4,537 views

Những Lý Luận Chống Nghịch Sự Vâng Giữ Mười Điều Răn

Huỳnh Christian Timothy

Bài viết này tổng hợp những lý luận chống nghịch sự vâng giữ Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời rồi dùng Lời Chúa để phản biện những lý luận đó. Kính mời quý bạn đọc tham khảo thêm các bài viết và bài giảng được liệt kê trong phần Ghi Chú ở cuối bài viết này.

Lý Luận 1:Luật pháp là nội dung của Giao Ước Cũ còn gọi là Giao Ước Môi-se và ân điển là nội dung của Giao Ước Mới. Vì Hội Thánh sống trong Giao Ước Mới nên không cần phải vâng giữ luật pháp là điều thuộc về Giao Ước Cũ.

Phản Biện:Giao Ước Mới không hề hủy đi hoặc thay thế Giao Ước Cũ mà vẫn dựa trên nền tảng của Giao Ước Cũ nhưng thêm vào các điều kiện mới để giải quyết những điều không thể thực hiện được trong Giao Ước Cũ. Giao Ước Cũ như là một em bé dù vất vả, gắng hết sức, nhưng không thể hoàn tất một công việc phải làm vì không có đủ năng lực; còn Giao Ước Mới như là em bé đã trưởng thành có năng lực để hoàn tất công việc đó trong sự thỏa lòng. Nội Dung của Giao Ước Cũ Lẫn Giao Ước Mới đều bao gồm luật pháp và ân điển. Trong Giao Ước Cũ: luật pháp được chép trên hai bảng đá; nhờ ân điển mà tội nhân có thể dâng con sinh làm tế lễ chuộc tội cho sự vi phạm luật pháp của mình. Trong giao ước mới: luật pháp được chép vào trong trí, trong lòng của con dân Chúa; còn ân điển là Đấng Christ dâng chính mình Ngài làm tế lễ chuộc tội một lần đủ cả cho sự vi phạm luật pháp của tội nhân.

“6 Nhưng thầy tế lễ thượng phẩm chúng ta đã được một chức vụ rất tôn trọng hơn, vì Ngài là Đấng trung bảo của giao ước tốt hơn, mà giao ước ấy lập lên trên lời hứa tốt hơn.
7 Vì nếu ước thứ nhứt không thiếu gì, thì chẳng có chỗ nào lập ước thứ hai.
8 Vả, trong những lời nầy thật có ý trách, là lời Đức Chúa Trời phán cùng dân Giu-đa rằng: Chúa phán: kìa, nhựt kỳ đến, Khi đó Ta sẽ cùng nhà Y-sơ-ra-ên và nhà Giu-đa lập một ước mới,
9 Không phải như ước Ta đã lập với tổ tiên chúng nó, Trong ngày Ta cầm tay họ dẫn ra khỏi xứ Ê-díp-tô. Vì họ không bền giữ lời ước Ta, Nên Ta không đoái xem họ, ấy là lời Chúa phán.
10 Chúa lại phán: Nầy là lời ước mà Ta sẽ lập với nhà Y-sơ-ra-ên. Sau những ngày đó: Ta sẽ để luật pháp Ta trong trí họ, và ghi tạc vào lòng; Ta sẽ làm Đức Chúa Trời họ, Họ sẽ làm dân Ta.”
(Hê-bơ-rơ 8:6-10)

“…Ngài làm việc đó một lần thì đủ cả, mà dâng chính mình Ngài làm tế lễ” (Hê-bơ-rơ 7:27).

 “Đấng yêu thương chúng ta, đã lấy huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta, và làm cho chúng ta nên nước Ngài, nên thầy tế lễ của Đức Chúa Trời là Cha Ngài, đáng được sự vinh hiển và quyền năng đời đời vô cùng! A-men” (Khải Huyền 1:6).

Điểm giống nhau trong cả hai giao ước cũ và mới là con dân Chúa đều phải vâng giữ điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời. Điểm khác biệt là: trong Giao Ước Cũ con dân Chúa phải tự dùng sức riêng để sống theo luật pháp, khi phạm tội nhẹ thì phải dâng sinh tế để chuộc tội, khi phạm tội nặng thì phải bị xử tử; còn trong Giao Ước Mới con dân Chúa được chết đi bản ngã xác thịt, được tái sinh thành một con người mới, được ban cho Thánh Linh của Chúa để có thể vâng giữ trọn vẹn luật pháp; nếu có phạm tội thì không cần dâng sinh tế chuộc tội hoặc không bị xử tử, vì Đấng Christ đã gánh thay mọi hình phạt; người phạm tội chỉ cần ăn năn, xưng tội với Chúa. Nhưng tuyệt đối không hề có chuyện trong Giao Ước Mới con dân Chúa không cần sống theo luật pháp của Chúa. Để có thể bước vào Giao Ước Mới, một người trước hết phải ăn năn tội, tức là phải từ bỏ tội, tức là phải bằng lòng sống một nếp sống không vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 4:17; Công Vụ Các Sứ Đồ 2:38). Sau khi một người đã ở trong Giao Ước Mới rồi thì vẫn phải tiếp tục sống một nếp sống không vi phạm luật pháp của Chúa (Rô-ma 6:1-14) nhờ ân điển của Đấng Christ (Phi-líp 4:13). Lời của Chúa khẳng định con dân Chúa sống trong Giao Ước Mới vẫn phải vâng giữ điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời:

“Chịu cắt bì chẳng hề gì, không chịu cắt bì cũng chẳng hề gì; sự quan hệ là giữ các điều răn của Đức Chúa Trời(I Cô-rinh-tô 7:19).

Phải giữ điều răn, ở cho không vết tích và không chỗ trách được, cho đến kỳ sự hiện ra của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta”(I Ti-mô-thê 6:14).

Lý Luận 2:Giao Ước Cũ chỉ được Đức Chúa Trời lập ra với dân Israel, không phải lập với người ngoại hay Hội Thánh. Mười Điều Răn thuộc về Giao Ước Cũ nên không áp dụng cho người ngoại hoặc Hội Thánh.

Phản Biện:Cả Giao Ước Cũ lẫn Giao Ước Mới đều được Đức Chúa Trời thiết lập với toàn thể nhân loại qua dân Israel. Về Giao Ước Cũ, trong chính điều răn thứ tư đã nhắc đến dân ngoại bang: “Nhưng ngày thứ bảy là ngày nghỉ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi: trong ngày đó, ngươi, con trai, con gái, tôi trai, tớ gái, súc vật của ngươi, hoặc khách ngoại bang ở trong nhà ngươi, đều chớ làm công việc chi hết” (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:10). Khách ngoại bang được nói đến ở đây là những người đã cùng dân Israel rời bỏ xứ nô lệ Ê-díp-tô, dầu Đức Chúa Trời không kêu gọi họ: “Lại có vô số người ngoại bang đi lên chung luôn với chiên, bò, súc vật rất nhiều” (Xuất Ê-díp-tô Ký 12:38). Nói cách khác, một người không phải Israel vẫn được dự phần trong giao ước với Đức Chúa Trời, nếu người đó chịu vâng giữ luật pháp của Ngài:“Khi một khách ngoại bang nào kiều ngụ nhà ngươi, muốn giữ lễ Vượt-qua của Đức Giê-hô-va, thì mọi người nam của họ phải chịu phép cắt bì; đoạn, họ mới được đến gần giữ lễ nầy, và được coi như người sanh trong xứ. Nhưng ai không chịu phép cắt bì, thì chẳng được ăn đâu. Cũng đồng một luật cho người sanh trong xứ cùng khách ngoại bang nào đến kiều ngụ giữa các ngươi” (Xuất Ê-díp-tô Ký 12:48, 49). Lời Chúa cũng khẳng định rằng luật pháp của Ngài áp dụng chung cho dân Israel lẫn dân ngoại:

16 Ai nói phạm đến danh Đức Giê-hô-va hẳn sẽ bị xử tử; cả hội chúng sẽ ném đá nó: mặc dầu nó là kẻ khách ngoại bang hay là sanh trong xứ, hễ khi nào nói phạm đến danh Đức Giê-hô-va, thì sẽ bị xử tử.
17 Kẻ nào đánh chết một người nào, mặc dầu kẻ đó là ai, sẽ bị xử tử.
18 Kẻ nào đánh chết một súc vật, phải thường lại, nghĩa là mạng đền mạng.
19 Khi một người nào làm thương tích cho kẻ lân cận mình, thì người ta phải làm thương tích cho người đó lại như chính người đã làm:
20 gãy đền gãy, mắt đền mắt, răng đền răng. Người ta sẽ làm cho người ấy đồng một thương vít như chính người đã làm cho người khác.
21 Kẻ nào làm chết một súc vật, thì sẽ thường lại; còn kẻ nào giết chết một người, thì phải bị xử tử.
22 Bất luận kẻ khách ngoại bang hay là người trong xứ, các ngươi cũng phải dùng một luật lệ: vì Ta là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của các ngươi.”
(Lê-vi Ký 24:16-22)

Về Giao Ước Mới, do chính Đấng Christ lập ra với muôn dân qua các môn đồ của Ngài là người Israel. Thực tế, khi Giao Ước Cũ được thiết lập thì có mặt “vô số dân ngoại bang” là những người cùng dân Israel rời bỏ xứ Ê-díp-tô; còn khi Giao Ước Mới được thiết lập thì chỉ có 11 người Israel mà thôi. Khi Chúa lập Giao Ước Mới, ngài chỉ phán với 11 người Israel, gọi họ là “các ngươi:” “Khi ăn xong, Ngài cũng làm như vậy, lấy chén đưa cho môn đồ, mà phán rằng: Chén nầy là giao ước mới trong huyết Ta vì các ngươi mà đổ ra (Lu-ca 22:20). Không lẽ vì vậy mà dân ngoại chẳng có phần trong Giao Ước Mới?

Dân Israel thời Cựu Ước và thời Tân Ước đều là đại diện của muôn dân trên đất để qua đó Đức Chúa Trời bày tỏ chính mình Ngài cho nhân loại và thi hành công cuộc cứu rỗi nhân loại. Trong dân tộc Israel chỉ có một chi phái là chi phái Lê-vi được chọn làm thầy tế lễ để hướng dẫn dân sự trong sự thờ phượng Chúa. Trong thế gian chỉ có một dân tộc là dân tộc Israel được chọn làm một nước thầy tế lễ để hướng dẫn muôn dân trong sự thờ phượng Chúa: “Các ngươi sẽ thành một nước thầy tế lễ, cùng một dân tộc thánh cho ta. Bấy nhiêu lời đó ngươi sẽ nói lại cùng dân I-sơ-ra-ên” (Xuất Ê-díp-tô Ký 19:6). Luật pháp của Đức Chúa Trời tức là toàn bộ Thánh Kinh được ban cho nhân loại qua dân Israel. Cứu Chúa của thế gian được ban cho nhân loại qua dân Israel. Hội Thánh của Đức Chúa Trời được thành lập từ dân tộc Israel. Vì thế, dân tộc Israel là nền tảng, là hình ảnh, là biểu hiệu, là điển hình cho Hội Thánh. Tất cả mọi giao ước, luật pháp và lời hứa giữa Đức Chúa Trời với dân Israel đều được ban cho muôn dân nếu họ chịu từ bỏ cuộc sống nô lệ cho tội lỗi để bước vào Hội Thánh của Đức Chúa Trời.

Dân ngoại, dù không nhận được hai bảng đá chép luật pháp của Đức Chúa Trời, nhưng khi họ vi phạm luật pháp của Chúa thì vẫn bị kết tội, bị hình phạt, và bị hư mất; vì luật pháp của Chúa đã được ghi trong lòng họ. Nếu nói Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời không áp dụng cho dân ngoại thì tại sao Đức Chúa Trời kết tội họ khi nếp sống của họ nghịch lại Mười Điều Răn? Có tội lỗi nào trong thế gian mà không nghịch lại Mười Điều Răn?

“Còn ai phạm tội tức là trái luật pháp; và sự tội lỗi tức là sự trái luật pháp” (I Giăng 3:4).

“Đất bị dân cư làm ô uế, vì họ đã phạm luật pháp, trái điều răn, dứt giao ước đời đời” (Ê-sai 24:5).

“Phàm những kẻ không luật pháp mà phạm tội, cũng sẽ không luật pháp mà hư mất; còn những kẻ có luật pháp mà phạm tội, thì sẽ bị luật pháp đoán xét… Vả, dân ngoại vốn không có luật pháp, khi họ tự nhiên làm những việc luật pháp dạy biểu, thì những người ấy dầu không có luật pháp, cũng tự nên luật pháp cho mình. Họ tỏ ra rằng việc mà luật pháp dạy biểu đã ghi trong lòng họ: chính lương tâm mình làm chứng cho luật pháp, còn ý tưởng mình khi thì cáo giác mình, khi thì binh vực mình”(Rô-ma 2:12, 13-15).

Riêng trong Hội Thánh, chỉ cần tín đồ tây vị người khác là đã bị kể là phạm tội và bị luật pháp của Đức Chúa Trời lên án rồi, huống chi là vi phạm Mười Điều Răn?

“Nhưng nếu anh em tây vị người ta, thì phạm tội, luật pháp bèn định tội anh em như kẻ phạm phép”(Gia-cơ 2:9).

Lý Luận 3:Toàn Bộ Luật Pháp Thời Cựu Ước là một đơn vị bất phân cho nên không thể tách rời Mười Điều Răn với các luật lệ khác.

Phản Biện:Nếu Mười Điều răn không thể tách biệt với các luật lệ khác trong Cựu Ước thì tại sao Đức Chúa Trời chỉ truyền lệnh cho Môi-se đặt hai bảng đá do chính ngón tay của Ngài chép Mười Điều Răn trên đó vào Hòm Giao Ước mà không đặt luôn các luật lệ khác vào đó? Mục đích của Hòm Giao Ước là để chứa đựng hai bảng đá Mười Điều Răn của giao ước cho nên tên gọi của nó là Hòm Giao Ước. Một ngày kia, vào giữa bảy năm đại nạn, Hòm Giao Ước với hai bảng đá chứa Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời sẽ xuất hiện trong đền thánh trên trời để làm nền tảng cho cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời giáng xuống dân cư trên đất sống trái nghịch điều răn của Ngài:

“1 Trong lúc đó, Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng: Hãy đục bai bảng đá như hai bảng trước, và hãy lên đến ta trên núi; ngươi cũng phải đóng một cái hòm bằng cây.
2 Ta sẽ viết trên hai bảng nầy những lời đã có trên hai bảng trước mà ngươi đã đập bể, rồi để hai bảng nầy trong hòm.
3 Vậy, ta đóng một cái hòm bằng cây si-tim, đục hai bảng đá, y như hai bảng trước, rồi đi lên trên núi, cầm hai bảng đó trong tay.
4 Ngài viết trên hai bảng nầy lời Ngài đã viết lần trước, tức là mười điều răn mà Đức Giê-hô-va từ giữa lửa tại trên núi, có phán cùng các ngươi, trong ngày nhóm hiệp; rồi Đức Giê-hô-va trao cho ta.
5 Ta trở đi xuống núi, để hai bảng vào hòm mà ta đã đóng, và hai bảng ấy còn ở tại đó, y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn ta vậy”
(Phục Truyền Luật lệ Ký 10:1-5).

“Đền thờ Đức Chúa Trời bèn mở ra ở trên trời, Hòm Giao Ước bày ra trong đền thờ Ngài, rồi có chớp nhoáng, tiếng, sấm sét, động đất và mưa đá lớn”(Khải Huyền 11:19).

Xin quý bạn đọc xem thêm hai bài viết sau đây: “Mười Hai Lẽ Thật Về Điều Răn và Luật Pháp của Đức Chúa Trời” và “Mười Hai Từ Ngữ Liên Quan Đến Điều Răn và Luật Pháp” [1].

Lý Luận 4:Ngày Sa-bát chỉ là một dấu hiệu của giao ước giữa Đức Chúa Trời với dân Israel (Xuất Ê-díp-tô-Ký 31:13). Tín đồ Đấng Christ không cần vâng giữ ngày Sa-bát.

Phản Biện:Lời của Chúa chép:

“1 Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hãy giữ điều chánh trực, và làm sự công bình; vì sự cứu rỗi của Ta gần đến, sự công bình của Ta sắp được bày tỏ.
2 Phước thay cho người làm điều đó, và con người cầm vững sự đó, giữ ngày Sa-bát đặng đừng làm ô uế, cấm tay mình không làm một điều ác nào!
3 Người dân ngoại liên hiệp cùng Đức Giê-hô-va chớ nên nói rằng: Đức Giê-hô-va chắc sẽ biệt ta ra khỏi dân Ngài. Kẻ hoạn cũng chớ nên nói rằng: Nầy, ta là cây khô.
4 Vì Đức Giê-hô-va phán như vầy: Những kẻ hoạn hay giữ các ngày Sa-bát Ta, lựa điều đẹp lòng Ta, cầm vững lời giao ước Ta,
5 thì Ta sẽ ban cho họ tại trong nhà Ta và trong tường Ta một chỗ, và một danh tốt hơn danh của con trai con gái; Ta lại sẽ ban cho họ một danh đời đời chẳng hề dứt đi.
6 Các người dân ngoại về cùng Đức Giê-hô-va, đặng hầu việc Ngài, đặng yêu mến danh Đức Giê-hô-va, đặng làm tôi tớ Ngài; tức là hết thảy những kẻ giữ ngày Sa-bát cho khỏi ô uế, và cầm vững lời giao ước Ta,
7 thì ta sẽ đem họ vui mừng trong nhà cầu nguyện Ta. Của lễ thiêu và hi sinh họ dâng trên bàn thờ Ta, sẽ được nhận lấy; vì nhà Ta sẽ gọi là nhà cầu nguyện cho mọi dân tộc.
8 Chúa Giê-hô-va, Đấng nhóm dân tan lạc của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Dân nó đã được nhóm lại rồi, Ta sẽ còn nhóm các dân khác lại về cùng nó.
(Ê-sai 56:1-8)

Vậy, dân ngoại về cùng Chúa có cần giữ ngày Sa-bát hay không? Nếu họ giữ thì sẽ được Đức Chúa Trời cư xử như thế nào? Và xin chú ý câu 8: Đức Chúa Trời hiệp dân ngoại cùng dân Israel nghĩa là khiến cho họ vào chung một giao ước như dân Israel chứ không phải Đức Chúa Trời có hai giao ước riêng biệt một cho dân ngoại và một cho dân Israel.

Lý Luận 5:Dựa vào hai lời phán sau đây của Đức Chúa Jesus thì sẽ thấy rằng luật pháp đã qua đi, tức là đã hết hạn; bởi vì, “mọi sự được trọn” có nghĩa là khi sự cứu rỗi nhân loại được Đấng Christ hoàn tất trên thập tự giá. Chính Đấng Christ đã tuyên phán từ trên thập tự giá: “mọi việc đã được trọn.”

“Vì ta nói thật cùng các ngươi, đương khi trời đất chưa qua đi, thì một chấm một nét trong luật pháp cũng không qua đi được cho đến khi mọi sự được trọn”(Ma-thi-ơ 5:18).

“Khi Đức Chúa Jêsus chịu lấy giấm ấy rồi, bèn phán rằng: Mọi việc đã được trọn; rồi Ngài gục đầu mà trút linh hồn”(Giăng 19:30).

Phản Biện:Nhóm chữ “mọi sự được trọn” trong Ma-thi-ơ 5:18 của bản dịch Phan Khôi mang đúng nghĩa như vậy trong nguyên ngữ Hy-lạp của Thánh Kinh Tân Ước với hai từ ngữ πᾶς, G3956, có nghĩa: tất cả, mọi sự; và γίνομαι, G1096, có nghĩa: được trọn, được ứng nghiệm, được xảy ra. Nhưng nhóm chữ “mọi việc đã được trọn” trong Giăng 19:30 thì không đúng. Trong nguyên ngữ Hy-lạp, Đức Chúa Jesus chỉ kêu lên một tiếng: τελέω, G5055, có nghĩa là: “xong!” Như vậy, tiếng kêu của Chúa trong Giăng 19:30 có ý nói lên công tác chuộc tội cho nhân loại đã được Ngài làm xong chứ không hề mang ý “mọi sự được trọn” để cho văn tự của luật pháp có thể qua đi. Ý nghĩa đích thật của Ma-thi-ơ 5:18 là: Trời đất đang còn thì không một nét chữ nào trong luật pháp được khắc trên đá hay chép trên giấy sẽ qua đi nhưng khi mọi sự đã được trọn tức là khi trời cũ đất cũ qua đi, những kẻ không vâng phục Chúa bị xét xử trước tòa chung thẩm của Đức Chúa Trời, và vương quốc đời đời được thiết lập trong trời mới đất mới xuất hiện. Chỉ khi đó, tất cả những chấm những phết của luật pháp được chép bằng văn tự mới qua đi. Dầu vậy, luật pháp của Đức Chúa Trời vẫn không qua đi, vì đã được ghi khắc trong trí và trong lòng của con dân Chúa.

Chúng ta biết luật pháp chép thành văn tự chưa hề qua đi vì trời cũ đất cũ chưa qua đi, vì trong vương quốc ngàn năm bình an luật pháp về lễ nghi vẫn được thi hành, từ việc dâng các tế lễ đến việc giữ các ngày trăng mới (Ê-xê-chi-ên 43-46), và ngay trong thời Hội Thánh, luật pháp vẫn còn và được nhắc lại trong các sách Tân Ước, điển hình là:

“Chịu cắt bì chẳng hề gì, không chịu cắt bì cũng chẳng hề gì; sự quan hệ là giữ các điều răn của Đức Chúa Trời(I Cô-rinh-tô 7:19).

Phải giữ điều răn, ở cho không vết tích và không chỗ trách được, cho đến kỳ sự hiện ra của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta”(I Ti-mô-thê 6:14).

Còn nếu đi vào chi tiết thì có những câu:

“16 Vậy tôi nói rằng: Hãy bước đi theo Thánh Linh, chớ hề làm trọn những điều ưa muốn của xác thịt.
17 Vì xác thịt có những điều ưa muốn trái với của Thánh Linh, Thánh Linh có những điều ưa muốn trái với của xác thịt; hai bên trái nhau dường ấy, nên anh em không làm được điều mình muốn làm.
18 Nhưng, ví bằng anh em nhờ Thánh Linh chỉ dẫn, thì chẳng hề ở dưới luật pháp.
19 Vả, các việc làm của xác thịt là rõ ràng lắm: ấy là gian dâm, ô uế, luông tuồng,
20 thờ hình tượng, phù phép, thù oán, tranh đấu, ghen ghét, buồn giận, cãi lẫy, bất bình, bè đảng,
21 ganh gổ, say sưa, mê ăn uống, cùng các sự khác giống như vậy. Tôi nói trước cho anh em, như tôi đã nói rồi: hễ ai phạm những việc thể ấy thì không được hưởng nước Đức Chúa Trời”
(Ga-la-ti 5:16-22).

“25 Như vậy, mỗi người trong anh em phải chừa sự nói dối, hãy nói thật với kẻ lân cận mình, vì chúng ta làm chi thể cho nhau.
26 Ví bằng anh em đương cơn giận, thì chớ phạm tội; chớ căm giận cho đến khi mặt trời lặn,
27 và đừng cho ma quỉ nhơn dịp.
28 Kẻ vốn hay trộm cắp chớ trộm cắp nữa; nhưng thà chịu khó, chính tay mình làm nghề lương thiện, đặng có vật chi giúp cho kẻ thiếu thốn thì hơn.
29 chớ có một lời dữ nào ra từ miệng anh em; nhưng khi đáng nói hãy nói một vài lời lành giúp ơn cho và có ích lợi cho kẻ nghe đến.
30 Anh em chớ làm buồn cho Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời, vì nhờ Ngài anh em được ấn chứng đến ngày cứu chuộc.
31 Phải bỏ khỏi anh em những sự cay đắng, buồn giận, tức mình, kêu rêu, mắng nhiếc, cùng mọi điều hung ác.”
(Ê-phê-sô 4:25-31)

“3 Phàm những sự gian dâm, hoặc sự ô uế, hoặc sự tham lam, cũng chớ nên nói đến giữa anh em, theo như cách xứng đáng cho các thánh đồ.
4 Chớ nói lời tục tỉu, chớ giễu cợt, chớ giả ngộ tầm phào, là những điều không đáng, những thà cảm tạ ơn Chúa thì hơn.
5 Vì anh em phải biết rõ rằng kẻ gian dâm, ô uế, tham lam, tức là kẻ thờ hình tượng, không một kẻ nào được dự phần kế nghiệp của nước Đấng Christ và Đức Chúa Trời.
6 Đừng để cho ai lấy lời giả trá phỉnh dổ anh em; vì ấy là nhơn những điều đó mà cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời giáng trên các con bạn nghịch.
7 Vậy, chớ có thông đồng điều chi với họ hết”
(Ê-phêsô 3:5-7)

“4 Vì chưng những kẻ đã được soi sáng một lần, đã nếm sự ban cho từ trên trời, dự phần về Đức Thánh Linh,
5 nếm đạo lành Đức Chúa Trời, và quyền phép của đời sau,
6 nếu lại vấp ngã, thì không thể khiến họ lại ăn năn nữa, vì họ đóng đinh Con Đức Chúa Trời trên thập tự giá cho mình một lần nữa, làm cho Ngài sỉ nhục tỏ tường.
7 Vả, một đám đất nhờ mưa đượm nhuần mà sanh cây cỏ có ích cho người cày cấy, thì đất đó hưởng phần phước lành của Đức Chúa Trời.
8 Nhưng đất nào chỉ sanh ra những cỏ rạ, gai gốc, thì bị bỏ, và hầu bị rủa, cuối cùng phải bị đốt”
(Hê-bơ-rơ 6:4-8).

“26 Vì nếu chúng ta đã nhận biết lẽ thật rồi, mà lại cố ý phạm tội, thì không còn có tế lễ chuộc tội nữa,
27 nhưng chỉ có sự đợi chờ kinh khiếp về sự phán xét, và lửa hừng sẽ đốt cháy kẻ bội nghịch mà thôi.
28 Ai đã phạm luật pháp Môi-se, nếu có hai ba người làm chứng, thì chết đi không thương xót,
29 huống chi kẻ giày đạp Con Đức Chúa Trời, coi huyết của giao ước, tức là huyết mà mình nhờ nên thánh, là ô uế, lại khinh lờn Đức Thánh Linh ban ơn, thì anh em há chẳng tưởng rằng người ấy đáng bị hình rất nghiêm đoán phạt hay sao”
(Hê-bơ-rơ 10:26-29)?

“1 Dầu vậy, trong dân chúng cũng đã có tiên tri giả, và cũng sẽ có giáo sư giả trong anh em; họ sẽ truyền những đạo dối làm hại, chối Chúa đã chuộc mình, tự mình chuốc lấy sự hủy phá thình lình.
2 Có nhiều kẻ sẽ theo họ trong những sự buông tuồng, và đạo thật vì cớ họ sẽ bị gièm pha.
3 Họ sẽ bởi lòng tham mình, lấy lời dối trá khoét anh em; nhưng sự kêu án nghịch cùng họ đã nghị định từ lâu nay, và sự hư mất của họ chẳng ngủ.
4 Vả, nếu Đức Chúa Trời chẳng tiếc các thiên sứ đã phạm tội, nhưng quăng vào trong vực sâu, tại đó họ bị trói buộc bằng xiềng nơi tối tăm để chờ sự phán xét;
5 nếu Ngài chẳng tiếc thế gian xưa, trong khi sai nước lụt phạt đời gian ác nầy, chỉ gìn giữ Nô-ê là thầy giảng đạo công bình, với bảy người khác mà thôi;
6 nếu Ngài đã đoán phạt thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ, hủy phá đi khiến hóa ra tro, để làm gương cho người gian ác về sau;
7 nếu Ngài đã giải cứu người công bình là Lót, tức là kẻ quá lo vì cách ăn ở luông tuồng của bọn gian tà kia,
8 (vì người công bình nầy ở giữa họ, mỗi ngày nghe thấy việc trái phép của họ bèn cảm biết đau xót trong lòng công bình mình),
9 thì Chúa biết cứu chữa những người tôn kính khỏi cơn cám dỗ, và hành phạt kẻ không công bình, cầm chúng nó lại để chờ ngày phán xét,
10 nhứt là những kẻ theo lòng tư dục ô uế mình mà ham mê sự sung sướng xác thịt, khinh dể quyền phép rất cao. Bọn đó cả gan, tự đắc, nói hỗn đến các bậc tôn trọng mà không sợ,
11 dẫu các thiên sứ, là đấng có sức mạnh quyền phép hơn chúng nó, còn không hề lấy lời nguyền rủa mà xử đoán các bậc đó trước mặt Chúa.
12 Nhưng chúng nó cũng như con vật không biết chi, sanh ra chỉ làm thú vật để bị bắt mà làm thịt, hay chê bai điều mình không biết, rồi chết đi như con vật, dường ấy chúng nó lãnh lấy tiền công về tội ác mình.
13 Chúng nó lấy sự chơi bời giữa ban ngày làm sung sướng, là người xấu xa ô uế, ưa thích sự dối trá mình đang khi ăn tiệc với anh em;
14 cặp mắt chúng nó đầy sự gian dâm, chúng nó phạm tội không bao giờ chán, dỗ dành những người không vững lòng, chúng nó có lòng quen thói tham dục: ấy là những con cái đáng rủa sả.
15 chúng nó đã bỏ đường thẳng mà đi sai lạc theo đường của Ba-la-am, con trai Bô-sô, là kẻ tham tiền công của tội ác; nhưng người bị trách về sự phạm tội của mình,
16 bởi có một con vật câm nói tiếng người ta, mà ngăn cấm sự điên cuồng của người tiên tri đó.
17 Ấy là những suối không nước, những đám mây bị luồng gió mạnh đưa đi và sự tối tăm mờ mịt đã để dành cho chúng nó.
18 Chúng nó dùng những lời văn hoa hư đản, đem những điều ham muốn của xác thịt và điều gian dâm mà dỗ dành những kẻ mới vừa tránh khỏi các người theo đường lầm lạc;
19 chúng nó hứa sự tự do cho người, mà chính mình thì làm tôi mọi sự hư nát; vì có sự chi đã thắng hơn người, thì người là tôi mọi sự đó.
20 Vả, chúng nó bởi sự nhận biết Chúa và Cứu Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ, mà đã thoát khỏi sự ô uế của thế gian, rồi lại mắc phải và suy phục những sự đó, thì số phận sau cùng của chúng nó trở xấu hơn lúc đầu.
21 chúng nó đã biết đường công bình, rồi lại lui đi về lời răn thánh đã truyền cho mình, thế thì thà rằng không biết là hơn.
22 Đã xảy đến cho chúng nó như lời tục ngữ rằng: Chó liếm lại đồ nó đã mửa, heo đã rửa sạch rồi, lại lăn lóc trong vũng bùn”
(II Phi-e-rơ 2).

Lý Luận 6:Nếu Sa-bát là điều sống chết đối với Cơ-đốc nhân như đối với Israel thì nó phải được Hội Nghị Giê-ru-sa-lem (Công Vụ Các Sứ Đồ 15) lập lại như là một điều luật trong Giao Ước Mới. Ấy vậy mà trong bốn điều hội nghị căn dặn tín đồ gốc dân ngoại kiêng giữ không hề nhắc đến việc phải giữ ngày Sa-bát.

Phản Biện:Không riêng gì điều răn thứ tư: “Hãy nhớ ngày nghỉ đặng làm nên ngày thánh,” mà trọn vẹn Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời đều phải được con dân Chúa trong mọi thời đại vâng giữ. Lời Chúa khẳng định các điều răn của Chúa được lập cho đến đời đời:

“Cứ theo chứng cớ Chúa, tôi đã biết từ lâu rằng Chúa lập các điều răn ấy đến đời đời” (Thi Thiên 119:152).

Hội Nghị Giê-ru-sa-lem không cần phải nhắc đến điều răn thứ tư vì không phải chỉ có điều răn thứ tư mới cần được vâng giữ mà là toàn thể Mười Điều Răn. Tuy nhiên, Đức Thánh Linh đã dùng Hội Nghị để thêm vào hai điều răn cho các tín đồ có gốc dân ngoại (vì các tín đồ có gốc Israel đã vâng giữ các điều này chung với Mười Điều Răn rồi). Hai điều răn đó được thêm vào chứ không phải thay thế cho Mười Điều Răn. Chúng ta có thể xem đó là điều răn thứ mười một và mười hai. Điều răn thứ mười một: Phải kiêng ăn của cúng thần tượng, huyết, thú vật chết ngột. Điều răn thứ mười hai: Chớ tà dâm (Công Vụ Các Sứ Đồ 15:29). Nếu cho rằng hai điều răn này thay thế cho Mười Điều Răn thì thật là vô lý, vì như vậy, con dân Chúa không được ăn đồ cúng thần tượng nhưng lại không cần phải vâng giữ điều răn thứ hai, là điều răn cấm làm hình tượng, cấm thờ lạy hình tượng, và cấm hầu việc hình tượng hay sao?

Trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ của Thánh Kinh, điều răn thứ sáu chỉ có hai từ ngữ; từ ngữ thứ nhất có nghĩa là: không, đừng, chớ; từ ngữ thứ hai có nghĩa là: quan hệ tình dục bất chính với vợ của người khác, dịch ra tiếng Việt là gian dâm hay là ngoại tình (tiếng Anh là: adultery). Bản dịch Phan Khôi dịch điều răn thứ sáu là: “Ngươi chớ phạm tội tà dâm” là không đúng với nguyên ngữ của Thánh Kinh, nên dịch là “Chớ gian dâm.” Thời Tân Ước, Đức Thánh Linh thêm điều răn “Chớ tà dâm” (tiếng Anh là: fornication) cho các tín đồ người ngoại là điều mà người Israel vốn đã vâng giữ bên cạnh Mười Điều Răn. Tà dâm bao gồm gian dâm và những hoạt động tình dục với thú vật, tội đồng tính luyến ái, sự loạn luân, quan hệ tình dục giữa hai người nam nữ độc thân không phải là vợ chồng, và các hoạt động tình dục không lành mạnh giữa hai vợ chồng:

“Kẻ nào nằm cùng một con vật sẽ bị xử tử”(Xuất Ê-díp-tô Ký 22:19).

“Chớ nằm cùng một con thú nào, mà gây cho mình bị ô uế với nó; một người đàn bà chớ nằm cùng thú vật nào; ấy là một sự quái gớm”(Lê-vi Ký 18:23).

“Chớ nằm cùng một người nam như người ta nằm cùng một người nữ; ấy là một sự quái gớm” (Lê-vi Ký 18:22)

“Ấy vì cớ đó mà Đức Chúa Trời đã phó họ cho sự tình dục xấu hổ; vì trong vòng họ, những người đờn bà đã đổi cách dùng tự nhiên ra cách khác nghịch với tánh tự nhiên. Những người đờn ông cũng vậy, bỏ cách dùng tự nhiên của người đờn bà mà un đốt tình dục người nầy với kẻ kia, đờn ông cùng đờn ông phạm sự xấu hổ, và chính mình họ phải chịu báo ứng xứng với điều lầm lỗi của mình”(Rô-ma 1:26-27)

“Chớ một ai trong vòng các ngươi đến gần cùng người nữ bà con mình đặng cấu hiệp: Ta là Đức Giê-hô-va.
Chớ cấu hiệp cùng mẹ mình; bằng cấu hiệp, tất làm nhục cho cha mẹ.
Chớ cấu hiệp cùng kế mẫu, bằng cấu hiệp, ấy làm nhục cho cha mình.
Chớ cấu hiệp cùng chị em mình, hoặc một cha khác mẹ, hoặc một mẹ khác cha, hoặc sanh tại trong nhà, hoặc sanh ở ngoài.
Chớ cấu hiệp cùng cháu gái, hoặc cháu gái nội, hoặc cháu gái ngoại; bằng cấu hiệp, ấy là gây nhục cho mình.
Chớ cấu hiệp cùng con gái của kế mẫu bởi cha mình sanh ra, vì là em gái ngươi.
Chớ cấu hiệp cùng chị em của cha ngươi; vì là cốt nhục của cha ngươi.
Chớ cấu hiệp cùng chị em của mẹ ngươi; vì là cốt nhục của mẹ ngươi.
Chớ cấu hiệp cùng bác gái hay thím ngươi; bằng cấu hiệp, ấy là gây nhục cho anh em của cha ngươi.
Chớ cấu hiệp cùng dâu ngươi; vì là vợ của con trai mình.
Chớ cấu hiệp cùng chị dâu hay em dâu ngươi; nếu cấu hiệp, ấy làm nhục cho anh em ngươi vậy.
Chớ cấu hiệp cùng một người đàn bà luôn với con gái của người đàn bà nữa. Chớ lấy cháu gái nội ngươi, hoặc cháu gái ngoại ngươi đặng cấu hiệp cùng họ; chúng nó đều là cốt nhục gần; làm vậy, ấy là một việc ác dục.
Chớ lấy vợ luôn với chị em người mà cấu hiệp cùng nó gần bên vợ chánh mình đương khi người còn sống, e khi sanh ghen tương.
Trong lúc người nữ có kinh nguyệt, chớ đến gần mà cấu hiệp.
Chớ nằm cùng vợ người lân cận mình, mà gây cho mình bị ô uế với người”
(Lê-vi Ký 18:6-20).

“Chẳng ai nên lấy vợ kế của cha mình, cũng đừng dở vạt áo của cha mình”(Phục Truyền Luật Lệ Ký 22:30).

“Nếu kẻ nào hòa dụ và nằm với một người gái đồng trinh chưa hứa giá, thì kẻ đó phải nộp tiền sính và cưới nàng làm vợ” (Xuất Ê-díp-tô Ký 22:16)

“Nếu một người nam gặp một con gái trẻ đồng trinh, chưa hứa gả, bắt nàng nằm cùng, mà người ta gặp tại trận, thì người nam đã nằm cùng con gái trẻ đó phải nạp cho cha nàng năm mươi siếc-lơ bạc, rồi nàng sẽ làm vợ người, bởi vì người có làm nhục nàng. Người còn sống ngày nào, thì chẳng được phép đuổi nàng đi” (Phục Truyền Luật lệ Ký 22:28-29)

“Mọi người phải kính trọng sự hôn nhân, chốn quê phòng chớ có ô uế, vì Đức Chúa Trời sẽ đoán phạt kẻ dâm dục cùng kẻ phạm tội ngoại tình”(Hê-bơ rơ 13:4).

Như vậy, chúng ta thấy điều răn “Chớ tà dâm” thời Tân Ước được bổ sung cho điều răn thứ sáu của Mười Điều Răn. Không thể nào nói rằng tín đồ thời Tân Ước phải vâng giữ điều răn “chớ tà dâm” do Đức Thánh Linh ban truyền mà lại không bị ràng buộc bởi điều răn “chớ gian dâm” của điều răn thứ sáu vì nó thuộc về Mười Điều Răn.

Lý luận rằng: Vì cớ Hội Nghị Giê-ru-sa-lem không nhắc lại điều răn “Hãy nhớ ngày nghỉ đặng làm nên ngày thánh” thì tín đồ không cần phải vâng giữ điều đó chẳng khác nào lý luận rằng: Vì cớ Hội Nghị Giê-ru-sa-lem không nhắc lại bất kỳ điều răn nào trong Mười Điều Răn nên tín đồ Đấng Christ không cần phải vâng giữ Mười Răn. Và, đó chính là thâm ý của những người đưa ra lý luận nói trên, để họ có thể sống thoải mái trong sự vi phạm Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời và còn dạy cho người khác làm theo, như Lời Chúa đã phán trước, cách nay gần 2000 năm:

“Dầu họ biết mạng lịnh Đức Chúa Trời tỏ ra những người phạm các tội dường ấy là đáng chết, thế mà chẳng những họ tự làm thôi đâu, lại còn ưng thuận cho kẻ khác phạm các điều ấy nữa”(Rô-ma 1:32).

Lý Luận 7: Trong Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời chỉ có chín điều được truyền qua thời Tân Ước, tức là được nhắc lại trong Tân Ước, cho nên tín đồ chỉ cần vâng giữ chín điều mà thôi, ngoại trừ điều răn thứ tư “Hãy nhớ ngày nghỉ đặng làm nên ngày thánh.”

Phản Biện: Trong thực tế, chỉ có một phần của điều răn thứ hai trong Mười Điều Răn không được nhắc lại trong Tân Ước:

“Ngươi chớ làm tượng chạm cho mình, cũng chớ làm tượng nào giống những vật trên trời cao kia, hoặc nơi đất thấp nầy, hoặc trong nước dưới đất. Ngươi chớ quỳ lạy trước các hình tượng đó, và cũng đừng hầu việc chúng nó…”(Xuất Ê-díp-tô Ký 20:4, 5).

Không một chỗ nào trong Tân Ước nói đến việc cấm làm tượng và hầu việc tượng. Tân Ước chỉ nói đến việc cấm thờ lạy hình tượng và thêm vào điều răn: cấm ăn của cúng thần tượng. Tuy nhiên, điều răn thứ tư đã được chính Đức Chúa Jesus long trọng nhắc đến và giải thích trong Mác 2:27, 28:

“Đoạn, Ngài lại phán: Vì loài người mà lập ngày Sa-bát, chớ chẳng phải vì ngày Sa-bát mà dựng nên loài người. Vậy thì Con Người cũng làm chủ ngày Sa-bát.”

Đức Chúa Jesus phán vì loài người mà lập ngày Sa-bát, có nghĩa là ngày Sa-bát được lập nên để loài người được nghỉ ngơi lao động phần xác, được tham dự nhóm hiệp thánh để thông công với nhau trong Chúa và với Chúa. Nếu mục đích của ngày Sa-bát là tốt lành như vậy thì tại sao loài người không tiếp nhận sự ban cho này của Đức Chúa Trời? Ngày Sa-bát được lập ra từ trước khi loài người phạm tội cho nên không liên quan gì đến sự kiện Đấng Christ chuộc tội nhân loại. Ngày Sa-bát đã được thiết lập từ khi sáng thế chứ không phải được lập ra khi Chúa ban hành Mười Điều Răn. Điều răn thứ tư chỉ nhắc lại cho nhân loại bổn phận phải tôn kính và vâng giữ ngày Sa-bát của Đức Giê-hô-va. Vì thế, chỉ một mình điều răn thứ tư bắt đầu bằng mệnh lệnh: “Hãy nhớ!” Nếu có sự liên quan giữa cái chết của Đấng Christ để chuộc tội cho toàn thể nhân loại với ngày Sa-bát thì sự liên quan đó chính là: Nhờ Đấng Christ chết để tha tội và làm cho sạch tội những ai thật lòng ăn năn tội, tin nhận sự cứu rỗi của Ngài, cho nên, họ được Đức Thánh Linh ngự vào thân xác họ để ban cho họ năng lực của Đức Chúa Trời mà vâng giữ trọn vẹn điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời, bao gồm việc thỏa lòng trong sự tôn kính và vâng giữ ngày Sa-bát, không phải trên bề mặt chữ nghĩa, văn tự, mà là từ trong tâm thần, linh hồn, cho đến thể xác đều giữ trọn, không tì, không vít, không chỗ trách được cho đến ngày Đấng Christ hiện ra (Phi-líp 2:15; I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23, 24)! A-men và thật là cảm tạ ân điển của Đức Chúa Trời.

“Con Người làm chủ ngày Sa-bát”có nghĩa là Đấng Christ làm chủ ngày Sa-bát, có nghĩa là chỉ có một mình Đấng Christ mới có thẩm quyền trên ngày Sa-bát. Ngài đã dùng thẩm quyền đó để nhắc nhở loài người mục đích và ý nghĩa của ngày Sa-bát. Đấng Christ không hề tuyên bố con dân Chúa không cần vâng giữ ngày Sa-bát hay là ngày Sa-bát đã bị hủy bỏ, trái lại, Ngài còn nói đến sự kiện ngày Sa-bát vẫn còn được tôn kính và vâng giữ trong thời bày năm đại nạn, là lúc Hội Thánh đã được cất ra khỏi thế gian:

“Hãy cầu nguyện cho các ngươi khỏi trốn tránh nhằm lúc mùa đông hay là ngày Sa-bát”(Ma-thi-ơ 24:20).

Khi Đức Chúa Jesus phán:“trong ngày Sa-bát có phép làm việc lành” (Ma-thi-ơ 12:12) là Ngài đương nhiên, trong tư cách là chủ của ngày Sa-bát, đã công nhận sự vâng giữ ngày Sa-bát. Nếu điều răn giữ ngày Sa-bát không còn hiệu lực thì Đức Chúa Jesus Christ đã công bố điều đó khi những người Pha-ri-si bắt bẻ Ngài về sự vi phạm ngày Sa-bát. Ngày nay, bất kỳ ai hay tổ chức nào dạy rằng: Ngày Sa-bát đã bị hủy bỏ hay đã đổi sang chủ nhật; hoặc con dân Chúa không cần phải vâng giữ ngày Sa-bát, thì người ấy, tổ chức ấy đã tự chiếm lấy quyền làm chủ ngày Sa-bát của Đấng Christ và đó là hành động chống nghịch điều răn, luật pháp của Đức Chúa Trời.

Lý Luận 8: Điều răn thứ tư về việc phải giữ ngày Sa-bát không phải là luật đạo đức như chín điều răn khác, mà chỉ là một điều luật về lễ nghi.

Phản Biện: Người đưa ra lý luận này có lẽ không hiểu ý nghĩa của hai từ ngữ đạo đức và luân lý. Theo định nghĩa của triết học: Đạo là nguyên lý sinh tồn tự nhiên trong vũ trụ, khi vào lòng người thì gọi là đức; đạo đức là tiêu chuẩn đúng sai mà loài người tự nhiên biết và dựa vào đó để hành động; còn luân lý là các phương cách thực thi những điều đạo đức trong xã hội loài người.

Thánh Kinh không hề dùng các từ ngữ đạo đức và luân lý, vì đạo đức và luân lý của loài người có nhiều điều không đúng với tiêu chuẩn thánh khiết của Đức Chúa Trời. Trong Thánh Kinh chỉ có “Lời của Đức Chúa Trời,” tức là điều răn của Ngài, là nguyên lý sinh tồn cho muôn loài thọ tạo và các luật lệ của Đức Chúa Trời là các phương cách để thực thi những điều răn của Ngài. Nói cách khác, đạo đức trong Thánh Kinh là các điều răn của Đức Chúa Trời và luân lý trong Thánh Kinh là các luật lệ của Ngài. Một người vâng theo Lời của Đức Chúa Trời, tức vâng theo các điều răn của Ngài, là một người có đạo đức, làm việc đạo đức, hợp luân lý. Một người không vâng theo Lời của Đức Chúa Trời là một người vô đạo đức, vô luân lý!

Ngoài ra, nếu phân tích điều răn thứ tư theo cái nhìn đạo đức của thế gian thì chúng ta cũng thấy: Sự việc một người để cho con trai, con gái, tôi trai, tớ gái, súc vật của mình và khách ngoại bang ở trong nhà mình được nghỉ làm việc trong ngày thứ bảy hoàn toàn là một hành vi đạo đức. Ngược lại, ai không cho phép con cái, tôi tớ, và khách ngoại bang ở trong nhà mình được hưởng ngày Sa-bát mới là một kẻ vô đạo đức, vô luân lý.

Lý Luận 9: Những ai tuân giữ ngày Sa-bát thì phải tuân giữ toàn bộ luật Sa-bát, trong đó có luật tử hình dành cho những ai vi phạm ngày Sa-bát và luật phải dâng các của lễ.

Phản Biện: Đúng vậy, những ai vi phạm ngày Sa-bát thì vẫn bị án tử hình vì điều răn của Chúa không thay đổi. Tuy nhiên, vì Đấng Christ đã đến để cất tội lỗi của thế gian đi, bằng cách gánh hết mọi trách nhiệm về hình phạt, cho nên, không riêng về điều răn thứ tư mà tất cả hình phạt dành cho những kẻ vi phạm các điều răn của Đức Chúa Trời vẫn còn đó, nhưng tội nhân được Chúa ban cho cơ hội ăn năn và tin nhận sự cứu rỗi của Đấng Christ. Ngày nay, Hội Thánh không ném đá những kẻ vi phạm luật Sa-bát, những kẻ ngoại tình, những kẻ chửi cha, mắng mẹ hay những kẻ phỉ báng danh Chúa… vì Đấng Christ đã gánh thay án phạt cho những kẻ ấy. Nếu những kẻ ấy ăn năn tội và tin nhận sự cứu rỗi của Đấng Christ thì họ sẽ trở thành thánh đồ của Đấng Christ, nếu không, thì một ngày kia Đấng Christ sẽ phán xử họ tùy theo mỗi sự vi phạm của họ.

Về việc dâng các của lễ: Các của lễ thiêu trong ngày Sa-bát tiêu biểu cho sự tận hiến của con dân Chúa đối với Chúa đã được thay thế bằng sự dâng chính thân thể mình làm của lễ sống và thánh như Lời Chúa dạy trong Rô-ma 12:1:

“Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là sự thờ phượng phải lẽ của anh em.”

Các của lễ chay (bánh không men) tiêu biểu cho một nếp sống không pha trộn tội lỗi:

“Hãy làm cho mình sạch men cũ đi, hầu cho anh em trở nên bột nhồi mới không men, như anh em là bánh không men vậy…” (I Cô-rinh-tô 5:7)

Hương thơm rắc trên bánh là những lời cầu nguyện dâng lên Chúa:

“Nguyện lời cầu nguyện tôi thấu đến trước mặt Chúa như hương…”(Thi Thiên 141:2)

“Khi lấy sách, bốn con sanh vật và hai mươi bốn trưởng lão bèn sấp mình xuống trước mặt Chiên Con, mỗi kẻ cầm một cây đờn và những hình vàng đầy hương; đó là những lời cầu nguyện của các thánh” (Khải Huyền 5:8).

Các của lễ quán (rượu) tiêu biểu cho nếp sống thỏa lòng trong Chúa và đem lại phước hạnh cho những người chung quanh:

“Vậy, hãy cậy Đức Chúa Jêsus mà hằng dâng tế lễ bằng lời ngợi khen cho Đức Chúa Trời, nghĩa là bông trái của môi miếng xưng danh Ngài ra. Chớ quên việc lành và lòng bố thí, và sự tế lễ dường ấy đẹp lòng Đức Chúa Trời”(Hê-bơ-rơ 13:15, 16).

Lý Luận 10: Ngày Sa-bát ngày nay không còn đúng là ngày Sa-bát nguyên thủy, cho nên, không thể nào giữ đúng ngày Sa-bát.

Phản Biện: Dầu có nhiều thay đổi về lịch khác nhau trong văn hóa của loài người nhưng cho đến ngày hôm nay, thứ tự bảy ngày trong một tuần lễ không hề thay đổi; ngày Sa-bát vẫn luôn luôn là ngày thứ bảy trong tuần lễ. Người Do-thái đã vâng giữ ngày Sa-bát từ hơn 3000 năm qua; đến thời của Đức Chúa Jesus, khi Ngài bị những người Pha-ri-si bắt bớ về việc không giữ ngày Sa-bát theo truyền thống loài người, thì Đức Chúa Jesus không hề lý luận rằng ngày đang được dân Do-thái gọi là Sa-bát là không đúng với ngày nguyên thủy.

Lý Luận 11:Khi Chúa khiến cho mặt trời dừng lại suốt một ngày trên trủng Ga-ba-ôn hay khiến cho mặt trời lui lại mười độ thì thứ tự của ngày Sa-bát đã bị thay đổi.

Phản Biện: Hai sự kiện được nêu ra trong lý luận trên được ghi lại trong Giô-suê 10 và II Các Vua 20.

“12 Ngày mà Đức Giê-hô-va phó dân A-mô-rít cho dân Y-sơ-ra-ên, thì Giô-suê thưa cùng Đức Giê-hô-va tại trước mặt Y-sơ-ra-ên, mà rằng: Hỡi mặt trời, hãy dừng lại trên Ga-ba-ôn; Hỡi mặt trăng, hãy ngừng lại trên trũng A-gia-lôn!
13 Mặt trời bèn dừng, mặt trăng liền ngừng, Cho đến chừng dân sự đã báo thù quân nghịch mình. Điều đó há không có chép trong sách Gia-sa sao? Mặt trời dừng lại giữa trời, và không vội lặn ước một ngày trọn.
14 Từ trước và về sau, chẳng hề có ngày nào như ngày đó, là ngày Đức Giê-hô-va có nhậm lời của một loài người; vì Đức Giê-hô-va chiến cự cho dân Y-sơ-ra-ên”
(Giô-suê 10:12-14).

“1 Trong lúc đó, Ê-xê-chia bị bịnh nặng gần chết. Tiên tri Ê-sai, con trai A-mốt, đến cùng người, và nói rằng: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hãy trối lại cho nhà ngươi, vì ngươi sẽ thác chẳng sống được đâu.
2 Ê-xê-chia bèn xây mặt mình vào phía vách, và cầu nguyện Đức Giê-hô-va mà rằng:
3 Ôi Đức Giê-hô-va! xin hãy nhớ lại rằng tôi đã lấy sự thành thật và lòng trọn lành, đi trước mặt Chúa, và làm theo điều tốt lành tại trước mặt Ngài. Đoạn, Ê-xê-chia khóc rất thảm thiết.
4 Ê-sai chưa đi khỏi thành trong, có lời của Đức Giê-hô-va phán với người rằng:
5 Hãy trở lại, nói với Ê-xê-chia, vua của dân sự ta rằng: Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Đa-vít, tổ phụ ngươi, phán như vầy: Ta có nghe lời cầu nguyện ngươi, thấy nước mắt của ngươi, này ta sẽ chữa lành cho ngươi; đến ngày thứ ba ngươi sẽ đi lên đền của Đức Giê-hô-va.
6 Ta sẽ thêm tuổi ngươi mười lăm năm, ta sẽ giải cứu ngươi và thành này khỏi tay vua A-si-ri. Vì cớ ta và Đa-vít, kẻ tôi tớ ta, ta sẽ binh vực thành này.
7 Ê-sai bèn biểu: Hãy lấy một cái bánh trái vả. Người ta lấy nó đắp trên mụt ung, thì vua được lành.
8 Vả, Ê-xê-chia đã hỏi Ê-sai rằng: Bởi dấu nào tôi phải nhìn rằng Đức Giê-hô-va sẽ chữa lành cho tôi và đến ngày thứ ba tôi sẽ được đi lên đền của Ngài?
9 Ê-sai đáp: Này là dấu Đức Giê-hô-va ban cho ngươi, đặng làm chứng cho ngươi biết Ngài sẽ làm thành điều Ngài đã phán ra: Ngươi muốn bóng tới trước mười độ hay là lui lại mười độ chăng?
10 Ê-xê-chia đáp: Bóng tới trước mười độ thì chẳng khó gì; không! thà nó lui lại sau mười độ thì hơn.
11 Thầy tiên tri Ê-sai cầu khẩn Đức Giê-hô-va, Ngài bèn đem bóng đã giọi trên trắc ảnh A-cha lui lại mười độ, là mười độ đã xuống rồi”
(II Các Vua 20:1-11).

Bỏ qua tất cả các ý kiến tìm cách giải thích hai phép lạ trên đây, chúng ta có thể chấp nhận phép lạ đã thực sự xảy ra như đã ghi chép trong Thánh Kinh mà không hề gặp trở ngại gì trong việc giữ đúng ngày Sa-bát. Một ngày trong Thánh Kinh bắt đầu bằng buổi chiều và bao gồm buổi chiều và buổi mai (Sáng Thế Ký 1), có nghĩa là từ buổi chiều hiện tại cho tới buổi chiều hôm sau là tròn một ngày. Thánh Kinh không định nghĩa một ngày dài ngắn như thế nào, vì thế, nếu trong lịch sử loài người có một ngày dài gấp rưỡi ngày khác như trường hợp mặt trời dừng lại trọn một ngày trên trủng Ga-ba-ôn thì cũng không quan hệ gì đến thứ tự bảy ngày trong một tuần lễ mà Đức Chúa Trời đã thiết lập.

Lý Luận 12: Người nào muốn giữ đúng ngày Sa-bát thì phải giữ theo ngày giờ của người Do-thái, nếu giữ theo ngày giờ địa phương của mình thì trật với ngày giờ Sa-bát chính thức của xứ Do-thái.

Phản Biện: Đức Chúa Trời đã chỉ thị rõ là con dân Chúa phải vâng giữ ngày Sa-bát trong những nơi họ cư trú, có nghĩa là theo buổi chiều và buổi mai của địa phương:

“Người ta làm việc trong sáu ngày, nhưng qua ngày thứ bảy là ngày Sa-bát, một ngày nghỉ, tức một sự nhóm hiệp thánh; đừng làm một công việc gì; ấy là lễ Sa-bát của Đức Giê-hô-va trong những nơi các ngươi ở” (Lê-vi Ký 23:3).

Lý Luận 13:Nếu giữ ngày Sa-bát thì không được ra khỏi nhà trong ngày Sa-bát.

Phản Biện:Người đưa ra lý luận này dựa vào Xuất Ê-díp-tô Ký 16:29:

“Hãy suy nghĩ rằng Đức Giê-hô-va đã cho các ngươi ngày Sa-bát; vậy nên, đến ngày thứ sáu Ngài lại cho các ngươi lương thực đủ hai ngày. Trong ngày thứ bảy, mỗi người phải ở yên chỗ mình, chớ ai ra khỏi nhà.”

Tuy nhiên, lệnh “chớ ra khỏi nhà” nằm trong bối cảnh của sự kiện ra khỏi nhà để đi kiếm ăn. Nếu ngày Sa-bát con dân Chúa tuyệt đối không được ra khỏi nhà thì làm sao họ có thể tham dự các sự nhóm hiệp thánh như Chúa đã truyền? Chính Đức Chúa Jesus và các môn đồ của Ngài cũng ra khỏi nhà trong ngày Sa-bát, trên đường đi các môn đồ của Chúa còn bứt bông lúa mì để ăn cho đỡ đói và Chúa thì nhiều lần chữa lành cho những người bị bệnh.

Lý Luận 14:Ngày Sa-bát không được đi quá xa, vì luật pháp

Phản Biện:Người đưa ra lý luận này dựa vào Công Vụ Các Sứ Đồ 1:12 và lời chú thích về từ ngữ “quãng đường của một ngày Sa-bát:”

“Bấy giờ, các người đó từ núi gọi là ô-li-ve trở về thành Giê-ru-sa-lem; núi ấy cách thành Giê-ru-sa-lem một quãng đường ước đi một ngày Sa-bát.”

Thật ra, đây không phải là điều luật do Đức Chúa Trời đặt ra và bảo Môi-se chép lại mà là luật do những người Pha-ri-si đặt ra. Những người Pha-ri-si lý luận rằng, trong đồng vắng, các lều trại cách xa lều tạm nhất cũng chỉ là 2000 cu-bíc

và trong ngày Sa-bát một người chỉ có thể di chuyển từ lều riêng đến lều tạm để thờ phượng Chúa, cho nên, họ đã quy định rằng trong ngày Sa-bát một người không thể đi bộ quá 2000 cu-bíc. Một cu-bíc tương đương khoảng 18 inches hoặc ½ mét. Con dân Chúa không bị ràng buộc bởi các luật lệ truyền khẩu của loài người.

Lý Luận 15:Nếu giữ ngày Sa-bát thì không được nổi lửa trong nhà vào ngày Sa-bát.

Phản Biện:Lý luận này dựa vào Xuất Ê-díp-tô Ký 35:3:

“Nhằm ngày Sa-bát chớ nổi lửa trong nhà nào của các ngươi hết.”Tuy nhiên, trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ không dùng từ ngữ “nhà” mà là dùng từ ngữ “nơi cư trú” bao gồm cả trong nhà và ngoài nhà. Tương tự như mệnh lệnh “chớ ra khỏi nhà,” mệnh lệnh không nổi lửa cũng phải được hiểu trong văn cảnh. Toàn bộ Xuất Ê-díp-tô Ký 35 nói đến việc thi công đền tạm để làm nơi thờ phượng Chúa. Mệnh lệnh chớ nổi lửa là chớ nổi lửa để làm các công việc xây dựng đền tạm không liên quan gì đến việc nổi lửa nấu ăn hay là sưởi ấm.

Ngày nay, nhân loại không cần nổi lửa vẫn có thể nấu ăn và sưởi ấm, tuy nhiên, việc nấu nướng linh đình trong ngày Sa-bát là việc không nên làm vì khiến cho người nấu ăn không được nghỉ ngơi và khiến cho con dân Chúa quá chú trọng về ăn uống mà quên đi mục đích, ý nghĩa, và phước hạnh của ngày Sa-bát.

Huỳnh Christian Timothy
19.04.2011

Nhấp vào đây để download bài viết này
http://www.divshare.com/download/14612284-c44

http://www.mediafire.com/view/?exu9rl6pa00cd9l

Ghi Chú

[1] Xin xem thêm các bài viết sau đây:

“Mười Hai Lẽ Thật Về Điều Răn và Luật Pháp của Đức Chúa Trời:” http://thanhoc.timhieutinlanh.net/?p=7

“Mười Hai Từ Ngữ Liên Quan Đến Điều Răn và Luật Pháp:” http://thanhoc.timhieutinlanh.net/?p=8

“Những Quan Hệ và Khác Biệt Giữa Mười Điều Răn và Luật Pháp;” “Giá Trị và Tác Động của Mười Điều Răn Đối Với Con Dân Chúa:” http://www.timhieutinlanh.net/?p=530

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2011 Vietnamese Christian Mission Ministry, Inc.  –  Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry  –  Xin quý bạn đọc vui lòng tiếp tay phổ biến bài viết nầy dưới mọi hình thức, nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Share This:

Comments are closed.

4,537 views