháp của Ngài:"Khi một khách ngoại bang nào kiều ngụ nhà ngươi, muốn giữ lễ Vượt-qua của Đức Giê-hô-va, thì mọi người nam của họ phải chịu phép cắt bì; đoạn, họ mới được đến gần giữ lễ nầy, và được coi như người sanh trong xứ. Nhưng ai không chịu phép cắt bì, thì chẳng được ăn đâu. Cũng đồng một luật cho người sanh trong xứ cùng khách ngoại bang nào đến kiều ngụ giữa các ngươi" (Xuất Ê-díp-tô Ký 12:48, 49). Lời Chúa cũng khẳng định rằng luật pháp của Ngài áp dụng chung cho dân Israel lẫn dân ngoại:

16 Ai nói phạm đến danh Đức Giê-hô-va hẳn sẽ bị xử tử; cả hội chúng sẽ ném đá nó: mặc dầu nó là kẻ khách ngoại bang hay là sanh trong xứ, hễ khi nào nói phạm đến danh Đức Giê-hô-va, thì sẽ bị xử tử.
17 Kẻ nào đánh chết một người nào, mặc dầu kẻ đó là ai, sẽ bị xử tử.
18 Kẻ nào đánh chết một súc vật, phải thường lại, nghĩa là mạng đền mạng.
19 Khi một người nào làm thương tích cho kẻ lân cận mình, thì người ta phải làm thương tích cho người đó lại như chính người đã làm:
20 gãy đền gãy, mắt đền mắt, răng đền răng. Người ta sẽ làm cho người ấy đồng một thương vít như chính người đã làm cho người khác.
21 Kẻ nào làm chết một súc vật, thì sẽ thường lại; còn kẻ nào giết chết một người, thì phải bị xử tử.
22 Bất luận kẻ khách ngoại bang hay là người trong xứ, các ngươi cũng phải dùng một luật lệ: vì Ta là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của các ngươi."
(Lê-vi Ký 24:16-22)

Về Giao Ước Mới, do chính Đấng Christ lập ra với muôn dân qua các môn đồ của Ngài là người Israel. Thực tế, khi Giao Ước Cũ được thiết lập thì có mặt "vô số dân ngoại bang" là những người cùng dân Israel rời bỏ xứ Ê-díp-tô; còn khi Giao Ước Mới được thiết lập thì chỉ có 11 người Israel mà thôi. Khi Chúa lập Giao Ước Mới, ngài chỉ phán với 11 người Israel, gọi họ là "các ngươi:" "Khi ăn xong, Ngài cũng làm như vậy, lấy chén đưa cho môn đồ, mà phán rằng: Chén nầy là giao ước mới trong huyết Ta vì các ngươi mà đổ ra" (Lu-ca 22:20). Không lẽ vì vậy mà dân ngoại chẳng có phần trong Giao Ước Mới?

Dân Israel thời Cựu Ước và thời Tân Ước đều là đại diện của muôn dân trên đất để qua đó Đức Chúa Trời bày tỏ chính mình Ngài cho nhân loại và thi hành công cuộc cứu rỗi nhân loại. Trong dân tộc Israel chỉ có một chi phái là chi phái Lê-vi được chọn làm thầy tế lễ để hướng dẫn dân sự trong sự thờ phượng Chúa. Trong thế gian chỉ có một dân tộc là dân tộc Israel được chọn làm một nước thầy tế lễ để hướng dẫn muôn dân trong sự thờ phượng Chúa: "Các ngươi sẽ thành một nước thầy tế lễ, cùng một dân tộc thánh cho ta. Bấy nhiêu lời đó ngươi sẽ nói lại cùng dân I-sơ-ra-ên" (Xuất Ê-díp-tô Ký 19:6). Luật pháp của Đức Chúa Trời tức là toàn bộ Thánh Kinh được ban cho nhân loại qua dân Israel. Cứu Chúa của thế gian được ban cho nhân loại qua dân Israel. Hội Thánh của Đức Chúa Trời được thành lập từ dân tộc Israel. Vì thế, dân tộc Israel là nền tảng, là hình ảnh, là biểu hiệu, là điển hình cho Hội Thánh. Tất cả mọi giao ước, luật pháp và lời hứa giữa Đức Chúa Trời với dân Israel đều được ban cho muôn dân nếu họ chịu từ bỏ cuộc sống nô lệ cho tội lỗi để bước vào Hội Thánh của Đức Chúa Trời.

Dân ngoại, dù không nhận được hai bảng đá chép luật pháp của Đức Chúa Trời, nhưng khi họ vi phạm luật pháp của Chúa thì vẫn bị kết tội, bị hình phạt, và bị hư mất; vì luật pháp của Chúa đã được ghi trong lòng họ. Nếu nói Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời không áp dụng cho dân ngoại thì tại sao Đức Chúa Trời kết tội họ khi nếp sống của họ nghịch lại Mười Điều Răn? Có tội lỗi nào trong thế gian mà không nghịch lại Mười Điều Răn?

"Còn ai phạm tội tức là trái luật pháp; và sự tội lỗi tức là sự trái luật pháp" (I Giăng 3:4).

"Đất bị dân cư làm ô uế, vì họ đã phạm luật pháp, trái điều răn, dứt giao ước đời đời" (Ê-sai 24:5).

"Phàm những kẻ không luật pháp mà phạm tội, cũng sẽ không luật pháp mà hư mất; còn những kẻ có luật pháp mà phạm tội, thì sẽ bị luật pháp đoán xét… Vả, dân ngoại vốn không có luật pháp, khi họ tự nhiên làm những việc luật pháp dạy biểu, thì những người ấy dầu không có luật pháp, cũng tự nên luật pháp cho mình. Họ tỏ ra rằng việc mà luật pháp dạy biểu đã ghi trong lòng họ: chính lương tâm mình làm chứng cho luật pháp, còn ý tưởng mình khi thì cáo giác mình, khi thì binh vực mình"(Rô-ma 2:12, 13-15).

Riêng trong Hội Thánh, chỉ cần tín đồ tây vị người khác là đã bị kể là phạm tội và bị luật pháp của Đức Chúa Trời lên án rồi, huống chi là vi phạm Mười Điều Răn?

"Nhưng nếu anh em tây vị người ta, thì phạm tội, luật pháp bèn định tội anh em như kẻ phạm phép"(Gia-cơ 2:9).

Lý Luận 3:Toàn Bộ Luật Pháp Thời Cựu Ước là một đơn vị bất phân cho nên không thể tách rời Mười Điều Răn với các luật lệ khác.

Phản Biện:Nếu Mười Điều răn không thể tách biệt với các luật lệ khác trong Cựu Ước thì tại sao Đức Chúa Trời chỉ truyền lệnh cho Môi-se đặt hai bảng đá do chính ngón tay của Ngài chép Mười Điều Răn trên đó vào Hòm Giao Ước mà không đặt luôn các luật lệ khác vào đó? Mục đích của Hòm Giao Ước là để chứa đựng hai bảng đá Mười Điều Răn của giao ước cho nên tên gọi của nó là Hòm Giao Ước. Một ngày kia, vào giữa bảy năm đại nạn, Hòm Giao Ước với hai bảng đá chứa Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời sẽ xuất hiện trong đền thánh trên trời để làm nền tảng cho cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời giáng xuống dân cư trên đất sống trái nghịch điều răn của Ngài:

"1 Trong lúc đó, Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng: Hãy đục bai bảng đá như hai bảng trước, và hãy lên đến ta trên núi; ngươi cũng phải đóng một cái hòm bằng cây.
2 Ta sẽ viết trên hai bảng nầy những lời đã có trên hai bảng trước mà ngươi đã đập bể, rồi để hai bảng nầy trong hòm.
3 Vậy, ta đóng một cái hòm bằng cây si-tim, đục hai bảng đá, y như hai bảng trước, rồi đi lên trên núi, cầm hai bảng đó trong tay.
4 Ngài viết trên hai bảng nầy lời Ngài đã viết lần trước, tức là mười điều răn mà Đức Giê-hô-va từ giữa lửa tại trên núi, có phán cùng các ngươi, trong ngày nhóm hiệp; rồi Đức Giê-hô-va trao cho ta.
5 Ta trở đi xuống núi, để hai bảng vào hòm mà ta đã đóng, và hai bảng ấy còn ở tại đó, y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn ta vậy"
(Phục Truyền Luật lệ Ký 10:1-5).

"Đền thờ Đức Chúa Trời bèn mở ra ở trên trời, Hòm Giao Ước bày ra trong đền thờ Ngài, rồi có chớp nhoáng, tiếng, sấm sét, động đất và mưa đá lớn"(Khải Huyền 11:19).

Xin quý bạn đọc xem thêm hai bài viết sau đây: "Mười Hai Lẽ Thật Về Điều Răn và Luật Pháp của Đức Chúa Trời" và "Mười Hai Từ Ngữ Liên Quan Đến Điều Răn và Luật Pháp" [1].

Lý Luận 4:Ngày Sa-bát chỉ là một dấu hiệu của giao ước giữa Đức Chúa Trời với dân Israel (Xuất Ê-díp-tô-Ký 31:13). Tín đồ Đấng Christ không cần vâng giữ ngày Sa-bát.

Phản Biện:Lời của Chúa chép:

"1 Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hãy giữ điều chánh trực, và làm sự công bình; vì sự cứu rỗi của Ta gần đến, sự công bình của Ta sắp được bày tỏ.
2 Phước thay cho người làm điều đó, và con người cầm vững sự đó, giữ ngày Sa-bát đặng đừng làm ô uế, cấm tay mình không làm một điều ác nào!
3 Người dân ngoại liên hiệp cùng Đức Giê-hô-va chớ nên nói rằng: Đức Giê-hô-va chắc sẽ biệt ta ra khỏi dân Ngài. Kẻ hoạn cũng chớ nên nói rằng: Nầy, ta là cây khô.
4 Vì Đức Giê-hô-va phán như vầy: Những kẻ hoạn hay giữ các ngày Sa-bát Ta, lựa điều đẹp lòng Ta, cầm vững lời giao ước Ta,
5 thì Ta sẽ ban cho họ tại trong nhà Ta và trong tường Ta một chỗ, và một danh tốt hơn danh của con trai con gái; Ta lại sẽ ban cho họ một danh đời đời chẳng hề dứt đi.
6 Các người dân ngoại về cùng Đức Giê-hô-va, đặng hầu việc Ngài, đặng yêu mến danh Đức Giê-hô-va, đặng làm tôi tớ Ngài; tức là hết thảy những kẻ giữ ngày Sa-bát cho khỏi ô uế, và cầm vững lời giao ước Ta,
7 thì ta sẽ đem họ vui mừng trong nhà cầu nguyện Ta. Của lễ thiêu và hi sinh họ dâng trên bàn thờ Ta, sẽ được nhận lấy; vì nhà Ta sẽ gọi là nhà cầu nguyện cho mọi dân tộc.
8 Chúa Giê-hô-va, Đấng nhóm dân tan lạc của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Dân nó đã được nhóm lại rồi, Ta sẽ còn nhóm các dân khác lại về cùng nó."
(Ê-sai 56:1-8)

Vậy, dân ngoại về cùng Chúa có cần giữ ngày Sa-bát hay không? Nếu họ giữ thì sẽ được Đức Chúa Trời cư xử như thế nào? Và xin chú ý câu 8: Đức Chúa Trời hiệp dân ngoại cùng dân Israel nghĩa là khiến cho họ vào chung một giao ước như dân Israel chứ không phải Đức Chúa Trời có hai giao ước riêng biệt một cho dân ngoại và một cho dân Israel.

Lý Luận 5:Dựa vào hai lời phán sau đây của Đức Chúa Jesus thì sẽ thấy rằng luật pháp đã qua đi, tức là đã hết hạn; bởi vì, "mọi sự được trọn" có nghĩa là khi sự cứu rỗi nhân loại được Đấng Christ hoàn tất trên thập tự giá. Chính Đấng Christ đã tuyên phán từ trên thập tự giá: "mọi việc đã được trọn."

"Vì ta nói thật cùng các ngươi, đương khi trời đất chưa qua đi, thì một chấm một nét trong luật pháp cũng không qua đi được cho đến khi mọi sự được trọn"(Ma-thi-ơ 5:18).

"Khi Đức Chúa Jêsus chịu lấy giấm ấy rồi, bèn phán rằng: Mọi việc đã được trọn; rồi Ngài gục đầu mà trút linh hồn"(Giăng 19:30).

Phản Biện:Nhóm chữ "mọi sự được trọn" trong Ma-thi-ơ 5:18 của bản dịch Phan Khôi mang đúng nghĩa như vậy trong nguyên ngữ Hy-lạp của Thánh Kinh Tân Ước với hai từ ngữ πᾶς, G3956, có nghĩa: tất cả, mọi sự; và γίνομαι, G1096, có nghĩa: được trọn, được ứng nghiệm, được xảy ra. Nhưng nhóm chữ "mọi việc đã được trọn" trong Giăng 19:30 thì không đúng. Trong nguyên ngữ Hy-lạp, Đức Chúa Jesus chỉ kêu lên một tiếng: τελέω, G5055, có nghĩa là: "xong!" Như vậy, tiếng kêu của Chúa trong Giăng 19:30 có ý nói lên công tác chuộc tội cho nhân loại đã được Ngài làm xong chứ không hề mang ý "mọi sự được trọn" để cho văn tự của luật pháp có thể qua đi. Ý nghĩa đích thật của Ma-thi-ơ 5:18 là: Trời đất đang còn thì không một nét chữ nào trong luật pháp được khắc trên đá hay chép trên giấy sẽ qua đi nhưng khi mọi sự đã được trọn tức là khi trời cũ đất cũ qua đi, những kẻ không vâng phục Chúa bị xét xử trước tòa chung thẩm của Đức Chúa Trời, và vương quốc đời đời được thiết lập trong trời mới đất mới xuất hiện. Chỉ khi đó, tất cả những chấm những phết của luật pháp được chép bằng văn tự mới qua đi. Dầu vậy, luật pháp của Đức Chúa Trời vẫn không qua đi, vì đã được ghi khắc trong trí và trong lòng của con dân Chúa.

Chúng ta biết luật pháp chép thành văn tự chưa hề qua đi vì trời cũ đất cũ chưa qua đi, vì trong vương quốc ngàn năm bình an luật pháp về lễ nghi vẫn được thi hành, từ việc dâng các tế lễ đến việc giữ các ngày trăng mới (Ê-xê-chi-ên 43-46), và ngay trong thời Hội Thánh, luật pháp vẫn còn và được nhắc lại trong các sách Tân Ước, điển hình là:

"Chịu cắt bì chẳng hề gì, không chịu cắt bì cũng chẳng hề gì; sự quan hệ là giữ các điều răn của Đức Chúa Trời"(I Cô-rinh-tô 7:19).

"Phải giữ điều răn, ở cho không vết tích và không chỗ trách được, cho đến kỳ sự hiện ra của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta"(I Ti-mô-thê 6:14).

Còn nếu đi vào chi tiết thì có những câu:

"16 Vậy tôi nói rằng: Hãy bước đi theo Thánh Linh, chớ hề làm trọn những điều ưa muốn của xác thịt.
17 Vì xác thịt có những điều ưa muốn trái với của Thánh Linh, Thánh Linh có những điều ưa muốn trái với của xác thịt; hai bên trái nhau dường ấy, nên anh em không làm được điều mình muốn làm.
18 Nhưng, ví bằng anh em nhờ Thánh Linh chỉ dẫn, thì chẳng hề ở dưới luật pháp.
19 Vả, các việc làm của xác thịt là rõ ràng lắm: ấy là gian dâm, ô uế, luông tuồng,
20 thờ hình tượng, phù phép, thù oán, tranh đấu, ghen ghét, buồn giận, cãi lẫy, bất bình, bè đảng,
21 ganh gổ, say sưa, mê ăn uống, cùng các sự khác giống như vậy. Tôi nói trước cho anh em, như tôi đã nói rồi: hễ ai phạm những việc thể ấy thì không được hưởng nước Đức Chúa Trời"
(Ga-la-ti 5:16-22).

"25 Như vậy, mỗi người trong anh em phải chừa sự nói dối, hãy nói thật với kẻ lân cận mình, vì chúng ta làm chi thể cho nhau.
26 Ví bằng anh em đương cơn giận, thì chớ phạm tội; chớ căm giận cho đến khi mặt trời lặn,
27 và đừng cho ma quỉ nhơn dịp.
28 Kẻ vốn hay trộm cắp chớ trộm cắp nữa; nhưng thà chịu khó, chính tay mình làm nghề lương thiện, đặng có vật chi giúp cho kẻ thiếu thốn thì hơn.
29 chớ có một lời dữ nào ra từ miệng anh em; nhưng khi đáng nói hãy nói một vài lời lành giúp ơn cho và có ích lợi cho kẻ nghe đến.
30 Anh em chớ làm buồn cho Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời, vì nhờ Ngài anh em được ấn chứng đến ngày cứu chuộc.
31 Phải bỏ khỏi anh em những sự cay đắng, buồn giận, tức mình, kêu rêu, mắng nhiếc, cùng mọi điều hung ác."
(Ê-phê-sô 4:25-31)

"3 Phàm những sự gian dâm, hoặc sự ô uế, hoặc sự tham lam, cũng chớ nên nói đến giữa anh em, theo như cách xứng đáng cho các thánh đồ.
4 Chớ nói lời tục tỉu, chớ giễu cợt, chớ giả ngộ tầm phào, là những điều không đáng, những thà cảm tạ ơn Chúa thì hơn.
5 Vì anh em phải biết rõ rằng kẻ gian dâm, ô uế, tham lam, tức là kẻ thờ hình tượng, không một kẻ nào được dự phần kế nghiệp của nước Đấng Christ và Đức Chúa Trời.
6 Đừng để cho ai lấy lời giả trá phỉnh dổ anh em; vì ấy là nhơn những điều đó mà cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời giáng trên các con bạn nghịch.
7 Vậy, chớ có thông đồng điều chi với họ hết"
(Ê-phêsô 3:5-7)

"4 Vì chưng những kẻ đã được soi sáng một lần, đã nếm sự ban cho từ trên trời, dự phần về Đức Thánh Linh,
5 nếm đạo lành Đức Chúa Trời, và quyền phép của đời sau,
6 nếu lại vấp ngã, thì không thể khiến họ lại ăn năn nữa, vì họ đóng đinh Con Đức Chúa Trời trên thập tự giá cho mình một lần nữa, làm cho Ngài sỉ nhục tỏ tường.
7 Vả, một đám đất nhờ mưa đượm nhuần mà sanh cây cỏ có ích cho người cày cấy, thì đất đó hưởng phần phước lành của Đức Chúa Trời.
8 Nhưng đất nào chỉ sanh ra những cỏ rạ, gai gốc, thì bị bỏ, và hầu bị rủa, cuối cùng phải bị đốt"
(Hê-bơ-rơ 6:4-8).

"26 Vì nếu chúng ta đã nhận biết lẽ thật rồi, mà lại cố ý phạm tội, thì không còn có tế lễ chuộc tội nữa,
27 nhưng chỉ có sự đợi chờ kinh khiếp về sự phán xét, và lửa hừng sẽ đốt cháy kẻ bội nghịch mà thôi.
28 Ai đã phạm luật pháp Môi-se, nếu có hai ba người làm chứng, thì chết đi không thương xót,
29 huống chi kẻ giày đạp Con Đức Chúa Trời, coi huyết của giao ước, tức là huyết mà mình nhờ nên thánh, là ô uế, lại khinh lờn Đức Thánh Linh ban ơn, thì anh em há chẳng tưởng rằng người ấy đáng bị hình rất nghiêm đoán phạt hay sao"
(Hê-bơ-rơ 10:26-29)?

"1 Dầu vậy, trong dân chúng cũng đã có tiên tri giả, và cũng sẽ có giáo sư giả trong anh em; họ sẽ truyền những đạo dối làm hại, chối Chúa đã chuộc mình, tự mình chuốc lấy sự hủy phá thình lình.
2 Có nhiều kẻ sẽ theo họ trong những sự buông tuồng, và đạo thật vì cớ họ sẽ bị gièm pha.
3 Họ sẽ bởi lòng tham mình, lấy lời dối trá khoét anh em; nhưng sự kêu án nghịch cùng họ đã nghị định từ lâu nay, và sự hư mất của họ chẳng ngủ.
4 Vả, nếu Đức Chúa Trời chẳng tiếc các thiên sứ đã phạm tội, nhưng quăng vào trong vực sâu, tại đó họ bị trói buộc bằng xiềng nơi tối tăm để chờ sự phán xét;
5 nếu Ngài chẳng tiếc thế gian xưa, trong khi sai nước lụt phạt đời gian ác nầy, chỉ gìn giữ Nô-ê là thầy giảng đạo công bình, với bảy người khác mà thôi;
6 nếu Ngài đã đoán phạt thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ, hủy phá đi khiến hóa ra tro, để làm gương cho người gian ác về sau;
7 nếu Ngài đã giải cứu người công bình là Lót, tức là kẻ quá lo vì cách ăn ở luông tuồng của bọn gian tà kia,
8 (vì người công bình nầy ở giữa họ, mỗi ngày nghe thấy việc trái phép của họ bèn cảm biết đau xót trong lòng công bình mình),
9 thì Chúa biết cứu chữa những người tôn kính khỏi cơn cám dỗ, và hành phạt kẻ không công bình, cầm chúng nó lại để chờ ngày phán xét,
10 nhứt là những kẻ theo lòng tư dục ô uế mình mà ham mê sự sung sướng xác thịt, khinh dể quyền phép rất cao. Bọn đó cả gan, tự đắc, nói hỗn đến các bậc tôn trọng mà không sợ,
11 dẫu các thiên sứ, là đấng có sức mạnh quyền phép hơn chúng nó, còn không hề lấy lời nguyền rủa mà xử đoán các bậc đó trước mặt Chúa.
12 Nhưng chúng nó cũng như con vật không biết chi, sanh ra chỉ làm thú vật để bị bắt mà làm thịt, hay chê bai điều mình không biết, rồi chết đi như con vật, dường ấy chúng nó lãnh lấy tiền công về tội ác mình.
13 Chúng nó lấy sự chơi bời giữa ban ngày làm sung sướng, là người xấu xa ô uế, ưa thích sự dối trá mình đang khi ăn tiệc với anh em;
14 cặp mắt chúng nó đầy sự gian dâm, chúng nó phạm tội không bao giờ chán, dỗ dành những người không vững lòng, chúng nó có lòng quen thói tham dục: ấy là những con cái đáng rủa sả.
15 chúng nó đã bỏ đường thẳng mà đi sai lạc theo đường của Ba-la-am, con trai Bô-sô, là kẻ tham tiền công của tội ác; nhưng người bị trách về sự phạm tội của mình,
16 bởi có một con vật câm nói tiếng người ta, mà ngăn cấm sự điên cuồng của người tiên tri đó.
17 Ấy là những suối không nước, những đám mây bị luồng gió mạnh đưa đi và sự tối tăm mờ mịt đã để dành cho chúng nó.
18 Chúng nó dùng những lời văn hoa hư đản, đem những điều ham muốn của xác thịt và điều gian dâm mà dỗ dành những kẻ mới vừa tránh khỏi các người theo đường lầm lạc;
19 chúng nó hứa sự tự do cho người, mà chính mình thì làm tôi mọi sự hư nát; vì có sự chi đã thắng hơn người, thì người là tôi mọi sự đó.
20 Vả, chúng nó bởi sự nhận biết Chúa và Cứu Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ, mà đã thoát khỏi sự ô uế của thế gian, rồi lại mắc phải và suy phục những sự đó, thì số phận sau cùng của chúng nó trở xấu hơn lúc đầu.
21 chúng nó đã biết đường công bình, rồi lại lui đi về lời răn thánh đã truyền cho mình, thế thì thà rằng không biết là hơn.
22 Đã xảy đến cho chúng nó như lời tục ngữ rằng: Chó liếm lại đồ nó đã mửa, heo đã rửa sạch rồi, lại lăn lóc trong vũng bùn"
(II Phi-e-rơ 2).

Lý Luận 6:Nếu Sa-bát là điều sống chết đối với Cơ-đốc nhân như đối với Israel thì nó phải được Hội Nghị Giê-ru-sa-lem (Công Vụ Các Sứ Đồ 15) lập lại như là một điều luật trong Giao Ước Mới. Ấy vậy mà trong bốn điều hội nghị căn dặn tín đồ gốc dân ngoại kiêng giữ không hề nhắc đến việc phải giữ ngày Sa-bát.

Phản Biện:Không riêng gì điều răn thứ tư: "Hãy nhớ ngày nghỉ đặng làm nên ngày thánh," mà trọn vẹn Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời đều phải được con dân Chúa trong mọi thời đại vâng giữ. Lời Chúa khẳng định các điều răn của Chúa được lập cho đến đời đời:

"Cứ theo chứng cớ Chúa, tôi đã biết từ lâu rằng Chúa lập các điều răn ấy đến đời đời" (Thi Thiên 119:152).

Hội Nghị Giê-ru-sa-lem không cần phải nhắc đến điều răn thứ tư vì không phải chỉ có điều răn thứ tư mới cần được vâng giữ mà là toàn thể Mười Điều Răn. Tuy nhiên, Đức Thánh Linh đã dùng Hội Nghị để thêm vào hai điều răn cho các tín đồ có gốc dân ngoại (vì các tín đồ có gốc Israel đã vâng giữ các điều này chung với Mười Điều Răn rồi). Hai điều răn đó được thêm vào chứ không phải thay thế cho Mười Điều Răn. Chúng ta có thể xem đó là điều răn thứ mười một và mười hai. Điều răn thứ mười một: Phải kiêng ăn của cúng thần tượng, huyết, thú vật chết ngột. Điều răn thứ mười hai: Chớ tà dâm (Công Vụ Các Sứ Đồ 15:29). Nếu cho rằng hai điều răn này thay thế cho Mười Điều Răn thì thật là vô lý, vì như vậy, con dân Chúa không được ăn đồ cúng thần tượng nhưng lại không cần phải vâng giữ điều răn thứ hai, là điều răn cấm làm hình tượng, cấm thờ lạy hình tượng, và cấm hầu việc hình tượng hay sao?

Trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ của Thánh Kinh, điều răn thứ sáu chỉ có hai từ ngữ; từ ngữ thứ nhất có nghĩa là: không, đừng, chớ; từ ngữ thứ hai có nghĩa là: quan hệ tình dục bất chính với vợ của người khác, dịch ra tiếng Việt là gian dâm hay là ngoại tình (tiếng Anh là: adultery). Bản dịch Phan Khôi dịch điều răn thứ sáu là: "Ngươi chớ phạm tội tà dâm" là không đúng với nguyên ngữ của Thánh Kinh, nên dịch là "Chớ gian dâm." Thời Tân Ước, Đức Thánh Linh thêm điều răn "Chớ tà dâm" (tiếng Anh là: fornication) cho các tín đồ người ngoại là điều mà người Israel vốn đã vâng giữ bên cạnh Mười Điều Răn. Tà dâm bao gồm gian dâm và những hoạt động tình dục với thú vật, tội đồng tính luyến ái, sự loạn luân, quan hệ tình dục giữa hai người nam nữ độc thân không phải là vợ chồng, và các hoạt động tình dục không lành mạnh giữa hai vợ chồng:

"Kẻ nào nằm cùng một con vật sẽ bị xử tử"(Xuất Ê-díp-tô Ký 22:19).

"Chớ nằm cùng một con thú nào, mà gây cho mình bị ô uế với nó; một người đàn bà chớ nằm cùng thú vật nào; ấy là một sự quái gớm"(Lê-vi Ký 18:23).

"Chớ nằm cùng một người nam như người ta nằm cùng một người nữ; ấy là một sự quái gớm" (Lê-vi Ký 18:22)

"Ấy vì cớ đó mà Đức Chúa Trời đã phó họ cho sự tình dục xấu hổ; vì trong vòng họ, những người đờn bà đã đổi cách dùng tự nhiên ra cách khác nghịch với tánh tự nhiên. Những người đờn ông cũng vậy, bỏ cách dùng tự nhiên của người đờn bà mà un đốt tình dục người nầy với kẻ kia, đờn ông cùng đờn ông phạm sự xấu hổ, và chính mình họ phải chịu báo ứng xứng với điều lầm lỗi của mình"(Rô-ma 1:26-27)

"Chớ một ai trong vòng các ngươi đến gần cùng người nữ bà con mình đặng cấu hiệp: Ta là Đức Giê-hô-va.
Chớ cấu hiệp cùng mẹ mình; bằng cấu hiệp, tất làm nhục cho cha mẹ.
Chớ cấu hiệp cùng kế mẫu, bằng cấu hiệp, ấy làm nhục cho cha mình.
Chớ cấu hiệp cùng chị em mình, hoặc một cha khác mẹ, hoặc một mẹ khác cha, hoặc sanh tại trong nhà, hoặc sanh ở ngoài.
Chớ cấu hiệp cùng cháu gái, hoặc cháu gái nội, hoặc cháu gái ngoại; bằng cấu hiệp, ấy là gây nhục cho mình.
Chớ cấu hiệp cùng con gái của kế mẫu bởi cha mình sanh ra, vì là em gái ngươi.
Chớ cấu hiệp cùng chị em của cha ngươi; vì là cốt nhục của cha ngươi.
Chớ cấu hiệp cùng chị em của mẹ ngươi; vì là cốt nhục của mẹ ngươi.
Chớ cấu hiệp cùng bác gái hay thím ngươi; bằng cấu hiệp, ấy là gây nhục cho anh em của cha ngươi.
Chớ cấu hiệp cùng dâu ngươi; vì là vợ của con trai mình.
Chớ cấu hiệp cùng chị dâu hay em dâu ngươi; nếu cấu hiệp, ấy làm nhục cho anh em ngươi vậy.
Chớ cấu hiệp cùng một người đàn bà luôn với con gái của người đàn bà nữa. Chớ lấy cháu gái nội ngươi, hoặc cháu gái ngoại ngươi đặng cấu hiệp cùng họ; chúng nó đều là cốt nhục gần; làm vậy, ấy là một vi

Đọc Tiếp →

Những Bức Tâm Thư của Cựu Linh Mục Bùi Đức Hạnh

Bấm vào đây để download bài viết này

[690]

BỨC TÂM THƯ I

Kính gởi: các linh mục Công Giáo

Về chức linh mục Công Giáo

‘Tu es sacerdos in Eternum secumdum Ordinem Melchisedech’ (Con là thầy cả tế lễ đời đời theo ban Mên-chi-xa-đéc’) Hê-bơ-rơ 7:17 TL.110.4

     Câu kinh thánh trên đây được tất cả linh mục Công Giáo tâm niệm để giữ mình trong một đời sống xứng đáng.

     Theo giáo lý Công Giáo được thụ phong do phép bí tích Chúa Jê-sus đã lập và được in dấu thiêng liêng bất diệt và linh mục là thầy tế lễ đời đời theo Mên-chi-xa-đéc.

      Thầy tế lễ, chức linh mục Công Giáo có quyền cao cả, người cầm trong tay Mình Thánh Đức Chúa Jê-sus  khi người hành lễ đọc lời truyền ‘Hoc est corpucmeum! Này là mình Ta’, linh mục dâng tế lễ cho Đức Chúa Trời để đền tội. Linh mục cầm trong tay ấn quyền giải tội để tha thứ, và cầm buộc tội nhân. Linh mục là Người của Đức Chúa Trời là Ki-Tô khác (Alter Christus). Phẩm chức cao trọng và quyền bính cao cả ấy ngang hàng với Đức Chúa Trời, đã tìm thấy trong chức linh mục Công Giáo.

     Vậy, phẩm chức cao trọng và quyền bính cao cả ấy bởi đâu? Bởi chính Đức Chúa Trời ban cho hay bởi loài người tự tạo lấy cho mình. Để hiểu rõ điều đó, chúng ta hãy tra cứu Kinh Thánh và chỉ có Kinh Thánh là lời Chúa mới giải tỏ được. Xin tra cứu sách Hê-bơ-rơ trong Tân Ước, xuất Ai-Cập ký và sách Lê-vi trong Cựu Ước.

     Trong Cựu Ước, Đức Chúa Trời thiết lập A-rôn làm thầy tế lễ cho Ngài: ‘Trong vòng dân Y-sơ-ra-ên, người hãy chọn Arôn anh người cùng các con trai người là Na-đáp, Abihu, Eleasa và Jthama lập lên chức tế lễ trước mặt Ta. ‘Đức Chúa Trời lại trang sức cho A-rôn, mũ đội trên đầu, bảng đeo trước ngực, áo khoác trong và ngoài. Lại phong chức trong 7 ngày’ (Xuất 29:35).

     ‘Nhưng ấy là hình bóng chỉ về đời bấy giờ’ hê-bơ-rơ 10:1.

Sách Hê-bơ-rơ đoạn 1 nói về Chúa Jê- sus cao trọng hơn thiên sứ, đoạn 3: Chúa Jê-sus cao trọng hơn Môi-se; đoạn 7&8: Đức Chúa Jê-sus là thầy tế lễ thượng phẩm theo ban Mên-chi-xa-đéc.(tr 1). Vậy chúng ta có thể ứng dụng mọi điều cho chức linh mục Công Giáo được không? Có phải Đức Chúa Trời thiết lập chức linh mục Công Giáo theo như Lời Ngài trong Kinh Thánh chăng?

Để trả lời câu hỏi trên, ta hãy tra cứu Kinh Thánh về các vấn đề:

1. Ơn thiên triệu     2.Chức tế lễ     3.Của tế lễ     4. Mục đích tế lễ     5. Quyền tha tội của linh mục Công Giáo.

1. Ơn Thiên Triệu

     Linh mục Công Giáo nói rằng: Mình có ơn Thiên Triệu, ơn Đức Chúa Trời kêu gọi. Thật đáng sợ khi kẻ làm việc tế lễ cho Đức Chúa Trời mà không có ơn Ngài gọi. Trong Cựu Ước, sách Sử Ký 26:16-21 kể chuyện vua Ô-xia làm điều ác, phạm tội cùng Đức Chúa Trời vì người vào trong đền thờ Đức Giê-hô-va xông hương trên bàn thờ xông hương. Các thầy tế lễ đã cản vua vì đó là phần việc các thầy tế lễ con cháu A-rôn. Song vua cứ xông hương thì Đức Chúa Trời hình phạt người và người bị tật phong.

     ‘Vì vậy không ai được chiếm lấy chức trọng đó cho mình, phải được Đức Chúa Trời kêu gọi như A-rôn ngày xưa, Nec qisquam sumit honoren, sed qui vocatur a Deo tanquam A-rôn’ Hê-bơ-rơ 5:4.

     Ơn kêu gọi A-rôn làm thầy tế lễ, chỉ để dâng của lễ chiên bò … của lễ theo luật pháp, không thể cất tội lỗi đi được (Hê-bơ-rơ 10:4) mà Đức Chúa Trời còn cặn kẽ phán dậy. Kinh Thánh từng nói bao nhiêu lần trong các đoạn sách Xuất Ê-díp-tô ký từ đoạn 28-40. Sách Lê-vi ký từ đoạn 1-10. Chẳng những đối với chức tế lễ của A-rôn. Đức Chúa Trời còn nói về nghi thức hành sự và lễ phục của người nữa. Vi phạm những điều ấy thì Đức Chúa Trời đã trừng trị cách nghiêm thẳng. Hai con trai A-rôn là Na-đáp và Abihu, mặc dầu đã được Môi-se xức dầu làm thầy tế lễ, nhưng vì xem thường việc lấy lửa bỏ vào bình hương mà bị Đức Chúa Trời phạt chết thiêu. Kinh Thánh nói: ‘Hai con trai A-rôn là Na-đáp và Abihu, mỗi người đều cầm lư hương mình để lửa vào, bỏ hương lên và dâng một thứ lửa lạ trước mặt Đức Giê-hô-va, ấy là điều Ngài không phán dặn. Một ngọn lửa từ nơi Đức Giê-hô-va lòe ra, nuốt tiêu họ và họ chết trước mặt Đức Giê-hô-va.’ Le-vi 10:01.   

     Kinh Thánh còn chứng minh, dù chính Chúa Jê-sus là Con Đức Chúa Trời cất tội lỗi thiên hạ cũng phải có ơn Đức Chúa Trời gọi. Đức Ki-Tô không tự tôn mình làm thầy tế lễ thượng phẩm, nhưng tại Đấng đã phán cùng Ngài rằng : Người là con Ta, Ta đã sinh ra ngươi ngày nay. Lại nơi khác cũng đã phán cùng Ngài rằng Người làm thầy tế lễ đời đời theo ban Mên-chi-xa-đéc. Sic et christus non semetipsum clarificavit ut pontifex fieret; sed qui locutus est ad Eum: Filius meus es Tân Ước ego hodie genuita. Quemadmodum et in alio loco dicit : Tu es sarcedos in Aternum secumdum ordinem Melchisedech. (Hê-bơ-rơ 5:6-7) (tr 2)

     Kinh Thánh chứng minh trong Cựu Ước Đức Chúa Trời kêu gọi A-rôn làm thầy tế lễ, khi A-rôn gần chết, A-rôn phải từ bỏ chức đó mà truyền cho con ‘Hãy đưa A-rôn và Ê-lê-a-sa con trai người, biểu đi lên núi Hô-rơ, đoạn hãy lột áo xống A-rôn mặc cho Ê-lê-a-sa con trai người’ Dân Số ký 20:25-26. Chức tế lễ thượng phẩm được giao cha truyền con nối thuộc dòng họ Lê-vi suốt trong thời Cựu Ước.

     Thời Tân Ước, Đức Chúa Trời kêu gọi Con Ngài làm thầy tế lễ thượng phẩm, thầy tế lễ cả, ngoài ra Kinh Thánh không thấy nói Đức Chúa Trời kêu gọi ai làm thầy tế lễ dù Phê-rô, hay Phao-lồ cũng khong có ơn kêu gọi đó.

     Giáo hội Công Giáo dựa vào câu nói của Chúa Jê-sus khi ăn bữa tối ‘Này là thân thể Ta, đã vì các người mà phán cho; hãy làm sự này để nhớ đến Ta’ Lu-ca 22:19. Thật là lạ lùng khi cắt nghĩa câu kinh Thánh ‘Hãy làm sự này để nhớ đến Ta’ là phong chức linh mục! Vậy ai được làm linh mục là người được ăn bánh uống chén?

     ‘Hãy lấy ăn đi. Hết thảy hãy uống đi’ Ma-thi-ơ 26:27. Nếu tất cả mọi giáo hữu đều dược ăn là chịu Bánh Thánh được quyền làm việc nhớ đến Chúa thì đều là thầy tế lễ sao?

     ‘Thánh Phê-rô cũng nói cho tất cả các tín hữu là ‘Giòng giống được lựa chọn là chức tế lễ nhà vua, là dân thánh, là dân thuộc về Đức Chúa Trời hầu cho anh em rao giảng nhân đức của Đấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm.’ I Phi-e-rơ 2:9. Chức tế lễ nhà vua là rao gảing nhân dwsc của Đáng đã gọi anh em, lại trong thư Hê-bơ-rơ nói dâng lễ bằng lời ngợi khen (Hê-bơ-rơ 13:15) chứ không phải chức tế lễ nhà vua dâng Chiên con Đức Chúa Trời, chỉ một mình Chúa Jê-sus là thầy thượng cả thượng phẩm và dâng chính thân thể Ngài làm của lễ cho Đức chúa Trời để cất tội lỗi dân Ngài.

     Bởi vậy khi Chúa Jê-sus chưa chịu đóng đanh trên thập giá thì Ngài chưa dâng thân thể làm của tế lễ. Ngài chưa thi hành nhiệm vụ thầy cả thượng phẩm và Ngài cũng không phong cho ai làm thầy tế lễ dâng thân thể Ngài. Các tông đồ không có lời nào về việc phong chức và không một ai làm thầy tế lễ dâng thân thể Chúa Jê-sus cho Đức Chúa Cha.

2. Chức Tế Lễ

     Linh mục Công Giáo nói mình có chức tế lễ theo Tân Ước, nghĩa là không dâng chiên, bò dê đực và bồ câu … theo như Cựu Ước, mà dâng Chiên con Đức Chúa Trời, là dâng chính Chúa Ki-Tô chuộc tội thay cho loài người. Vậy chức này bởi đau mà đến ? Bởi Đức Chúa Trời chăng? Không! Vì Đức (tr 3) Chúa Trời chỉ lập Con Ngài mà thôi. ‘Ngày nay ta sinh ra Con, Con là thầy tế lễ dời đời theo ban Mên-chi-xa-đéc. Filius mous es Tân Ước, ego hodic genui te. Tu es sacerdos in Oternum secundum ordinem Melchisedech’ Hê-bơ-rơ 5:5-6.

     Bởi Chúa Jê-sus chăng? Không! Vì Chúa Thánh Thần là Thần lẽ thật nói : ‘Số thầy tế lễ theo Cựu Ước rất nhiều vì phải chết nên không giữ luôn chức vụ mình được. Nhưng Đấng Ki-Tô vì hằng có đời đời nên giữ chức vụ đó không thay đổi’ Không thế vị, không nhường ngôi cho ai ‘Hic autem eo quod naneat in Eternum, sempiternum habet sacerdotium’ Hê-bơ-rơ 7:23-24.

     Như vậy, theo Tân Ước chỉ có một thầy tế lễ thượng phẩm là Đấng Ki-Tô. Ngài là Đấng trung bảo của giao ước mới, vì Đức Chúa Trời đã bỏ ước thứ nhất và lập ước thứ hai tức là Tân Ước, mà chúng ta được nên thánh nhờ sự dâng thân thể của Đức Chúa Jê-sus Ki-Tô một lần đủ cả. In qua voluntate sanctificati sumus per Oblatinem Corporis Jesus Christi semel. Hê-bơ-rơ 10:10.

     Theo Cựu Ước, thầy tế lễ mỗi ngày đứng hầu việc mà dâng các lễ đồng một thứ là của lễ không bao giờ cất tội lỗi đi được. Còn như Đấng Ki-Tô đã vì tội lỗi dâng chỉ một của lễ rồi đời đời ngồi bên hữu Đức Chúa Trời. Vì nhờ dâng chỉ một của lễ, Ngài làm cho những kẻ nên thánh được trọn vẹn đời đời. ‘Hic autem unam pro peceatis offerens hostiam … Una enim oboatione con summavit in sempiternem sanctificatos’ Hê-bơ-rơ 10:12-14.

     Vậy, chúng ta chỉ có một thầy tế lễ là Chúa Jê-sus Ki-Tô và Ngài chỉ dâng một lần đặng cất tội lỗi đi. (Hê-bơ-rơ 9:28a) Ngài chỉ dâng một của lễ (Hê-bơ-rơ 10:12) Chúa Thánh Linh lại phỉ bác việc ‘Chúa Jê-sus dâng mình nhiều lần’ mà chỉ một lần mà thôi. ‘Neque ut Sepe offerat semetipsum … Christus semel oblatus est’ Hê-bơ-rơ 9:25-28. Chúa còn nhấn mạnh ‘Đấng Ki-Tô chỉ dâng thân thể mình một lần cũng như đã dịnh cho loài người phải chết một lần … ‘ Luật định cho loài người phải chết một lần thật rõ ràng không ai chối cãi được.

     Kinh Thánh đã minh chứng có một thầy tế lễ là Chúa Jê-sus Ki-Tô. Ngài hằng sống nên giữ chức tế lễ không thay đổi. Ngài dâng mình chỉ một lần và chỉ một của lễ là chính thân thể Ngài.

     Những câu Kinh Thánh trên thật rõ ràng và xác định như 2 2  = 4. Thế mà giáo hội Công Giáo đặt từng trăm vạn người làm thầy tế lễ, hằng ngày dâng từng trăm vạn của lễ và từng trăm vạn lần (tr 4)

3. Về Của Tế Lễ

     Theo giáo lý Công Giáo, các linh mục hằng ngày dâng của lễ trên khắp hoàn cầu cũng chẳng khác gì dân Y-sơ-ra-ên xưa Nhưng dân Y-sơ-ra-ên theo Cựu Ước, còn Giáo hội Công giáo theo Tân Ước, theo Cựu Ước Đức Chúa Trời đã phán dặn Môi-se về mọi của lễ và nghi thức dâng lễ. Song những thứ đó chẳng qua là hình và bóng chỉ về đời bấy giờ để tỏ rằng các lễ vật hy sinh dâng đó, không thể làm cho kẻ thờ phượng được trọn lành về lương tâm (Hê-bơ-rơ 9,19-10). Vậy ‘Các điều răn trước kia vì không quyền, không ích nên đã bị bỏ’ (Hê-bơ-rơ 7:18) ‘Đức Chúa Trời đã lận con người bằng lời thề, bởi Đấng đã phán cùng Ngài rằng: Chúa đã thề rồi và không hồi lời thề ấy đâu: Con làm thầy tế lễ đời đời – Juravit dominus et non P. Enitebit eum; Tân Ước es sacerdos in Eternum’ (Hê-bơ-rơ 7:21) Vì thế Đức Chúa Jê-sus đã trở nên Đấng bảo lãnh cho giao ước mới.

     Theo Tân Ước, chỉ có một của lễ là thân thể của Đấng Ki-Tô. Song Đấng Ki-Tô chỉ dâng chính mình một lần thì đủ cả. (Hê-bơ-rơ 7:27) và Ngài chỉ dâng một của lễ rồi đời đời ngồi bên hữu Đức Chúa Trời (Hê-bơ-rơ 10:12)

     Như vậy Kinh Thánh đã minh định trong Tân Ước chỉ có:

     -Một thầy tế lễ là Chúa Jê-sus Ki-Tô

     -Một của lễ là Thân thể của Chúa Jê-sus Ki-Tô.

     -Một lần dâng của lễ khi Chúa Jê-sus Ki-Tô chịu treo mình trên thập giá.

      Không thể hiểu được Giáo hội Công Giáo dựa vào giáo lý nào mà lập nên nhiều thầy tế lễ, dâng lễ từng trăm vạn lần trong một ngày?!

     Như vậy giáo lý Công Giáo không phải là giáo lý Kinh Thánh, chân lý của Đức Chúa Trời mà giáo lý là của kẻ thù địch Chúa Jê-sus Ki-Tô, là giáo lý của kẻ thù cỏ lùng gieo vào lúa mì (Ma-thi-ơ 13:28).

     Giáo hội Công giáo đã pha trộn Cựu Ước vào Tân Ước. Tổng hợp lễ nghi, phẩm phục của đời Môi-se với chức tế lễ của Chúa Jê-sus. Trộn lẫn sự thật của Đức Chúa Trời với sự giả trá của Ma Quỉ.

Thật là một giáo lý tai hại

giết chết linh hồn người ta.

4. Mục Đích Dâng Của Lễ

    ‘Luật pháp Cựu Ước chỉ là bóng của sự tốt lành ngày sau, nên không bao giờ nhờ của tế lễ mỗi năm hằng dâng như vậy mà khiến cho kẻ đến gần Đức Chúa Trời trở nên trọn lành đựợc … vì huyếtcủa bò đực và dê đực không thể cất tội lỗi đi được’ (Hê-bơ-rơ 10: 1, 4).

     Đức Chúa Jê-sus đến theo ý chỉ của Đức Chúa Trời, dâng thân thể mình làm sinh tế được Đức Chúa Trời nhậm. Bởi vậy, Đấng Ki-Tô vào thế gian phán rằng: ‘Chúa chẳng muốn hy sinh, cũng chẳng muốn lễ vật nhưng Chúa đã sắm sẵn một thân thể cho Con’ (Hê-bơ-rơ 10:5-7) (tr 5). Chúa Jê-sus dâng thân thể mình để cất tội lỗi đi ‘Chiên Con của Đức Chúa Trời là Đấng cất tội lỗi đi’ (Giăng 1:29). Nhờ huyết Chúa Jê-sus đổ ra mà có sự tha thứ, vì ‘Không đổ huyết thì không có sự tha thứ’ (Hê-bơ-rơ 9:22). Nhưng ‘Khi có sự tha thứ rồi thì không cần phải dâng của tế lễ vì tội lỗi nữa’ (Hê-bơ-rơ 10:18).

     Như vậy Kinh Thánh nói : Chúa Jê-sus dâng mình làm của lễ cất tội lỗi đi, nhờ sự đổ Huyết của Ngài trên thập giá mà có sự tha thứ, nên Không cần dâng tế lễ vì tội lỗi nữa.

     Giáo hội Công Giáo phong chức từng trăm vạn người làm thầy tế lễ, hằng dâng đi dâng lại từng trăm vạn lần mỗi ngày… Linh mục Công giáo dâng lễ Misa là một điều phạm thượng, trái nghịch Kinh Thánh. Như vậy, lễ Misa đâu còn là việc Thánh tha thứ tội nhân, đền bù tội lỗi, cứu vớt các linh hồn… mà trái lại chính là tội lỗi, là một việc làm gớm ghiếc trước mặt Đức Chúa Trời.

5. Quyền Tha Tội

     Linh mục Công giáo ngồi tòa giải tội, thay quyền Đức Chúa rời mà tha thứ hay cầm buộc tội nhân. Cái quyền đó khi chính Chúa Jê-sus là Con Đức Chúa Trời thi hành còn làm cho dân Y-sơ-ra-ên căm phẫn. ‘Thầy thông giáo và người Pha-ri-si bèn nghị luận rằng: người này là ai mà nói phạm thượng vậy! Ngoài Đức Chúa Trời há có ai tha tội được sao? (Lu-ca 5:21).

     Giáo hội Công Giáo dựa vào câu Chúa phán cùng các tông đồ: ‘Bình an cho các con. Cha đã sai ta thế nào, Ta cũng sai các con thể ấy. Khi Ngài phán điều đó rồi thì hà hơi trên các môn đồ mà rằng : Hãy nhận lãnh Đức Thánh linh, kẻ nào mà các con tha tội cho thì tội sẽ được tha, còn kẻ nào các con cầm tội lại thì tội sẽ bị cầm cho kẻ đó’ (Giăng 20:221-23).

     Có nhiều nhà thờ Công Giáo đã viết câu : ‘Kẻ nào mà các con tha tội cho thì tội sẽ được tha, còn kẻ nào các con cầm tội lại thì tội sẽ bị cầm cho kẻ đó’ lên tòa giải tội để chỉ rõ linh mục Công Giáo có quyền tha thứ hay cầm buộc tội nhân.

     Giáo hội Công giáo ngày nay, nếu trong nhà thờ dẹp bỏ tòa giải tội thì sự phụng vụ mất hẳn ý nghĩa vì kẻ tham dự phụng vụ sẽ không còn một ai, vì giáo hữu không chịu phép giải tội đâu còn giám đi chịu lễ, dám chịu các phép bí tích. Vì các phép bí tích (trừ ra phép rửa tội và giải tội) chỉ cho kẻ có ơn nghĩa Thánh. Một mối quan hệ cho phụng vụ Công Giáo, một điều kiện tối cần không có không được như vậy mà các tông đồ không ghi một nét trong các bức thư Tân Ước!? (tr 6). Trái lại, trong Tân Ước Chúa Thánh Linh truyền chép lại :’Phê-rô ở thành Gióp-bê nhiều ngày trong nhà người thợ thuộc da tên là Si-môn’ (Công vụ các sứ đồ 9:43). Chính Thiên sứ của Đức Chúa Tròi hiện ra cùng với Cọt-nây cũng bảo: ‘Hãy sai người đến thành Gióp-bê, mời Si-môn cũng gọi là Phê-rô. Người hiện ở trọ nơi nhà Si-môn thợ thuộc da ở gần biển’ (công vụ các sứ đồ 10:5,8).

     Còn về sứ đồ Phao-lồ thì Chúa Thánh linh dạy chép ‘Vì đồng nghề nên Phao-lồ ở nhà hai người làm việc chung nhau, và nghề các người đó là may trại. Hễ đến ngày Sabát thì Phaolồ giảng trong nhà hội, khuyên dỗ người Giu-đa và người Gờ-réc’ (Công vụ các sứ đồ 18:3-4) Phao-lồ còn nêu gương mình cho các trưởng lão thành Ê-phê-sô.

     Còn việc tha thứ cầm buộc thì sau khi các sứ đồ đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh ‘Hết thảy khởi sự nói các thứ tiếng khác theo như Đức Thánh Linh cho mình nói’ (Công vụ các sứ đồ 2:4) Phê-rô cũng trong sự đầy dẫy Đức Thánh Linh đã truyền dạy :’Hãy hối cải, ai nấy phải nhan danh Chúa Jê-sus chịu phép báptêm  để được tha tội mình rồi sẽ được lãnh sự ban cho của Thánh Linh’ (Công vụ các sứ đồ 2:38).

     Các sứ đồ cũng trong ơn đầy dẫy Thánh Linh đã tháo cởi & cầm buộc như sau : ‘Ây là Đức Thánh Linh và chúng ta đã ưng rằng chẳng gán gánh nặng nào khác cho anh em ngoài những điều cần dùng, tức là anh em phải kiêng của cúng thần tượng, huyết, thú vật chết ngộp và chớ tà dâm.’

          Trong đoạn cuối cùng Tân Ước sứ đồ Gioan cũng trong sự đầy dẫy Đức Thánh Linh mà tháo cởi và câm buộc cho những kẻ thêm hoặc bớt điều gì trong những lời của sách Tiên Tri là Đức Chúa Trời sẽ cất lấy phần họ về cây sự sống và Thành Thánh (Khải huyền 18-19).

Như vậy Thánh Kinh đã dậy rõ cho chúng ta là các sứ đồ đã được đầy dẫy Thánh linh để tháo cởi và cầm buộc cách đầy đủ như đã ghi trong Kinh Thánh, chứ không phải là quyền uỷ thác cho loài người ngày nay muốn đóng, muốn mở tuỳ ý. Giáo hội Công Giáo sử dụng Thiên Chúa như một tên đầy tớ như một tên đầy tớ như vậy thật là phạm thượng.

***

     Kính thưa quí vị linh mục Công giáo, đến đây quí vị đã thấy rõ (tr 7) Đức Chúa Trời không kêu gọi quí vị làm thầy tế lễ dâng Đức Chúa Con cho Đức Chúa Cha. Thánh Linh cũng không phán dậy quí vị làm việc phụng sự như thế. Như vậy, tôi thành tâm tha thiết xin nài quí vị hãy suy gẫm lời Đức Chúa Trời, xin Đức Chúa Thánh linh là Thần Lẽ Thật dẫn dắt quí vị khỏi con đường lầm lạc kẻo một ngày kia quí vị đến trước Đức Chúa Trời quí vị sẽ bị Lời Đức Chúa Trời phán xét quí vị’

     ‘Lời ta rao giảng, chính lời đó sẽ phán xét họ nơi ngày sau cùng. Bởi ta chẳng nói theo ý riêng Ta; nhưng Cha ta sai Ta đến, đã truyền lịnh cho Ta phải nói điều chi và phải nói thế nào.’ (Gioan 12:48-49)

     ‘Này Ta đến mau chóng và đem phần thưởng theo với Ta để trả cho mỗi người tùy theo công việc họ làm.’(Khải huyền 20:12)

Saigon, ngày 30 tháng 03 năm 1973

Kính chào thân ái

Bùi Đức Hạnh

Cựu Linh Mục (tr 8)

*****

Bức Tâm Thư 2

Kính gởi : Quí Vị Tín Hữu Công Giáo

Việc Tôn Sùng Bà Maria

Kinh thưa Quí Vị,

     Rảo qua lịch sử tôn giáo, chưa có một vị thần nào được tôn sùng, khen ngợi bằng bà Maria bên Công Giáo.

     Bà Maria được khen tặng trên 200      huy hiệu.

     Ba Maria được sùng bái nhiều thể cách.

     Bà Maria được nhiều đoàn thể mang danh hiệu.

     Bà Maria được nhiều nhà thờ cung hiến vì hầu hết không một nhà thờ lớn nhỏ nào trong Công Giáo mà không có bàn thờ đặc biệt kính Bà.

     Bà Maria được giáo hội Công Giáo tôn phong là:

     Đồng Công Cứu Chuộc

     Mẹ Thông ơn Thiên Chúa

     Đáng Trung bảo giữa Thien Chúa và loài người.

     Bà Maria thậm chí còn được giáo hội tôn phong lên cao hơn Đức Chúa Trời, là Mẹ Đức Chúa Trời.

     Một vị thánh Công Giáo Bonaventura đã khen tặng Bà Maria:

     ‘Nếu dưới gầm trời này không một vật sống nào chẳng nhờ ánh sáng mặt trời, thì trong thế giới thiêng liêng cũng không một linh hồn nào không phải nhờ Đức Bà Maria, kể cả Đức Chúa Trời.’

     Lòng tôn sùng Bà Maria bao trùm hết mọi việc phụng vụ. Công giáo và đã thành mục tiêu trong đời sống giáo hữu. Người Công Giáo đã sùng kính và tin tưởng sắt đá câu châm ngôn :

‘DEVOSTUS MARIA, NUMQUAM PERIBIT’

‘Người tôn sùng Đức Bà Maria, không hề hư mất’

Chính phần tôi, trong quãng đời 30 năm trước cũng đã miệt mài trong việc tôn sung Bà Maria, đến nỗi những người chung quanh đã dùng biệt hiệu gọi tôi là: (tr 9)

Công Giáo Ba Kinh Kính Mừng

Linh mục Mẫu Tâm

Danh hiệu Giuse Maria

     Tôi hầu như đã dâng hiến cuộc đời trước đây để tôn vinh Bà Maria, đã tổ chức nhiều đoàn thể nhiều cuộc cung nghinh kính bà. Tôi cũng đưa ra nhiều người làm con cái bà hay hơn thế nữa là làm nô lệ cho Đức Bà Maria!. Theo Thánh Ghi-nhông đơ-mông-pho.

     Vì quá trình cuộc đời tôi đã gây ảnh hưởng  cho nhiều người nên tôi phải viết lên bài này, nài xin với tất cả những người đã nghe tôi trước đây, hãy bừng tỉnh đón nhận lấy ánh sáng của Chúa Thánh linh cầu thay cho mọi người chúng ta.

     ‘Kính lạy Chúa Thánh linh là thần Lẽ Thật. Xin Chúa ngự đến thăm viếng linh hồn chúng con, dạy chúng con mọi lẽ thật trong đường tôn kính Thiên Chúa. Con cầu nguyện cho hết thẩy mọi người đã lắng nghe con trước đây nay đang lầm lạc, được nhận lấy ánh sáng thật, Lời của Đức Chúa Trời. Con cầu xin mọi ngừoi tìm theo lẽ thật và con gửiđến mọi người lời nài xin HÃY BƯỚC ĐI THEO THÁNH LINH (Ga-la-ti 5:16) để con được sạch máu những người này, con dâng lời cầu nguyện tha thiết trước mặt Chúa, vì vinh hiển Chúa Jê-sus Ki-Tô.’ AMEN

     Kính thưa quí vị,

     Giờ đây chúng ta hãy nhờ Chúa Thánh thần dẫn dắt mà tra cứu Kinh Thánh nói gì về bà Maria và địa vị đích thật của Bà.

Bà Maria đồng trinh khi sanh Đức Chúa Jê-sus

    Kinh Thánh nói : Bà Mari đồng trinh sanh Đức Chúa Jê-sus’ 500 năm trước khi Chúa Jê-sus sanh ra, tiên tri Isaia đã nói về Chúa:

‘Này một nữ đồng trinh sẽ sinh một con trai, đặt tên là Emmauel, nghĩa là ĐứcChúa Trời ở cùng.’ (Isaia 7:14)

     Kinh Thánh cũng khen bà là đáng chào khen, là người được Đức Chúa Trời ở cùng. Thiên thần đã vào nơi người nữ mà chào khen bà :’Chào bà được ơn, Đức Chúa Trời ở cùng bà’ (Lu-ca 1:28)

     Bà Isave đầy dẫy Thánh linh tặng khen bà là người có phước trong các người nữ, cũng được gọi là mẹ Chúa: MATER DOMINI.   

‘Bởi đâu tôi được phước này ra Mẹ Chúađến thăm viếng tôi’ (Lu-ca 1:43)

Môn đồ Gioan cũng viết :

Bên thập tự giá Chúa Jê-sus cũng có Mẹ Ngài’ (Gioan 19:25) (tr 10)

Đáp lại những lời ngợi khen đó, bà Maria với sự hiểu biết phận mình chỉ là tạo vật, là con cháu của 2 nguyên tố Adong Evà nên đã xưng mình là tôi tớ Chúa, quy vinh hiển cho Đức Chúa Trời. (Lu-ca 1:38)

     ‘Đây, tôi là tôi tớ Chúa, xin xẩy đến cho tôi như lời Thiên Thần’.

     Bà Maria ngợi khen Chúa ‘Chúa đã đoái thương sự hèn hạ của tôi tớ Chúa. Linh hồn tôi vui mừng trong Đấng Cứu Chuộc tôi’ (Lu-ca 1:47-48)

     Dẫu vậy, bà Maria cũng chỉ nhận biết đúng địa vị của mình sau khi dược Chúa Jê-sus nghiêm nghị trả lời cho bà đôi lần.

Lần thứ nhất:Khi Chúa Jê-sus 12 tuổi đi dự lễ thành Giê-ru-sa-lem. Ngài ở lại đền thờ Nhưng hai ông bà Giu-se & Maria không hay biết. Khi tìm gặp lại Chúa trong đền thờ, bà Maria đã cất tiếng phiền trách Chúa rằng :’Hỡi con, sao con làm cho hai ta thế này? Này cha mẹ đã khó nhọc lắm mà tìm con! ‘Ngài thưa rằng : ‘Cha mẹ kiếm tôi làm chi? Há chẳng biết tôi phải lo việc cha tôi sao? (Lu-ca 2:48-49)    

Lần Thứ Hai:Trong đám cưới thành Cana, bà Maria muốn xen vào việc làm phép lạ. Khi thấy đám cưới hết rượu, bà đã nói với Chúa Jê-sus :’Nhà này không còn rượu nữa.’ Chúa Jê-sus đã nghiêm nghị trả lời bà : ‘Hỡi đàn bà kia, Ta với bà có việc gì chăng? Giờ Ta chưa đến.’ (Gioan 2: 4)

     Trong lần thứ nhất bà Maria không hiểu lời Chúa Jê-sus đáp nên Kinh Thánh chép ‘Hai ông bà không hiểu lời Ngài nói chi hết.’ Tuy nhiên ‘Mẹ Ngài ghi nhớ các lời ấy vào lòng’ (Lu-ca 2:50-51)

     Nhưng trong lần thứ hai, bà Maria đã hiểu và lui về đúng vị trí của mình nên bà nói với mọi người :’Người bảo chi hãy vâng theo cả.’ (Gioan 2:5) Đó là lời duy nhất bà Maria nói với người khác liên quan đến Chúa Jê-sus đã được ghi trong Kinh Thánh. Từ đó trở đi, Kinh Thánh không ghi một lời nào của bà nữa dù chỉ là một lời nói về Chúa Jê-sus bên thập tự giá lúc Ngài đang hấp hối, hay là lời bà nói với người khác khi cùng các môn đồ hiệp nguyện chờ đều Đức Chúa Cha hứa ban Thánh linh (Công vụ các sứ đồ 1:14) và kể cả lúc Chúa Thánh linh đổ xuống cách đầy dẫy trên bà và mọi người (Công vụ các sứ đồ 2:4).

     Địa vị, hành động và lời nói của bà Maria đã được Chúa Thánh linh truyền ghi vào Kinh Thánh. Tất cả mọi tín điều, nghị quyết về quyền năng, địa vị hay lời tuyên phán nào mạo nhận của bà Maria lúc sinh thời hay sau khi qua đời trái với những điều đã ghi trong Kinh Thánh đều là giả trá, trái ý của bà, và nghịch với Đức Chúa Trời.

     Loài người không thể quyết nghị một điều gì nghịch với Thánh Kinh.(tr 11) Nếu Thiên thần, Giáo hoàng, đoàn thể hàng giáo phẩm hay cả nhân loại quyết nghị điều gì trái nghịch với Kinh Thánh thì đều bị rủa sả. Thánh Phao-lô cẩn thận khuyên dạy rằng :

     ‘Nếu có ai (Giáo hoàng, hàng giáo phẩm hay toàn thể nhân loại) hoặc chính chúng tôi (Phao-lô và các sứ đồ) hoặc Thiên thần trên trời truyền cho anh em một Phúc Âm khác với Phúc Âm chúng tôi đã truyền thì người ấy đáng bị rủa sả – Licet nos, aut Angelus de caelo evangelized vobis praeterquam quod evangelizavius vobis anathema sit, tội lỗi quisvobis evangelizaverit praeter’ (Ga-li-ti :1: 7-8)

Bà Maria không trọn đời đồng trinh

     Có lời tiên tri Isaia báo từ 500 năm trước ‘Này người nữ đồng trinh sẽ chịu thai và sanh con trai’ (Isaia 7:14) Kinh Thánh còn ghi rõ lời thiên thần phán truyền :

‘Đức Thánh linh sẽ đến trên bà, và quyền phép đấng rất cao sẽ che phủ bà dưới bóng mình, cho nên con Thánh sinh ra phải xưng là Con Đức Chúa Trời’(Lu-ca 1:35)

     Hai sự kiện trên (1.Bà Maria đồng trinh sinh Chúa Jê-sus. 2. Bà Maria chịu thai bởi quyền phép của Chúa Thánh linh) không một ai tin Chúa mà dám phủ nhận, bởi vì không tin hai sự kiện này tức là chối bỏ lời Đức Chúa Trời, chối bỏ Kinh Thánh, phủ nhận quyền năng của Đấng Tạo Hóa.

     Nhưng! Bà Maria chỉ đồng trinh khi sanh Chúa Jê-sus mà thôi, vì Kinh Thánh đã xác nhận Bà Maria và Ông Giu-se là vợ chồng những không ăn ở với nhau cho đến khi Chúa Jê-sus được sinh ra.

     ‘Thiên sứ hiện đến cùng Giu-se, nói cùng người rằng :Ngươi chớ ngại lấy Maria làm vợ, vì Con mà người chịu thai đó là bởi Đức Thánh Linh’ (Ma-thi-ơ1:20) ‘Giu-se đã theo lời thiên sứ mà đem vợ về ở với mình, nhưng không ăn ở với nhau cho đến khi người sinh con trai đặt tên là Jê-sus’. (Ma-thi-ơ 1:25)

     Giả như nếu Giu-se không nghĩ đến chuyện vợ chồng thì việc gì ông phải bối rối và lẽ gì Thiên sứ lại bảo Giu-se lấy Maria làm vợ?

     Giả như Maria trọn đời đồng trinh thì sao bằng lòng làm vợ của Giu-se và phải nhắc đến việc ‘ăn ở với nhau’? Vâng, họ chỉ đã không ăn ở với nhau cho đến khi sanh chúa Cứu Thế Jê-sus…’

     Kinh thánh lại còn xác nhận :’Người sanh con trai đầu lòng’ (Lu-ca 2:7) (Thánh Lu-ca ghi chép điều này khoảng 60 năm sau chúa Giáng sinh, lúc ấy nhiều người quen biết với gia đình Ông Giu-se Maria còn sống (tr 12). Nếu quả thật bà Maria trọn đời đồng trinh, chác chắn Lu-Ca phải viết là ‘người sanh con trai duy nhất’). Đã có con đầu lòng thì phải là còn có con khác, bà Maria đã không khấn hứa trọn đời đồng trinh vì bà đã hứa hôn với ông Giuse trước khi thiên sứ truyền

Đọc Tiếp →