Trả Lời Một Số Câu Hỏi Liên Quan Đến Loạt Bài Giảng về Loài Người

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?26lx0dplqcx58vh

Huỳnh Christian Timothy

Chúng tôi nhận được qua email một số câu hỏi liên quan đến loạt bài giảng về loài người. Chúng tôi xin tóm lược và trả lời trong bài này.

Xin vào nối mạng dưới đây để đọc và tải xuống các bài giảng về loài người:
http://thanhoc.timhieutinlanh.net/taxonomy/term/70

Xin vào nối mạng dưới đây để nghe và tải xuống mp3 các bài giảng về loài người:
http://timhieutinlanh.net/node/1034

Các Câu Hỏi

1. Loài người cũng ra từ Thiên-Chúa Cha, nhưng ra bởi lời phán của Ngài. Kinh thánh biểu tượng cho sự “ra” đó như sau : “7 GIA-VÊ là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật.” Như vậy loài người muốn hằng hữu phải có Thần-linh sự sống của chính bản thể Thiên-Chúa-Cha.

2. Nếu giải nghĩa kinh thánh hoàn toàn theo nghĩa đen tôi nhận thấy không hoàn toàn đúng và có khi còn sai trật nguy hiểm cho người đọc.

3. Kinh thánh biểu tượng cho sự “ra” đó là tôi muốn nhấn mạnh rằng nếu cứ nhất mực hiểu : “7 GIA-VÊ là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật.” theo nghĩa mặt chữ như vậy; vô tình, người viết đã biến Thiên-Chúa vốn toàn năng thành một Thiên-Chúa hữu hạn, nghĩa là Ngài phải : Ngài gom bụi của đất để làm nên một hình thể giống như hình thể vật chất của Ngài; theo như cách mà Anh đã viết.

4. Để khỏi dài dòng tôi xin nêu một ví dụ sau đây : “9 Giê-hô-va Đức Chúa Trời khiến đất mọc lên các thứ cây đẹp mắt, và trái thì ăn ngon; giữa vườn lại có cây sự sống cùng cây biết điều thiện và điều ác.” (St 2:9)

Nếu giải nghĩa câu trên theo nghĩa mặt chữ, nghĩa là hai cây đó có thực !!!

Chúng ta đã biến một Thiên-Chúa bản chất Ngài là đấng siêu-việt thành ra một Thiên-Chúa hữu hạn; nghĩa là, Ngài cũng sợ hãi, ích kỷ, tham lam….

5. Vì sao ??? Xin đọc kỹ lời Chúa sau đây :

22 Giê-hô-va Đức Chúa Trời phán rằng: Nầy, về sự phân biệt điều thiện và điều ác, loài người đã thành một bực như chúng ta; vậy bây giờ, ta hãy coi chừng, e loài người giơ tay lên cũng hái trái cây sự sống mà ăn và được sống đời đời chăng. (St 3:22)

Thiên-Chúa sợ. Và một điều vô lý nữa : Trước khi Adam chưa vi phạm ông ta đã từng ăn trái cây sự sống. Vậy sau khi ông ta vi phạm Chúa lại e ông ta ăn trái cây đó để sống mãi !!!

6. Chúa sợ, Ngài phải đuổi Adam ra khỏi Eden?

7. Tôi xin chứng minh về hai cây trong St 3:9 chỉ là biểu tượng mà Chúa dùng để nói đến hai sự chọn lựa trong lòng Adam đối với lệnh truyền trong St 1:28 như sau : “9 Giê-hô-va Đức Chúa Trời khiến đất mọc lên các thứ cây đẹp mắt,và trái thì ăn ngon; giữa vườn lại có cây sự sống cùng cây biết điều thiện và điều ác”.

8. Tóm tắt : Nếu hiểu hoàn toàn nghĩa đen từ câu số 8 cho đến câu số 24 của chương ba chúng ta sẽ biến một Thiên-Chúa toàn năng, toàn ái thành một Thiên-Chúa đầy thù hận, ghen tương, ích kỷ như loài người hữu hạn hôm nay.

Như chúng ta biết, sau khi Adam vi phạm, Thiên-Chúa phải công bố một loạt những vấn đề cần thiết cho sự sống đời đời của loài người.

Nếu giải nghĩa nội dung St 3:22-24 theo mặt chữ, thì ý nghĩa của câu số 22 như sau : Ngài nhận thấy Adam ngang bằng với mình rồi thì Ngài SỢ . Sợ, rồi Ngài ĐUỔI Adam ra khỏi vườn (St 3:23); chưa đủ, để cho yên chí Ngài lại phải cho các Thiên-sứ CANH GIỮ đường dẫn đến cây sự sống (St 3:24). Như vậy chúng ta thấy một loạt những hành động sau của một Thiên Chúa “toàn năng” bao gồm : Sợ, Đuổi, Canh giữ. Nếu theo nghĩa đen giải nghĩa chúng ta thấy sao ???

9. Một mâu thuẫn nữa không thể giải nghĩa được mà nếu có cố tình giải nghĩa thì cũng sẽ làm cho vấn đề đã sai lại càng thêm sai. Đó là trước khi Adam vi phạm ông ta đã từng ăn trái của “cây sự sống”. Vậy tại sao khi ông ta ăn trái của “cây cho biết thiện-ác” ông ta lại phải chết ???

Các Câu Trả Lời

1. Thánh Kinh chép: “Giê-hô-va Thiên Chúa bèn lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sanh khí vào lỗ mũi; thì người trở nên một loài sanh linh” (Sáng Thế Ký 2:7).

Thánh Kinh chép: “Vả, hơi sống của Thiên Chúa dầu có dư dật, chỉ làm nên một người mà thôi. Nhưng vì sao chỉ làm một người? Ấy là vì tìm một dòng dõi thánh. Vậy các ngươi khá cẩn thận trong tâm thần mình; chớ đãi cách phỉnh dối với vợ mình lấy lúc tuổi trẻ” (Ma-la-chi 2:15).

Vậy, có phải hơi sống của Đấng Hằng Hữu đã tạo nên loài người hằng hữu hay không? Nếu hơi sự sống này không phải là sự sống bản thể của Thiên Chúa thì nó là sự sống của bản thể gì? Anh lẫn lộn giữ linh hồn là bản thể của loài người với thân thể xác thịt là áo mặc, là nhà trọ của linh hồn.

Khi linh hồn của người có Chúa ra khỏi thân thể xác thịt thì sẽ đi ở với Đấng Christ. Thánh Kinh chép: “Ví thử tôi cứ sống trong xác thịt, là ích lợi cho công khó tôi, thì tôi chẳng biết nên lựa điều chi. Tôi bị ép giữa hai bề muốn đi ở với Đấng Christ, là điều rất tốt hơn; nhưng tôi cứ ở trong xác thịt, ấy là sự cần hơn cho anh em” (Phi-líp 1:22-24). Cái gì đi ở với Đấng Christ? Cái gì sống trong hay ở trong xác thịt?

Thánh Kinh chép: “Vậy tôi nói, chúng ta đầy lòng tin cậy, muốn lìa bỏ thân thể nầy đặng ở cùng Chúa thì hơn. Cho nên chúng ta dầu ở trong thân thể nầy, dầu ra khỏi, cũng làm hết sức để được đẹp lòng Chúa” (II Cô-rinh-tô 5:8-9). Cái gì lìa bỏ thân thể này đặng đi ở với Chúa?

Thân thể xác thịt có thể biến cải (phân rã thành các nguyên tố hóa học) nhưng vẫn còn lại đời đời vì mọi loài Thiên Chúa sáng tạo đều hằng hữu.

Thánh Kinh chép về sự hằng hữu của trái đất:

Thi Thiên 78:69 “Ngài xây đền thánh Ngài giống như nơi rất cao, Khác nào trái đất mà Ngài đã sáng lập đời đời.”

Thánh Kinh chép về sự hằng hữu của muôn loài thọ tạo(Thi Thiên 148):

1 Ha-lê-lu-gia! Từ các từng trời hãy tôn vinh Đức Giê-hô-va! Hãy tôn vinh Ngài trong nơi cao cả!

2 Hỡi hết thảy các thiên sứ Ngài, hãy tôn vinh Ngài! Hỡi cả cơ binh Ngài, hãy tôn vinh Ngài!

3 Hỡi mặt trời, mặt trăng, hãy tôn vinh Ngài! Hỡi hết thảy ngôi sao sáng, hãy tôn vinh Ngài!

4 Hỡi trời của các từng trời, hỡi nước trên các từng trời, Hãy tôn vinh Ngài!

5 Cả thảy khá tôn vinh danh Đức Giê-hô-va; Vì Ngài ra lịnh, thảy bèn được sáng tạo.

6 Ngài lập cho vững các vật ấy đến đời đời vô cùng; Cũng đã định mạng, sẽ không có ai vi phạm mạng ấy.

2. Dĩ nhiên, Thánh Kinh phải có lúc giải theo nghĩa bóng, nhưng chỉ khi nào văn mạch cho phép. Thí dụ: Ta là người chăn. Ta là đường đi. Ta là cửa của chiên. Hãy chăn chiên Ta. Sông nước hằng sống…

3. Đó là anh ý kiến của anh, còn Thánh Kinh thì khẳng định: thân thể xác thịt của loài người là bụi của đất và sau khi phạm tội thì sẽ trở về bụi đất.

Sáng Thế Ký 3: 17-19 chép:

17 Ngài lại phán cùng A-đam rằng: Vì ngươi nghe theo lời vợ mà ăn trái cây ta đã dặn không nên ăn, vậy, đất sẽ bị rủa sả vì ngươi; trọn đời ngươi phải chịu khó nhọc mới có vật đất sanh ra mà ăn.

18 Đất sẽ sanh chông gai và cây tật lê, và ngươi sẽ ăn rau của đồng ruộng;

19 ngươi sẽ làm đổ mồ hôi trán mới có mà ăn, cho đến ngày nào ngươi trở về đất, là nơi mà có ngươi ra; vì ngươi là bụi, ngươi sẽ trở về bụi.

Nếu anh muốn giải thích chữ đất trong câu 19 theo "nghĩa bóng" thì anh cũng phải giải thích các chữ đất trong câu 17 và 18 theo nghĩa bóng. Vậy, theo anh, nghĩa bóng của chữ đất là gì?

4. Mời anh nghe ba bài giảng của tôi về hai cây này tại đây: http://timhieutinlanh.net/node/962

5. Sự sống đời đời khác với sự thực hữu và hằng hữu. Loài người thực hữu vì được Thiên Chúa sáng tạo. Loài người hằng hữu vì ra từ Đấng Hằng Hữu. Thánh Kinh định nghĩa rõ ràng: Sự sống đời đời là thực hữu trong sự nhìn biết Đức Cha và Đức Con: "Vả, sự sống đời đời là nhìn biết Ngài, tức là Thiên Chúa có một và thật, cùng Jesus Christ, là Đấng Ngài đã sai đến" (Giăng 17:3 ), tức là thực hữu trong sự mãi mãi hiểu biết Thiên Chúa trong một thân thể vật chất không bị băng hoại và không có khả năng phạm tội vì không biết điều ác, mà chỉ biết điều thiện.

Sự chết đời đời là sự thực hữu mà không được tiếp tục hiểu biết Thiên Chúa trong một thân thể bị băng hoại bởi sự hình phạt của Thiên Chúa. Thánh Kinh cũng định nghĩa rõ ràng sự chết đời đời (Ma-thi-ơ 25:41, 46; Khải Huyền 20:10, 14-15; 21:8). Lý do của sự chết đời đời là vì không vâng phục Thiên Chúa, tức không nhận biết Ngài. Vì không nhận biết Ngài nên mới dám phản nghịch Ngài.

Khi A-đam được dựng nên, ông chưa có sự sống đời đời (tức chưa có sự mãi mãi nhận biết Thiên Chúa). Ông phải chọn ham muốn được sự sống đời đời bằng cách ăn trái của cây sự sống. Tuy nhiên, ông chưa kịp ăn trái cây sự sống đời đời thì ông đã ăn trái cây biết điều thiện và điều ác, nghịch lại thánh ý của Thiên Chúa và dẫn đến hậu quả là ông không còn được cơ hội để mãi mãi nhận biết Thiên Chúa. Chúng ta biết A-đam chưa ăn trái cây sự sống vì nếu ông đã ăn thì ông đã mãi mãi nhận biết Thiên Chúa và sẽ không có khả năng phạm tội, không biết điều ác. Khi đó Thiên Chúa sẽ hủy diệt cây biết điều thiện và điều ác.

Trái của cây sự sống đời đời (đạt được bằng sự vâng lời Thiên Chúa: ăn nó và không ăn trái của cây biết điều thiện điều ác – loài người chỉ có thể làm một trong hai lựa chọn: ăn trái của cây sự sống thì trái của cây biết điều thiện và điều ác sẽ bị cất đi, và ngược lại) có tính chất giúp cho loài người được đời đời nhận biết Thiên Chúa và tương giao với Thiên Chúa trong hạnh phúc khi loài người không nhiễm tội. Sự nhận biết Thiên Chúa và tương giao với Thiên Chúa là một tiến trình kéo dài cho đến đời đời. Mỗi lúc chúng ta càng hiểu biết Chúa hơn và càng khắng khít với Chúa hơn.

Một khi loài người phạm tội thì sự nhận biết Thiên Chúa bị chấm dứt ngay, họ không thể nào tiếp tục nhận biết Ngài cho đến khi được Ngài ban cho cơ hội ăn năn và họ tiếp nhận sự ban cho ấy. Nếu đã phạm tội mà vẫn đời đời ở trong sự nhận biết Thiên Chúa, tức sự sống đời đời, thì đó sẽ là một hình phạt kinh khủng còn hơn là hồ lửa. Vì càng nhận biết Thiên Chúa càng hơn, thì càng lộ ra sự ô uế, xấu xa, gian ác của mình càng hơn, và càng đau khổ hơn. Vì thế, Thiên Chúa đã không để cho A-đam có thể ăn trái cây của sự sống, sau khi ông phạm tội, tức là không cho phép ông tiếp tục hiểu biết Thiên Chúa ngày càng hơn trong khi ông đang ở trong địa vị bị mãi mãi xa cách Ngài.

6. Đó là sự kết luận chủ quan của anh. Thánh Kinh không hề có chỗ nào nói Chúa sợ! Ngài thương xót, không muốn A-đam mất cơ hội được tái sinh phải đau khổ đời đời trong sự mãi mãi nhận biết Chúa mà bản thân mình chưa được tha tội và sạch tội, nên Ngài không cho ông ăn trái của cây sự sống sau khi ông phạm tội. Nói cách này để cho dễ hiểu. Đối với một người bình thường, khi đang đói mà được ai cho một nồi đậu phụng luộc nóng hổi, thì người ấy sẽ tận hưởng sự thơm ngon của đậu luộc và được no lòng. Nhưng, đối với người bất bình thường, có sự khiếm khuyết trong cơ thể, bị dị ứng với chất đậu phụng, thì nồi đậu phụng luộc đối với anh ta không còn công dụng giúp cho anh ta no nê, thỏa lòng mà sẽ là nguồn của sự đau khổ khủng khiếp khi anh ta ăn vào.

7. Chính câu Thánh Kinh anh trích dẫn đã chứng minh, cả hai: cây sự sống và cây biết điều thiện điều ác đều là những cây theo nghĩa đen như các cây khác.

8. Đó chỉ là những suy luận chủ quan của anh hoàn toàn không có trong Thánh Kinh. Tôi không thấy Thiên Chúa sợ hay ích kỷ mà tôi chỉ thấy Thiên Chúa đầy lòng thương xót và ý định khôn ngoan của Ngài. Lý luận quy chụp theo kiểu trên đây là ngụy biện, gán ghép những điều Thánh Kinh không nói cho Thánh Kinh.

9. Xin cho tôi biết chỗ nào Thánh Kinh nói A-đam ăn trái của cây sự sống trước khi ăn trái của cây biết điều thiện và điều ác? Vả lại, các chữ "sống" và "chết" phải hiểu theo định nghĩa của Thánh Kinh:

  • Xác thịt sống: linh hồn và tâm thần ở trong xác thịt.
  • Tâm thần sống: linh hồn ở trong tâm thần và tâm thần giúp linh hồn tương giao với Thiên Chúa, nhận biết Thiên Chúa ngày càng hơn; luật pháp và điều răn của Thiên Chúa được ghi chép trong tâm thần; năng lực của Đức Thánh Linh tuôn đổ trong tâm thần, giúp cho linh hồn có những quyết định đúng theo thánh ý của Thiên Chúa và có năng lực làm tròn những việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn cho linh hồn.
  • Linh hồn sống: linh hồn nhận biết Thiên Chúa và vâng phục Thiên Chúa.
  • Sự sống đời đời: linh hồn đã được tái sinh ở trong một tâm thần đã được tái sinh và ở trong một xác thịt đã được phục sinh hoặc đã được biến hóa, mãi mãi ở trong trạng thái và địa vị nhận biết Thiên Chúa và hạnh phúc bên Ngài. Sự nhận biết Thiên Chúa cứ tăng tiến mãi, không ngừng nghỉ, cho đến đời đời.
  • Sự chết xác thịt: linh hồn và tâm thần rời khỏi xác thịt, xác thịt trở về cùng bụi đất.
  • Sự chết tâm thần: tâm thần không còn tương giao với Thiên Chúa, sẽ trở về cùng Thiên Chúa khi sự chết của xác thịt xảy ra.
  • Sự chết linh hồn: linh hồn không được tiếp tục nhận biết Thiên Chúa (nhưng vẫn duy trì sự nhận thức về Thiên Chúa mà Ngài đã đặt để trong linh hồn loài người khi Ngài sáng tạo loài người); hành động thiếu sự dẫn dắt của Thiên Chúa, khi sự chết của thể xác xảy ra thì rời khỏi thể xác, rời khỏi tâm thần, đi vào âm phủ, chờ ngày xác thịt được sống lại để chịu phán xét.
  • Sự chết đời đời của loài người: linh hồn ở trong thân thể xác thịt đã được phục sinh, đời đời không còn được tiếp tục nhận biết Thiên Chúa, (nhưng vẫn duy trì sự nhận thức về Thiên Chúa mà Ngài đã đặt để trong linh hồn loài người khi Ngài sáng tạo loài người), chịu hình phạt đời đời trong hỏa ngục.

Qua đó, chúng ta thấy rõ ràng: sự hằng hữu khác với sự sống đời đời và khác với sự chết đời đời. Hay nói cách khác, sự sống đời đời là hằng hữu trong sự tiếp tục nhận biết Thiên Chúa không ngừng nghỉ. Sự chết đời đời là hằng hữu trong sự không còn được tiếp tục nhận biết Thiên Chúa mà phải chịu khổ vì sự lựa chọn không vâng phục Thiên Chúa của mình [1].

Tôi nhận thấy, anh theo trường phái thần học biểu tượng cho nên anh đã hiểu Thánh Kinh theo phong cách của họ. Với tôi, hiểu cây sự sống và cây biết điều thiện điều ác theo nghĩa đen hay nghĩa bóng không liên quan gì đến sự cứu rỗi của một người. Hễ ai công nhận mình là tội nhân, vì mình sống nghịch lại điều răn và luật pháp của Thiên Chúa như đã soi sáng trong lương tâm và ghi chép trong Thánh Kinh, thật lòng ăn năn, từ bỏ tội, tin nhận chỉ một mình sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ, và hết lòng làm những gì Thánh Kinh bảo làm, tránh những gì Thánh Kinh bảo tránh thì người đó sẽ nhận được sự sống đời đời. Khi đó, họ sẽ biết sự sống đời đời là gì!

Tôi mạn phép chấm dứt thảo luận về đề tài này vì những điều tôi trình bày trên đây và trong các bài giảng của tôi là những điều tôi tin. Tôi không muốn tốn thì giờ để tranh biện điều tôi đã tin và tôi cũng đã trình bày hết những gì tôi có thể trình bày về đề tài này.

Cám ơn anh đã dành thời gian để chia sẻ và thảo luận.

Trong ân điển của Đức Chúa Jesus Christ.

Huỳnh Christian Timothy
12.12.2012

[1] Xin xem thêm bài “Sự Sống Đời Đời và Sự Chết Đời Đời” tại đây: http://thanhoc.timhieutinlanh.net/node/303


Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry.
Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Đọc Tiếp →

Những Lý Luận Chống Nghịch Sự Vâng Giữ Mười Điều Răn

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2011 Vietnamese Christian Mission Ministry, Inc.  –  Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry  –  Xin quý bạn đọc vui lòng tiếp tay phổ biến bài viết nầy dưới mọi hình thức, nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Huỳnh Christian Timothy
Nhấp vào đây để download bài viết này

[219]

Bài viết này tổng hợp những lý luận chống nghịch sự vâng giữ Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời rồi dùng Lời Chúa để phản biện những lý luận đó. Kính mời quý bạn đọc tham khảo thêm các bài viết và bài giảng được liệt kê trong phần Ghi Chú ở cuối bài viết này.

Lý Luận 1:Luật pháp là nội dung của Giao Ước Cũ còn gọi là Giao Ước Môi-se và ân điển là nội dung của Giao Ước Mới. Vì Hội Thánh sống trong Giao Ước Mới nên không cần phải vâng giữ luật pháp là điều thuộc về Giao Ước Cũ.

Phản Biện:Giao Ước Mới không hề hủy đi hoặc thay thế Giao Ước Cũ mà vẫn dựa trên nền tảng của Giao Ước Cũ nhưng thêm vào các điều kiện mới để giải quyết những điều không thể thực hiện được trong Giao Ước Cũ. Giao Ước Cũ như là một em bé dù vất vả, gắng hết sức, nhưng không thể hoàn tất một công việc phải làm vì không có đủ năng lực; còn Giao Ước Mới như là em bé đã trưởng thành có năng lực để hoàn tất công việc đó trong sự thỏa lòng. Nội Dung của Giao Ước Cũ Lẫn Giao Ước Mới đều bao gồm luật pháp và ân điển. Trong Giao Ước Cũ: luật pháp được chép trên hai bảng đá; nhờ ân điển mà tội nhân có thể dâng con sinh làm tế lễ chuộc tội cho sự vi phạm luật pháp của mình. Trong giao ước mới: luật pháp được chép vào trong trí, trong lòng của con dân Chúa; còn ân điển là Đấng Christ dâng chính mình Ngài làm tế lễ chuộc tội một lần đủ cả cho sự vi phạm luật pháp của tội nhân.

"6 Nhưng thầy tế lễ thượng phẩm chúng ta đã được một chức vụ rất tôn trọng hơn, vì Ngài là Đấng trung bảo của giao ước tốt hơn, mà giao ước ấy lập lên trên lời hứa tốt hơn.
7 Vì nếu ước thứ nhứt không thiếu gì, thì chẳng có chỗ nào lập ước thứ hai.
8 Vả, trong những lời nầy thật có ý trách, là lời Đức Chúa Trời phán cùng dân Giu-đa rằng: Chúa phán: kìa, nhựt kỳ đến, Khi đó Ta sẽ cùng nhà Y-sơ-ra-ên và nhà Giu-đa lập một ước mới,
9 Không phải như ước Ta đã lập với tổ tiên chúng nó, Trong ngày Ta cầm tay họ dẫn ra khỏi xứ Ê-díp-tô. Vì họ không bền giữ lời ước Ta, Nên Ta không đoái xem họ, ấy là lời Chúa phán.
10 Chúa lại phán: Nầy là lời ước mà Ta sẽ lập với nhà Y-sơ-ra-ên. Sau những ngày đó: Ta sẽ để luật pháp Ta trong trí họ, và ghi tạc vào lòng; Ta sẽ làm Đức Chúa Trời họ, Họ sẽ làm dân Ta."
(Hê-bơ-rơ 8:6-10)

"…Ngài làm việc đó một lần thì đủ cả, mà dâng chính mình Ngài làm tế lễ" (Hê-bơ-rơ 7:27).

 "Đấng yêu thương chúng ta, đã lấy huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta, và làm cho chúng ta nên nước Ngài, nên thầy tế lễ của Đức Chúa Trời là Cha Ngài, đáng được sự vinh hiển và quyền năng đời đời vô cùng! A-men" (Khải Huyền 1:6).

Điểm giống nhau trong cả hai giao ước cũ và mới là con dân Chúa đều phải vâng giữ điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời. Điểm khác biệt là: trong Giao Ước Cũ con dân Chúa phải tự dùng sức riêng để sống theo luật pháp, khi phạm tội nhẹ thì phải dâng sinh tế để chuộc tội, khi phạm tội nặng thì phải bị xử tử; còn trong Giao Ước Mới con dân Chúa được chết đi bản ngã xác thịt, được tái sinh thành một con người mới, được ban cho Thánh Linh của Chúa để có thể vâng giữ trọn vẹn luật pháp; nếu có phạm tội thì không cần dâng sinh tế chuộc tội hoặc không bị xử tử, vì Đấng Christ đã gánh thay mọi hình phạt; người phạm tội chỉ cần ăn năn, xưng tội với Chúa. Nhưng tuyệt đối không hề có chuyện trong Giao Ước Mới con dân Chúa không cần sống theo luật pháp của Chúa. Để có thể bước vào Giao Ước Mới, một người trước hết phải ăn năn tội, tức là phải từ bỏ tội, tức là phải bằng lòng sống một nếp sống không vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 4:17; Công Vụ Các Sứ Đồ 2:38). Sau khi một người đã ở trong Giao Ước Mới rồi thì vẫn phải tiếp tục sống một nếp sống không vi phạm luật pháp của Chúa (Rô-ma 6:1-14) nhờ ân điển của Đấng Christ (Phi-líp 4:13). Lời của Chúa khẳng định con dân Chúa sống trong Giao Ước Mới vẫn phải vâng giữ điều răn và luật pháp của Đức Chúa Trời:

"Chịu cắt bì chẳng hề gì, không chịu cắt bì cũng chẳng hề gì; sự quan hệ là giữ các điều răn của Đức Chúa Trời"(I Cô-rinh-tô 7:19).

"Phải giữ điều răn, ở cho không vết tích và không chỗ trách được, cho đến kỳ sự hiện ra của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta"(I Ti-mô-thê 6:14).

Lý Luận 2:Giao Ước Cũ chỉ được Đức Chúa Trời lập ra với dân Israel, không phải lập với người ngoại hay Hội Thánh. Mười Điều Răn thuộc về Giao Ước Cũ nên không áp dụng cho người ngoại hoặc Hội Thánh.

Phản Biện:Cả Giao Ước Cũ lẫn Giao Ước Mới đều được Đức Chúa Trời thiết lập với toàn thể nhân loại qua dân Israel. Về Giao Ước Cũ, trong chính điều răn thứ tư đã nhắc đến dân ngoại bang: "Nhưng ngày thứ bảy là ngày nghỉ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi: trong ngày đó, ngươi, con trai, con gái, tôi trai, tớ gái, súc vật của ngươi, hoặc khách ngoại bang ở trong nhà ngươi, đều chớ làm công việc chi hết" (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:10). Khách ngoại bang được nói đến ở đây là những người đã cùng dân Israel rời bỏ xứ nô lệ Ê-díp-tô, dầu Đức Chúa Trời không kêu gọi họ: "Lại có vô số người ngoại bang đi lên chung luôn với chiên, bò, súc vật rất nhiều" (Xuất Ê-díp-tô Ký 12:38). Nói cách khác, một người không phải Israel vẫn được dự phần trong giao ước với Đức Chúa Trời, nếu người đó chịu vâng giữ luật pháp của Ngài:"Khi một khách ngoại bang nào kiều ngụ nhà ngươi, muốn giữ lễ Vượt-qua của Đức Giê-hô-va, thì mọi người nam của họ phải chịu phép cắt bì; đoạn, họ mới được đến gần giữ lễ nầy, và được coi như người sanh trong xứ. Nhưng ai không chịu phép cắt bì, thì chẳng được ăn đâu. Cũng đồng một luật cho người sanh trong xứ cùng khách ngoại bang nào đến kiều ngụ giữa các ngươi" (Xuất Ê-díp-tô Ký 12:48, 49). Lời Chúa cũng khẳng định rằng luật pháp của Ngài áp dụng chung cho dân Israel lẫn dân ngoại:

16 Ai nói phạm đến danh Đức Giê-hô-va hẳn sẽ bị xử tử; cả hội chúng sẽ ném đá nó: mặc dầu nó là kẻ khách ngoại bang hay là sanh trong xứ, hễ khi nào nói phạm đến danh Đức Giê-hô-va, thì sẽ bị xử tử.
17 Kẻ nào đánh chết một người nào, mặc dầu kẻ đó là ai, sẽ bị xử tử.
18 Kẻ nào đánh chết một súc vật, phải thường lại, nghĩa là mạng đền mạng.
19 Khi một người nào làm thương tích cho kẻ lân cận mình, thì người ta phải làm thương tích cho người đó lại như chính người đã làm:
20 gãy đền gãy, mắt đền mắt, răng đền răng. Người ta sẽ làm cho người ấy đồng một thương vít như chính người đã làm cho người khác.
21 Kẻ nào làm chết một súc vật, thì sẽ thường lại; còn kẻ nào giết chết một người, thì phải bị xử tử.
22 Bất luận kẻ khách ngoại bang hay là người trong xứ, các ngươi cũng phải dùng một luật lệ: vì Ta là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của các ngươi."
(Lê-vi Ký 24:16-22)

Về Giao Ước Mới, do chính Đấng Christ lập ra với muôn dân qua các môn đồ của Ngài là người Israel. Thực tế, khi Giao Ước Cũ được thiết lập thì có mặt "vô số dân ngoại bang" là những người cùng dân Israel rời bỏ xứ Ê-díp-tô; còn khi Giao Ước Mới được thiết lập thì chỉ có 11 người Israel mà thôi. Khi Chúa lập Giao Ước Mới, ngài chỉ phán với 11 người Israel, gọi họ là "các ngươi:" "Khi ăn xong, Ngài cũng làm như vậy, lấy chén đưa cho môn đồ, mà phán rằng: Chén nầy là giao ước mới trong huyết Ta vì các ngươi mà đổ ra" (Lu-ca 22:20). Không lẽ vì vậy mà dân ngoại chẳng có phần trong Giao Ước Mới?

Dân Israel thời Cựu Ước và thời Tân Ước đều là đại diện của muôn dân trên đất để qua đó Đức Chúa Trời bày tỏ chính mình Ngài cho nhân loại và thi hành công cuộc cứu rỗi nhân loại. Trong dân tộc Israel chỉ có một chi phái là chi phái Lê-vi được chọn làm thầy tế lễ để hướng dẫn dân sự trong sự thờ phượng Chúa. Trong thế gian chỉ có một dân tộc là dân tộc Israel được chọn làm một nước thầy tế lễ để hướng dẫn muôn dân trong sự thờ phượng Chúa: "Các ngươi sẽ thành một nước thầy tế lễ, cùng một dân tộc thánh cho ta. Bấy nhiêu lời đó ngươi sẽ nói lại cùng dân I-sơ-ra-ên" (Xuất Ê-díp-tô Ký 19:6). Luật pháp của Đức Chúa Trời tức là toàn bộ Thánh Kinh được ban cho nhân loại qua dân Israel. Cứu Chúa của thế gian được ban cho nhân loại qua dân Israel. Hội Thánh của Đức Chúa Trời được thành lập từ dân tộc Israel. Vì thế, dân tộc Israel là nền tảng, là hình ảnh, là biểu hiệu, là điển hình cho Hội Thánh. Tất cả mọi giao ước, luật pháp và lời hứa giữa Đức Chúa Trời với dân Israel đều được ban cho muôn dân nếu họ chịu từ bỏ cuộc sống nô lệ cho tội lỗi để bước vào Hội Thánh của Đức Chúa Trời.

Dân ngoại, dù không nhận được hai bảng đá chép luật pháp của Đức Chúa Trời, nhưng khi họ vi phạm luật pháp của Chúa thì vẫn bị kết tội, bị hình phạt, và bị hư mất; vì luật pháp của Chúa đã được ghi trong lòng họ. Nếu nói Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời không áp dụng cho dân ngoại thì tại sao Đức Chúa Trời kết tội họ khi nếp sống của họ nghịch lại Mười Điều Răn? Có tội lỗi nào trong thế gian mà không nghịch lại Mười Điều Răn?

"Còn ai phạm tội tức là trái luật pháp; và sự tội lỗi tức là sự trái luật pháp" (I Giăng 3:4).

"Đất bị dân cư làm ô uế, vì họ đã phạm luật pháp, trái điều răn, dứt giao ước đời đời" (Ê-sai 24:5).

"Phàm những kẻ không luật pháp mà phạm tội, cũng sẽ không luật pháp mà hư mất; còn những kẻ có luật pháp mà phạm tội, thì sẽ bị luật pháp đoán xét… Vả, dân ngoại vốn không có luật pháp, khi họ tự nhiên làm những việc luật pháp dạy biểu, thì những người ấy dầu không có luật pháp, cũng tự nên luật pháp cho mình. Họ tỏ ra rằng việc mà luật pháp dạy biểu đã ghi trong lòng họ: chính lương tâm mình làm chứng cho luật pháp, còn ý tưởng mình khi thì cáo giác mình, khi thì binh vực mình"(Rô-ma 2:12, 13-15).

Riêng trong Hội Thánh, chỉ cần tín đồ tây vị người khác là đã bị kể là phạm tội và bị luật pháp của Đức Chúa Trời lên án rồi, huống chi là vi phạm Mười Điều Răn?

"Nhưng nếu anh em tây vị người ta, thì phạm tội, luật pháp bèn định tội anh em như kẻ phạm phép"(Gia-cơ 2:9).

Lý Luận 3:Toàn Bộ Luật Pháp Thời Cựu Ước là một đơn vị bất phân cho nên không thể tách rời Mười Điều Răn với các luật lệ khác.

Phản Biện:Nếu Mười Điều răn không thể tách biệt với các luật lệ khác trong Cựu Ước thì tại sao Đức Chúa Trời chỉ truyền lệnh cho Môi-se đặt hai bảng đá do chính ngón tay của Ngài chép Mười Điều Răn trên đó vào Hòm Giao Ước mà không đặt luôn các luật lệ khác vào đó? Mục đích của Hòm Giao Ước là để chứa đựng hai bảng đá Mười Điều Răn của giao ước cho nên tên gọi của nó là Hòm Giao Ước. Một ngày kia, vào giữa bảy năm đại nạn, Hòm Giao Ước với hai bảng đá chứa Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời sẽ xuất hiện trong đền thánh trên trời để làm nền tảng cho cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời giáng xuống dân cư trên đất sống trái nghịch điều răn của Ngài:

"1 Trong lúc đó, Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng: Hãy đục bai bảng đá như hai bảng trước, và hãy lên đến ta trên núi; ngươi cũng phải đóng một cái hòm bằng cây.
2 Ta sẽ viết trên hai bảng nầy những lời đã có trên hai bảng trước mà ngươi đã đập bể, rồi để hai bảng nầy trong hòm.
3 Vậy, ta đóng một cái hòm bằng cây si-tim, đục hai bảng đá, y như hai bảng trước, rồi đi lên trên núi, cầm hai bảng đó trong tay.
4 Ngài viết trên hai bảng nầy lời Ngài đã viết lần trước, tức là mười điều răn mà Đức Giê-hô-va từ giữa lửa tại trên núi, có phán cùng các ngươi, trong ngày nhóm hiệp; rồi Đức Giê-hô-va trao cho ta.
5 Ta trở đi xuống núi, để hai bảng vào hòm mà ta đã đóng, và hai bảng ấy còn ở tại đó, y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn ta vậy"
(Phục Truyền Luật lệ Ký 10:1-5).

"Đền thờ Đức Chúa Trời bèn mở ra ở trên trời, Hòm Giao Ước bày ra trong đền thờ Ngài, rồi có chớp nhoáng, tiếng, sấm sét, động đất và mưa đá lớn"(Khải Huyền 11:19).

Xin quý bạn đọc xem thêm hai bài viết sau đây: "Mười Hai Lẽ Thật Về Điều Răn và Luật Pháp của Đức Chúa Trời" và "Mười Hai Từ Ngữ Liên Quan Đến Điều Răn và Luật Pháp" [1].

Lý Luận 4:Ngày Sa-bát chỉ là một dấu hiệu của giao ước giữa Đức Chúa Trời với dân Israel (Xuất Ê-díp-tô-Ký 31:13). Tín đồ Đấng Christ không cần vâng giữ ngày Sa-bát.

Phản Biện:Lời của Chúa chép:

"1 Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hãy giữ điều chánh trực, và làm sự công bình; vì sự cứu rỗi của Ta gần đến, sự công bình của Ta sắp được bày tỏ.
2 Phước thay cho người làm điều đó, và con người cầm vững sự đó, giữ ngày Sa-bát đặng đừng làm ô uế, cấm tay mình không làm một điều ác nào!
3 Người dân ngoại liên hiệp cùng Đức Giê-hô-va chớ nên nói rằng: Đức Giê-hô-va chắc sẽ biệt ta ra khỏi dân Ngài. Kẻ hoạn cũng chớ nên nói rằng: Nầy, ta là cây khô.
4 Vì Đức Giê-hô-va phán như vầy: Những kẻ hoạn hay giữ các ngày Sa-bát Ta, lựa điều đẹp lòng Ta, cầm vững lời giao ước Ta,
5 thì Ta sẽ ban cho họ tại trong nhà Ta và trong tường Ta một chỗ, và một danh tốt hơn danh của con trai con gái; Ta lại sẽ ban cho họ một danh đời đời chẳng hề dứt đi.
6 Các người dân ngoại về cùng Đức Giê-hô-va, đặng hầu việc Ngài, đặng yêu mến danh Đức Giê-hô-va, đặng làm tôi tớ Ngài; tức là hết thảy những kẻ giữ ngày Sa-bát cho khỏi ô uế, và cầm vững lời giao ước Ta,
7 thì ta sẽ đem họ vui mừng trong nhà cầu nguyện Ta. Của lễ thiêu và hi sinh họ dâng trên bàn thờ Ta, sẽ được nhận lấy; vì nhà Ta sẽ gọi là nhà cầu nguyện cho mọi dân tộc.
8 Chúa Giê-hô-va, Đấng nhóm dân tan lạc của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Dân nó đã được nhóm lại rồi, Ta sẽ còn nhóm các dân khác lại về cùng nó."
(Ê-sai 56:1-8)

Vậy, dân ngoại về cùng Chúa có cần giữ ngày Sa-bát hay không? Nếu họ giữ thì sẽ được Đức Chúa Trời cư xử như thế nào? Và xin chú ý câu 8: Đức Chúa Trời hiệp dân ngoại cùng dân Israel nghĩa là khiến cho họ vào chung một giao ước như dân Israel chứ không phải Đức Chúa Trời có hai giao ước riêng biệt một cho dân ngoại và một cho dân Israel.

Lý Luận 5:Dựa vào hai lời phán sau đây của Đức Chúa Jesus thì sẽ thấy rằng luật pháp đã qua đi, tức là đã hết hạn; bởi vì, "mọi sự được trọn" có nghĩa là khi sự cứu rỗi nhân loại được Đấng Christ hoàn tất trên thập tự giá. Chính Đấng Christ đã tuyên phán từ trên thập tự giá: "mọi việc đã được trọn."

"Vì ta nói thật cùng các ngươi, đương khi trời đất chưa qua đi, thì một chấm một nét trong luật pháp cũng không qua đi được cho đến khi mọi sự được trọn"(Ma-thi-ơ 5:18).

"Khi Đức Chúa Jêsus chịu lấy giấm ấy rồi, bèn phán rằng: Mọi việc đã được trọn; rồi Ngài gục đầu mà trút linh hồn"(Giăng 19:30).

Phản Biện:Nhóm chữ "mọi sự được trọn" trong Ma-thi-ơ 5:18 của bản dịch Phan Khôi mang đúng nghĩa như vậy trong nguyên ngữ Hy-lạp của Thánh Kinh Tân Ước với hai từ ngữ πᾶς, G3956, có nghĩa: tất cả, mọi sự; và γίνομαι, G1096, có nghĩa: được trọn, được ứng nghiệm, được xảy ra. Nhưng nhóm chữ "mọi việc đã được trọn" trong Giăng 19:30 thì không đúng. Trong nguyên ngữ Hy-lạp, Đức Chúa Jesus chỉ kêu lên một tiếng: τελέω, G5055, có nghĩa là: "xong!" Như vậy, tiếng kêu của Chúa trong Giăng 19:30 có ý nói lên công tác chuộc tội cho nhân loại đã được Ngài làm xong chứ không hề mang ý "mọi sự được trọn" để cho văn tự của luật pháp có thể qua đi. Ý nghĩa đích thật của Ma-thi-ơ 5:18 là: Trời đất đang còn thì không một nét chữ nào trong luật pháp được khắc trên đá hay chép trên giấy sẽ qua đi nhưng khi mọi sự đã được trọn tức là khi trời cũ đất cũ qua đi, những kẻ không vâng phục Chúa bị xét xử trước tòa chung thẩm của Đức Chúa Trời, và vương quốc đời đời được thiết lập trong trời mới đất mới xuất hiện. Chỉ khi đó, tất cả những chấm những phết của luật pháp được chép bằng văn tự mới qua đi. Dầu vậy, luật pháp của Đức Chúa Trời vẫn không qua đi, vì đã được ghi khắc trong trí và trong lòng của con dân Chúa.

Chúng ta biết luật pháp chép thành văn tự chưa hề qua đi vì trời cũ đất cũ chưa qua đi, vì trong vương quốc ngàn năm bình an luật pháp về lễ nghi vẫn được thi hành, từ việc dâng các tế lễ đến việc giữ các ngày trăng mới (Ê-xê-chi-ên 43-46), và ngay trong thời Hội Thánh, luật pháp vẫn còn và được nhắc lại trong các sách Tân Ước, điển hình là:

"Chịu cắt bì chẳng hề gì, không chịu cắt bì cũng chẳng hề gì; sự quan hệ là giữ các điều răn của Đức Chúa Trời"(I Cô-rinh-tô 7:19).

"Phải giữ điều răn, ở cho không vết tích và không chỗ trách được, cho đến kỳ sự hiện ra của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta"(I Ti-mô-thê 6:14).

Còn nếu đi vào chi tiết thì có những câu:

"16 Vậy tôi nói rằng: Hãy bước đi theo Thánh Linh, chớ hề làm trọn những điều ưa muốn của xác thịt.
17 Vì xác thịt có những điều ưa muốn trái với của Thánh Linh, Thánh Linh có những điều ưa muốn trái với của xác thịt; hai bên trái nhau dường ấy, nên anh em không làm được điều mình muốn làm.
18 Nhưng, ví bằng anh em nhờ Thánh Linh chỉ dẫn, thì chẳng hề ở dưới luật pháp.
19 Vả, các việc làm của xác thịt là rõ ràng lắm: ấy là gian dâm, ô uế, luông tuồng,
20 thờ hình tượng, phù phép, thù oán, tranh đấu, ghen ghét, buồn giận, cãi lẫy, bất bình, bè đảng,
21 ganh gổ, say sưa, mê ăn uống, cùng các sự khác giống như vậy. Tôi nói trước cho anh em, như tôi đã nói rồi: hễ ai phạm những việc thể ấy thì không được hưởng nước Đức Chúa Trời"
(Ga-la-ti 5:16-22).

"25 Như vậy, mỗi người trong anh em phải chừa sự nói dối, hãy nói thật với kẻ lân cận mình, vì chúng ta làm chi thể cho nhau.
26 Ví bằng anh em đương cơn giận, thì chớ phạm tội; chớ căm giận cho đến khi mặt trời lặn,
27 và đừng cho ma quỉ nhơn dịp.
28 Kẻ vốn hay trộm cắp chớ trộm cắp nữa; nhưng thà chịu khó, chính tay mình làm nghề lương thiện, đặng có vật chi giúp cho kẻ thiếu thốn thì hơn.
29 chớ có một lời dữ nào ra từ miệng anh em; nhưng khi đáng nói hãy nói một vài lời lành giúp ơn cho và có ích lợi cho kẻ nghe đến.
30 Anh em chớ làm buồn cho Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời, vì nhờ Ngài anh em được ấn chứng đến ngày cứu chuộc.
31 Phải bỏ khỏi anh em những sự cay đắng, buồn giận, tức mình, kêu rêu, mắng nhiếc, cùng mọi điều hung ác."
(Ê-phê-sô 4:25-31)

"3 Phàm những sự gian dâm, hoặc sự ô uế, hoặc sự tham lam, cũng chớ nên nói đến giữa anh em, theo như cách xứng đáng cho các thánh đồ.
4 Chớ nói lời tục tỉu, chớ giễu cợt, chớ giả ngộ tầm phào, là những điều không đáng, những thà cảm tạ ơn Chúa thì hơn.
5 Vì anh em phải biết rõ rằng kẻ gian dâm, ô uế, tham lam, tức là kẻ thờ hình tượng, không một kẻ nào được dự phần kế nghiệp của nước Đấng Christ và Đức Chúa Trời.
6 Đừng để cho ai lấy lời giả trá phỉnh dổ anh em; vì ấy là nhơn những điều đó mà cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời giáng trên các con bạn nghịch.
7 Vậy, chớ có thông đồng điều chi với họ hết"
(Ê-phêsô 3:5-7)

"4 Vì chưng những kẻ đã được soi sáng một lần, đã nếm sự ban cho từ trên trời, dự phần về Đức Thánh Linh,
5 nếm đạo lành Đức Chúa Trời, và quyền phép của đời sau,
6 nếu lại vấp ngã, thì không thể khiến họ lại ăn năn nữa, vì họ đóng đinh Con Đức Chúa Trời trên thập tự giá cho mình một lần nữa, làm cho Ngài sỉ nhục tỏ tường.
7 Vả, một đám đất nhờ mưa đượm nhuần mà sanh cây cỏ có ích cho người cày cấy, thì đất đó hưởng phần phước lành của Đức Chúa Trời.
8 Nhưng đất nào chỉ sanh ra những cỏ rạ, gai gốc, thì bị bỏ, và hầu bị rủa, cuối cùng phải bị đốt"
(Hê-bơ-rơ 6:4-8).

"26 Vì nếu chúng ta đã nhận biết lẽ thật rồi, mà lại cố ý phạm tội, thì không còn có tế lễ chuộc tội nữa,
27 nhưng chỉ có sự đợi chờ kinh khiếp về sự phán xét, và lửa hừng sẽ đốt cháy kẻ bội nghịch mà thôi.
28 Ai đã phạm luật pháp Môi-se, nếu có hai ba người làm chứng, thì chết đi không thương xót,
29 huống chi kẻ giày đạp Con Đức Chúa Trời, coi huyết của giao ước, tức là huyết mà mình nhờ nên thánh, là ô uế, lại khinh lờn Đức Thánh Linh ban ơn, thì anh em há chẳng tưởng rằng người ấy đáng bị hình rất nghiêm đoán phạt hay sao"
(Hê-bơ-rơ 10:26-29)?

"1 Dầu vậy, trong dân chúng cũng đã có tiên tri giả, và cũng sẽ có giáo sư giả trong anh em; họ sẽ truyền những đạo dối làm hại, chối Chúa đã chuộc mình, tự mình chuốc lấy sự hủy phá thình lình.
2 Có nhiều kẻ sẽ theo họ trong những sự buông tuồng, và đạo thật vì cớ họ sẽ bị gièm pha.
3 Họ sẽ bởi lòng tham mình, lấy lời dối trá khoét anh em; nhưng sự kêu án nghịch cùng họ đã nghị định từ lâu nay, và sự hư mất của họ chẳng ngủ.
4 Vả, nếu Đức Chúa Trời chẳng tiếc các thiên sứ đã phạm tội, nhưng quăng vào trong vực sâu, tại đó họ bị trói buộc bằng xiềng nơi tối tăm để chờ sự phán xét;
5 nếu Ngài chẳng tiếc thế gian xưa, trong khi sai nước lụt phạt đời gian ác nầy, chỉ gìn giữ Nô-ê là thầy giảng đạo công bình, với bảy người khác mà thôi;
6 nếu Ngài đã đoán phạt thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ, hủy phá đi khiến hóa ra tro, để làm gương cho người gian ác về sau;
7 nếu Ngài đã giải cứu người công bình là Lót, tức là kẻ quá lo vì cách ăn ở luông tuồng của bọn gian tà kia,
8 (vì người công bình nầy ở giữa họ, mỗi ngày nghe thấy việc trái phép của họ bèn cảm biết đau xót trong lòng công bình mình),
9 thì Chúa biết cứu chữa những người tôn kính khỏi cơn cám dỗ, và hành phạt kẻ không công bình, cầm chúng nó lại để chờ ngày phán xét,
10 nhứt là những kẻ theo lòng tư dục ô uế mình mà ham mê sự sung sướng xác thịt, khinh dể quyền phép rất cao. Bọn đó cả gan, tự đắc, nói hỗn đến các bậc tôn trọng mà không sợ,
11 dẫu các thiên sứ, là đấng có sức mạnh quyền phép hơn chúng nó, còn không hề lấy lời nguyền rủa mà xử đoán các bậc đó trước mặt Chúa.
12 Nhưng chúng nó cũng như con vật không biết chi, sanh ra chỉ làm thú vật để bị bắt mà làm thịt, hay chê bai điều mình không biết, rồi chết đi như con vật, dường ấy chúng nó lãnh lấy tiền công về tội ác mình.
13 Chúng nó lấy sự chơi bời giữa ban ngày làm sung sướng, là người xấu xa ô uế, ưa thích sự dối trá mình đang khi ăn tiệc với anh em;
14 cặp mắt chúng nó đầy sự gian dâm, chúng nó phạm tội không bao giờ chán, dỗ dành những người không vững lòng, chúng nó có lòng quen thói tham dục: ấy là những con cái đáng rủa sả.
15 chúng nó đã bỏ đường thẳng mà đi sai lạc theo đường của Ba-la-am, con trai Bô-sô, là kẻ tham tiền công của tội ác; nhưng người bị trách về sự phạm tội của mình,
16 bởi có một con vật câm nói tiếng người ta, mà ngăn cấm sự điên cuồng của người tiên tri đó.
17 Ấy là những suối không nước, những đám mây bị luồng gió mạnh đưa đi và sự tối tăm mờ mịt đã để dành cho chúng nó.
18 Chúng nó dùng những lời văn hoa hư đản, đem những điều ham muốn của xác thịt và điều gian dâm mà dỗ dành những kẻ mới vừa tránh khỏi các người theo đường lầm lạc;
19 chúng nó hứa sự tự do cho người, mà chính mình thì làm tôi mọi sự hư nát; vì có sự chi đã thắng hơn người, thì người là tôi mọi sự đó.
20 Vả, chúng nó bởi sự nhận biết Chúa và Cứu Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ, mà đã thoát khỏi sự ô uế của thế gian, rồi lại mắc phải và suy phục những sự đó, thì số phận sau cùng của chúng nó trở xấu hơn lúc đầu.
21 chúng nó đã biết đường công bình, rồi lại lui đi về lời răn thánh đã truyền cho mình, thế thì thà rằng không biết là hơn.
22 Đã xảy đến cho chúng nó như lời tục ngữ rằng: Chó liếm lại đồ nó đã mửa, heo đã rửa sạch rồi, lại lăn lóc trong vũng bùn"
(II Phi-e-rơ 2).

Lý Luận 6:Nếu Sa-bát là điều sống chết đối với Cơ-đốc nhân như đối với Israel thì nó phải được Hội Nghị Giê-ru-sa-lem (Công Vụ Các Sứ Đồ 15) lập lại như là một điều luật trong Giao Ước Mới. Ấy vậy mà trong bốn điều hội nghị căn dặn tín đồ gốc dân ngoại kiêng giữ không hề nhắc đến việc phải giữ ngày Sa-bát.

Phản Biện:Không riêng gì điều răn thứ tư: "Hãy nhớ ngày nghỉ đặng làm nên ngày thánh," mà trọn vẹn Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời đều phải được con dân Chúa trong mọi thời đại vâng giữ. Lời Chúa khẳng định các điều răn của Chúa được lập cho đến đời đời:

"Cứ theo chứng cớ Chúa, tôi đã biết từ lâu rằng Chúa lập các điều răn ấy đến đời đời" (Thi Thiên 119:152).

Hội Nghị Giê-ru-sa-lem không cần phải nhắc đến điều răn thứ tư vì không phải chỉ có điều răn thứ tư mới cần được vâng giữ mà là toàn thể Mười Điều Răn. Tuy nhiên, Đức Thánh Linh đã dùng Hội Nghị để thêm vào hai điều răn cho các tín đồ có gốc dân ngoại (vì các tín đồ có gốc Israel đã vâng giữ các điều này chung với Mười Điều Răn rồi). Hai điều răn đó được thêm vào chứ không phải thay thế cho Mười Điều Răn. Chúng ta có thể xem đó là điều răn thứ mười một và mười hai. Điều răn thứ mười một: Phải kiêng ăn của cúng thần tượng, huyết, thú vật chết ngột. Điều răn thứ mười hai: Chớ tà dâm (Công Vụ Các Sứ Đồ 15:29). Nếu cho rằng hai điều răn này thay thế cho Mười Điều Răn thì thật là vô lý, vì như vậy, con dân Chúa không được ăn đồ cúng thần tượng nhưng lại không cần phải vâng giữ điều răn thứ hai, là điều răn cấm làm hình tượng, cấm thờ lạy hình tượng, và cấm hầu việc hình tượng hay sao?

Trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ của Thánh Kinh, điều răn thứ sáu chỉ có hai từ ngữ; từ ngữ thứ nhất có nghĩa là: không, đừng, chớ; từ ngữ thứ hai có nghĩa là: quan hệ tình dục bất chính với vợ của người khác, dịch ra tiếng Việt là gian dâm hay là ngoại tình (tiếng Anh là: adultery). Bản dịch Phan Khôi dịch điều răn thứ sáu là: "Ngươi chớ phạm tội tà dâm" là không đúng với nguyên ngữ của Thánh Kinh, nên dịch là "Chớ gian dâm." Thời Tân Ước, Đức Thánh Linh thêm điều răn "Chớ tà dâm" (tiếng Anh là: fornication) cho các tín đồ người ngoại là điều mà người Israel vốn đã vâng giữ bên cạnh Mười Điều Răn. Tà dâm bao gồm gian dâm và những hoạt động tình dục với thú vật, tội đồng tính luyến ái, sự loạn luân, quan hệ tình dục giữa hai người nam nữ độc thân không phải là vợ chồng, và các hoạt động tình dục không lành mạnh giữa hai vợ chồng:

"Kẻ nào nằm cùng một con vật sẽ bị xử tử"(Xuất Ê-díp-tô Ký 22:19).

"Chớ nằm cùng một con thú nào, mà gây cho mình bị ô uế với nó; một người đàn bà chớ nằm cùng thú vật nào; ấy là một sự quái gớm"(Lê-vi Ký 18:23).

"Chớ nằm cùng một người nam như người ta nằm cùng một người nữ; ấy là một sự quái gớm" (Lê-vi Ký 18:22)

"Ấy vì cớ đó mà Đức Chúa Trời đã phó họ cho sự tình dục xấu hổ; vì trong vòng họ, những người đờn bà đã đổi cách dùng tự nhiên ra cách khác nghịch với tánh tự nhiên. Những người đờn ông cũng vậy, bỏ cách dùng tự nhiên của người đờn bà mà un đốt tình dục người nầy với kẻ kia, đờn ông cùng đờn ông phạm sự xấu hổ, và chính mình họ phải chịu báo ứng xứng với điều lầm lỗi của mình"(Rô-ma 1:26-27)

"Chớ một ai trong vòng các ngươi đến gần cùng người nữ bà con mình đặng cấu hiệp: Ta là Đức Giê-hô-va.
Chớ cấu hiệp cùng mẹ mình; bằng cấu hiệp, tất làm nhục cho cha mẹ.
Chớ cấu hiệp cùng kế mẫu, bằng cấu hiệp, ấy làm nhục cho cha mình.
Chớ cấu hiệp cùng chị em mình, hoặc một cha khác mẹ, hoặc một mẹ khác cha, hoặc sanh tại trong nhà, hoặc sanh ở ngoài.
Chớ cấu hiệp cùng cháu gái, hoặc cháu gái nội, hoặc cháu gái ngoại; bằng cấu hiệp, ấy là gây nhục cho mình.
Chớ cấu hiệp cùng con gái của kế mẫu bởi cha mình sanh ra, vì là em gái ngươi.
Chớ cấu hiệp cùng chị em của cha ngươi; vì là cốt nhục của cha ngươi.
Chớ cấu hiệp cùng chị em của mẹ ngươi; vì là cốt nhục của mẹ ngươi.
Chớ cấu hiệp cùng bác gái hay thím ngươi; bằng cấu hiệp, ấy là gây nhục cho anh em của cha ngươi.
Chớ cấu hiệp cùng dâu ngươi; vì là vợ của con trai mình.
Chớ cấu hiệp cùng chị dâu hay em dâu ngươi; nếu cấu hiệp, ấy làm nhục cho anh em ngươi vậy.
Chớ cấu hiệp cùng một người đàn bà luôn với con gái của người đàn bà nữa. Chớ lấy cháu gái nội ngươi, hoặc cháu gái ngoại ngươi đặng cấu hiệp cùng họ; chúng nó đều là cốt nhục gần; làm vậy, ấy là một vi

Đọc Tiếp →

Hỏi & Đáp: Ý Nghĩa I Cô-rinh-tô 12

Copyright Notice:Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry – All Rights Reserved © 2007 Vietnamese Christian Mission Ministry, Inc. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức với điều kiện giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Mục Tử
Bấm vào đây để download bài viết này

[656]

Hỏi:

Xin Tin-Lành Biện Giáo vui lòng giảng dạy thêm đoạn Thánh Thư của vị Sứ Đồ khả kính Phao-lô gởi cho Hội Thánh Cô-rinh-tô: I Cor. 12:1-31.(Tran d. Phung)

Đáp:

Thưa bạn Tran d. Phung,

Nhận được yêu cầu trên đây của bạn gửi đến Ban Biên Tập tinlanhbiengiao.net, Mục Tử mạn phép cậy ơn Chúa để chia sẻ sự hiểu biết của mình về đoạn Thánh Kinh I Cô-rinh-tô 12.

1 Hỡi anh em, tôi không muốn anh em chẳng biết về các sự ban cho thiêng liêng.

Sứ Đồ Phao-lô muốn cho tín hữu của Hội Thánh Cô-rinh-tô và "mọi người bất luận ở nơi nào, cầu khẩn danh Đức Chúa Jesus Christ chúng ta, là Chúa của những người ấy và của chúng ta" (I Cô-rinh-tô 1:2) được hiểu biết về các sự ban cho thiêng liêng, tức là sự ban cho:

1. Quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, được tái sinh trong Đấng Christ, trở thành chi thể của Ngài
(câu 12-27)
2. Các chức vụ trong Hội Thánh (câu 5, 28-30)
3. Các công vụ của Đức Thánh Linh trong Hội Thánh (câu 6-11)

Sau khi có sự hiểu biết tỏ tường về các sự ban cho thiêng liêng thì tín hữu mới có thể hiểu được sự ban cho lớn hơn hết mà Phao-lô trình bày trong đoạn 13 (câu 31).

2 Anh em biết khi mình còn là người ngoại đạo, bị khuyên dỗ hướng về các thần tượng câm, tùy ý người ta dẫn dụ mình.

Khi nói "anh em biết" là Phao-lô khẳng định mỗi tín hữu đều biết lẽ thật này: ấy là khi còn là người chưa tin nhận Chúa, chúng ta bị người khác dụ dỗ chúng ta thờ lạy các thần tượng câm. Thần tượng câm có nghĩa là thần tượng không có lời sự sống, khác với Đức Chúa Trời là Đấng có Ngôi Lời và Ngôi Lời là sự sống và sự sáng của thế gian (Giăng 1:4). Chữ "tùy ý" trong câu này có nghĩa là người ta bảo sao, chúng ta làm vậy, bất kể có đúng lời Chúa hay không.

Ngày nay, nhiều người vẫn bị người khác "tùy ý" dẫn dụ đi xa lẽ thật, đi xa lời sự sống và sự sáng của Đức Chúa Trời. Những phong trào "hòa đồng tôn giáo" như Thần Học Hội Nhập, Thần Học Con Mắt Thứ Ba, Sống Theo Đúng Mục Đích, Hội Thánh Theo Đúng Mục Đích, Nói Tiếng Lạ (Người Công Giáo và người Tin Lành "thông công" với nhau trong những buổi cầu nguyện tiếng lạ)… là điển hình cho sự "tùy ý dẫn dụ" trong câu này.

Chỉ có những người "ngoại đạo" mới bị dẫn dụ mà thôi. Những người thật sự "ở trong đạo" và "đạo ở trong họ" (Giăng 15:5) thì không thể bị dẫn dụ. Nhiều người đã cầu nguyện tin nhận Chúa, đã làm báp-tem, sốt sắng các công việc trong Hội Thánh, thậm chí làm chứng cho nhiều người tin Chúa, hoặc là giáo sĩ, là người chăn được xem là "đầy ơn" nhưng vẫn là người "ngoại đạo." Những người "ngoại đạo" mang bảng hiệu "trong đạo" này thờ lạy các thần tượng: bằng cấp, chức vụ, giáo phái… là những thần tượng có thể thấy được bên ngoài. Sâu kín trong tâm thần của họ là các thần tượng: tham lam, kiêu ngạo, tà dâm… là những thần tượng khó thể thấy, trừ khi chúng ta nhờ ơn Chúa đục một cái lỗ để nhìn vào (Ê-xê-chi-ên 8).

3 Bởi đó, tôi tỏ cùng anh em, chẳng ai cảm Thánh Linh của Đức Chúa Trời, mà nói rằng: Đức Chúa Jêsus đáng nguyền rủa! Nếu không cảm Đức Thánh Linh, cũng chẳng ai xưng Đức Chúa Jêsus là Chúa!

Một người buông lời nguyền rủa Đức Chúa Jesus là một người bị quyền lực của tà linh tác động. Dễ nhận diện nhất là những người công khai mang bảng hiệu "ngoại đạo" như Trần Chung Ngọc, Charlie Nguyễn, và nhóm Giao Điểm. Rất khó để nhận diện là những người mang bảng hiệu "trong đạo" nhưng thật ra, họ là những người "ngoại đạo," là sói đội lốt chiên, là những kẻ giúp việc Sa-tan, mạo làm kẻ giúp việc công bình (Ma-thi-ơ 7:15; 2 Cô-rinh-tô 11:14-15). Khi một người không vâng phục lời Chúa là người ấy lên mình kiêu ngạo. Một người lên mình kiêu ngạo, lập tức rơi vào quyền lực của Sa-tan. Vì vậy, những người "được ơn nói tiếng lạ," nếu nói tiếng lạ ngoài quy định của Thánh Kinh, thì coi chừng lòng kiêu ngạo của mình là cái cớ để Sa-tan "thần cảm" cho mình nói tiếng lạ nguyển rủa Đấng Christ mà mình không biết, lại còn tự hào là đang thông công với Đức Chúa Trời. Đừng để cho cảm giác đánh lừa. Vấn đề không phải là cảm giác hay hiện tượng. Vấn đề là chúng ta có vâng phục lời Chúa hay không.

Người ta thường lấy câu sau đây để chứng minh là họ được thần cảm bởi Đức Thánh Linh: "Nếu không cảm Đức Thánh Linh, cũng chẳng ai xưng Đức Chúa Jêsus là Chúa!" Ý của Phao-lô nói ở đây không phải là hình thức xưng Đức Chúa Jesus là Chúa bên ngoài môi miệng (mà lòng thì cách xa Ngài lắm). Nếu như vậy, thì các quỷ dữ khi bị Chúa đuổi ra khỏi thân thể các nạn nhân, xưng Ngài là Chúa cũng được cảm Đức Thánh Linh hay sao? Công An giả mạo làm tín đồ, mục sư xưng Đức Chúa Jesus là Chúa cũng được cảm bởi Đức Thánh Linh hay sao? Chẳng phải vậy. Sự xưng Đức Chúa Jesus là Chúa mà Phao-lô nói ở đây, có nghĩa xưng nhận Đức Chúa Jesus làm Chúa của mình. Lời xưng nhận này là kết quả của lòng ăn năn, thống hối về tội lỗi của mình, tiếp nhận ân điển cứu rỗi của Đấng Christ, và dâng hiến cuộc đời mình cho Ngài, đặt sự sống và sự chết của mình trong bàn tay của Đấng Christ (Rô-ma 8:8-10; 14:7-9). Sự đầu phục đó phải được thần cảm bởi Đức Thánh Linh. Sự đầu phục đó, nghĩa là sự hoàn toàn đặt để sự sống và sự chết của mình trong bàn tay của Đấng Christ, là ấn chứng của sự tái sinh.

4 Vả, có các sự ban cho khác nhau, nhưng chỉ có một Đức Thánh Linh.

Các sự ban cho của Đức Chúa Trời, còn gọi là ân tứ, dù có khác nhau, nhưng chỉ xuất phát từ Đức Thánh Linh, vì vậy, không thể có sự mâu thuẫn giữa các sự ban cho này. Cũng chính vì thế mà những người thật sự ở "trong đạo" nhận biết đâu là ân tứ thật sự đến từ Đức Thánh Linh, đâu là ân tứ giả mạo đến từ Sa-tan. Người thật sự đã được tái sinh, không chạy theo danh tiếng và phép lạ thì không thể bị Sa-tan dẫn dụ, gạt gẫm; vì trong người ấy có Đức Thánh Linh là Thần Lẽ Thật, dẫn người vào trong "mọi lẽ thật" của lời Chúa và dùng lời Chúa thánh hóa người (Giăng 16:13; 17:17).

5 Có các chức vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa.

Trong Hội Thánh có nhiều chức vụ khác nhau do Chúa kêu gọi và ban cho mỗi tín hữu để gây dựng bản thân và phát triển Hội Thánh. Mặc dù các chức vụ khác nhau nhưng đều đến từ một Chúa, đều được xức chung một Thánh Linh cho nên không thể có bất đồng và bất hòa. Hội Thánh nào mà người chăn và các chấp sự, các trưởng lão có sự xung khắc với nhau là Hội Thánh đó đang có "sói đội lốt chiên" trong hàng ngũ lãnh đạo.

6 Có các việc làm khác nhau, nhưng chỉ có một Đức Chúa Trời, là Đấng làm mọi việc trong mọi người.

Các việc làm ở đây là các việc Đức Chúa Trời làm ra ở trong Hội Thánh qua mỗi tín hữu. Vì là cùng một Đức Chúa Trời cho nên các việc trong Hội Thánh không thể có sự mâu thuẫn. Vấn đề là chúng ta có bằng lòng đầu phục Chúa trọn vẹn để Ngài làm mọi việc trong chúng ta hay không.

7 Đức Thánh Linh tỏ ra trong mỗi một người, cho ai nấy đều được sự ích chung.

Mỗi một ân tứ của Đức Thánh Linh ban cho bất kỳ ai trong Hội Thánh đều nhằm một mục đích là đem lại ích lợi chung cho toàn thể Hội Thánh, không phải để xây dựng vinh hiển và của cải vật chất cho riêng một cá nhân nào. Chữ "tỏ ra" (manifestation) trong câu này có ý nói tất cả các ân tứ của Đức Thánh Linh đều giúp cho chúng ta nhận thấy thuộc tính của Đức Thánh Linh (Ga-la-ti 5:22):

·         lòng yêu thương

·         sự vui mừng

·         sự bình an

·         sự nhịn nhục

·         sự nhơn từ

·         sự hiền lành

·         sự trung tín

·         sự mềm mại

·         sự tiết độ.

Bất kỳ một sự thể hiện ân tứ nào mà không hội đủ các thuộc tính trên đây thì ân tứ đó không đến từ Đức Thánh Linh. Đây là câu Thánh Kinh hàm chứa nguyên tắc giúp chúng ta nhận biết ân tứ thật của Đức Thánh Linh. Ân tứ thật của Đức Thánh Linh luôn luôn tỏ ra đầy trọn thuộc tính của Đức Thánh Linh.

8 Vả, người nầy nhờ Đức Thánh Linh, được lời nói khôn ngoan; kẻ kia nhờ một Đức Thánh Linh ấy, cũng được lời nói có tri thức.

Lời nói khôn ngoan đem lại sự hòa thuận trong Hội Thánh. Lời nói tri thức (cả thuộc thể lẫn thuộc linh) khiến cho Hội Thánh được thông biết, tránh được cái họa bị diệt (Ô-sê 4:6).

9 Bởi một Đức Thánh Linh, cho người nầy được đức tin; cũng bởi một Đức Thánh Linh ấy, cho kẻ kia được ơn chữa tật bịnh;

Chúng ta đã biết, nhờ ân điển, bởi đức tin mà chúng ta được cứu. Ân điển và đức tin đều là sự ban cho của Đức Chúa Trời. Sau khi có đức tin vào trong sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, là đức tin dẫn đến sự tái sinh, chúng ta tiếp tục sống bởi đức tin:

Vì trong Tin Lành nầy có bày tỏ sự công bình của Đức Chúa Trời, bởi đức tin mà được, lại dẫn đến đức tin nữa, như có chép rằng: Người công bình sẽ sống bởi đức tin. (Rô-ma 1:17).

Đức Thánh Linh ban thêm đức tin cho chúng ta tùy theo sự khao khát được tăng trưởng trong Chúa của chúng ta. Một người cha công bình sẽ chia tài sản nhiều hơn cho những đứa con hết lòng muốn tạo dựng sự nghiệp. Đó là ý nghĩa của sự đức tin dẫn đến đức tin mà sự chọn lựa nhận nhiều hay ít là do tấm lòng của chúng ta. Những đức tin mà Đức Thánh Linh ban thêm cho chúng ta có thể là đức tin cần phải có để đứng vững, trung tín với Chúa khi bị cám dỗ, thử thách, hoặc bị bách hại, nhất là khi những sự đó đến từ gia đình hoặc từ những người ở trong Hội Thánh mà không thánh.

10 người thì được làm phép lạ; kẻ thì được nói tiên tri; người thì được phân biệt các thần; kẻ thì được nói nhiều thứ tiếng khác nhau, người thì được thông giải các thứ tiếng ấy.

Đây là một câu Thánh Kinh quan trọng cho thấy giáo lý dạy rằng: Hễ một người được báp-tem bằng Thánh Linh thì phải biết nói tiếng lạ, là ngụy giáo lý. Rõ ràng lời Chúa dạy: "kẻ thì được nói nhiều thứ tiếng khác nhau, người thì được thông giải các thứ tiếng ấy" cho thấy không phải tất cả mọi người trong Hội Thánh đều được ân tứ nói tiếng lạ hoặc tất cả mọi ngưòi trong Hội Thánh đều được ân tứ thông giải tiếng lạ. Cũng vậy, không phải tất cả mọi người trong Hội Thánh đều được ơn nói tiên tri, hoặc ơn phân biệt các thần. Chính vì không phải ai cũng được ân tứ giống nhau cho nên Hội Thánh phải nhóm họp lại để nghe người được ơn nói tiên tri rao giảng lời Chúa, nghe người được ơn phân biệt các thần chỉ ra các thứ "thần cảm giả mạo," nghe người được ơn nói tiếng lạ rao giảng những điều kỳ diệu của Đức Chúa Trời khi có người thông giải cho sự rao giảng ấy (I Cô-rinh-tô 14:26-28). Không có người thông giải tiếng lạ mà cầu nguyện và rao giảng tiếng lạ trong Hội Thánh là lên mình kiêu ngạo, chống nghịch lời Chúa (I Cô-rinh-tô 14:37). Người như thế sẽ bị Sa-tan xâm nhập để giả mạo tiếng lạ mà nguyền rủa Đấng Christ ngay trong Hội Thánh của Ngài.

11 Mọi điều đó là công việc của đồng một Đức Thánh Linh mà thôi, theo ý Ngài muốn, phân phát sự ban cho riêng cho mỗi người.

Đây lại là một câu Thánh Kinh quan trọng cho thấy giáo lý dạy rằng: Hễ một người được báp-tem bằng Thánh Linh thì phải biết nói tiếng lạ, là ngụy giáo lý. Vì nói tiếng lạ là một trong các ân tứ của Đức Thánh Linh, theo ý Ngài muốn, phân phát sự ban cho riêng cho mỗi người. Chúng ta thấy hai nguyên tắc như sau:

1. Ân tứ được Đức Thánh Linh phân phát theo ý Ngài muốn, chứ không phải theo sự nài xin của chúng ta mà được, mặc dù chúng ta nên có lòng khao khát, mong ước tất cả những sự tốt đẹp đến từ Đức Chúa Trời.
2. Đức Thánh Linh phân phát riêng cho mỗi người ân tứ mà Ngài muốn ban cho người ấy chứ không có chuyện mọi người cùng lãnh nhận ân tứ như nhau.

12 Vả, như thân là một, mà có nhiều chi thể, và như các chi thể của thân dầu có nhiều, cũng chỉ hiệp thành một thân mà thôi, Đấng Christ khác nào như vậy.
13 Vì chưng chúng ta hoặc người Giu-đa, hoặc người Gờ-réc, hoặc tôi mọi, hoặc tự chủ, đều đã chịu phép báp-tem chung một Thánh Linh để hiệp làm một thân; và chúng ta đều đã chịu uống chung một Thánh Linh nữa.
14 Thân cũng chẳng phải có một chi thể, bèn là nhiều chi thể.
15 Nếu chơn rằng: vì ta chẳng phải là tay, nên ta không thuộc về thân, thì chẳng phải bởi đó chơn không có phần trong thân.
16 Và nếu tai rằng: Vì ta chẳng phải là mắt, nên ta không thuộc về thân, thì tai chẳng phải bởi đó không có phần trong thân.
17 Ví bằng cả thân đều là mắt, thì sự nghe ở đâu? Nếu cả thân đều là tai, thì sự ngửi ở đâu?
18 Nhưng bây giờ, Đức Chúa Trời đã sắp đặt các chi thể của thân chúng ta, ban cho mỗi một chi thể cái địa vị theo ý Ngài lấy làm tốt mà chỉ định.
19 Nếu chỉ có một chi thể mà thôi, thì cái thân ở đâu?
20 vậy, có nhiều chi thể, song chỉ có một thân.
21 Mắt không được nói với bàn tay rằng: Ta chẳng cần đến mầy; đầu cũng chẳng được nói với chơn rằng: Ta chẳng cần đến bay.
22 Trái lại, các chi thể của thân xem ra rất yếu đuối lại là cần dùng.
23 Chi thể nào trong thân chúng ta nghĩ là hèn hạ hơn, thì chúng ta tôn trọng hơn; chi thể nào chẳng đẹp, thì chúng ta lại trau giồi hơn,
24 còn như cái nào đã đẹp rồi, thì không cần trau giồi. Nhưng Đức Chúa Trời đã sắp đặt thân người, để chi thể nào thiếu thốn thì được quí trọng hơn,
25 hầu cho trong thân không có sự phân rẽ, mà các chi thể phải đồng lo tưởng đến nhau.

Đức Thánh Linh, qua Phao-lô mượn hình ảnh hiệp một của thân thể xác thịt chúng ta mà dạy chúng ta về sự hiệp một của Hội Thánh là thân thể Đấng Christ. Có nhiều giáo phái hay hệ phái không phải là vấn đề. Vấn đề là các giáo phái và hệ phái không hiệp một trong sự gây dựng và phát triển thân thể của Đấng Christ. Thực tế phủ phàng cho chúng ta thấy:

– Đại hội Baptist không được CMA ủng hộ,
– Đại hội CMA không được Baptist ủng hộ.

Đã không ủng hộ mà còn "tẩy chay" mới là tệ hại! Nhiều khi, ngay cả cùng một giáo phái mà cũng không có sự hiệp nhứt. Chúng tôi từng biết có những "mục sư" tuyên bố đại khái: "Nếu có mục sư ABC đến thì tôi sẽ không đến!". Khi vào thiên đàng, không biết những người  này có dám tuyên bố: "Nếu có mục sư ABC trong thiên đàng thì tôi sẽ không vào"? Nhiều "mục sư" không tham dự và tẩy chay những buổi nhóm cầu nguyện cho Hội Thánh và quê hương, dân tộc Việt Nam do các tín hữu đứng ra tổ chức. Cái tinh thần ganh tỵ, kiêu ngạo dẫn đến sự bất hợp tác trong Hội Thánh Việt Nam thật là lớn lắm.

Thiết tưởng, chúng ta cần phải lấy lời Chúa làm thẩm quyền tuyệt đối chứ không phải nội quy, điều lệ, tín lý… của một giáo hội. Đấng Christ chỉ tạo nên Hội Thánh, Ngài không tạo ra các giáo hội.

Ngày nào, Hội Thánh dùng đến tên gọi của Hội Thánh do Đức Thánh Linh đã bày tỏ trong Thánh Kinh: Hội Thánh Của Đấng Christ hoặc Hội Thánh Của Đức Chúa Trời (Rô-ma 16:16; 1 Cô-rinh-tô 1:2; 10:32; 11:16; 15:9; 2 Cô-rinh-tô 1:1; Ga-la-ti 1:13; 1 Tê-sa-lô-ni-ca 2:14; 2 Tê-sa-lô-ni-ca 1:4; 1 Ti-mô-thê 3:15) thay vì những tên gọi do loài người đặt ra (như: Hội Thánh Baptist, Hội Thánh Giám Lý, Hội Thánh Trưởng Lão…) thì ngày đó chắc sự hiệp một trong thân thể của Đấng Christ được thành toàn.

26 Lại, trong các chi thể, khi có một cái nào chịu đau đớn, thì các cái khác đều cùng chịu; và khi một cái nào được tôn trọng, thì các cái khác cùng vui mừng.

Đây là tiêu chuẩn để nhận biết một người có thật đã ăn năn tội, đã được tái sinh vào trong Hội Thánh của Chúa hay chưa. Những ai không hề chạnh lòng trước những đau khổ, bất công, và sự bách hại đang giáng xuống trên con dân của Chúa ở khắp nơi, thì đó là những người không thuộc về Hội Thánh, vì nếu họ thuộc về Hội Thánh, họ phải tự nhiên đau đớn và tích cực xoa dịu, chăm sóc phần chi thể bị đau.  Những ai có lòng ganh tỵ khi thấy anh chị em trong Đấng Christ được đầy ơn, được tôn trọng, thì những người đó cũng không thuộc về Hội Thánh, vì lẽ tự nhiên là bất kỳ một chi thể nào được khen ngợi thì cả thân thể đều vui mừng.

27 Vả, anh em là thân của Đấng Christ, và là chi thể của thân, ai riêng phần nấy.
28 Đức Chúa Trời đã lập trong Hội thánh, thứ nhứt là sứ đồ, thứ nhì là đấng tiên tri, thứ ba là thầy giáo, kế đến kẻ làm phép lạ, rồi kẻ được ơn chữa bịnh, cứu giúp, cai quản, nói các thứ tiếng.
29 Có phải cả thảy là sứ đồ sao? Cả thảy là tiên tri sao? Cả thảy đều là thầy giáo sao? Cả thảy đều làm phép lạ sao?
30 Cả thảy đều được ơn chữa bịnh sao? Cả thảy đều nói tiếng lạ sao? Cả thảy đều thông giải tiếng lạ sao?

Một lần nữa, Phao-lô tái xác định địa vị, chức vụ, và ân tứ khác nhau của mỗi người trong Hội Thánh. Một người có thể cùng lúc nhận được nhiều ân tứ khác nhau. Một người có thể chỉ nhận được có một ân tứ duy nhất. Không ai nhận lãnh gống nhau vì tất cả đều tùy thuộc vào sự ban cho của Đức Thánh Linh, ai riêng phần nấy, theo thánh ý của Ngài! Những câu Thánh Kinh trên đây một lần nữa chứng minh giáo lý: Hễ một người được báp-tem bằng Thánh Linh thì phải biết nói tiếng lạ, là ngụy giáo lý:

– Cả thảy đều được ơn chữa bịnh sao? Không phải vậy, chỉ những ai Đức Thánh Linh ban cho ơn chữa bịnh.
– Cả thảy đều nói tiếng lạ sao? Không phải vậy, chỉ những ai được Đức Thánh Linh ban cho ơn nói tiếng lạ.
– Cả thảy đều thông giải tiếng lạ sao? Không phải vậy, chỉ những ai được Đức Thánh Linh ban cho ơn thông giải tiếng lạ.

Nói tiếng lạ là một ơn theo sau các ơn: làm sứ đồ, nói tiên tri, làm thầy giáo, làm phép lạ, chữa bệnh, cứu giúp, và cai quản. Nói tiếng lạ không phải là một ơn mà tín hữu nào cũng được ban cho!

31 Hãy ước ao cho được sự ban cho lớn hơn hết. Bây giờ, tôi sẽ chỉ dẫn cho anh em con đường tốt lành hơn.

Sau khi giảng giải cho các tín hữu hiểu biết nguồn gốc, mục đích, ý nghĩa các sự ban cho của Đức Thánh Linh, Phao-lô hướng tâm trí tín hữu đến sự ban cho lớn hơn hết, món quà mà bất kỳ tín hữu nào cũng được nhận lãnh và còn đến đời đời, đó là TÌNH YÊU THƯƠNG!

Mục Tử
03.09.2007

Đọc Tiếp →

Tín Lý Căn bản

Bấm vào đây để download bài viết này

Dưới đây là bảng tóm lược các tín lý căn bản được rao giảng trên các website trực thuộc Vietnamese Christian Mission Ministry:

1. Chỉ có một Đức Chúa Trời Tự Nhiên Có và Còn Đến Mãi Mãi, Toàn Thiện, Toàn Năng, Toàn Ái, là Đấng Sáng Tạo và Tể Trị trên muôn loài vạn vật; được thể hiện qua ba ngôi (thân vị): Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con (tức là Đức Chúa Jesus Christ), và Đức Chúa Thánh Linh. Đức Chúa Con ra từ Đức Chúa Cha, Đức Thánh Linh ra từ Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con.

2. Loài người được Đức Chúa Trời tạo dựng để làm con của Đức Chúa Trời nhưng loài người đã phạm tội, nghĩa là không vâng lời Đức Chúa Trời, nên bị hư mất đời đời. Đức Chúa Trời yêu thương loài người nên ban cho loài người sự cứu rỗi. Hễ ai cải hối (hối hận vì đã phạm tội và bằng lòng trở lại vâng lời Đức Chúa Trời) và tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, vâng theo mọi lời phán dạy của Đức Chúa Jesus Christ; thì được Đức Chúa Trời tha tội và làm cho sạch tội; được Đức Thánh Linh tái sinh và thánh hóa; được Đức Chúa Jesus Christ ban cho sự sống lại và sự sống đời đời; được làm con của Đức Chúa Trời và được đồng cai trị với Đức Chúa Con trong Nước Trời.

3. Tội lỗi là sự không vâng lời Đức Chúa Trời, tức là không vâng theo các ý muốn và các tiêu chuẩn thánh khiết, yêu thương, công bình của Đức Chúa Trời được Ngài đặt để trong lương tâm loài người, được Ngài tóm lược trong Mười Điều Răn và được Ngài cho ghi chép trong Thánh Kinh. Tội lỗi được thể hiện qua sự chống nghịch Đức Chúa Trời từ trong tư tưởng hoặc qua lời nói, cử chỉ, thái độ và hành động. Hậu quả của tội lỗi là sự hư mất đời đời.

Sự hư mất đời đời có nghĩa là bị đời đời xa cách Đức Chúa Trời (xa cách sự yêu thương của Ngài) và xa cách sự vinh quang của quyền phép Ngài (xa cách sự cứu rỗi và sự thánh hóa của Ngài). Người bị hư mất sẽ được phục sinh sau khi chết và ra trước tòa án của Đức Chúa Trời để chịu sự phán xét về tất cả tội lỗi đã làm trong khi đang sống trong thân xác hiện tại. Sau đó, sẽ bị giam giữ để chịu khổ đời đời trong hỏa ngục cùng với các thiên sứ phạm tội đã trở thành ma quỷ.

4. Cải hối là thật lòng đau khổ vì đã phạm tội và gớm ghét tội lỗi, là sẵn sàng nhận sự cứu giúp của Đức Chúa Trời để có được thẩm quyền và năng lực thắng được mọi thử thách và cám dỗ; và trên hết là khao khát vâng theo lời Chúa dạy. Tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời là tin rằng sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ trên thập tự giá cho nhân loại là hành động chuộc tội một lần đủ cả để cứu bất kỳ ai muốn được Đức Chúa Trời tha tội và làm cho sạch tội mà không cần phải thêm một điều gì khác.

5. Được tha tội là được Đức Chúa Trời không hình phạt về những tội đã phạm (vì Đức Chúa Jesus Christ đã gánh thay hình phạt). Được làm cho sạch tội là được Đức Chúa Trời rửa sạch bản tính phạm tội (bằng máu thánh của Đức Chúa Jesus Christ) để không còn ưa thích phạm tội nữa. Được tái sinh là được Đức Chúa Trời tạo nên một tâm linh mới trong Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh của Ngài ngự trong thân thể để biến thân thể thành đền thờ của Đức Chúa Trời. Được thánh hóa là được nhận dư dật Thánh Linh (tức là sự sống, thẩm quyền, và năng lực) của Đức Chúa Trời để có thể sống đúng theo tiêu chuẩn thánh khiết của Đức Chúa Trời, làm được những việc lành của Đức Chúa Trời và trở nên trọn vẹn như chính Ngài.

6. Thánh Kinh là Lời Hằng Sống của Đức Chúa Trời, là ý muốn và tiêu chuẩn thánh khiết của Đức Chúa Trời đối với nhân loại. Thánh Kinh hoàn toàn là chân lý và là thẩm quyền tuyệt đối để dạy cho loài người biết về Đức Chúa Trời. Thánh Kinh phải được giảng giải bằng chính Thánh Kinh. Tất cả những giáo lý không có trong Thánh Kinh là tà giáo. Tất cả những giáo lý không đúng với Thánh Kinh là tà giáo. Sự thờ phượng Đức Chúa Trời không đúng với Thánh Kinh là sự thờ phượng theo xác thịt, không theo Thánh Linh.

7. Sự tổ chức, thành lập các giáo hội, giáo phái là nghịch lại Thánh Kinh. Các giáo hội, giáo phái không phải là Hội Thánh của Chúa. Dầu vậy, trong các giáo hội, giáo phái có sự hiện diện của Hội Thánh Chúa qua sự hiện diện của những con dân chân thật của Ngài, là những người thật lòng cải hối, từ bỏ tội lỗi, tin nhận sự cứu rỗi của Đấng Christ và vâng giữ Lời Chúa.

8. Tất cả các chức vụ, các ân tứ Chúa lập ra và ban cho Hội Thánh vẫn còn trong Hội Thánh cho đến ngày Chúa cất Hội Thánh ra khỏi thế gian, vì tất cả các chức vụ và ân tứ đó là ân điển Chúa ban để gây dựng và phát triển Hội Thánh. Trong những ngày cuối cùng càng có nhiều giáo sư giả, nhiều tiên tri giả, nhiều sự bội đạo thì các chức vụ và các ân tứ từ Chúa càng cần thiết hơn bao giờ hết trong Hội Thánh của Chúa. Các chức vụ do loài người tự phong cho nhau trong các giáo hội không phải là các chức vụ Chúa lập ra. Chức vụ Chúa lập ra trong Hội Thánh được chính Đức Thánh Linh bày tỏ cho người được gọi và cho cả Hội Thánh.

9. Hiện tượng "nói tiếng lạ," "đặt tay té ngã," "say Thánh Linh," "tiếng cười thánh," "bị giết trong Thánh Linh…" hoàn toàn không có trong Thánh Kinh mà chỉ là sự giả mạo của Sa-tan để lường gạt những người không chịu từ bỏ nếp sống tội lỗi mà lại muốn tỏ ra mình được đầy dẫy Thánh Linh và có quyền phép, ân tứ thuộc linh. Ân tứ nói ngoại ngữ như được thể hiện trong Công Vụ Các Sứ Đồ 2 và nói đến trong I Cô-rinh-tô 12 và 14 không phải là sự kiện thất thần nói lấp bấp một thứ âm thanh vô nghĩa. Theo Thánh Kinh, những người được ân tứ nói ngoại ngữ luôn luôn nói một thứ ngôn ngữ có người hiểu và được người chung quanh ấn chứng rằng họ đang nói những lời cao trọng về Đức Chúa Trời. Tất cả các trường hợp thất thần, té ngã bất động, nói lấp bấp những âm thanh vô nghĩa, cười, la, gào, hú, than khóc, lắc lư hay vật vã thân hình… chỉ là hình thức của các hiện tượng bị tà linh điều khiển.

10. Một người xưng rằng mình tin nhận Chúa mà không sống theo Lời Chúa trong Thánh Kinh, cố tình vi phạm Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời là một người nói dối, là một người chưa hề có sự cứu rỗi. Một người đã có sự cứu rỗi, đã được tái sinh và thậm chí được Chúa giao cho các chức vụ quan trọng trong Hội Thánh nhưng nếu lại quay về với đời sống tội lỗi (dù là kín giấu) thì cũng sẽ mất sự cứu rỗi. Chúng ta được cứu bởi ân điển và đức tin để được dựng nên mới trong Đấng Christ để Đấng Christ sống trong chúng ta làm Chúa của chúng ta và để Đức Thánh Linh ngự trong chúng ta, ban cho chúng ta quyền phép của Đức Chúa Trời để chúng ta sống theo ý muốn và điều răn của Ngài, không phải để chúng ta tự do sống trong tội mà không bị đoán phạt. Lời Đức Chúa Jesus dạy trong Ma-thi-ơ 7:21-23; 18:15-35; 25:14-30 khẳng định rằng, ai tin Chúa rồi, thậm chí được làm tôi tớ phục vụ trong nhà Chúa (tức Hội Thánh) mà không hết lòng vâng theo Lời Chúa thì sẽ bị Chúa đoán phạt và bị hư mất đời đời.

Các Website trực thuộc Vietnamese Christian Mission Ministry

www.tinlanhmedia.net
www.tinlanhvietnam.net
www.tinlanhbiengiao.net
www.thanhkinhvietngu.net
www.thanhkinhthanhoc.net
www.phunu.tinlanhvietnam.net
www.vietnamesechristianministry.org

Đọc Tiếp →