Linh Hồn và Sự Chết Đời Đời

Huỳnh Christian Timothy Vào ngày 1.6.2013, tôi nhận được email của một tín hữu, nội dung là các lý luận nhằm bài bác tín lý “linh hồn tồn tại ngoài thân thể xác thịt” và bài bác tín lý “những … Đọc Tiếp →

Trả Lời Một Số Câu Hỏi Liên Quan Đến Loạt Bài Giảng về Loài Người

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?26lx0dplqcx58vh

Huỳnh Christian Timothy

Chúng tôi nhận được qua email một số câu hỏi liên quan đến loạt bài giảng về loài người. Chúng tôi xin tóm lược và trả lời trong bài này.

Xin vào nối mạng dưới đây để đọc và tải xuống các bài giảng về loài người:
http://thanhoc.timhieutinlanh.net/taxonomy/term/70

Xin vào nối mạng dưới đây để nghe và tải xuống mp3 các bài giảng về loài người:
http://timhieutinlanh.net/node/1034

Các Câu Hỏi

1. Loài người cũng ra từ Thiên-Chúa Cha, nhưng ra bởi lời phán của Ngài. Kinh thánh biểu tượng cho sự “ra” đó như sau : “7 GIA-VÊ là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật.” Như vậy loài người muốn hằng hữu phải có Thần-linh sự sống của chính bản thể Thiên-Chúa-Cha.

2. Nếu giải nghĩa kinh thánh hoàn toàn theo nghĩa đen tôi nhận thấy không hoàn toàn đúng và có khi còn sai trật nguy hiểm cho người đọc.

3. Kinh thánh biểu tượng cho sự “ra” đó là tôi muốn nhấn mạnh rằng nếu cứ nhất mực hiểu : “7 GIA-VÊ là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật.” theo nghĩa mặt chữ như vậy; vô tình, người viết đã biến Thiên-Chúa vốn toàn năng thành một Thiên-Chúa hữu hạn, nghĩa là Ngài phải : Ngài gom bụi của đất để làm nên một hình thể giống như hình thể vật chất của Ngài; theo như cách mà Anh đã viết.

4. Để khỏi dài dòng tôi xin nêu một ví dụ sau đây : “9 Giê-hô-va Đức Chúa Trời khiến đất mọc lên các thứ cây đẹp mắt, và trái thì ăn ngon; giữa vườn lại có cây sự sống cùng cây biết điều thiện và điều ác.” (St 2:9)

Nếu giải nghĩa câu trên theo nghĩa mặt chữ, nghĩa là hai cây đó có thực !!!

Chúng ta đã biến một Thiên-Chúa bản chất Ngài là đấng siêu-việt thành ra một Thiên-Chúa hữu hạn; nghĩa là, Ngài cũng sợ hãi, ích kỷ, tham lam….

5. Vì sao ??? Xin đọc kỹ lời Chúa sau đây :

22 Giê-hô-va Đức Chúa Trời phán rằng: Nầy, về sự phân biệt điều thiện và điều ác, loài người đã thành một bực như chúng ta; vậy bây giờ, ta hãy coi chừng, e loài người giơ tay lên cũng hái trái cây sự sống mà ăn và được sống đời đời chăng. (St 3:22)

Thiên-Chúa sợ. Và một điều vô lý nữa : Trước khi Adam chưa vi phạm ông ta đã từng ăn trái cây sự sống. Vậy sau khi ông ta vi phạm Chúa lại e ông ta ăn trái cây đó để sống mãi !!!

6. Chúa sợ, Ngài phải đuổi Adam ra khỏi Eden?

7. Tôi xin chứng minh về hai cây trong St 3:9 chỉ là biểu tượng mà Chúa dùng để nói đến hai sự chọn lựa trong lòng Adam đối với lệnh truyền trong St 1:28 như sau : “9 Giê-hô-va Đức Chúa Trời khiến đất mọc lên các thứ cây đẹp mắt,và trái thì ăn ngon; giữa vườn lại có cây sự sống cùng cây biết điều thiện và điều ác”.

8. Tóm tắt : Nếu hiểu hoàn toàn nghĩa đen từ câu số 8 cho đến câu số 24 của chương ba chúng ta sẽ biến một Thiên-Chúa toàn năng, toàn ái thành một Thiên-Chúa đầy thù hận, ghen tương, ích kỷ như loài người hữu hạn hôm nay.

Như chúng ta biết, sau khi Adam vi phạm, Thiên-Chúa phải công bố một loạt những vấn đề cần thiết cho sự sống đời đời của loài người.

Nếu giải nghĩa nội dung St 3:22-24 theo mặt chữ, thì ý nghĩa của câu số 22 như sau : Ngài nhận thấy Adam ngang bằng với mình rồi thì Ngài SỢ . Sợ, rồi Ngài ĐUỔI Adam ra khỏi vườn (St 3:23); chưa đủ, để cho yên chí Ngài lại phải cho các Thiên-sứ CANH GIỮ đường dẫn đến cây sự sống (St 3:24). Như vậy chúng ta thấy một loạt những hành động sau của một Thiên Chúa “toàn năng” bao gồm : Sợ, Đuổi, Canh giữ. Nếu theo nghĩa đen giải nghĩa chúng ta thấy sao ???

9. Một mâu thuẫn nữa không thể giải nghĩa được mà nếu có cố tình giải nghĩa thì cũng sẽ làm cho vấn đề đã sai lại càng thêm sai. Đó là trước khi Adam vi phạm ông ta đã từng ăn trái của “cây sự sống”. Vậy tại sao khi ông ta ăn trái của “cây cho biết thiện-ác” ông ta lại phải chết ???

Các Câu Trả Lời

1. Thánh Kinh chép: “Giê-hô-va Thiên Chúa bèn lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sanh khí vào lỗ mũi; thì người trở nên một loài sanh linh” (Sáng Thế Ký 2:7).

Thánh Kinh chép: “Vả, hơi sống của Thiên Chúa dầu có dư dật, chỉ làm nên một người mà thôi. Nhưng vì sao chỉ làm một người? Ấy là vì tìm một dòng dõi thánh. Vậy các ngươi khá cẩn thận trong tâm thần mình; chớ đãi cách phỉnh dối với vợ mình lấy lúc tuổi trẻ” (Ma-la-chi 2:15).

Vậy, có phải hơi sống của Đấng Hằng Hữu đã tạo nên loài người hằng hữu hay không? Nếu hơi sự sống này không phải là sự sống bản thể của Thiên Chúa thì nó là sự sống của bản thể gì? Anh lẫn lộn giữ linh hồn là bản thể của loài người với thân thể xác thịt là áo mặc, là nhà trọ của linh hồn.

Khi linh hồn của người có Chúa ra khỏi thân thể xác thịt thì sẽ đi ở với Đấng Christ. Thánh Kinh chép: “Ví thử tôi cứ sống trong xác thịt, là ích lợi cho công khó tôi, thì tôi chẳng biết nên lựa điều chi. Tôi bị ép giữa hai bề muốn đi ở với Đấng Christ, là điều rất tốt hơn; nhưng tôi cứ ở trong xác thịt, ấy là sự cần hơn cho anh em” (Phi-líp 1:22-24). Cái gì đi ở với Đấng Christ? Cái gì sống trong hay ở trong xác thịt?

Thánh Kinh chép: “Vậy tôi nói, chúng ta đầy lòng tin cậy, muốn lìa bỏ thân thể nầy đặng ở cùng Chúa thì hơn. Cho nên chúng ta dầu ở trong thân thể nầy, dầu ra khỏi, cũng làm hết sức để được đẹp lòng Chúa” (II Cô-rinh-tô 5:8-9). Cái gì lìa bỏ thân thể này đặng đi ở với Chúa?

Thân thể xác thịt có thể biến cải (phân rã thành các nguyên tố hóa học) nhưng vẫn còn lại đời đời vì mọi loài Thiên Chúa sáng tạo đều hằng hữu.

Thánh Kinh chép về sự hằng hữu của trái đất:

Thi Thiên 78:69 “Ngài xây đền thánh Ngài giống như nơi rất cao, Khác nào trái đất mà Ngài đã sáng lập đời đời.”

Thánh Kinh chép về sự hằng hữu của muôn loài thọ tạo(Thi Thiên 148):

1 Ha-lê-lu-gia! Từ các từng trời hãy tôn vinh Đức Giê-hô-va! Hãy tôn vinh Ngài trong nơi cao cả!

2 Hỡi hết thảy các thiên sứ Ngài, hãy tôn vinh Ngài! Hỡi cả cơ binh Ngài, hãy tôn vinh Ngài!

3 Hỡi mặt trời, mặt trăng, hãy tôn vinh Ngài! Hỡi hết thảy ngôi sao sáng, hãy tôn vinh Ngài!

4 Hỡi trời của các từng trời, hỡi nước trên các từng trời, Hãy tôn vinh Ngài!

5 Cả thảy khá tôn vinh danh Đức Giê-hô-va; Vì Ngài ra lịnh, thảy bèn được sáng tạo.

6 Ngài lập cho vững các vật ấy đến đời đời vô cùng; Cũng đã định mạng, sẽ không có ai vi phạm mạng ấy.

2. Dĩ nhiên, Thánh Kinh phải có lúc giải theo nghĩa bóng, nhưng chỉ khi nào văn mạch cho phép. Thí dụ: Ta là người chăn. Ta là đường đi. Ta là cửa của chiên. Hãy chăn chiên Ta. Sông nước hằng sống…

3. Đó là anh ý kiến của anh, còn Thánh Kinh thì khẳng định: thân thể xác thịt của loài người là bụi của đất và sau khi phạm tội thì sẽ trở về bụi đất.

Sáng Thế Ký 3: 17-19 chép:

17 Ngài lại phán cùng A-đam rằng: Vì ngươi nghe theo lời vợ mà ăn trái cây ta đã dặn không nên ăn, vậy, đất sẽ bị rủa sả vì ngươi; trọn đời ngươi phải chịu khó nhọc mới có vật đất sanh ra mà ăn.

18 Đất sẽ sanh chông gai và cây tật lê, và ngươi sẽ ăn rau của đồng ruộng;

19 ngươi sẽ làm đổ mồ hôi trán mới có mà ăn, cho đến ngày nào ngươi trở về đất, là nơi mà có ngươi ra; vì ngươi là bụi, ngươi sẽ trở về bụi.

Nếu anh muốn giải thích chữ đất trong câu 19 theo "nghĩa bóng" thì anh cũng phải giải thích các chữ đất trong câu 17 và 18 theo nghĩa bóng. Vậy, theo anh, nghĩa bóng của chữ đất là gì?

4. Mời anh nghe ba bài giảng của tôi về hai cây này tại đây: http://timhieutinlanh.net/node/962

5. Sự sống đời đời khác với sự thực hữu và hằng hữu. Loài người thực hữu vì được Thiên Chúa sáng tạo. Loài người hằng hữu vì ra từ Đấng Hằng Hữu. Thánh Kinh định nghĩa rõ ràng: Sự sống đời đời là thực hữu trong sự nhìn biết Đức Cha và Đức Con: "Vả, sự sống đời đời là nhìn biết Ngài, tức là Thiên Chúa có một và thật, cùng Jesus Christ, là Đấng Ngài đã sai đến" (Giăng 17:3 ), tức là thực hữu trong sự mãi mãi hiểu biết Thiên Chúa trong một thân thể vật chất không bị băng hoại và không có khả năng phạm tội vì không biết điều ác, mà chỉ biết điều thiện.

Sự chết đời đời là sự thực hữu mà không được tiếp tục hiểu biết Thiên Chúa trong một thân thể bị băng hoại bởi sự hình phạt của Thiên Chúa. Thánh Kinh cũng định nghĩa rõ ràng sự chết đời đời (Ma-thi-ơ 25:41, 46; Khải Huyền 20:10, 14-15; 21:8). Lý do của sự chết đời đời là vì không vâng phục Thiên Chúa, tức không nhận biết Ngài. Vì không nhận biết Ngài nên mới dám phản nghịch Ngài.

Khi A-đam được dựng nên, ông chưa có sự sống đời đời (tức chưa có sự mãi mãi nhận biết Thiên Chúa). Ông phải chọn ham muốn được sự sống đời đời bằng cách ăn trái của cây sự sống. Tuy nhiên, ông chưa kịp ăn trái cây sự sống đời đời thì ông đã ăn trái cây biết điều thiện và điều ác, nghịch lại thánh ý của Thiên Chúa và dẫn đến hậu quả là ông không còn được cơ hội để mãi mãi nhận biết Thiên Chúa. Chúng ta biết A-đam chưa ăn trái cây sự sống vì nếu ông đã ăn thì ông đã mãi mãi nhận biết Thiên Chúa và sẽ không có khả năng phạm tội, không biết điều ác. Khi đó Thiên Chúa sẽ hủy diệt cây biết điều thiện và điều ác.

Trái của cây sự sống đời đời (đạt được bằng sự vâng lời Thiên Chúa: ăn nó và không ăn trái của cây biết điều thiện điều ác – loài người chỉ có thể làm một trong hai lựa chọn: ăn trái của cây sự sống thì trái của cây biết điều thiện và điều ác sẽ bị cất đi, và ngược lại) có tính chất giúp cho loài người được đời đời nhận biết Thiên Chúa và tương giao với Thiên Chúa trong hạnh phúc khi loài người không nhiễm tội. Sự nhận biết Thiên Chúa và tương giao với Thiên Chúa là một tiến trình kéo dài cho đến đời đời. Mỗi lúc chúng ta càng hiểu biết Chúa hơn và càng khắng khít với Chúa hơn.

Một khi loài người phạm tội thì sự nhận biết Thiên Chúa bị chấm dứt ngay, họ không thể nào tiếp tục nhận biết Ngài cho đến khi được Ngài ban cho cơ hội ăn năn và họ tiếp nhận sự ban cho ấy. Nếu đã phạm tội mà vẫn đời đời ở trong sự nhận biết Thiên Chúa, tức sự sống đời đời, thì đó sẽ là một hình phạt kinh khủng còn hơn là hồ lửa. Vì càng nhận biết Thiên Chúa càng hơn, thì càng lộ ra sự ô uế, xấu xa, gian ác của mình càng hơn, và càng đau khổ hơn. Vì thế, Thiên Chúa đã không để cho A-đam có thể ăn trái cây của sự sống, sau khi ông phạm tội, tức là không cho phép ông tiếp tục hiểu biết Thiên Chúa ngày càng hơn trong khi ông đang ở trong địa vị bị mãi mãi xa cách Ngài.

6. Đó là sự kết luận chủ quan của anh. Thánh Kinh không hề có chỗ nào nói Chúa sợ! Ngài thương xót, không muốn A-đam mất cơ hội được tái sinh phải đau khổ đời đời trong sự mãi mãi nhận biết Chúa mà bản thân mình chưa được tha tội và sạch tội, nên Ngài không cho ông ăn trái của cây sự sống sau khi ông phạm tội. Nói cách này để cho dễ hiểu. Đối với một người bình thường, khi đang đói mà được ai cho một nồi đậu phụng luộc nóng hổi, thì người ấy sẽ tận hưởng sự thơm ngon của đậu luộc và được no lòng. Nhưng, đối với người bất bình thường, có sự khiếm khuyết trong cơ thể, bị dị ứng với chất đậu phụng, thì nồi đậu phụng luộc đối với anh ta không còn công dụng giúp cho anh ta no nê, thỏa lòng mà sẽ là nguồn của sự đau khổ khủng khiếp khi anh ta ăn vào.

7. Chính câu Thánh Kinh anh trích dẫn đã chứng minh, cả hai: cây sự sống và cây biết điều thiện điều ác đều là những cây theo nghĩa đen như các cây khác.

8. Đó chỉ là những suy luận chủ quan của anh hoàn toàn không có trong Thánh Kinh. Tôi không thấy Thiên Chúa sợ hay ích kỷ mà tôi chỉ thấy Thiên Chúa đầy lòng thương xót và ý định khôn ngoan của Ngài. Lý luận quy chụp theo kiểu trên đây là ngụy biện, gán ghép những điều Thánh Kinh không nói cho Thánh Kinh.

9. Xin cho tôi biết chỗ nào Thánh Kinh nói A-đam ăn trái của cây sự sống trước khi ăn trái của cây biết điều thiện và điều ác? Vả lại, các chữ "sống" và "chết" phải hiểu theo định nghĩa của Thánh Kinh:

  • Xác thịt sống: linh hồn và tâm thần ở trong xác thịt.
  • Tâm thần sống: linh hồn ở trong tâm thần và tâm thần giúp linh hồn tương giao với Thiên Chúa, nhận biết Thiên Chúa ngày càng hơn; luật pháp và điều răn của Thiên Chúa được ghi chép trong tâm thần; năng lực của Đức Thánh Linh tuôn đổ trong tâm thần, giúp cho linh hồn có những quyết định đúng theo thánh ý của Thiên Chúa và có năng lực làm tròn những việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn cho linh hồn.
  • Linh hồn sống: linh hồn nhận biết Thiên Chúa và vâng phục Thiên Chúa.
  • Sự sống đời đời: linh hồn đã được tái sinh ở trong một tâm thần đã được tái sinh và ở trong một xác thịt đã được phục sinh hoặc đã được biến hóa, mãi mãi ở trong trạng thái và địa vị nhận biết Thiên Chúa và hạnh phúc bên Ngài. Sự nhận biết Thiên Chúa cứ tăng tiến mãi, không ngừng nghỉ, cho đến đời đời.
  • Sự chết xác thịt: linh hồn và tâm thần rời khỏi xác thịt, xác thịt trở về cùng bụi đất.
  • Sự chết tâm thần: tâm thần không còn tương giao với Thiên Chúa, sẽ trở về cùng Thiên Chúa khi sự chết của xác thịt xảy ra.
  • Sự chết linh hồn: linh hồn không được tiếp tục nhận biết Thiên Chúa (nhưng vẫn duy trì sự nhận thức về Thiên Chúa mà Ngài đã đặt để trong linh hồn loài người khi Ngài sáng tạo loài người); hành động thiếu sự dẫn dắt của Thiên Chúa, khi sự chết của thể xác xảy ra thì rời khỏi thể xác, rời khỏi tâm thần, đi vào âm phủ, chờ ngày xác thịt được sống lại để chịu phán xét.
  • Sự chết đời đời của loài người: linh hồn ở trong thân thể xác thịt đã được phục sinh, đời đời không còn được tiếp tục nhận biết Thiên Chúa, (nhưng vẫn duy trì sự nhận thức về Thiên Chúa mà Ngài đã đặt để trong linh hồn loài người khi Ngài sáng tạo loài người), chịu hình phạt đời đời trong hỏa ngục.

Qua đó, chúng ta thấy rõ ràng: sự hằng hữu khác với sự sống đời đời và khác với sự chết đời đời. Hay nói cách khác, sự sống đời đời là hằng hữu trong sự tiếp tục nhận biết Thiên Chúa không ngừng nghỉ. Sự chết đời đời là hằng hữu trong sự không còn được tiếp tục nhận biết Thiên Chúa mà phải chịu khổ vì sự lựa chọn không vâng phục Thiên Chúa của mình [1].

Tôi nhận thấy, anh theo trường phái thần học biểu tượng cho nên anh đã hiểu Thánh Kinh theo phong cách của họ. Với tôi, hiểu cây sự sống và cây biết điều thiện điều ác theo nghĩa đen hay nghĩa bóng không liên quan gì đến sự cứu rỗi của một người. Hễ ai công nhận mình là tội nhân, vì mình sống nghịch lại điều răn và luật pháp của Thiên Chúa như đã soi sáng trong lương tâm và ghi chép trong Thánh Kinh, thật lòng ăn năn, từ bỏ tội, tin nhận chỉ một mình sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ, và hết lòng làm những gì Thánh Kinh bảo làm, tránh những gì Thánh Kinh bảo tránh thì người đó sẽ nhận được sự sống đời đời. Khi đó, họ sẽ biết sự sống đời đời là gì!

Tôi mạn phép chấm dứt thảo luận về đề tài này vì những điều tôi trình bày trên đây và trong các bài giảng của tôi là những điều tôi tin. Tôi không muốn tốn thì giờ để tranh biện điều tôi đã tin và tôi cũng đã trình bày hết những gì tôi có thể trình bày về đề tài này.

Cám ơn anh đã dành thời gian để chia sẻ và thảo luận.

Trong ân điển của Đức Chúa Jesus Christ.

Huỳnh Christian Timothy
12.12.2012

[1] Xin xem thêm bài “Sự Sống Đời Đời và Sự Chết Đời Đời” tại đây: http://thanhoc.timhieutinlanh.net/node/303


Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry.
Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Đọc Tiếp →

Có Phải Người Đã Được Cứu Rỗi Thì Không Bao Giờ Bị Hư Mất?

Huỳnh Christian Timothy

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?58g7swnm8mxwm95

Bấm vào nối mạng dới đây để nghe và tải xuống MP3 bài giảng này:
 

Xin đọc bài “Đức Tin Thể Hiện Qua Việc Làm” trước khi đọc bài này.
Đọc trên mạng: http://thanhoc.timhieutinlanh.net/node/295
Tải xuống: http://www.mediafire.com/view/?b5257uv6j575w3b

Dẫn Nhập

Giáo lý “Tin Chúa Một Lần Được Cứu Vĩnh Viễn” [1] với ý nghĩa “người đã được cứu rỗi thì không bao giờ bị hư mất” là một tà giáo. Gọi là tà giáo bởi vì giáo lý này không đúng với Thánh Kinh. Chúng ta có thể tra tìm khắp trong Thánh Kinh mà không bao giờ gặp câu nào nói rằng, một người đã được cứu rỗi thì không bao giờ bị hư mất. Trái lại, Thánh Kinh cho biết, người nào đã được cứu rỗi mà trở về sống trong tội lỗi thì sẽ bị hư mất và bị hình phạt nặng hơn người không bao giờ tin nhận Chúa.

Sự Trọn Vẹn của Đức Chúa Cha

Thiên Chúa nói chung và Đức Chúa Cha nói riêng là trọn vẹn trong sự yêu thương, thánh khiết, và công chính. Ngài yêu thương trọn vẹn nên hy sinh Con Một của Ngài để cứu chuộc nhân loại. Ngài thánh khiết trọn vẹn nên không thể chấp nhận một chút tội lỗi nào. Ngài công chính trọn vẹn nên mọi tội lỗi phải bị hình phạt cách nghiêm khắc. Như vậy, làm sao chúng ta có thể nói rằng một Đức Chúa Trời trọn vẹn có thể bỏ qua nếp sống tội lỗi của những kẻ xưng mình là con dân của Ngài?

Thánh Kinh thường dùng hình ảnh quan hệ vợ chồng để nói đến quan hệ giữa Chúa và con dân của Ngài. Chúng ta hãy suy nghĩ về trường hợp sau đây:

Một người vợ ưa thích tà dâm, lén lút ngoại tình, rồi bị tình nhân gạt bán vào ổ điếm. Người chồng đi tìm vợ và bỏ tiền ra chuộc vợ về, tha thứ và phục hồi địa vị làm vợ cho người vợ bất trung đó. Nay, có thể nào người vợ nói rằng, vì chồng tôi yêu tôi, tha thứ cho tôi, tìm chuộc tôi về và tôi tin nhận tình yêu, sự tha thứ và sự cứu chuộc của chồng tôi, cho nên, từ nay, dầu tôi có thỉnh thoảng ngoại tình theo sự ưa thích tà dâm của tôi thì tôi cũng sẽ không mất địa vị làm vợ?

Thánh Kinh luôn luôn răn đe việc một người đã tin Chúa mà bội đạo, không trung tín sống theo Lời Chúa, thì sẽ bị hư mất đời đời. Được cứu rỗi là được Đức Chúa Trời ban cho địa vị công bình và năng lực từ Đức Thánh Linh để chọn lựa sống và làm theo Lời Chúa hoặc sống và làm theo xác thịt. Sống và làm theo Lời Chúa thì sẽ nhận được sự sống đời đời cùng với các phần thưởng ban cho, tùy theo các việc lành đã làm. Sống và làm theo xác thịt thì sẽ bị hư mất đời đời và bị hình phạt, tùy theo mỗi việc tội lỗi đã làm. Không hề có chuyện một người đã được cứu rỗi, nếu sống trong tội mà không ăn năn thì bị mất phần thưởng nhưng vẫn được hưởng sự sống đời đời. Không một chỗ nào trong Thánh Kinh nói rằng một người không ăn năn tội mà được sự sống đời đời.

Lẽ Thật của Lời Chúa

Thánh Kinh không dùng một vài câu mà dành ra nhiều phân đoạn để dạy rõ rằng: Một người đã tin Chúa, đã nếm biết quyền phép của đời sau (tức là đã được tái sinh và ban cho Thánh Linh), mà trở về sống trong tội thì sẽ bị hư mất đời đời. Dưới đây là những phân đoạn Thánh Kinh đó:

Ga-la-ti 5:19-21

Vả, các việc làm của xác thịt là rõ ràng lắm: ấy là gian dâm, ô uế, luông tuồng, thờ hình tượng, phù phép, thù oán, tranh đấu, ghen ghét, buồn giận, cãi lẫy, bất bình, bè đảng, ganh gổ, say sưa, mê ăn uống, cùng các sự khác giống như vậy. Tôi nói trước cho anh em, như tôi đã nói rồi: hễ ai phạm những việc thể ấy thì không được hưởng vương quyền của Thiên Chúa.

Ê-phê-sô 5:3-7

Phàm những sự gian dâm, hoặc sự ô uế, hoặc sự tham lam, cũng chớ nên nói đến giữa anh em, theo như cách xứng đáng cho các thánh đồ. Chớ nói lời tục tỉu, chớ giễu cợt, chớ giả ngộ tầm phào, là những điều không đáng, nhưng thà cảm tạ ơn Chúa thì hơn. Vì anh em phải biết rõ rằng kẻ gian dâm, ô uế, tham lam, tức là kẻ thờ hình tượng, không một kẻ nào được dự phần kế nghiệp vương quốc của Đấng Christ là Thiên Chúa. Đừng để cho ai lấy lời giả trá phỉnh dổ anh em; vì ấy là nhơn những điều đó mà cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời giáng trên các con bạn nghịch. Vậy, chớ có thông đồng điều chi với họ hết.”

Phi-líp 3:17-19

Hỡi anh em, hãy bắt chước tôi, lại xem những kẻ ăn ở theo mẫu mực mà anh em thấy trong chúng tôi. Vì tôi đã thường nói điều nầy cho anh em, nay tôi lại khóc mà nói nữa: lắm người có cách ăn ở như là kẻ thù nghịch thập tự giá của Đấng Christ. Sự cuối cùng của họ là hư mất; họ lấy sự xấu hổ của mình làm vinh quang, chỉ tư tưởng về các việc thế gian mà thôi.”

Hê-bơ-rơ 6:4-8

Vì chưng những kẻ đã được soi sáng một lần, đã nếm sự ban cho từ trên trời, dự phần về Thánh Linh, Lời lành của Thiên Chúa, và năng lực của đời sau, nếu lại vấp ngã, thì không thể khiến họ lại ăn năn nữa, vì họ đóng đinh Con Đức Chúa Trời trên thập tự giá cho mình một lần nữa, làm cho Ngài sỉ nhục tỏ tường. Vả, một đám đất nhờ mưa đượm nhuần mà sanh cây cỏ có ích cho người cày cấy, thì đất đó hưởng phần phước lành của Đức Chúa Trời. Nhưng đất nào chỉ sanh ra những cỏ rạ, gai gốc, thì bị bỏ, và hầu bị rủa, cuối cùng phải bị đốt.”

Hê-bơ-rơ 10:26-31

Vì nếu chúng ta đã nhận biết lẽ thật rồi, mà lại cố ý phạm tội, thì không còn có tế lễ chuộc tội nữa, nhưng chỉ có sự đợi chờ kinh khiếp về sự phán xét, và lửa hừng sẽ đốt cháy kẻ bội nghịch mà thôi.Ai đã phạm luật pháp Môi-se, nếu có hai ba người làm chứng, thì chết đi không thương xót, huống chi kẻ giày đạp Con Đức Chúa Trời, coi máu của giao ước, tức là máu mà mình nhờ nên thánh, là ô uế, lại khinh lờn Đấng Thần Linh của ân điển, thì anh em há chẳng tưởng rằng người ấy đáng bị hình rất nghiêm đoán phạt hay sao? Vì chúng ta biết Đấng đã phán rằng: Sự trả thù thuộc về Ta; Ta sẽ báo ứng, ấy là lời Chúa phán. Lại rằng: Chúa sẽ xét đoán dân mình. Sa vào tay Thiên Chúa Hằng Sống là sự đáng kinh khiếp thay!”

II Phi-e-rơ 2

Dầu vậy, trong dân chúng cũng đã có tiên tri giả, và cũng sẽ có giáo sư giả trong anh em; họ sẽ truyền những đạo dối làm hại, chối Chúa đã chuộc mình, tự mình chuốc lấy sự hủy phá thình lình. Có nhiều kẻ sẽ theo họ trong những sự buông tuồng, và Đạo thật vì cớ họ sẽ bị gièm pha.

Họ sẽ bởi lòng tham mình, lấy lời dối trá khoét anh em; nhưng sự kêu án nghịch cùng họ đã nghị định từ lâu nay, và sự hư mất của họ chẳng ngủ. Vả, nếu Đức Chúa Trời chẳng tiếc các thiên sứ đã phạm tội, nhưng quăng vào trong vực sâu, tại đó họ bị trói buộc bằng xiềng nơi tối tăm để chờ sự phán xét; nếu Ngài chẳng tiếc thế gian xưa, trong khi sai nước lụt phạt đời gian ác nầy, chỉ gìn giữ Nô-ê là thầy giảng đạo công bình, với bảy người khác mà thôi; nếu Ngài đã đoán phạt thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ, hủy phá đi khiến hóa ra tro, để làm gương cho người gian ác về sau; nếu Ngài đã giải cứu người công bình là Lót, tức là kẻ quá lo vì cách ăn ở luông tuồng của bọn gian tà kia, (vì người công bình nầy ở giữa họ, mỗi ngày nghe thấy việc trái phép của họ bèn cảm biết đau xót trong lòng công bình mình), thì Chúa biết cứu chữa những người tôn kính khỏi cơn cám dỗ, và hành phạt kẻ không công bình, cầm chúng nó lại để chờ ngày phán xét, nhứt là những kẻ theo lòng tư dục ô uế mình mà ham mê sự sung sướng xác thịt, khinh dể quyền phép rất cao. Bọn đó cả gan, tự đắc, nói hỗn đến các bậc tôn trọng mà không sợ, dẫu các thiên sứ, là đấng có sức mạnh quyền phép hơn chúng nó, còn không hề lấy lời nguyền rủa mà xử đoán các bậc đó trước mặt Chúa.

Nhưng chúng nó cũng như con vật không biết chi, sanh ra chỉ làm thú vật để bị bắt mà làm thịt, hay chê bai điều mình không biết, rồi chết đi như con vật, dường ấy chúng nó lãnh lấy tiền công về tội ác mình. Chúng nó lấy sự chơi bời giữa ban ngày làm sung sướng, là người xấu xa ô uế, ưa thích sự dối trá mình đang khi ăn tiệc với anh em; cặp mắt chúng nó đầy sự gian dâm, chúng nó phạm tội không bao giờ chán, dỗ dành những người không vững lòng, chúng nó có lòng quen thói tham dục: ấy là những con cái đáng rủa sả. Chúng nó đã bỏ đường thẳng mà đi sai lạc theo đường của Ba-la-am, con trai Bô-sô, là kẻ tham tiền công của tội ác; nhưng người bị trách về sự phạm tội của mình, bởi có một con vật câm nói tiếng người ta, mà ngăn cấm sự điên cuồng của người tiên tri đó.

Ấy là những suối không nước, những đám mây bị luồng gió mạnh đưa đi và sự tối tăm mờ mịt đã để dành cho chúng nó. Chúng nó dùng những lời văn hoa hư đản, đem những điều ham muốn của xác thịt và điều gian dâm mà dỗ dành những kẻ mới vừa tránh khỏi các người theo đường lầm lạc; chúng nó hứa sự tự do cho người, mà chính mình thì làm tôi mọi sự hư nát; vì có sự chi đã thắng hơn người, thì người là tôi mọi sự đó.

Vả, chúng nó bởi sự nhận biết Chúa và Đấng Giải Cứu chúng ta là Đức Chúa Jesus Christ, mà đã thoát khỏi sự ô uế của thế gian, rồi lại mắc phải và suy phục những sự đó, thì số phận sau cùng của chúng nó trở xấu hơn lúc đầu. Chúng nó đã biết đường công bình, rồi lại lui đi về lời răn thánh đã truyền cho mình, thế thì thà rằng không biết là hơn. Đã xảy đến cho chúng nó như lời tục ngữ rằng: Chó liếm lại đồ nó đã mửa, heo đã rửa sạch rồi, lại lăn lóc trong vũng bùn.”

Ngoài ra, chính Đức Chúa Jesus Christ là Đấng chịu chết để chuộc tội cho nhân loại, cũng đã nhiều lần cảnh cáo các môn đồ qua những lời phán dạy và các ngụ ngôn:

Ngụ Ngôn về Muối

Các ngươi là muối của đất; song nếu mất mặn đi, thì sẽ lấy giống chi mà làm cho mặn lại? Muối ấy không dùng chi được nữa, chỉ phải quăng ra ngoài và bị người ta đạp dưới chơn” (Ma-thi-ơ 5:13).

Số Phận Những Kẻ Nhân Danh Chúa Làm Nhiều Phép Lạ Nhưng Không Làm Theo Lời Chúa

Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng Ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì đều được vào Vương Quốc Trời đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha Ta ở trên trời mà thôi. Ngày đó, sẽ có nhiều người thưa cùng Ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng tôi chẳng từng nhơn danh Chúa mà nói tiên tri sao? nhơn danh Chúa mà trừ quỷ sao? và lại nhơn danh Chúa mà làm nhiều phép lạ sao? Khi ấy, Ta sẽ phán rõ ràng cùng họ rằng: Hỡi những kẻ làm gian ác, Ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi Ta” (Ma-thi-ơ 7:21-23)!

Ngụ Ngôn về Đầy Tớ Không Thương Xót

Nếu mỗi người trong các ngươi không hết lòng tha lỗi cho anh em mình, thì Cha Ta ở trên trời cũng sẽ xử với các ngươi như vậy"  (Ma-thi-ơ 18:35).

Ngụ Ngôn về Tiệc Cưới

Vua vào xem khách dự tiệc, chợt thấy một người không mặc áo lễ, thì phán cùng người rằng: Hỡi bạn, sao ngươi vào đây mà không mặc áo lễ? Người đó làm thinh. Vua bèn truyền cho đầy tớ rằng: Hãy trói tay chơn nó lại, và quăng ra ngoài nơi tối tăm, là nơi sẽ có khóc lóc và nghiến răng. Bởi vì có nhiều kẻ được gọi, mà ít người được chọn(Ma-thi-ơ 22:11-14).

Ngụ Ngôn về Đầy Tớ Bất Trung

Ai là đầy tớ trung tín và khôn ngoan, mà người chủ đặt cai trị đầy tớ mình, đặng cho đồ ăn đúng giờ? Phước cho đầy tớ đó, khi chủ đến thấy làm như vậy! Quả thật, ta nói cùng các ngươi, chủ sẽ đặt kẻ ấy coi sóc cả gia tài mình. Nếu, trái lại, là một đầy tớ xấu, nó nghĩ thầm rằng: Chủ ta đến chậm, bèn đánh kẻ cùng làm việc với mình, và ăn uống với phường say rượu, thì chủ nó sẽ đến trong ngày nó không ngờ và giờ nó không biết. Chủ sẽ đánh xé xương và định phần nó đồng với kẻ giả hình. Đó là nơi sẽ có khóc lóc và nghiến răng (Ma-thi-ơ 24:45-51).

Ngụ Ngôn về Các Nữ Đồng Trinh

Chặp lâu, những người nữ đồng trinh khác cũng đến và xin rằng: Hỡi Chúa, hỡi Chúa, xin mở cho chúng tôi! Nhưng người đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, ta không biết các ngươi đâu” (Ma-thi-ơ 25:11-12).

Ngụ Ngôn về Các Ta-lâng

Còn tên đầy tớ vô ích đó, hãy quăng nó ra ngoài là chỗ tối tăm, ở đó sẽ có khóc lóc và nghiến răng(Ma-thi-ơ 25:30).

Số Phận Những Kẻ Không Có Lòng Thương Xót

Kế đó, Ngài sẽ phán cùng những người ở bên tả rằng: Hỡi kẻ bị rủa, hãy lui ra khỏi Ta; đi vào lửa đời đời đã sắm sẵn cho ma quỷ và những quỷ sứ nó. Vì Ta đã đói, các ngươi không cho ăn; Ta khát, các ngươi không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi không mặc cho Ta; Ta đau và bị tù, các ngươi không thăm viếng. Đến phiên các ngươi nầy bèn thưa lại rằng: Lạy Chúa, khi nào chúng tôi đã thấy Chúa, hoặc đói, hoặc khát, hoặc làm khách lạ, hoặc trần truồng, hoặc đau ốm, hoặc bị tù mà không hầu việc Ngài ư? Ngài sẽ đáp lại rằng: Quả thật, Ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi không làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy, ấy là các ngươi cũng không làm cho Ta nữa. Rồi những kẻ nầy sẽ vào hình phạt đời đời, còn những người công bình sẽ vào sự sống đời đời” (Ma-thi-ơ 25:41-46).

Ngụ Ngôn về Gốc Nho và Các Nhánh Nho

Ta là gốc nho thật; và Cha Ta là người trồng nho. Mỗi nhánh trong Ta mà không kết quả, thì chính Ngài chặt bỏ nó; và Ngài tỉa sửa từng nhánh nào kết quả, để nó được sai trái hơn… Nếu ai chẳng cứ ở trong Ta, thì bị ném ra ngoài, như một nhánh và bị khô đi; và người ta gom chúng lại, ném vào trong lửa, thì nó cháy” (Giăng 15:1-2, 6).

Lời Kêu Gọi và Cảnh Cáo Các Hội Thánh

Vậy, hãy nhớ lại ngươi đã sa sút từ đâu. Hãy cải hối và làm những việc ban đầu; nếu không, Ta sẽ mau chóng đến với ngươi và sẽ cất chân đèn ngươi khỏi chỗ nó, trừ khi ngươi cải hối” (Khải Huyền 2:5).

Ta đã cho nó thời gian để cải hối sự tà dâm nó mà nó chẳng chịu cải hối. Này, Ta sẽ quăng nó trên giường đau đớn và quăng những kẻ phạm tà dâm với nó vào cơn hoạn nạn lớn, trừ khi chúng cải hối những việc làm của chúng. Ta sẽ diệt con cái nó bằng sự chết và tất cả các Hội Thánh sẽ biết rằng: Ta là Đấng dò xét tâm can và sẽ báo cho mỗi các ngươi tùy theo những việc làm của các ngươi” (Khải Huyền 2:21-23).

Ta biết những việc làm ngươi. Ngươi không lạnh cũng không nóng. Ước gì các ngươi lạnh hoặc nóng! Vì ngươi hâm hẫm, không lạnh cũng không nóng, Ta sẽ mửa ngươi ra khỏi miệng Ta” (Khải Huyền 3:15-16).

Sự Dối Trá của Sa-tan

Các giáo sư giả, giảng dạy tà giáo “Người đã được cứu rỗi thì không bao giờ bị hư mất” bẻ cong ý nghĩa của một số câu Thánh Kinh để phục vụ cho mục đích gạt người của họ. Dưới đây là một số câu điển hình:

Giăng 10:28-29

Giăng 10:28-29 chép: “Ta ban cho chúng sự sống đời đời; chúng chẳng hư mất đời đời; và chẳng ai giựt chúng khỏi tay Ta. Cha Ta là Đấng lớn hơn hết đã ban chúng cho Ta, và chẳng ai có thể giựt chúng khỏi tay Cha Ta.” Khi đặt câu nói này của Chúa trong văn mạch thì chúng ta thấy chữ “chúng” trong hai câu này thay thế cho chữ “các chiên Ta” trong câu 27 trước đó: “Các chiên Ta nghe tiếng Ta, Ta biết chúng, và chúng theo Ta.”

Thế nào là “chiên của Chúa?” Chiên của Chúa nghe tiếng Chúa, tức là vâng theo mọi lời phán của Chúa như con cái nghe theo cha mẹ là con cái vâng theo mọi lời dạy của cha mẹ. Chiên của Chúa được Chúa biết đến chứ không phải như những kẻ không làm theo Lời Chúa nhưng cứ nhân danh Chúa nói tiên tri, trừ quỷ, và làm nhiều phép lạ mà Chúa phán với họ rằng: “Ta không biết các ngươi bao giờ” (Ma-thi-ơ 7:21-23). Chiên của Chúa theo Chúa, tức là sống theo Ngài, làm theo như Ngài đã làm, là vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời (I Giăng 2:3-6), là từ bỏ chính mình, vác thập tự giá mình mà theo Chúa mỗi ngày (Lu-ca 9:23).

Trong câu 26 Chúa phán: “Nhưng các ngươi không tin Ta, vì các ngươi chẳng phải là chiên của Ta,” đã cho chúng ta thấy rõ, chỉ những ai có đức tin nơi Chúa mới là chiên của Chúa, và được Chúa ban cho sự sống đời đời, chẳng hư mất bao giờ. Có đức tin nơi Chúa tức là “hiểu biết, công nhận và làm theo mọi lời Chúa phán.”

Để được làm chiên của Chúa, trở nên con cái của Đức Chúa Trời và ở lại trong địa vị con cái của Đức Chúa Trời thì một người phải vâng lời Chúa mà ra khỏi nếp sống tội lỗi. II Cô-rinh-tô 6:17-18 chép:

Bởi vậy Chúa phán rằng: Hãy ra khỏi giữa chúng nó, hãy phân rẽ ra khỏi chúng nó, đừng đá động đến đồ ô uế, Thì Ta sẽ tiếp nhận các ngươi: Ta sẽ làm Chúa các ngươi, các ngươi làm con trai con gái Ta, Chúa Toàn năng phán như vậy.”

Chính sự kiện đã ra khỏi nếp sống tội hay vẫn còn ở trong nếp sống tội là bông trái và ấn chứng rằng một người có hay không có sự cứu rỗi.

I Cô-rinh-tô 3:14-15

I Cô-rinh-tô 3:14-15 chép: “Ví bằng công việc của ai xây trên nền được còn lại, thì thợ đó sẽ lãnh phần thưởng mình. Nếu công việc họ bị thiêu hủy, thì mất phần thưởng. Còn về phần người đó, sẽ được cứu, song dường như qua lửa vậy.” Trước hết, chúng ta cần đặt hai câu Thánh Kinh này vào trong văn mạch của nó, bắt đầu từ câu 9 và chấm dứt ở câu 15.

9 Vả, chúng tôi là bạn cùng làm việc với Thiên Chúa; anh em là ruộng Thiên Chúa cày, nhà Thiên Chúa xây.
10 Theo ơn Đức Chúa Trời ban cho tôi, tôi đã lập nên như một tay thợ khéo, mà có kẻ khác cất lên trên; nhưng ai nấy phải cẩn thận về sự mình xây trên nền đó.
11 Vì, chẳng ai có thể lập một nền khác ngoài nền đã lập, là Đức Chúa Jesus Christ.
12 Nếu có kẻ lấy vàng, bạc, bửu thạch, gỗ, cỏ khô, rơm rạ mà xây trên nền ấy,
13 thì công việc của mỗi người sẽ bày tỏ ra. Ngày đến sẽ tỏ tường công việc đó; nó sẽ trình ra trong lửa, và công việc của mỗi người đáng giá nào, lửa sẽ chỉ ra.
14 Ví bằng công việc của ai xây trên nền được còn lại, thì thợ đó sẽ lãnh phần thưởng mình.
15 Nếu công việc họ bị thiêu hủy, thì mất phần thưởng. Còn về phần người đó, sẽ được cứu, song dường như qua lửa vậy.

Đoạn Thánh Kinh này nói đến nếp sống Đạo của một người đã tin nhận Chúa trong công tác xây dựng Hội Thánh của Chúa. Câu 9 nói đến “anh em là nhà của Đức Chúa Trời xây” là nói đến Hội Thánh vì Thánh Kinh gọi Hội Thánh là nhà của Đức Chúa Trời (I Ti-mô-thê 3:15). Câu 10 nói đến sự Sứ Đồ Phao-lô thành lập nền tảng cơ bản của Hội Thánh tại Cô-rinh-tô và các tín đồ tại Cô-rinh-tô có bổn phận tiếp tục xây dựng Hội Thánh trên nền tảng đó. Câu 11 nhấn mạnh nền tảng của Hội Thánh là Đấng Christ. Câu 12 so sánh việc xây dựng Hội Thánh của các tín đồ với các vật liệu khác nhau, từ các vật liệu quý như vàng, bạc, bửu thạch đến các vật liệu tầm thường như gỗ, cỏ khô, rơm rạ. Tất cả đều là những vật liệu có thể dùng trong sự xây cất nhưng sự tốt đẹp và mức độ bền vững khác nhau. Câu 13 cho biết sẽ có một ngày giá trị các vật liệu dùng để xây dựng Hội Thánh bị thử nghiệm. Sự thử nghiệm đó là công bình và nghiêm khắc. Công bình vì mỗi vật liệu đều được thử nghiệm cùng một cách là đưa qua lửa. Lửa tiêu biểu cho sự thánh khiết của Thiên Chúa và tiêu biểu cho sự thử nghiệm nghiêm khắc. Lửa thiêu đốt các tạp chất, nếu có, lẫn lộn trong các vật liệu quý và thiêu hủy các vật liệu rẽ tiền. Câu 14 nói đến phần thưởng dành cho những người đã dùng các vật liệu quý mà xây dựng Hội Thánh, vì việc làm của họ còn lại cho đến đời đời. Câu 15 nói đến những người xây dựng Hội Thánh bằng các vật liệu tầm thường sẽ không có phần thưởng, vì việc làm của họ không còn lại, dầu vậy, họ vẫn được cứu vì họ thật lòng từ bỏ tội và tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ. Phân đoạn Thánh Kinh này không hề dạy rằng những người dùng vật liệu tầm thường để xây dựng Hội Thánh là những người sống trong tội.

Lấy Lu-ca 21:1-4 để làm thí dụ về việc dâng hiến tiền bạc trong công việc xây dựng Hội Thánh, chúng ta sẽ thấy hai đồng tiền của một người đàn bà góa nghèo chính là “vàng, bạc, bửu thạch” còn vô số tiền dâng hiến của những người giàu có chỉ là “gỗ, cỏ khô, rơm rạ.” Một bên “đã dâng hết của mình có để nuôi mình,” còn một bên “lấy của dư mình mà làm của dâng.” Người đời chúng ta còn biết nói: “Cách cho hơn của cho,” Vậy thì, việc Đức Chúa Trời ban thưởng cho người đàn bà góa đã dâng hết của nuôi mình lên Ngài và không ban thưởng gì cho những người giàu có dâng của dư lên Ngài là điều công bình vậy. I Cô-rinh-tô 3:14-15 tuyệt đối không hề dạy rằng: “Người đã được cứu rỗi thì không bao giờ bị hư mất.”

I Cô-rinh-tô 5:5

I Cô-rinh-tô 5:5 chép: “rằng, một người như thế phải phó cho quỷ Sa-tan, để hủy hoại phần xác thịt, hầu cho linh hồn được cứu trong ngày Đức Chúa Jesus.” Các giáo sư giả dạy rằng, người đã tin Chúa rồi, nếu có tội mà không ăn năn, nghĩa là cứ tiếp tục sống trong tội, thì dù cho có bị cắt đứt ra khỏi Hội Thánh, bị Sa-tan hủy hoại thân xác trong đời này, nhưng khi Chúa đến thì người ấy vẫn được cứu. Nếu đúng như vậy thì Đức Chúa Jesus Christ không cần phải đến thế gian để chết chuộc tội cho loài người; vì một người có thể được cứu nếu thân xác bị Sa-tan hủy hoại! Như vậy, dưới trời ngoài danh của Đức Chúa Jesus Christ ra còn có danh Sa-tan để khiến cho một người được cứu!

Ý nghĩa của I Cô-rinh-tô 5:5 là: mục đích sự cắt đứt một người ra khỏi Hội Thánh và để mặc cho Sa-tan hủy hoại thân xác của người ấy, là để dẫn người ấy đến sự ăn năn như Thánh Kinh đã nói rõ trong Rô-ma 2:4. Nếu người ấy không ăn năn thì người ấy vẫn bị hư mất. Mục đích sự chết của Đức Chúa Jesus Christ là để những ai ăn năn tội thì được cứu, nhưng những ai không ăn năn tội thì đương nhiên vẫn bị hư mất đời đời. Chúng ta không thể nói rằng, Đức Chúa Jesus nhập thế làm người, chịu chết thay cho nhân loại tội lỗi, hầu cho nhân loại tội lỗi được cứu khỏi sự hư mất trong ngày phán xét, thì có nghĩa là: dù cho có ai không ăn năn tội, người ấy vẫn được cứu.

I Cô-rinh-tô 11:32

I Cô-rinh-tô 11:32 chép “Song khi chúng ta bị Chúa xét đoán, thì bị Ngài sửa phạt, hầu cho khỏi bị án làm một với người thế gian” là nói đến sự sửa phạt dẫn đến sự ăn năn. Nghĩa là: Chúa sửa phạt con dân Chúa để họ ăn năn tội, để họ được Ngài tha thứ và làm cho họ sạch mọi điều gian ác, nhờ đó, họ thoát khỏi bản án hư mất đời đời trong hồ lửa như người không tin Chúa. Câu này hoàn toàn không có nghĩa, một người phạm tội, sau khi bị Chúa sửa phạt mà vẫn không ăn năn, thì cũng không bị hư mất. Rô-ma 2:4-12 giải thích rõ ràng thái độ của Đức Chúa Trời đối với những kẻ không chịu ăn năn tội, dầu họ biết hay không biết Lời Chúa:

Hay là: ngươi xem thường chính sự giàu có của lòng nhân từ, chịu đựng, và nhẫn nại của Ngài, mà không nhận biết lòng nhân từ của Đức Chúa Trời dẫn ngươi đến sự cải hối?Nhưng, theo như sự cứng cỏi và lòng không cải hối của ngươi, ngươi dồn chứa cho chính mình sự thịnh nộ trong ngày thịnh nộ và phơi bày sự phán xét công chính của Đức Chúa Trời, Đấng sẽ trả cho mỗi người tùy theo những việc làm của họ. Thật vậy, những ai bởi sự bền lòng làm lành, tìm kiếm sự vinh quang, sự tôn trọng, và sự chẳng hề chết, thì được sự sống đời đời. Nhưng cơn giận và sự thịnh nộ thật dành cho những ai bởi lòng toan tính và không vâng phục lẽ thật mà vâng phục sự không công bình. Sự hoạn nạn và khốn khổ trên mỗi linh hồn của người làm việc dữ, thuộc về dân Do-thái trước và thuộc về cả dân Hy-lạp. Nhưng sự vinh quang, sự tôn trọng, và sự bình an cho mỗi người làm việc lành, cho dân Do-thái trước và cho cả dân Hy-lạp. Vì trước Đức Chúa Trời, Ngài không thiên vị. Vì hễ ai không luật pháp mà phạm tội, thì họ sẽ không luật pháp mà hư mất. Hễ ai trong luật pháp mà phạm tội, thì họ sẽ bị phán xét bởi luật pháp.”

Vì sự sửa phạt của Chúa nhằm dẫn kẻ có tội đến sự ăn năn để khỏi bị án làm một với người thế gian, cho nên, nếu kẻ bị sửa phạt mà không chịu ăn năn thì vẫn sẽ bị hư mất như người thế gian.Lời phán của Chúa trong Ma-thi-ơ 18:17 dạy cho Hội Thánh cách đối xử với kẻ có tội mà không chịu ăn năn như sau: “Nếu người không chịu nghe các người đó, thì hăy cáo cùng Hội Thánh, lại nếu người không chịu nghe Hội Thánh, thì hăy coi người như kẻ ngoại và kẻ thâu thuế vậy.” Đó là biện pháp sửa phạt cuối cùng để cho kẻ có tội vì sự đau khổ bị dứt ra khỏi Hội Thánh mà chịu ăn năn tội.

Trong I Cô-rinh-tô 11:30 liệt kê ra các mức độ khác nhau trong sự Chúa sửa phạt kẻ có tội: “Ấy vì cớ đó mà trong anh em có nhiều kẻ tật nguyền, đau ốm, và có lắm kẻ ngủ.” Chúng ta có thể tin rằng, khi một người tin Chúa phạm tội, Chúa sẽ dùng tật nguyền hoặc đau ốm để sửa phạt, hầu cho người ấy ăn năn tội. Nếu người ấy vẫn không chịu ăn năn tội thì Chúa sẽ cất đi mạng sống của người ấy, và người ấy chỉ còn chờ ngày sống lại để chịu chung án phạt với người thế gian.

Tất cả những ai xưng mình là môn đồ của Chúa, là con dân của Chúa mà vẫn sống trong tội và tin rằng: “Một người đã được cứu rỗi thì không bao giờ bị hư mất,” là đã để cho Ma Quỷ, các giáo sư giả lường gạt mình và tự mình cũng gạt lấy chính mình. Lời phán sau đây của Chúa dành cho họ: “Sao các ngươi gọi Ta: Chúa, Chúa, mà không làm theo lời Ta phán” (Lu-ca 6:46)? Lời phán của Chúa dành cho tất cả những ai tin nhận sự cứu rỗi của Ngài là: “Hãy đi, đừng phạm tội nữa” (Giăng 8:10)!

Lời của Chúa được ghi lại trong Khải Huyền 3:5: “Kẻ nào thắng, kẻ ấy sẽ được mặc áo trắng và Ta sẽ không xóa tên người khỏi Sách Sự Sống nhưng sẽ xưng tên người trước Cha Ta và trước các thiên sứ của Ngài,” hàm ý kẻ nào không thắng sẽ bị chính Đức Chúa Jesus Christ xóa tên khỏi Sách Sự Sống!

Tôi kêu gọi những người tin vào tà giáo “Một người đã được cứu rỗi thì không bao giờ bị hư mất,” hãy suy ngẫm lời phán sau đây của Đức Thánh Linh:

Chớ hề dối mình; Đức Chúa Trời không chịu khinh dể đâu; vì ai gieo giống chi, lại gặt giống ấy. Kẻ gieo cho xác thịt, sẽ bởi xác thịt mà gặt sự hư nát; song kẻ gieo cho Đấng Thần Linh, sẽ bởi Đấng Thần Linh mà gặt sự sống đời đời” (Ga-la-ti 6:7-8).

Kết Luận

Những kẻ đưa ra tà thuyết “Tin Chúa Một Lần Được Cứu Vĩnh Viễn” và những kẻ tin vào tà thuyết này là những người không thật lòng tin Chúa. Họ chỉ muốn sống trong tội lỗi, làm trọn những điều ưa muốn của xác thịt mà không muốn bị hình phạt. Vì thế, họ cho rằng Đức Chúa Jesus Christ đến thế gian chịu hình phạt thay cho họ để họ có thể tha hồ phạm tội mà không bị hư mất, chỉ cần họ mở miệng ra nói rằng họ tin nhận sự cứu rỗi của Ngài. Họ quên rằng, Đức Chúa Jesus Christ chịu chết để cứu họ ra khỏi tội chứ không phải để cho họ cứ ở trong tội. Họ cũng quên rằng, điều kiện để được cứu rỗi là phải ăn năn tội, tức là chịu từ bỏ tội.

Đức Thánh Linh chỉ được ban cho những ai vâng lời Chúa:

Còn chúng ta đây là kẻ làm chứng mọi việc đó, cũng như Đức Thánh Linh mà Đức Chúa Trời đã ban cho kẻ vâng lời Ngài vậy” (Công Vụ Các Sứ Đồ 5:32).

Sự cứu rỗi đời đời chỉ dành cho những ai vâng lời Chúa:

Dầu Ngài là Con, cũng đã học tập vâng lờibởi những sự khốn khổ mình đã chịu, và sau khi đã được làm nên trọn vẹn rồi, thì trở nên cội rễ của sự cứu rỗi đời đời cho kẻ vâng lời Ngài(Hê-bơ-rơ 5:8-9).

Sự an ninh đời đời trong ơn cứu rỗi chỉ dành cho những ai thật lòng ăn năn tội, từ bỏ tội, nghe theo Chúa, sống theo Chúa, chứ không phải cho những kẻ ngoài miệng thì nói tin Chúa nhưng trong lòng thì cứ chú về tội lỗi và sống một nếp sống không vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời.

Những kẻ mà trong lòng chỉ nghĩ đến những việc tội lỗi và tìm cách để phạm tội thì ngay cả lời cầu nguyện Chúa cũng không nghe, làm gì có chuyện những kẻ ấy được cứu rỗi, được sống đời đời?

Nếu lòng tôi có chú về tội ác, ắt Chúa chẳng nghe tôi” (Thi Thiên 66:18).

Số phận của những người tin Chúa mà vẫn sống trong tội là:

  • không thể khiến họ lại ăn năn nữa”
  • không còn có tế lễ chuộc tội nữa, nhưng chỉ có sự đợi chờ kinh khiếp về sự phán xét, và lửa hừng sẽ đốt cháy kẻ bội nghịch”
  • đáng bị hình rất nghiêm đoán phạt”
  • số phận sau cùng của chúng nó trở xấu hơn lúc đầu”

Nguyện mỗi con dân Chúa chỉ nương cậy vào lẽ thật rõ ràng của Lời Chúa thay vì tin vào các tư tưởng thần học nghịch Thánh Kinh. Nguyện Đức Thánh Linh dẫn dắt mỗi con dân Chúa vào trong lẽ thật của Lời Chúa, hầu cho, họ không bị Ma Quỷ mạo làm thiên sứ sáng láng và các tôi tớ của nó lường gạt mà bị diệt vong (II Cô-rinh-tô 11:14-15). A-men!

Huỳnh Christian Timothy
29.09.2012

Ghi Chú

[1] Trong tiếng Anh là “Once Saved Always Saved.”


Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry.
Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép,

Đọc Tiếp →

Sự Tiền Định của Đức Chúa Trời và Sự Tự Chọn của Loài Người

Huỳnh Christian Timothy

Bấm vào đây để download bài viết này
Bấm vào đây để nghe và download MP3 bài giảng

 

"Vì Ðức Chúa Trời yêu thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài,
hầu cho hễ ai tin nơi Con ấy không bị hư mất, mà được sự sống đời đời."
(Giăng 3:16)

"Vả, chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời,
tức là cho kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đã định.
Vì Ngài cũng đã định sẵn để nên giống như hình bóng con Ngài,
hầu cho con nầy được làm con cả ở giữa nhiều anh em;
còn những kẻ Ngài đã định sẵn, thì Ngài cũng đã gọi,
những kẻ Ngài đã gọi, thì Ngài cũng đã xưng là công bình,
và những kẻ Ngài đã xưng là công bình, thì Ngài cũng đã làm cho vinh quang."

(Rô-ma 8:28-30)

Dẫn Nhập

Tiền định có nghĩa là quy định từ trước. Số phận của một người do Đức Chúa Trời tiền định hay do người ấy tự do lựa chọn là một đề tài tranh cãi thần học từ hàng trăm năm nay trong Cơ-đốc Giáo. Nếu Đức Chúa Trời đã tiền định thì loài người không thể tự do lựa chọn. Nếu loài người được tự do lựa chọn thì chính loài người định lấy số phận của mình, và như vậy, không có sự tiền định của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, Thánh Kinh dạy rõ về sự tiền định của Đức Chúa Trời và quyền tự do lựa chọn của loài người. Giăng 3:16 dạy về sự tự do lựa chọn của loài người trong khi Rô-ma 8:28-30 dạy về sự tiền định của Đức Chúa Trời.

Làm sao chúng ta có thể dung hòa được hai lẽ thật dường như trái ngược này của Thánh Kinh?

Ý Nghĩa của Sự Cứu Rỗi

Sự cứu rỗi được nói đến trong Thánh Kinh là sự cứu tội nhân ra khỏi quyền lực của tội lỗi và hậu quả của tội lỗi. Quyền lực của tội lỗi là sức mạnh trong tâm linh bắt ép một người phải phạm tội. Hậu quả của tội lỗi là sự chết. Có sự chết thứ nhất và sự chết thứ nhì.

Sự chết thứ nhất có tính cách tạm thời, bao gồm sự chết thuộc thể và sự chết thuộc linh. Sự chết thuộc thể là thể xác bị phân cách với linh hồn và trở về nguyên thể bụi đất còn linh hồn bị tạm giam nơi âm phủ. Sự chết thuộc linh là tâm thần loài người bị phân cách với Thiên Chúa, không còn nhận biết Thiên Chúa, không còn thờ phượng Thiên Chúa.

Sự chết thứ nhì có tính cách vĩnh viễn, bao gồm thể xác đã được phục sinh và linh hồn mãi mãi xa cách Thiên Chúa và phải chịu khổ đời đời trong hỏa ngục.

Ngoại trừ Con Người Jesus, mỗi một người khi được sinh ra trong thế gian đều đã ở trong tình trạng chết thuộc linh lần thứ nhất và sẽ trải qua sự chết thuộc thể để chờ ngày phán xét, đi vào sự chết thứ hai. Nhưng Đức Chúa Trời là tình yêu, bởi lòng thương xót rất lớn của Ngài mà Ngài đã ban cho loài người cơ hội được cứu khỏi quyền lực và hậu quả của tội lỗi. Sự cứu rỗi đó có điều kiện. Điều kiện để được cứu rỗi là thật lòng ăn năn tội, và tin nhận sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ. Ăn năn tội tức là hết lòng từ bỏ nếp sống tội, không còn sống trong sự phạm tội. Tin nhận sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ tức là tin rằng Đức Chúa Jesus Christ đã hoàn thành công cuộc chuộc tội cho mình nên mình đã được Đức Chúa Trời tha tội.

Một người sau khi được cứu rỗi, nghĩa là được tha tội và làm cho sạch tội mà trở về với nếp sống tội lỗi thì sẽ bị hư mất đời đời vì không thể nào ăn năn để được tha tội nữa.

Sự Tiền Định Theo John Calvin

John Calvin (10.07.1559 – 27.05.1564), nhà thần học người Pháp thuộc Phong Trào Cải Chánh vào thế kỷ 16, dạy rằng: Từ trước khi sáng thế, Đức Chúa Trời đã tiền định số phận của mỗi người. Sự tiền định này là vô điều kiện, không hề tùy thuộc vào ý chí, sự lựa chọn, năng lực, cá tính, hay tấm lòng của mỗi người nhưng hoàn toàn bởi quyền chỉ định tuyệt đối của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời tiền định ai được cứu và ai không được cứu. Những người được cứu là những người được chọn.

Giáo lý của Calvin (Calvinism) dẫn đến những kết luận vô lý như sau:

·         Đức Chúa Trời đã tiền định cho một số ít người được cứu và nhiều người bị hư mất. Kết luận này nghịch lại Thánh Kinh, vì Thánh Kinh dạy rõ:

"Ngài muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật"(I Ti-mô-thê 2:4).

"Nhưng hiện bây giờ, sự công bình của Thiên Chúa, mà luật pháp và các đấng tiên tri đều làm chứng cho, đã bày tỏ ra ngoài luật pháp; tức là sự công bình của Thiên Chúa, bởi sự tin đến Đức Chúa Jesus Christ, cho mọi người nào tin, chẳng có phân biệt chi hết, vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh quang của Đức Chúa Trời, và họ nhờ ân điển Ngài mà được xưng công bình nhưng không, bởi sự chuộc tội đã làm trọn trong Đức Chúa Jesus Christ"(Rô-ma 3:21-24). (Xin chú ý đến chữ "họ" được dùng thay thế cho chữ "mọi người.")

·         Đức Chúa Trời đã tiền định một người bị hư mất thì dù người ấy có hết lòng muốn được cứu, hết lòng tin cậy và vâng phục Chúa, người ấy cũng vẫn bị hư mất đời đời trong hỏa ngục. Kết luận này nghịch lại Thánh Kinh, vì Thánh Kinh dạy rõ:

"Vì Ðức Chúa Trời yêu thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin nơi Con ấy không bị hư mất, mà được sự sống đời đời" (Giăng 3:16).

·         Đức Chúa Trời đã tiền định một người được cứu thì dù người ấy có sống một nếp sống tội lỗi đến đâu chăng nữa, người ấy cũng được cứu. Kết luận này nghịch lại Thánh Kinh, vì Thánh Kinh dạy rõ:

"Vì chưng những kẻ đã được soi sáng một lần, đã nếm sự ban cho từ trên trời, dự phần về Thánh Linh, Lời lành của Thiên Chúa, và năng lực của đời sau, nếu lại vấp ngã, thì không thể khiến họ lại ăn năn nữa, vì họ đóng đinh Con Đức Chúa Trời trên thập tự giá cho mình một lần nữa, làm cho Ngài sỉ nhục tỏ tường"(Hê-bơ-rơ 6:4-6).

"Hãy cầu sự bình an với mọi người, cùng tìm theo sự nên thánh, vì nếu không nên thánh thì chẳng ai được thấy Chúa"(Hê-bơ-rơ 12:14).

Sự Tiền Định Theo Thánh Kinh

Thánh Kinh dạy về sự tiền định của Đức Chúa Trời và giải thích rằng Ngài tiền định theo sự biết trước của Ngài. Nghĩa là, từ trước khi sáng thế, Đức Chúa Trời đã biết hết mọi sự trong mọi nơi, mọi lúc. Dựa vào sự biết trước đó mà Ngài thiết lập và ấn định những điều cần thiết để mọi sự diễn tiến theo thánh ý của Ngài.

Trước hết, Đức Chúa Trời biết trước thiên sứ và loài người mà Ngài dựng nên sẽ sa ngã, phạm tội và Ngài tiền định số phận của những ai phạm tội là sẽ bị hư mất đời đời trong hỏa ngục. Kế tiếp, Đức Chúa Trời biết trước sẽ có một số người sẵn lòng ăn năn tội, vâng phục Ngài nếu Ngài ban cho họ cơ hội, cho nên, Ngài thiết lập chương trình cứu rỗi nhân loại và tiền định cho những ai thật lòng ăn năn tội, tin nhận sự cứu rỗi của Ngài thì họ sẽ được cứu rỗi.

Dù Đức Chúa Trời biết trước chỉ có một số ít người thật lòng ăn năn tội và tin nhận sự cứu rỗi của Ngài nhưng Ngài vẫn ban sự cứu rỗi cho toàn thể nhân loại qua sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ:

"Vì tình yêu thương của Đấng Christ cảm động chúng tôi, và chúng tôi tưởng rằng nếu có một người chết vì mọi người, thì mọi người đều chết, lại Ngài đã chết vì mọi người, hầu cho những kẻ còn sống không vì chính mình mà sống nữa, nhưng sống vì Đấng đã chết và sống lại cho mình" (II Cô-rinh-tô 5:14, 15).

"Ấy chính Ngài làm của lễ chuộc tội lỗi chúng ta, không những vì tội lỗi chúng ta thôi đâu, mà cũng vì tội lỗi cả thế gian nữa"(I Giăng 2:2).

"Nhưng Đức Chúa Jesus nầy, mà đã ở dưới các thiên sứ một chút, chúng ta thấy Ngài, vì sự chết Ngài đã chịu được đội mão vinh hiển tôn trọng. Ấy vậy, bởi ân điển của Thiên Chúa, Đức Chúa Jesus đã vì mọi người nếm sự chết"(Hê-bơ-rơ 2:9).

Chính vì Đức Chúa Trời biết trước những ai sẽ tin nhận sự cứu rỗi của Ngài nên Ngài đã chọn họ và đưa họ đến với Đấng Christ để họ được Đức Thánh Linh thánh hóa, biệt riêng làm con dân của Ngài:

"Phi-e-rơ, sứ đồ của Đức Chúa Jesus Christ, gởi cho những người kiều ngụ rải rác trong xứ Bông, Ga-la-ti, Cáp-ba-đốc, A-si và Bi-thi-ni, là những người được chọn, theo sự biết trước của Thiên Phụ, thông qua sự nên thánh bởi thần quyền, đặng vâng phục Đức Chúa Jesus Christ và có phần trong sự rải huyết Ngài: nguyền xin ân điển và bình an thêm lên cho anh em"(I Phi-e-rơ 1:1, 2)!

"Chẳng ai có thể đến với Ta, nếu Cha, là Đấng đã sai Ta, không kéo người. Ta sẽ làm cho người đó sống lại nơi ngày sau rốt"(Giăng 6:44).

Như vậy, Đức Chúa Trời tùy theo sự lựa chọn của mỗi người mà tiền định số phận của họ, từ tuổi thọ của họ trong đời này cho đến số phận chung cuộc của họ trong đời sau:

"Mắt Chúa đã thấy thể chất vô hình của tôi; số các ngày định cho tôi, đã biên vào sổ Chúa trước khi chưa có một ngày trong các ngày ấy"(Thi Thiên 139:16).

Sự Tự Do Lựa Chọn của Loài Người

Mặc dù Đức Chúa Trời tiền định số phận của mỗi người nhưng sự tiền định đó dựa trên sự tự do lựa chọn của mỗi người mà Ngài biết trước. Người có quyền tự do lựa chọn là người hoàn toàn không bị giới hạn trong sự lựa chọn của mình. Sự lựa chọn nói đến ở đây là lựa chọn giữa sự ăn năn tội, tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời hoặc không chịu ăn năn tội, không chịu tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Sau khi lựa chọn sự ăn năn tội và tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa trời thì một người phải tiếp tục sự lựa chọn thứ hai, đó là lựa chọn sống một nếp sống thánh khiết, không phạm tội hoặc lựa chọn quay về sống trong tội.

Câu chuyện về cây sự sống và cây biết điều thiện điều ác tiêu biểu cho quyền tự do lựa chọn Đức Chúa Trời ban cho loài người. Sự lựa chọn của một người hoàn toàn do chính người đó chủ động. Ma Quỷ có thể cám dỗ loài người làm ra những lựa chọn sai lầm nhưng Ma Quỷ không thể ép buộc loài người phải lựa chọn theo ý của nó. Bà Ê-va đã chủ động trong sự lựa chọn không tin cậy và không vâng lời Đức Chúa Trời. Con Người Jesus đã chủ động trong sự lựa chọn "không theo ý con mà theo ý Cha" và vâng phục Đức Chúa Trời cho đến chết.

Sự lựa chọn tin cậy và vâng phục Chúa sẽ không bị một sự giới hạn nào, cho dù có bị Ma Quỷ tìm cách gây khó khăn. Sự lựa chọn phạm tội luôn luôn bị giới hạn trong mức độ mà Đức Chúa Trời cho phép, cho dù có được sự tiếp trợ từ Ma Quỷ. Khi cần, Đức Chúa Trời sẽ chấm dứt mạng sống của kẻ ác: "Hỡi Thiên Chúa, kẻ ham đổ máu và người giả ngụy sống chẳng đến được nửa số các ngày định cho mình; Chúa sẽ xô chúng nó xuống hầm diệt vong; Còn tôi sẽ tin cậy nơi Chúa" (Thi Thiên 55:23).

Kết Luận

Sự tiền định của Đức Chúa Trời về số phận của loài người và quyền tự do lựa chọn Ngài ban cho loài người không hề mâu thuẫn lẫn nhau. Trái lại, Đức Chúa Trời dựa trên sự tự do lựa chọn của loài người để tiền định số phận của họ. Đức Chúa Trời là tình yêu, Ngài không hề muốn cho một người nào bị hư mất nên Ngài đã ban sự cứu rỗi cho nhân loại. Bất cứ ai thật lòng ăn năn tội và tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời thì được cứu. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời là công chính, cho nên, Ngài đoán phạt những ai không ăn năn tội, không tin nhận sự cứu rỗi của Ngài. Giáo lý của John Calvin cho rằng Đức Chúa Trời tiền định một số người được cứu và một số người bị hư mất là hoàn toàn sai nghịch với lẽ thật của Thánh Kinh.

Huỳnh Christian Timothy
09.06.2012

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Ghi Chú: Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.net và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012 www.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

Đọc Tiếp →

Những Tín Lý và Quan Điểm Thần Học Nghịch Thánh Kinh Của Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2011 Vietnamese Christian Mission Ministry, Inc.  –  Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry  –  Xin quý bạn đọc vui lòng tiếp tay phổ biến bài viết nầy dưới mọi hình thức, nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Huỳnh Christian Timothy
Bấm vào đây để download bài viết này
Bấm vào đây để nghe và download phần audio

[189]

Dẫn Nhập

Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật còn được gọi cách vắn tắt là Cơ-đốc Phục Lâm [1]. Toàn bộ danh xưng này là tiếng Hán Việt: Cơ-đốc là Đấng Christ, Phục là trở lại, Lâm là đến, An là yên nghỉ, Thất là bảy, Nhật là ngày. Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật là một tổ chức tôn giáo tin rằng Đấng Christ sẽ tái lâm (phục lâm) một cách bất kỳ và tin rằng tín đồ của Đấng Christ phải thờ phượng Đức Chúa Trời vào ngày Sa-bát, tức ngày thứ bảy. Phần lớn những người ngoài Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật chỉ biết đến điểm nổi bật của giáo phái này trong sự giữ ngày Sa-bát, nhưng ít khi biết rõ các tín lý của Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật. Tín đồ Đấng Christ sinh hoạt trong các giáo hội, giáo phái Tin Lành thường được nghe các mục sư, truyền đạo nói rằng Cơ-đốc Phục Lâm là tà giáo nhưng sự thật thì ít khi được giải thích cho biết là "tà giáo" như thế nào. Từ đó, nảy sinh ra một ngộ nhận trong các giáo hội, giáo phái Tin Lành khiến cho những ai giữ ngày Sa-bát thì đều bị xếp loại là "Tà Giáo Cơ-đốc Phục Lâm."

Trong bài viết này, tác giả sẽ trình bày những tín lý và quan điểm thần học nghịch Thánh Kinh của Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật.

Tưởng cũng cần nhắc đến các quan điểm sau đây của tác giả: (1) Các giáo hội, giáo phái, hệ phái chỉ là các tổ chức tôn giáo mang danh Chúa do loài người lập ra (I Cô-rinh-tô 3:3-4); con dân Chúa có mặt và sinh hoạt trong các giáo hội, giáo phái, hệ phái nhưng các tổ chức đó không phải là Hội Thánh của Chúa. Hội Thánh của Chúa là tất cả những người "đã được nên thánh trong Đức Chúa Jesus Christ" (I Cô-rinh-tô 1:1-2) tức là những người thật lòng ăn năn, từ bỏ tội, tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ, và vui lòng sống theo sự dạy dỗ của Thánh Kinh; họ được gọi là thân thể của Chúa, do chính Chúa cai trị. (2) Thánh Kinh là Lời của Đức Chúa Trời, hoàn toàn và chân thật, là tiêu chuẩn và thẩm quyền tuyệt đối của Đức Chúa Trời cho nếp sống đạo của Hội Thánh. Bất cứ sự dạy dỗ hoặc tổ chức nào trong các giáo hội, giáo phái, hệ phái mà không có trong Thánh Kinh, thì đều là ý riêng của loài người.

Lược Sử Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật

William Miller (15.02.1782 – 20.12.1849), một người Mỹ thuộc giáo Hội Báp-tít, là người khởi xướng phong trào "trông chờ Chúa tái lâm" vào giữa thế kỷ thứ 19. Miller dốc lòng tìm kiếm lẽ thật trong Thánh Kinh bằng cách bắt đầu đọc Thánh Kinh từ Sáng Thế Ký cho đến Khải Huyền. Trong khi đọc, ông suy gẫm cho đến khi tin rằng mình đã hiểu câu đang đọc thì mới đọc sang câu kế tiếp. Khi Miller đọc đến Đa-ni-ên 8 thì ông cho rằng thời khoảng "hai ngàn ba trăm buổi chiều và buổi mai" được nói đến trong câu 14 là thời khoảng từ khi có chiếu chỉ xây dựng lại Giê-ru-sa-lem (457 TCN) cho đến khi Đấng Christ tái lâm. Miller dùng nguyên tắc "ngày=năm" trong Dân Số Ký 14:34 và Ê-xê-chi-ên 4:5-6 để tính rằng: hai ngàn ba trăm buổi chiều và buổi mai = 2300 ngày = 2300 năm. Như vậy, theo Miller, Chúa sẽ tái lâm vào khoảng năm 1843 – 1844. Miller đưa ra lời tuyên bố về sự tính toán của ông vào năm 1818 và tiếp tục nghiên cứu thêm cho đến tháng 9 năm 1822 thì ông chính thức khẳng định sự tính toán của mình.

Đến năm 1831, Miller bắt đầu rao giảng lý thuyết và tính toán của ông về ngày Chúa tái lâm. Người tin theo Miller được gọi là "Cơ-đốc Phục Lâm." Dầu vậy, những tiên đoán của ông về việc Chúa sẽ tái lâm vào tháng 10 năm 1843, hay mùa xuân năm 1844 đều không ứng nghiệm. Sau đó, một trong những người ủng hộ lý thuyết của Miller, là Samuel Snow, đã đưa ra tính toán mới là vào ngày 22 tháng 10 năm 1844 Đấng Christ sẽ tái lâm. Tuy nhiên, năm 1844 đã qua đi mà Đấng Christ vẫn chưa tái lâm, đem lại một sự thất vọng lớn cho trên 100,000 người tin theo Miller và Snow. Ông Miller đã chính thức nhận rằng mình sai, xin lỗi Hội Thánh, và rút lui ra khỏi sinh hoạt của Phong Trào Cơ-đốc Phục Lâm, rồi qua đời vào tháng 12 năm 1849. Nhiều người hoàn toàn từ bỏ lý thuyết của Miller nhưng cũng có những người tìm cách kiện toàn phương pháp tính toán và giải kinh của Miller để đưa ra những thời điểm mới về sự kiện Đấng Christ tái lâm.

Ban đầu, những người Cơ-đốc Phục Lâm chỉ nghiêng về sự kiện Chúa Tái Lâm và chưa chấp nhận tín lý giữ ngày Sa-bát. Vào khoảng đầu năm 1844, một thiếu nữ thuộc Giáo Phái Báp-tít Ngày Thứ Bảy (Seventh Day Baptist) tên là Rachel Oakes Preston đã giới thiệu tín lý giữ ngày Sa-bát cho những người Cơ-đốc Phục Lâm. Sau đó, tín lý giữ ngày Sa-bát trở thành một trong những tín lý quan trọng của những người Cơ-đốc Phục Lâm và đến năm 1860 thì họ chính thức dùng danh xưng Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật (Seventh Day Adventist).

Một trong những người tiếp tục triển khai lý thuyết của Miller và góp phần trong việc khai sinh ra Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật là bà Ellen White (26.11.1827 – 16.07.1915), xuất thân từ Giáo Hội Giám Lý (Methodist). Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật được chính thức thành lập vào ngày 21 tháng 5 năm 1863. Bà White cho biết bà được đem lên thiên đàng, nhận lãnh chỉ thị và khải tượng từ Chúa để thành lập Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật. Bà White tự xem mình là nữ tiên tri của Đức Chúa Trời và tín đồ Cơ-đốc Phục Lâm chấp nhận vai trò nữ tiên tri của bà. Thực tế, họ xem các sách do bà viết ra có thẩm quyền đứng hàng thứ nhì sau Thánh Kinh cho đức tin và nếp sống đạo của tín đồ Đấng Christ. Có thể nói, toàn thể hệ thống thần học của Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật dựa trên các tác phẩm của bà White. Tác phẩm chính là cuốn "The Great Controversy" (Cuộc Đối Nghịch Vĩ Đại) trình bày sự phản loạn của Satan chống nghịch lại Đức Chúa Trời và loài người là bãi chiến trường cho cuộc chiến giữa Đấng Christ và Satan. Bà White tin và dạy rằng lý thuyết của Miller  và sự tính toán của Snow là đúng nhưng ngày 22 tháng 10 năm 1844 là ngày Đấng Christ từ nơi thánh bước vào nơi chí thánh trên thiên đàng để khởi sự cuộc phán xét những kẻ sống và kẻ chết trên đất.

Theo thống kê năm 2010 [2], Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm có trên 16 triệu 600 ngàn tín đồ (không kể trẻ em), là một tổ chức tôn giáo lớn, đứng hàng thứ 12 trên thế giới, còn xét về ảnh hưởng quốc tế thì đứng hàng thứ sáu. Riêng tại Việt Nam, từ năm 1915 đến 1927, Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm vào Việt nam truyền giáo tại các thành phố Hải Phòng, Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Lạng Sơn, Sàigòn, Chợ Lớn… và "Hội Thánh Cơ-đốc Phục Lâm" đầu tiên tại Sàigòn được thành lập vào đầu tháng 12 năm 1929. 

Những Tín Lý Nghịch Thánh Kinh của Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật

Theo dòng lịch sử, tín lý của Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật có nhiều thay đổi. Từ năm 2005 cho đến nay, Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật có 28 Niềm Tin Căn Bản (28 Fundamentals) [3]. Trong 28 niềm tin căn bản đó, phần lớn phù hợp với sự dạy dỗ của Thánh Kinh nhưng có những điều được liệt kê dưới đây nghịch lại với sự dạy dỗ của Thánh Kinh:

1. Tín lý thứ 7 cho rằng mỗi người là một liên kết không thể phân chia bao gồm thể xác, trí tuệ, và tâm thần (body, mind, spirit).

Thánh Kinh dạy người là một thực thể bao gồm thể xác, linh hồn, và tâm thần (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23). Lời của Chúa có thể phân chia linh hồn, tâm thần, và thể xác (Hê-bơ-rơ 4:12). Linh hồn và tâm thần có thể rời khỏi thể xác khi sự chết thứ nhất xảy ra hoặc khi được thần cảm (Lu-ca 16:22-23; II Cô-rinh-tô 5:9; 12:1-5).

2. Tín lý thứ 13 cho rằng trong những ngày cuối cùng, giữa sự bội đạo lớn, một phần còn sót lại của Hội Thánh được gọi ra khỏi các tổ chức tôn giáo mang danh Chúa để vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và đức tin trong Đấng Christ. Nhiệm vụ của phần còn sót lại là rao truyền sự phán xét sắp đến, công bố sự cứu rỗi trong Đức Chúa Jesus Christ, và loan báo sự tái lâm của Ngài. Nhiệm vụ này được tiêu biểu bởi ba thiên sứ trong Khải Huyền 14 và xảy ra đồng thời với sự phán xét trên thiên đàng, đem đến sự ăn năn và thay đổi trên đất.

Từ ngữ "sự phán xét trên thiên đàng" đề cập đến tín lý thứ 24 liên quan đến khải tượng của bà White về việc ngày 22 tháng 10 năm 1844 Đấng Christ thay vì tái lâm trên đất thì đã từ nơi thánh bước vào nơi chí thánh trên thiên đàng để phán xét kẻ sống và kẻ chết.  Thánh Kinh không hề nói đến sự kiện Đấng Christ phán xét kẻ sống và kẻ chết trong nơi chí thánh trong thiên đàng. Sách Khải Huyền từ đoạn 6 cho đến đoạn 19 là lời tiên tri về sự phán xét của Đức Chúa Trời trên thế gian sau khi Hội Thánh đã được đem ra khỏi thế gian.

3. Tín lý thứ 16 cho rằng Đấng Christ hiện diện trong sự dự Tiệc Thánh để gặp gở và thêm sức cho các tín đồ.

Thánh Kinh không hề dạy Đấng Christ hiện diện mỗi khi tín đồ dự Tiệc Thánh để gặp gở và thêm sức cho họ. Thánh Kinh dạy Đức Chúa Jesus ở cùng tín đồ cho đến khi tận thế (Ma-thi-ơ 28:20); Đức Cha và Đức Con ở trong những ai yêu mến Đấng Christ và vâng giữ lời Ngài (Giăng 14:23); Đức Thánh Linh ngự trong thân thể tín đồ và thân thể tín đồ trở thành đền thờ của Đức Chúa Trời (I Cô-rinh-tô 3:16; 6:19). Nói cách khác, Ba Ngôi Đức Chúa Trời ở trong những ai thuộc về Đấng Christ chứ không phải chỉ mỗi lần tín đồ dự Tiệc Thánh thì Đấng Christ mới hiện diện với họ. Chính Đấng Christ dạy rằng Tiệc Thánh là việc tín đồ làm để nhớ đến Chúa "Hãy làm điều này để nhớ đến Ta!" chứ không phải là việc làm để Chúa hiện diện và thêm sức cho tín đồ (I Cô-rinh-tô 11:24-25).

4. Tín lý thứ 18 cho rằng ân tứ nói tiên tri được thể hiện và ban cho bà Ellen White cùng với khoảng 2000 khải tượng và giấc mơ; các tác phẩm của bà có thẩm quyền và là nguồn lẽ thật tiếp tục nuôi dưỡng, dạy dỗ, dẫn dắt, bẻ trách và sửa trị Hội Thánh.

Trong thực tế, nhiều lời tiên tri của bà White đã không ứng nghiệm, (sẽ trình bày trong một bài viết khác khi có dịp). Mặt khác, cho dù 100% những ý tưởng được trình bày trong các tác phẩm của bà White phù hợp với sự dạy dỗ của Thánh Kinh thì cũng không vì đó mà các tác phẩm của bà trở thành thẩm quyền và nguồn lẽ thật cho Hội Thánh, huống chi, có những sự sai lạc với lời dạy của Thánh Kinh trong các tác phẩm của bà. Dưới đây là một vài thí dụ điển hình:

Ellen White viết:"Những người tiếp nhận Cứu Chúa, dù thật lòng đến đâu, cũng không nên dạy cho họ nói hay cảm nhận rằng họ đã được cứu." (Nguyên văn: "Those who accept the Saviour, however sincere their conversion, should never be taught to say or feel that they are saved." Christ's Object Lessons, trang 155).

Thánh Kinh dạy:"Ta đã viết những điều nầy cho các con, hầu cho các con biết mình có sự sống đời đời, là kẻ nào tin đến danh Con Đức Chúa Trời" (I Giăng 5:13).

Ellen White viết:"Đừng một người hầu việc Chúa nào trong chúng ta làm ra gương ác bằng cách ăn thịt. Họ và gia đình của họ phải sống đúng theo sự soi dẫn của sự cải biến sức khỏe. Đừng để cho những người hầu việc Chúa trong chúng ta thú vật hóa bản tính tự nhiên của họ và con cháu họ." (Nguyên văn:"Let not any of our ministers set an evil example in the eating of flesh-meat. Let them and their families live up to the light of health reform. Let not our ministers animalize their own nature and the nature of their children." Spalding and Magan, trang 211).

Thánh Kinh dạy:"Phàm vật chi hành động và có sự sống thì dùng làm đồ ăn cho các ngươi. Ta cho mọi vật đó như ta đã cho thứ cỏ xanh" (Sáng Thế Ký 9:3).

Ellen White viết:"Bị bệnh là phạm tội; vì tất cả các thứ bệnh đều là kết quả của sự phạm pháp." (Nguyên văn: "It is a sin to be sick; for all sickness is the result of transgression." Health Reformer, 01.08.1866).

Thánh Kinh dạy:"Sa-tan bèn lui ra trước mặt Đức Giê-hô-va, hành hại Gióp một bịnh ung độc, từ bàn chơn cho đến chót đầu" (Gióp 2:7).

5. Tín lý thứ 24 cho rằng vào năm 1844 Đấng Christ đã từ nơi thánh bước vào nơi chí thánh trên thiên đàng để hoàn tất công việc chuộc tội cho nhân loại bằng cách dùng huyết Ngài tẩy sạch đền thánh trên trời và phán xét kẻ sống và kẻ chết. Khi công tác này hoàn thành thì Đấng Christ sẽ tái lâm trên đất. Sự phán xét kẻ sống có nghĩa là phán xét những người đang sống trên đất từ khi Đấng Christ vào nơi chí thánh cho đến khi Ngài tái lâm; còn sự phán xét kẻ chết là phán xét những người tin Chúa đã chết trước thời điểm đó. Theo bà Ellen White thì ngày 22 tháng 10 năm 1844 là ngày Đấng Christ khởi sự thi hành sự phán xét.

Thánh Kinh cho biết Đấng Christ đã làm xong công tác chuộc tội cho nhân loại. Công tác đó hoàn thành khi Đấng Christ chết trên thập tự giá. Chính Ngài tuyên phán: "Xong" (Giăng 19:30)! Hê-bơ-rơ 9:12 chép rõ "Ngài đã vào nơi rất thánh một lần thì đủ hết, không dùng huyết của dê đực và của bò con, nhưng dùng chính huyết mình, mà được sự chuộc tội đời đời." Động từ "vào" trong nguyên tác Hy-lạp của câu này thuộc thời quá khứ bất định để chỉ một việc đã hoàn thành trong thời quá khứ, nghĩa là trước khi thư Hê-bơ-rơ được viết. Như vậy, làm sao có chuyện đến năm 1844 thì Đức Chúa Jesus Christ mới vào nơi chí thánh? Thánh Kinh cũng không hề nói đến chuyện Đấng Christ thi hành sự phán xét kẻ sống và kẻ chết trong nơi chí thánh trên trời hoặc trước khi Ngài tái lâm trên đất. Thức tế, Thánh Kinh cho biết sau khi Hội Thánh được cất ra khỏi thế gian thì Đức Chúa Trời phán xét thế gian trong một thời kỳ bảy năm và sau khi trời cũ đất cũ qua đi thì Đấng Christ sẽ gọi những kẻ chết không thuộc về Chúa sống lại và phán xét mỗi người tùy theo công việc họ làm.

6. Tín lý thứ 26 cho rằng người chết thì không còn ý thức gì cả.

Đấng Christ phán rằng người chết vẫn có ý thức, có cảm giác và có trí nhớ. Câu chuyện về người nhà giàu tội lỗi và người ăn mày tên La-xa-rơ được chép lại trong Lu-ca 16:19-31 chứng minh điều đó. Ngoài ra, những thánh đồ tử đạo thời đại nạn vẫn có ý thức và biết kêu cầu xin Chúa báo trả những kẻ ác (Khải Huyền 6:9-10).

7. Tín lý thứ 27 cho rằng vương quốc ngàn năm bình an là ở trên trời, còn trái đất lúc đó bị bỏ hoang, không có người ở, chỉ có Satan và các quỷ sứ của nó. Cuối ngàn năm bình an thì thành thánh sẽ từ trời giáng xuống trên đất. Khi đó những kẻ ác sẽ sống lại, hợp với Sa-tan và các quỷ sứ của nó bao vây thành thánh nhưng lửa từ Đức Chúa Trời sẽ thiêu hủy họ và thanh tẩy trái đất. Từ đó, vũ trụ sẽ không còn tội nhân và tội lỗi nữa.

Thánh Kinh cho biết vương quốc ngàn năm là ở trên đất. Sa-tan bị giam trong vực sâu suốt một ngàn năm. Không có chuyện những kẻ ác sẽ sống lại vào cuối ngàn năm bình an để hợp sức với Sa-tan bao vây thành thánh từ trời giáng xuống. Thành thánh chỉ từ trời giáng xuống đất sau khi đã có trời mới đất mới, là lúc Sa-tan và những thiên sứ phạm tội cùng những người không thuộc về Chúa đã bị ném vào hồ lửa đời đời (Khải Huyền 20-22). 

Ngoài 28 Niềm Tin Căn Bản, Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật còn có những quan điểm thần học không đúng với sự dạy dỗ của Thánh Kinh như sau:

8. Chỉ những ai biểu lộ kết quả xứng đáng của sự ăn năn (Ma-thi-ơ 3:8) [4] và công nhận Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm là phần sót lại của Hội Thánh thật của Chúa [5] mới được làm báp-tem.

Hai điều kiện này hoàn toàn không có trong Thánh Kinh.

9. Tín đồ không được ăn thịt các loài vật không tinh sạch [6].

Thánh Kinh cho biết, thời Tân Ước Đức Chúa Trời đã làm tinh sạch mọi thức ăn không tinh sạch (Công Vụ Các Sứ Đồ 10:15; Rô-ma 14:14; I Ti-mô-thê 4:4).

10. Những ai chỉ thờ phượng Chúa vào chủ nhật, không thờ phượng Chúa vào ngày thứ bảy, là mang dấu ấn của con thú được mô tả trong Khải Huyền 13 [6].

Dấu ấn của con thú chỉ xuất hiện khi con thú lên ngôi (thời đại nạn, Hội Thánh đã được cất lên trước đó) và dấu ấn đó sẽ ở trên tay hoặc trên trán của người đón nhận nó để người đó có quyền mua bán chứ không phải sự nhóm họp thờ phượng Chúa vào chủ nhật là dấu ấn của con thú. Con dân của Chúa có thể nhóm họp thờ phượng Chúa vào bất kỳ lúc nào.

11. Chỉ những ai giữ ngày Sa-bát mới nhận được dấu ấn của Đức Chúa Trời và được cứu [7].

Dấu ấn của Đức Chúa Trời là Đức Thánh Linh ở trong chúng ta, do chính Đức Chúa Trời ban cho chúng ta khi chúng ta thật lòng ăn năn, từ bỏ tội, tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ và vui lòng sống theo Lời Chúa (Ê-phê-sô 4:30).

Kết Luận

Trên cơ bản đức tin Cơ-đốc về Ba Ngôi Đức Chúa Trời, về Thánh Kinh là Lời của Đức Chúa Trời, về tội lỗi, về sự cứu rỗi, về sự thánh hóa, và về sự sống đời đời thì người Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật tin đúng những gì Thánh Kinh dạy. Những tín lý và quan điểm thần học nghịch lại Thánh Kinh của Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật chẳng qua là hậu quả tất nhiên của sự hiểu sai một số Lời Chúa (II Phi-e-rơ 3:16) và sự dựa vào những điều gọi là "chiêm bao, khải tượng, thần cảm" hơn là dựa vào Lời Chúa. Tất cả các chiêm bao, khải tượng, thần cảm cần phải được đối chiếu với lẽ thật của Lời Chúa vì từ ngàn xưa đã có những sự chiêm bao, khải tượng (hiện thấy), và thần cảm không đến từ Đức Chúa Trời (Phục Truyền Luật Lệ Ký 13:1-5; Truyền Đạo 5:7; Giê-rê-mi 14:14; 23:25-32; Xa-cha-ri 10:2; II Tê-sa-lô-ni-ca 2:2).

Tất cả những sự dạy dỗ không có trong Thánh Kinh hoặc nghịch lại Thánh Kinh đều là "tà giáo" nghĩa là những sự dạy dỗ không đúng với lẽ thật (tà là không ngay thẳng, không chính đáng; giáo là sự dạy dỗ). Tuy nhiên, các giáo hội khác không có tư cách để gọi Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm là "tà giáo" vì chính trong các giáo hội đó cũng có những sự dạy dỗ không đúng với hoặc là không có trong Thánh Kinh. Thậm chí, "tà giáo" trong một số giáo hội tự cho là truyền thống, theo sát Thánh Kinh, lại có mức độ nguy hiểm trầm trọng đến nổi khiến cho tín đồ tin theo những sự dạy dỗ đó có thể bị mất sự cứu rỗi, như tà thuyết: "Tin Chúa một lần, được cứu vĩnh viễn," dạy rằng, một người chỉ cần thật lòng tin nhận sự cứu rỗi của Đấng Christ là được cứu, cho dù sau đó đời sống của người ấy vẫn chưa từ bỏ tội lỗi.

Công bình mà nói, một người tin và sống theo những sự dạy dỗ của Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm An Thất Nhật có nếp sống đạo chân thành và thánh khiết đúng với Lời Chúa hơn là một người tin vào tà thuyết "Tin Chúa một lần, được cứu vĩnh viễn."

Là con dân Chúa, chúng ta có bổn phận "nhìn trái biết cây" để nhận diện các tiên tri giả và giáo sư giả (Ma-thi-ơ 7:15-23); chúng ta có bổn phận đối chiếu lời giảng dạy của bất cứ người nào với Thánh Kinh để xem lời giảng dạy ấy có đúng với Thánh Kinh hay không (Công Vụ Các Sứ Đồ 17:11). Là con dân Chúa chúng ta có bổn phận vâng giữ các điều răn của Chúa và sống như Đấng Christ đã sống, làm theo những gì Đấng Christ đã làm (I Giăng 2:3-6). Là con dân Chúa, chúng ta thuộc về Hội Thánh của Đức Chúa Trời, do Đấng Christ dùng huyết Ngài để lập nên (I Cô-rinh-tô 1:2; I Phi-e-rơ 2:9; Khải Huyền 1:6) chứ chúng ta không thuộc về một tổ chức tôn giáo nào, cho dù là những tổ chức mang danh Chúa, do loài người lập ra. Thẩm quyền tuyệt đối trên đời sống của con dân Chúa là Thánh Kinh, Lời Hằng Sống của Đức Chúa Trời (II Ti-mô-thê 3:16-17), chứ không phải giáo lý hay thẩm quyền của bất cứ một người nào hay một giáo hội nào. Để có sự khôn ngoan, hiểu biết đúng Lời Chúa, trước hết con dân Chúa cần có tấm lòng thuận phục, sẵn sàng vâng theo Lời Chúa (Giô-suê 1:8), kế tiếp, lấy đức tin cầu xin Chúa ban cho mình sự khôn ngoan, thông sáng (Gia-cơ 1:5).

 

Huỳnh Christian Timothy
14.05.2011

 

Chú Thích & Tham Khảo

[1] Danh xưng "Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật"được dịch từtiếng Anh: "Seventh Day Adventist Church," trong đó, từ ngữ Adventist có nghĩa là người mong chờ sự tái lâm (của Đấng Christ).

[2] http://news.adventist.org/2010/10/-about-2900-people-j.html

[3] http://www.adventist.org/beliefs/fundamental/index.html

[4] "Seventh-day Adventists Believe. A Biblical Exposition of 27 Fundamental Doctrines," trang 180

[5] http://www.bible.ca/cr-SDA.htm – Official Seventh-day Adventist Baptismal Vows, #8 and #13.   

[6] "Seventh-day Adventists Believe. A Biblical Exposition of 27 Fundamental Doctrines," trang 285

[7] "The Great Controversy," trang 605

http://www.saintaquinas.com/Seventh_day.html

http://www.adventist.org/

http://www.religionfacts.com/christianity/denominations/seventh_day_adventist.htm

http://en.wikipedia.org/wiki/Ellen_G._White

http://en.wikipedia.org/wiki/Seventh-day_Adventist_Church

http://en.wikipedia.org/wiki/History_of_the_Seventh-day_Adventist_Church

Đọc Tiếp →

Tín Lý Căn bản

Bấm vào đây để download bài viết này

Dưới đây là bảng tóm lược các tín lý căn bản được rao giảng trên các website trực thuộc Vietnamese Christian Mission Ministry:

1. Chỉ có một Đức Chúa Trời Tự Nhiên Có và Còn Đến Mãi Mãi, Toàn Thiện, Toàn Năng, Toàn Ái, là Đấng Sáng Tạo và Tể Trị trên muôn loài vạn vật; được thể hiện qua ba ngôi (thân vị): Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con (tức là Đức Chúa Jesus Christ), và Đức Chúa Thánh Linh. Đức Chúa Con ra từ Đức Chúa Cha, Đức Thánh Linh ra từ Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con.

2. Loài người được Đức Chúa Trời tạo dựng để làm con của Đức Chúa Trời nhưng loài người đã phạm tội, nghĩa là không vâng lời Đức Chúa Trời, nên bị hư mất đời đời. Đức Chúa Trời yêu thương loài người nên ban cho loài người sự cứu rỗi. Hễ ai cải hối (hối hận vì đã phạm tội và bằng lòng trở lại vâng lời Đức Chúa Trời) và tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, vâng theo mọi lời phán dạy của Đức Chúa Jesus Christ; thì được Đức Chúa Trời tha tội và làm cho sạch tội; được Đức Thánh Linh tái sinh và thánh hóa; được Đức Chúa Jesus Christ ban cho sự sống lại và sự sống đời đời; được làm con của Đức Chúa Trời và được đồng cai trị với Đức Chúa Con trong Nước Trời.

3. Tội lỗi là sự không vâng lời Đức Chúa Trời, tức là không vâng theo các ý muốn và các tiêu chuẩn thánh khiết, yêu thương, công bình của Đức Chúa Trời được Ngài đặt để trong lương tâm loài người, được Ngài tóm lược trong Mười Điều Răn và được Ngài cho ghi chép trong Thánh Kinh. Tội lỗi được thể hiện qua sự chống nghịch Đức Chúa Trời từ trong tư tưởng hoặc qua lời nói, cử chỉ, thái độ và hành động. Hậu quả của tội lỗi là sự hư mất đời đời.

Sự hư mất đời đời có nghĩa là bị đời đời xa cách Đức Chúa Trời (xa cách sự yêu thương của Ngài) và xa cách sự vinh quang của quyền phép Ngài (xa cách sự cứu rỗi và sự thánh hóa của Ngài). Người bị hư mất sẽ được phục sinh sau khi chết và ra trước tòa án của Đức Chúa Trời để chịu sự phán xét về tất cả tội lỗi đã làm trong khi đang sống trong thân xác hiện tại. Sau đó, sẽ bị giam giữ để chịu khổ đời đời trong hỏa ngục cùng với các thiên sứ phạm tội đã trở thành ma quỷ.

4. Cải hối là thật lòng đau khổ vì đã phạm tội và gớm ghét tội lỗi, là sẵn sàng nhận sự cứu giúp của Đức Chúa Trời để có được thẩm quyền và năng lực thắng được mọi thử thách và cám dỗ; và trên hết là khao khát vâng theo lời Chúa dạy. Tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời là tin rằng sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ trên thập tự giá cho nhân loại là hành động chuộc tội một lần đủ cả để cứu bất kỳ ai muốn được Đức Chúa Trời tha tội và làm cho sạch tội mà không cần phải thêm một điều gì khác.

5. Được tha tội là được Đức Chúa Trời không hình phạt về những tội đã phạm (vì Đức Chúa Jesus Christ đã gánh thay hình phạt). Được làm cho sạch tội là được Đức Chúa Trời rửa sạch bản tính phạm tội (bằng máu thánh của Đức Chúa Jesus Christ) để không còn ưa thích phạm tội nữa. Được tái sinh là được Đức Chúa Trời tạo nên một tâm linh mới trong Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh của Ngài ngự trong thân thể để biến thân thể thành đền thờ của Đức Chúa Trời. Được thánh hóa là được nhận dư dật Thánh Linh (tức là sự sống, thẩm quyền, và năng lực) của Đức Chúa Trời để có thể sống đúng theo tiêu chuẩn thánh khiết của Đức Chúa Trời, làm được những việc lành của Đức Chúa Trời và trở nên trọn vẹn như chính Ngài.

6. Thánh Kinh là Lời Hằng Sống của Đức Chúa Trời, là ý muốn và tiêu chuẩn thánh khiết của Đức Chúa Trời đối với nhân loại. Thánh Kinh hoàn toàn là chân lý và là thẩm quyền tuyệt đối để dạy cho loài người biết về Đức Chúa Trời. Thánh Kinh phải được giảng giải bằng chính Thánh Kinh. Tất cả những giáo lý không có trong Thánh Kinh là tà giáo. Tất cả những giáo lý không đúng với Thánh Kinh là tà giáo. Sự thờ phượng Đức Chúa Trời không đúng với Thánh Kinh là sự thờ phượng theo xác thịt, không theo Thánh Linh.

7. Sự tổ chức, thành lập các giáo hội, giáo phái là nghịch lại Thánh Kinh. Các giáo hội, giáo phái không phải là Hội Thánh của Chúa. Dầu vậy, trong các giáo hội, giáo phái có sự hiện diện của Hội Thánh Chúa qua sự hiện diện của những con dân chân thật của Ngài, là những người thật lòng cải hối, từ bỏ tội lỗi, tin nhận sự cứu rỗi của Đấng Christ và vâng giữ Lời Chúa.

8. Tất cả các chức vụ, các ân tứ Chúa lập ra và ban cho Hội Thánh vẫn còn trong Hội Thánh cho đến ngày Chúa cất Hội Thánh ra khỏi thế gian, vì tất cả các chức vụ và ân tứ đó là ân điển Chúa ban để gây dựng và phát triển Hội Thánh. Trong những ngày cuối cùng càng có nhiều giáo sư giả, nhiều tiên tri giả, nhiều sự bội đạo thì các chức vụ và các ân tứ từ Chúa càng cần thiết hơn bao giờ hết trong Hội Thánh của Chúa. Các chức vụ do loài người tự phong cho nhau trong các giáo hội không phải là các chức vụ Chúa lập ra. Chức vụ Chúa lập ra trong Hội Thánh được chính Đức Thánh Linh bày tỏ cho người được gọi và cho cả Hội Thánh.

9. Hiện tượng "nói tiếng lạ," "đặt tay té ngã," "say Thánh Linh," "tiếng cười thánh," "bị giết trong Thánh Linh…" hoàn toàn không có trong Thánh Kinh mà chỉ là sự giả mạo của Sa-tan để lường gạt những người không chịu từ bỏ nếp sống tội lỗi mà lại muốn tỏ ra mình được đầy dẫy Thánh Linh và có quyền phép, ân tứ thuộc linh. Ân tứ nói ngoại ngữ như được thể hiện trong Công Vụ Các Sứ Đồ 2 và nói đến trong I Cô-rinh-tô 12 và 14 không phải là sự kiện thất thần nói lấp bấp một thứ âm thanh vô nghĩa. Theo Thánh Kinh, những người được ân tứ nói ngoại ngữ luôn luôn nói một thứ ngôn ngữ có người hiểu và được người chung quanh ấn chứng rằng họ đang nói những lời cao trọng về Đức Chúa Trời. Tất cả các trường hợp thất thần, té ngã bất động, nói lấp bấp những âm thanh vô nghĩa, cười, la, gào, hú, than khóc, lắc lư hay vật vã thân hình… chỉ là hình thức của các hiện tượng bị tà linh điều khiển.

10. Một người xưng rằng mình tin nhận Chúa mà không sống theo Lời Chúa trong Thánh Kinh, cố tình vi phạm Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời là một người nói dối, là một người chưa hề có sự cứu rỗi. Một người đã có sự cứu rỗi, đã được tái sinh và thậm chí được Chúa giao cho các chức vụ quan trọng trong Hội Thánh nhưng nếu lại quay về với đời sống tội lỗi (dù là kín giấu) thì cũng sẽ mất sự cứu rỗi. Chúng ta được cứu bởi ân điển và đức tin để được dựng nên mới trong Đấng Christ để Đấng Christ sống trong chúng ta làm Chúa của chúng ta và để Đức Thánh Linh ngự trong chúng ta, ban cho chúng ta quyền phép của Đức Chúa Trời để chúng ta sống theo ý muốn và điều răn của Ngài, không phải để chúng ta tự do sống trong tội mà không bị đoán phạt. Lời Đức Chúa Jesus dạy trong Ma-thi-ơ 7:21-23; 18:15-35; 25:14-30 khẳng định rằng, ai tin Chúa rồi, thậm chí được làm tôi tớ phục vụ trong nhà Chúa (tức Hội Thánh) mà không hết lòng vâng theo Lời Chúa thì sẽ bị Chúa đoán phạt và bị hư mất đời đời.

Các Website trực thuộc Vietnamese Christian Mission Ministry

www.tinlanhmedia.net
www.tinlanhvietnam.net
www.tinlanhbiengiao.net
www.thanhkinhvietngu.net
www.thanhkinhthanhoc.net
www.phunu.tinlanhvietnam.net
www.vietnamesechristianministry.org

Đọc Tiếp →