Sự Thật về Hiện Tượng Nói Tiếng Lạ và Đặt Tay Té Ngã

Xin trân trọng giới thiệu đến quý bạn đọc tác phẩm: "Sự Thật về Hiện Tượng Nói Tiếng Lạ và Đặt Tay Té Ngã" của Pastor Huỳnh Christian Timothy.

  • Phiên bản in sẽ phát hành vào ngày 1 tháng 1 năm 2013:

    • Khổ 5.5 X 8.5
    • Dày 146 trang
    • Bìa tráng nhựa
    • Ấn phí và cước phí trong Hoa Kỳ: $10.00 USD một cuốn – ngoài Hoa Kỳ $15.00 USD một cuốn.
    • Ấn phí và cước phí trong Hoa Kỳ: $300.00 USD cho 50 cuốn hoặc $500.00 USD cho 100 cuốn.

Quý bạn đọc muốn đặt mua sách in, xin gửi thư và money order hoặc check về:

Timothy Christian Huynh
Three Sixteen Family
501 N Robinson Dr
Robinson TX 76706

Thời gian nhận sách qua bưu điện khoảng từ 1 đến 2 tuần, kể từ ngày chúng tôi nhận được thư đặt mua.

Chúng tôi có thể gửi tặng miễn phí 1 sách (trong Hoa Kỳ) cho quý bạn nào muốn nhận sách in nhưng không thể chi trả ấn phí và chi phí.

Dưới đây là phần "Lời Nói Đầu" được trích ra từ tác phẩm:

Lời Nói Đầu

Cuốn sách nhỏ này là một tổng hợp bài biên khảo và các bài giải đáp thắc mắc của tôi về các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần.

Trong giai đoạn từ 2001 đến 2006, tôi chung đụng và cùng làm việc với rất nhiều người Ân Tứ và Ngũ Tuần. Vào lúc đầu, khi chứng kiến các hiện tượng “đặt tay té ngã,” “nói tiếng lạ,” “say Thánh Linh…” tôi cảm thấy rất là lạ lùng vì không thấy những điều này được nói đến trong Thánh Kinh. Tuy nhiên, sự nóng cháy của những người Ân Tứ và Ngũ Tuần trong sự cầu nguyện, thờ phượng, chứng Đạo, và truyền giảng khiến cho tôi không dám nghĩ rằng, những hiện tượng đó không đến từ Chúa.

Tôi dành một thời gian dài, cầu nguyện, xin Chúa bày tỏ cho mình. Thậm chí, tôi xin với Chúa rằng: “Con biết ân tứ của Đức Thánh Linh được ban cho tùy theo thánh ý của Ngài, nhưng con cầu xin điều này, nếu sự “nói tiếng lạ” của những người Ân Tứ và Ngũ Tuần là ân tứ của Đức Thánh Linh, thì xin Chúa ban cho con được một lần có thể “nói tiếng lạ” để ấn chứng rằng, nó đến từ Chúa, rồi Chúa cất nó ra khỏi con, nếu ý của Chúa là không ban cho con ân tứ đó, chỉ để con được yên tâm mà hầu việc Chúa chung với những người Ân Tứ và Ngũ Tuần…”

Tôi không bao giờ nhận được sự “nói tiếng lạ” từ nơi Chúa, mà trong tâm thần tôi chỉ có một sự nhắc nhở rõ ràng: “Chớ tin cậy mọi thần, nhưng hãy thử cho biết các thần có phải đến bởi Đức Chúa Trời chăng?” (I Giăng 4:1). Tôi tự hỏi, làm sao để thử các thần? Câu trả lời đến trong tâm trí tôi: “Cả Thánh Kinh đều là bởi Thiên Chúa hà hơi, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình, hầu cho người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành” (II Ti-mô-thê 3:16-17).

Sau khi xét thấy rõ các hiện tượng: “đặt tay té ngã,” “nói tiếng lạ,” “say Thánh Linh…” hoàn toàn không được nói đến trong Thánh Kinh, ngược lại, có hình thức như dân ngoại giáo lên đồng, lên bóng, đọc thần chú hoặc bị quỷ nhập, đồng thời, qua một thời gian chung đụng, cùng làm việc với những người tự xưng là đầy dẫy Thánh Linh, tôi nhận ra họ đang sống trong tội lỗi cách thầm kín (đủ các thói: kiêu ngạo, tham lam, dối trá, thất tín, ganh tỵ, nói xấu, vu khống… và tà dâm), thì tôi chấm dứt sự giao tiếp với họ và tránh xa tất cả các tổ chức giáo hội nào công nhận việc “nói tiếng lạ.”

Đến tháng 6 năm 2006, trong khi đang quản nhiệm Hội Thánh của Chúa tại Tucson, Arizona, và phụ trách tổ chức ngày kiêng ăn cầu nguyện cho Việt Nam, thì tôi thực sự bị tà linh nói tiếng lạ tấn công. Trong dịp đó, có một mục sư Việt Nam sơ giao với tôi, dẫn theo bảy tín đồ từ California đến tham dự nhóm cầu nguyện, trong đó có một người Mỹ. Họ là những người “nói tiếng lạ.” Vì họ xin phép được tham dự cầu nguyện cho Việt Nam và hứa là sẽ vâng theo các quy định của ban tổ chức, nên tôi đồng ý cho họ đến tham dự.

Họ lái xe từ California đến Tucson, Arizona vào lúc nửa đêm, nên tôi thu xếp cho họ ngủ qua đêm trong nhà của tôi. Căn nhà chúng tôi thuê lúc đó có ba phòng ngủ và một phòng khách rộng, nên có đủ chỗ cho mọi người.

Sáng hôm sau là thứ bảy, ngày đầu tiên kiêng ăn cầu nguyện, mọi người cùng đến nơi nhóm họp thờ phượng. Nhóm tám người “nói tiếng lạ” đó cũng đến nhóm với chúng tôi nhưng có một điểm kỳ lạ nơi họ mà tôi không bao giờ quên được. Đó là: không một người nào trong số họ mang theo Thánh Kinh, kể cả người mục sư. Họ phải hỏi mượn Thánh Kinh từ nơi tôi. Chúng tôi tổ chức nhóm liên tục suốt hai ngày, với những buổi nghỉ giải lao. Dưới đây là một vài hiện tượng đã xảy ra với nhóm tám người nói tiếng lạ:

·         Có một lúc, tôi đang hướng dẫn Hội Thánh tôn vinh Chúa thì một phụ nữ trong nhóm họ đứng lên, bắt giọng hát một bài thánh ca khác mà cả nhóm họ hát theo. Tôi và cả hội chúng yên lặng, chờ cho họ hát xong thì chúng tôi tiếp tục chương trình thờ phượng của mình. Tôi dự định, nếu họ còn tiếp tục quấy rối như vậy thì tôi sẽ mời họ ra khỏi phòng nhóm. Nhưng sau đó, họ đã ngồi yên, đắm chìm trong sự lâm râm cầu nguyện tiếng lạ của họ.

·         Khi đến giờ cầu nguyện thì họ cùng nhau lớn tiếng cầu nguyện tiếng lạ, người thì ngồi xếp bằng trên sàn nhà, lắc lư thân hình, người thì quỳ mọp trên sàn, người thì lăn lộn trên mặt sàn, người thì nằm ngữa trên sàn, gác cả hai chân lên vách tường. Trong số họ, có nhiều người là phụ nữ nhưng đã thể hiện nhiều tư thế thật là hớ hênh, khó coi… Những âm thanh do họ phát ra làm cho toàn thể hội chúng đều bị nhức đầu và khiếp sợ, hầu hết phải bỏ ra khỏi phòng nhóm, chỉ còn lại những người trong ban tổ chức và vài chấp sự trong Hội Thánh. Chính cá nhân tôi cũng bị nhức đầu rất là lạ lùng. Chúng tôi đã nhân danh của Đức Chúa Jesus Christ để truyền cho các tà linh đang hiện diện phải lui ra khỏi phòng nhóm thì cơn nhức đầu mới lui đi và nhóm tám người nói tiếng lạ đó mới dịu lại.

·         Sau đó, nhóm tám người kéo ra ngoài, đứng cầu nguyện tiếng lạ trong bãi đậu xe, và kể cho nhau nghe các “khải tượng” mà họ đang thấy. Họ không chịu vào phòng nhóm, trừ khi tôi cho phép mục sư của họ đứng lên điều khiển buổi nhóm. Họ đòi đặt tay trên tôi để tôi được báp-tem bằng Thánh Linh. Họ nói tà linh đang hiện diện trong phòng nhóm nên họ không vào trong đó. Họ nói, họ thấy khải tượng có rất nhiều con rắn lớn trong phòng nhóm, đồng thời, có nhiều chim bồ câu trắng bay đến nhưng không vào trong phòng nhóm được vì có quá nhiều rắn. Họ giải thích với tôi, rắn là tà linh còn bồ câu là Đức Thánh Linh. Họ yêu cầu tôi để cho mục sư của họ đứng lên điều khiển buổi nhóm để trục xuất hết các tà linh thì Đức Thánh Linh mới vào phòng nhóm, và Hội Thánh mới được đầy dẫy Thánh Linh và một cuộc phục hưng lớn sẽ xảy ra.

Dĩ nhiên, tôi khước từ tất cả các đề nghị của họ, và sự kiện đó khiến cho tôi nhớ lại Chúa đã báo trước cho tôi rằng Sa-tan sẽ vào trong phòng nhóm trong kỳ kiêng ăn cầu nguyện cho Việt Nam này. Trước đó khoảng một tuần, liên tục ba đêm, tôi nằm mơ nghe tiếng Chúa phán với tôi là Sa-tan sẽ vào trong phòng nhóm trong ngày kiêng ăn cầu nguyện cho Việt Nam. Tôi nghĩ, có lẽ Sa-tan sẽ hiện diện trong thân thể thuộc linh của nó để cản trở sự cầu nguyện của chúng tôi. Mục đích chính trong sự cầu nguyện của chúng tôi vào năm đó, là xin Chúa cất đi quyền lực của Sa-tan trên đất nước và dân tộc Việt Nam, đã được biểu hiện qua hình ảnh con rồng và truyền thuyết “con rồng cháu tiên” của dân tộc Việt Nam.

Trước đó khoảng một tháng, nhà tôi đang cầu nguyện xin Chúa thương xót, giải cứu dân tộc Việt Nam ra khỏi sự thờ lạy hình tượng, thì bà nghe Chúa phán: “Dân tộc con phạm thượng, kêu “Trời” vô cớ. Dân tộc con đã nhận rồng làm Cha. Các con đã mời nó vào thì phải đuổi nó ra, thì các linh sợ hãi sẽ không còn cai trị trên họ. Hình tượng bị vô hiệu hóa thì Tin Lành sẽ được tiếp nhận dễ dàng. Hai mươi lăm năm trước Ta đã cho con thấy hình ảnh hai con rồng. Chính nó là chúa quỷ. Chính nó đã dẫn dụ dân tộc con thờ phượng nó. Hãy kiêng ăn cầu nguyện, vì có những thứ quỷ cần phải kiêng ăn cầu nguyện mới đuổi được chúng.”

Vợ chồng chúng tôi hết lòng cầu nguyện xin sự bảo vệ của Chúa và có nghĩ đến việc, Sa-tan có thể tấn công hai con chúng tôi để phá vỡ ngày kiêng ăn cầu nguyện của chúng tôi. Chúng tôi dâng trình sự an toàn của hai con mình lên Chúa và hứa nguyện rằng, dầu cho có bất cứ chuyện gì xảy đến cho hai con chúng tôi: bệnh tật, tai nạn, và ngay cả sự chết, thì chúng tôi vẫn cậy ơn và sức của Chúa để hoàn tất hai ngày kiêng ăn, cầu nguyện cho Việt Nam, rồi mới giải quyết những vấn đề liên quan đến con mình.

Thế nhưng, Sa-tan không thể dùng sức để tấn công chúng tôi, vì Đấng ở trong chúng tôi mạnh hơn nó, mà chỉ có thể dùng kế, và nó đã sai các sứ giả của nó đến, tìm cách phá rối chương trình nhóm họp của chúng tôi.

Cảm tạ Chúa, hai ngày kiêng ăn và cầu nguyện cho dân tộc Việt Nam vào tháng 6 năm 2006 đã hoàn tất một cách tốt đẹp, dầu có sự tấn công của Sa-tan. Chiều chủ nhật, sau khi kết thúc sự nhóm họp, ban tổ chức mời tất cả mọi người tham dự, ra nhà hàng ăn uống và thông công với nhau. Trong bữa ăn và vào lúc chia tay, nhóm tám người nói tiếng lạ đã trở nên hết sức hiền hòa, thân ái với chúng tôi, và còn khen rằng, chúng tôi là những người đầy ơn Chúa.

Tối hôm đó, khi về đến nhà, vợ chồng chúng tôi có cái cảm giác rất là khác thường. Hình như có những cái bóng đen thoát hiện, thoát ẩn, lẫn quất trong nhà chúng tôi và có một mùi hôi lạ lùng, thoang thoảng. Nhưng sau hai ngày kiêng ăn cầu nguyện, thân thể chúng tôi đã mệt mõi và vì mới được ăn no, nên chúng tôi vội tắm rửa rồi đi ngủ, không bận tâm lắm về cảm giác và mùi hôi khác thường.

Đến khoảng ba giờ sáng thì tôi giật mình thức giấc vì tiếng kêu khóc của nhà tôi. Dưới đây là lời làm chứng của nhà tôi:

Lời làm chứng của Huỳnh Christian Priscilla (Mỹ Linh):

Tôi đang ngủ thì nằm mơ thấy những người phụ nữ trong nhóm tám người nói tiếng lạ, từ trong bóng tối âm u tiến ra. Họ hỏi tôi người phụ nữ trong Hội Thánh Tucson mà trong buổi nhóm đã chống đối sự nói tiếng lạ của họ, ở đâu? Tôi cảm thấy dường như những người này có ý muốn kiếm người tín đồ đó để làm khó, cho nên, tôi mới nói, người đó không có ở đây, các chị có điều gì thì hãy nói với chồng tôi, là người quản nhiệm Hội Thánh. Nghe tôi nói vậy thì họ bèn bỏ đi. Liền sau đó, một người đàn ông xuất hiện ngay đầu giường của tôi, thân thể cao lớn lạ thường, mặt thì đỏ bầm. Tôi nhận ra khuôn mặt đó chính là của người mục sư cầm đầu bảy người nói tiếng lạ từ California.

Ông ta tiến đến chỗ tôi nằm. Tôi cảm nhận là ông ta muốn làm hại tôi, nên tôi sợ hãi. Ông ta ngồi xuống trên giường và đưa hai tay ra bóp lấy cổ tôi. Dù ông ta không nói gì, nhưng tôi có cảm nhận là ông ta đang muốn tôi phải phát ra những tiếng lạ như những người Ân Tứ và Ngũ Tuần. Tôi ú ớ, chống đối và kêu cầu Chúa: Chúa ơi! xin cứu con. Con không muốn nói thứ tiếng lạ đến từ quỷ. Lúc đó, chồng tôi nghe tôi ú ớ nên lay tôi thức dậy. Tôi kể cho chồng tôi nghe giấc mơ và chồng tôi nói: Mình hãy cầu nguyện, xin Chúa bày tỏ. Nếu đây là tà linh muốn ép em nói tiếng lạ thì xin Chúa ấn chứng, bằng cách cho phép sự kiện này tái diễn.

Chúng tôi cầu nguyện và nằm ngủ lại. Tôi vừa nằm xuống thì lập tức một quyền lực xâm hãm tôi, buộc tôi phải buộc miệng phát ra những âm thanh lạ. Quyền lực này cố mở miệng tôi ra, ép tôi phát ra những âm thanh lạ, trong khi tôi cố hết sức để chống lại và kêu cầu danh Chúa. Tôi bật ngồi dậy và khẩn thiết kêu cầu danh Chúa. Lúc đó, chồng tôi cũng ngồi bật dậy và ôm lấy tôi, cầu nguyện cho tôi.

Khi tôi nghe nhà tôi vừa khóc vừa kêu cầu Chúa: “Chúa ơi, con không muốn nói thứ tiếng lạ của quỷ, xin cất ra khỏi con sự thúc giục nói tiếng lạ này!” Thì tôi lập tức ngồi dậy, ôm nhà tôi vào lòng và cất tiếng cầu nguyện xin Chúa giải cứu. Vừa khi tôi chạm tay vào người của nhà tôi thì lập tức có một điều gì giống như một luồng điện từ thân thể nhà tôi chuyền sang tôi, lan tràn khắp người tôi và đầy cả bụng tôi, làm cho tôi bị ớn lạnh. Rồi, có một sức mạnh đi từ dưới bụng của tôi, dâng tràn lên cổ họng tôi, làm cho cứng cả quai hàm của tôi, khiến cho lời cầu nguyện của tôi không còn được phát ra cách rõ ràng nữa. Tôi biết quyền lực của tà linh đang tìm cách khống chế mình. Tôi không cảm thấy sợ hãi mà chỉ cố cầu nguyện ra tiếng, xin Chúa giải cứu chúng tôi ra khỏi quyền lực của tà linh.

Bỗng nhiên, tôi cảm nhận rất rõ ràng một sự thúc giục trong tôi là tôi phải mở miệng ra để nói tiếng lạ. Lúc đó, tôi vẫn lập cà lập cập kêu cầu Chúa, vì quai hàm tôi bị tê cứng khó phát âm. Nhưng tôi cảm nhận rất rõ ràng là, nếu tôi để cho miệng tôi phát ra một tràng âm thanh lạ thì tôi sẽ phát thanh một cách thông suốt. Tôi lập tức ý thức là tà linh nói tiếng lạ đang xúi giục tôi nói tiếng lạ nên tôi chuyển lời cầu nguyện sang: “Lạy Chúa, xin đừng để chúng con nói thứ tiếng lạ không đến từ Chúa.” Và, trong danh của Đức Chúa Jesus Christ, tôi ra lệnh cho tà linh nói tiếng lạ phải ra khỏi chúng tôi, ra khỏi căn nhà của chúng tôi.

Lập tức, mọi áp lực tan biến, vợ chồng chúng tôi trở lại bình thường. Chúng tôi cảm tạ Chúa và nằm ngủ lại, bình an cho tới sáng.

Sáng hôm sau, vì cái mùi hôi thoang thoảng lạ lùng vẫn còn trong nhà, cho nên, chúng tôi gom tất cả các mền, và khăn trải giường đã đưa cho tám người nói tiếng lạ sử dụng, đem đi bỏ. Sau đó, thì mùi hôi biến mất, cảm giác có những bóng đen lãng vãng trong nhà cũng biến mất. Chúng tôi không bao giờ quên được mùi hôi đó. Nó giống như mùi tử khí trong nhà xác, tanh tanh và làm cho ớn lạnh, nổi da gà. Từ đó, chúng tôi càng vững tin: hiện tượng nói tiếng lạ và đặt tay té ngã là đến từ Sa-tan.

Trong danh của Đức Chúa Jesus Christ và bởi ơn ban cho từ Ngài, chúng tôi đã giúp cho nhiều người nhận thức được sự thật về hiện tượng nói tiếng lạ và đặt tay té ngã. Chúng tôi đã cầu nguyện hoặc hướng dẫn cho nhiều người cầu nguyện để trục xuất tà linh nói tiếng lạ ra khỏi thân thể của họ. Ngày nay, họ đã trở nên những người lớn mạnh trong Chúa và là những chứng nhân về sự Sa-tan giả mạo ân tứ nói ngoại ngữ của Đức Thánh Linh trong các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần.

Quý bạn đọc có thể xem thêm các video clips sau đây trên Youtube:

Tôi cầu xin Đức Chúa Trời sẽ dùng cuốn sách nhỏ này, và những lời chứng trong các video clips nói trên đem lẽ thật của Lời Chúa đến cho những người đang bị tà linh nói tiếng lạ kiềm chế, để họ được lẽ thật của Lời Chúa giải phóng họ ra khỏi sự lừa gạt của Sa-tan, và có được một đời sống sung mãn trong Đức Chúa Jesus Christ. A-men!

Huỳnh Christian Timothy
21.12.2012

 

Đọc Tiếp →

Sự Thật Hiển Nhiên về Christmas

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?4plxbd3up4t7up6

Nguyên Tác: “The Plain Truth About Christmas” by David J. Stewart
Chuyển Ngữ: Huỳnh Christian Timothy

Có phải Christmas thật sự kỷ niệm sinh nhật của Đức Chúa Jesus? Có phải Ngài đã được sinh ra vào ngày 25 tháng mười hai? Phao-lô, các sứ đồ, và Hội Thánh ban đầu của Tân Ước có kỷ niệm Christmas hay không? Bạn có biết Thánh Kinh nói gì về cây Christmas không?

Hãy dừng lại và suy nghĩ! Rất ít người biết tại sao chúng ta làm những điều mà chúng ta làm hoặc các thói tục của chúng ta đến từ đâu! Chúng ta lớn lên, thực hành chúng, đương nhiên tiếp nhận chúng, nhưng không bao giờ hỏi tại sao!

Một Lễ Hội của Ngoại Giáo Không Phải của Cơ-đốc Nhân

Chúng ta cho rằng Christmas là ngày lễ chính của các lễ hội Cơ-đốc. Chúng ta không hề thắc mắc khi chúng ta giả định sự giữ nó phải là một trong các giáo lý chính và các mạng lệnh của Tân Ước. Chúng ta cho rằng Đức Chúa Jesus đã được sinh ra vào ngày 25 tháng mười hai, và rằng, Tân Ước đã biệt riêng ngày này như là ngày lễ chính của Cơ-đốc nhân. Chúng ta cho rằng, chúng ta trao đổi quà bởi vì các nhà thông thái đã tặng quà cho hài nhi Christ.

Nhưng, đừng cho rằng nữa, mà hãy nhìn vào lịch sử và Thánh Kinh để tìm hiểu các dữ kiện!

Chữ “Christmas” có nghĩa là “Mass of Christ” (có nghĩa là lễ tái diễn sự chết của Đấng Christ) hay là, về sau được rút ngắn thành, “Christ-Mass.” Chữ đó đến với chúng ta với ý nghĩa là một lễ tế (mass) của Công Giáo La-mã. Từ đâu mà họ có chữ đó? Từ sự kỷ niệm ngày 25 tháng mười hai như ngày sinh của mặt trời, tức thần mặt trời, bởi dân ngoại Đạo. Thật ra, nó là nghi thức cổ thờ phượng thần Ba-anh của ngoại giáo, mà Thánh Kinh lên án là sự đáng gớm ghiếc nhất trong tất cả các sự thờ lạy thần tượng.

Lễ ấy không hề được nói đến chút nào trong Tân Ước. Lễ ấy không hề được giữ bởi Phao-lô, các sứ đồ hay Hội Thánh chân thật lúc ban đầu.

Ý tưởng cho rằng Đức Chúa Jesus được sinh ra vào ngày 25 tháng 12, là một trong các chuyện huyển mà Sứ Đồ Phao-lô đã tiên tri rằng sẽ lừa gạt thế gian trong những ngày cuối cùng này (Ti-mô-thê 4:4).

Lẽ thật rõ ràng là, Christmas không phải là sinh nhật của Christ! Và lễ hội này, dầu được xem là quan trọng đối với nhiều người, nhưng nó không thuộc về Cơ-đốc nhân, nhưng thuộc về ngoại giáo – bắt nguồn từ Ba-by-lôn! Nhưng điều đó có gây ra sự khác biệt gì không? Có thể nào chúng ta cứ thản nhiên mà kỷ niệm nó? Không phải tinh thần của Christmas là điều tốt lành và đẹp đẻ, bất kể là nó đã được bắt đầu như thế nào hay sao? Chúng ta sẽ xem xét điều này!

Đức Chúa Jesus Không Được Sinh Ra vào Ngày 25 Tháng Mười Hai

Bây giờ, chúng ta hãy nhìn vào các chứng cớ đáng chú ý! Đức Chúa Jesus được sinh ra khi nào?

Đức Chúa Jesus không hề được sinh ra trong mùa đông. Khi hài nhi Christ được sinh ra “có mấy kẻ chăn chiên trú ngoài đồng, thức đêm canh giữ bầy chiên” (Lu-ca 2:8). Điều này không bao giờ có thể xảy ra tại xứ Palestin trong tháng mười hai. Những người chăn luôn đem các bầy của họ từ các triền núi và các đồng cỏ về và cho vào chuồng không trể hơn ngày 15 tháng mười, để bảo vệ chúng khỏi mùa mưa lạnh sẽ theo sau ngày đó. Hãy để ý là chính Thánh Kinh chứng minh trong Nhã Ca 2:11 và E-xơ-ra 10:9, 13 rằng, mùa đông là mùa mưa khiến cho những kẻ chăn không thể ở ngoài đồng trống vào ban đêm.

Sách Giải Kinh của Adam Clark, cuốn 5, chương 386 (và 370), cho biết: Theo phong tục cổ truyền của người Do-thái thời ấy, họ đưa chiên ra đồng và hoang mạc vào khoảng Lễ Vượt Qua (đầu mùa xuân), và mang chúng về lại nhà vào lúc bắt đầu cơn mưa đầu mùa.”

Tác giả nói tiếp: “trong suốt thời gian chúng ở bên ngoài, những người chăn canh giữ chúng ngày đêm. Khi… cơn mưa đầu mùa bắt đầu vào đầu tháng Marchesvan, là tháng tương đương với tháng mười và tháng mười một của chúng ta [bắt đầu vào giữa tháng mười], chúng ta thấy rằng, những con chiên được giữ ngoài trời ở miền quê trong suốt mùa hè. Và, bởi vì những người chăn chiên này chưa đem bầy của họ về lại nhà, chúng ta có thể lý luận cách giả định rằng, tháng mười chưa bắt đầu, và như vậy, dẫn đến việc Chúa của chúng ta không được sinh ra vào ngày 25 tháng mười hai, là lúc mà không có bầy chiên nào còn ở ngoài đồng. Ngài cũng không thể được sinh ra sau tháng chín, là tháng mà các bầy chiên vẫn còn ở ngoài đồng vào lúc ban đêm. Trên chính nền tảng này, câu chuyện Chúa giáng sinh vào tháng mười hai cần phải được loại bỏ. Sự cho các bầy chiên ăn vào ban đêm trên các đồng cỏ là một dữ kiện lịch sử…”

Bất cứ một bộ bách khoa từ điển nào hay một thẩm quyền nào khác, sẽ nói cho bạn biết rằng Đấng Christ không được sinh vào ngày 25 tháng mười hai. Bộ Công Giáo Bách Khoa Từ Điển nói rõ sự kiện này.

Sinh nhật chính xác của Đức Chúa Jesus là điều hoàn toàn không biết được như các nhà có thẩm quyền đã xác nhận – Tuy nhiên, nếu tôi có đủ chỗ trong cuốn sách nhỏ này, tôi có thể chỉ cho bạn những câu Thánh Kinh ít nhất cho thấy cách mạnh mẽ rằng, nó phải vào đầu mùa thu – có thể là tháng chín – khoảng chừng sáu tháng sau Lễ Vượt Qua.

Nếu Đức Chúa Trời muốn chúng ta giữ và kỷ niệm sinh nhật của Đấng Christ thì Ngài đã không dấu đi ngày chính xác ấy.

Các Bộ Bách Khoa Từ Điển Nói Gì?

Không hề có một chữ nào trong Tân Ước hoặc trong bất cứ nơi nào của Thánh Kinh bảo chúng ta phải kỷ niệm Christmas. Các Cơ-đốc nhân trong thế kỷ thứ nhất, dưới sự giảng dạy thần cảm của Phi-e-rơ và Phao-lô cùng các sứ đồ khác, không hề kỷ niệm nó. Thật lạ lùng, không hề có thẩm quyền Thánh Kinh nào cho sự giữ nó.

Thế thì, từ đâu mà chúng ta có “Christmas?” Vì nó đến với chúng ta qua Giáo Hội Công Giáo La-mã và không bởi thẩm quyền nào ngoài thẩm quyền của Giáo Hội Công Giáo La-mã, chúng ta hãy xem xét bộ Công Giáo Bách Khoa Từ Điển, phát hành bởi giáo hội. Dưới tựa đề “Christmas,” bạn sẽ tìm thấy:

“Christmas không thuộc về các lễ hội đầu tiên của Hội Thánh… Chứng cớ đầu tiên về lễ hội này là từ Ai-cập… Các thói tục ngoại giáo tập trung vào ngày đầu tháng Giêng dồn lại thành Christmas.” Và, khi đọc thêm, chúng ta sẽ tìm thấy lời xác nhận này: “… trong Thánh Kinh, chỉ có các tội nhân, chứ không phải các thánh đồ, kỷ niệm sinh nhật của họ.”

Bộ Britannica Bách Khoa Từ Điển chép: “Christmas (tức là: the Mass of Christ). Christmas không thuộc về các lễ hội đầu tiên của Hội Thánh…” Nó không được thiết lập bởi Đấng Christ hay các sứ đồ hay bởi thẩm quyền của Thánh Kinh – Nó được thu nhận sai này từ sự thờ phượng của ngoại giáo.

Bộ Americana Bách Khoa Từ Điển chép: “Christmas. Theo nhiều thẩm quyền, nó không hề được kỷ niệm trong các thế kỷ đầu của Hội Thánh Cơ-đốc, bởi vì, thói quen chung của các Cơ-đốc nhân là kỷ niệm sự chết của những người đáng nhớ hơn là kỷ niệm sự sinh ra của họ…” (“Tiệc Thánh” là lễ được thiết lập bởi thẩm quyền của Thánh Kinh, là sự nhớ đến sự chết của Đấng Christ.”)… một lễ hội đã được thiết lập vào thế kỷ thứ tư để ghinhớ sự kiện này [sự sinh ra của Đấng Christ]. Vào thế kỷ thứ năm, Giáo Hội Tây Phương ra lệnh nó phải được kỷ niệm đời đời vào ngày lễ cũ của dân La-mã mừng sinh nhật thần mặt trời, vì không ai biết chắc sinh nhật của Đấng Christ nhằm ngày nào.

Bằng Cách Nào Thói Tục Ngoại Giáo Này Đã Vào Trong Hội Thánh?

Hãy lưu ý rằng, Những thẩm quyền được xác nhận này đã cho thấy Christmas không hề được các Cơ-đốc nhân giữ trong hai hay ba trăm năm đầu – đó là một thời gian lâu dài hơn cả toàn chiều dài lịch sử lập quốc của Hoa Kỳ. Nó thâm nhập vào Giáo Hội Tây Phương, còn gọi là Giáo Hội La-mã, vào thế kỷ thứ tư. Mãi đến thế kỷ thứ năm thì Giáo Hội La-mã mới ra lệnh cho nó được kỷ niệm như một lễ hội chính thức của Cơ-đốc nhân!

Thế thì, thói tục này của dân ngoại đã len vào cái gọi là Cơ-đốc Giáo như thế nào?

Bộ Schaff-Herzog Bách Khoa Từ Điển giải thích cách rõ ràng trong tiết mục về “Christmas:” “Ngày của lễ hội tùy thuộc vào ngày Brumalia của ngoại giáo (25 tháng 12) theo sau ngày Saturnalia (17-24 tháng 12) và sự kỷ niệm ngày ngắn nhất trong năm cùng với 'mặt trời mới' như thế nào… không thể xác định. Các lễ hội Saturnalia và Brumalia của ngoại giáo đã quá chìm sâu trong các thói tục phổ thông để mà có thể bị dẹp bỏ bởi sự ảnh hưởng của Cơ-đốc nhân… Lễ hội của ngoại giáo cùng với sự náo loạn và vui chơi của nó đã quá phổ thông đến nỗi các Cơ-đốc nhân vui mà viện cớ để tiếp tục sự kỷ niệm nó với một chút thay đổi trong tinh thần và hình thức. Các nhà truyền giảng Cơ-đốc của Phương Tây và Cận Đông phản đối, chống lại sự phù phiếm không chính đáng mà sinh nhật của Đấng Christ đã được kỷ niệm với, trong khi đó, các Cơ-đốc nhân ở Mesopotamia thì lên án anh em của họ ở Phương Tây về tội thờ lạy thần tượng và mặt trời, vì là Cơ-đốc nhân mà đã tiếp nhận lễ hội này của ngoại giáo.”

Hãy nhớ rằng, thế giới La-mã thuộc về ngoại giáo. Trước thế kỷ thứ tư, Cơ-đốc nhân chỉ là số ít, dầu có gia tăng, và bị bách hại bởi chính quyền và những người ngoại giáo. Nhưng, khi Constanrine trở thành hoàng đế, xưng mình theo Cơ-đốc Giáo, vào thế kỷ thứ tư, đặt Cơ-đốc Giáo ngang hàng với ngoại giáo, hàng trăm ngàn dân chúng trong thế giới La-mã bắt đầu tiếp nhận Cơ-đốc Giáo đang thịnh hành.

Nhưng cũng hãy nhớ rằng, những người này đã lớn lên trong các thói tục ngoại giáo, mà đứng đầu là lễ hội thờ lạy thần tượng vào ngày 25 tháng 12. Đó là một lễ hội vui chơi với tinh thần đặc biệt của nó. Họ vui hưởng nó! Họ không muốn bỏ nó! Cũng trong cùng một chủ đề, bộ Schaff-Herzog Bách Khoa Từ Điển giải thích rằng: chủ nhật, vốn là ngày dân ngoại giáo thờ lạy mặt trời, đã được Constantine công nhận như thế nào, và sự ảnh hưởng của Manichaeism ngoại giáo khiến cho Con của Đức Chúa Trời đã bị đồng hóa với chính mặt trời vật chất như thế nào, khiến cho những dân ngoại giáo của thế kỷ thứ tư, cùng gia nhập tập thể vào Cơ-đốc Giáo, có được lý do để gọi ngày lễ hội ngoại giáo của họ 25 tháng 12 (sinh nhật của thần mặt trời) là sinh nhật của Con Đức Chúa Trời.

Và đó là cách thức mà “Christmas” đã đi vào trong cái gọi là Cơ-đốc Giáo của chúng ta! Chúng ta có thể gọi nó bằng một tên khác, nhưng nó vẫn là lễ hội cũ của ngoại giáo thờ lạy mặt trời! Điều duy nhất thay đổi là cách mà chúng ta gọi nó. Bạn có thể gọi một con thỏ là một con “sư tử,” nhưngnó vẫn là con thỏ, y nguyên.

Một lần nữa, từ bộ Britannica Bách Khoa Từ Điển: “Có lẽ những người La-tinh, vào khoảng năm 354, đã chuyển sinh nhật 6 tháng Giêng sang 25 tháng 12, lúc ấy là lễ hội Mithraic… hay sinh nhật của mặt trời bất khuất… Dân Syrians và Armenians, những người bám vào ngày 6 tháng Giêng, lên án dân La-mã về tội thờ mặt trời thờ lạy thần tượng, cho rằng, lễ hội 25 tháng 12 do các môn đồ của Cerinthus lập ra…”

Nguồn Gốc Thật của Christmas

Nhưng nếu chúng ta nhận Christmas từ Công Giáo La-mã, và họ nhận nó từ ngoại giáo, thì ngoại giáo nhận nó từ đâu? Ở đâu, khi nào, và cái gì là nguồn gốc thật của nó?

Nó là thói tục đứng đầu của một hệ thống hủ bại dưới tên Ba-by-lôn, bị lên án trong suốt các lời tiên tri và các giáo lý của Thánh Kinh. Nó bắt đầu và có nguồn gốc từ Ba-by-lôn nguyên thỉ của Nim-rốt thời cổ. Vâng, nó phát sinh từ gốc rể của kẻ xuất hiện không bao lâu sau Cơn Nước Lụt.

Nim-rốt là cháu của Cham, Cham là con của Nô-ê. Nim-rốt là người thật sự xây dựng hệ thống Ba-by-lôn nắm bắt cả thế gian kể từ thời bấy giờ – một hệ thống ganh đua có tổ chức – của các chính quyền và đế quốc do loài người cai trị, dựa trên hệ thống kinh tế cạnh tranh và thủ lợi. Nim-rốt xây dựng tháp Ba-bên, là Ba-by-lôn nguyên thỉ, cổ thành Ni-ni-ve, và nhiều thành phố khác. Ông tổ chức vương quốc đầu tiên của thế giới. Tên Nim-rốt trong tiếng Hê-bơ-rơ ra từ chữ “Marad,” và có nghĩa là “kẻ phản nghịch” (Sáng Thế Ký 10:6, 8-12).

Từ các bản thảo xa xưa, có nhiều điểm giúp cho chúng ta biết về Nim-rốt, người khởi đầu một tổ chức của thế gian, bội bạc Thiên Chúa và thống trị thế giới cho tới ngày nay. Nim-rốt rất là gian ác, ông ta đã kết hôn với chính mẹ mình, bà tên là Semiramis. Sau cái chết bất kỳ của Nim-rốt, thì Semiramis, người được gọi là vợ-và-mẹ của Nim-rốt rao truyền tà giáo về sự Nim-rốt vẫn còn sống như là một thần linh. Bà ta xưng rằng, một cây thông đã nảy sinh ra từ một gốc cây chết, qua một đêm, đã trở thành cao lớn, tiêu biểu cho sự nảy sinh từ sự chết vào trong một đời sống mới của Nim-rốt. Bà xưng rằng, hàng năm, vào sinh nhật của Nim-rốt, ông sẽ viếng thăm cây thông và lưu các món quà lại trên cây. Ngày 25 tháng 12 là sinh nhật của Nim-rốt. Đây là nguồn gốc thật của cây Christmas (còn gọi là cây Nô-en).

Qua mưu kế và sắp xếp của mình, Semiramis đã trở thành “Nữ Vương Trên Trời” của Ba-by-lôn, và Nim-rốt, dưới nhiều tên khác nhau, đã trở thành “con thánh của Trời.” Trải qua nhiều thế hệ, trong sự thờ lạy tà thần này, Nim-rốt cũng trở thành Đấng Mê-si-a giả, con của thần mặt trời Ba-anh. Trong hệ thống Ba-by-lôn giả dối này, “Mẹ và Con,” (Semiramis và Nim-rốt được phục sinh), trở thành đối tượng được thờ phượng. Sự thờ phượng “Mẹ và Con” này lan truyền khắp thế gian. Tên gọi của nó đổi khác theo từng ngôn ngữ ở mỗi quốc gia. Tại Ai-cập, nó là “Iris và Osiris.” Tại Á-châu, nó là Cybele và Deoius.” Tại ngoại giáo La-mã, nó là “Fortuna và Jupiterpuer.” Ngay cả tại Hy-lạp, Trung Quốc (“Quan Âm và Na-tra”), Nhật Bản, và Tibet, các hình thức tương tự Madonna (bà Ma-ri) cũng được tìm thấy từ lâu đời, trước khi Đấng Christ giáng sinh.

Như vậy, trong thế kỷ thứ tư và thứ năm, khi hàng trăm ngàn dân ngoại giáo của thế giới La-mã bắt đầu “tiếp nhận” một Cơ-đốc Giáo mới được thịnh hành, thì họ đã mang theo các thói tục và niềm tin ngoại giáo cũ của họ, mà chỉ cần khoác cho nó những cái tên có tính Cơ-đốc. Các ý tưởng “Madonna” và “Mẹ và Hài Nhi” cũng trở nên thịnh hành, đặc biệt là vào thời điểm Christmas. Mỗi mùa Christmas bạn sẽ nghe hát và tụng hàng chục lần bài thánh ca “Đêm Yên Lặng, Đêm Thánh” với chủ đề quen thuộc “Mẹ và Hài Nhi.” Chúng ta, những người được sinh ra trong thế giới Ba-by-lôn như vậy, được nuôi dưỡng và nhúng chìm trong những điều này suốt cả đời sống của chúng ta, được dạy rằng phải tôn những điều ấy là thánh và xem chúng là thiêng liêng. Chúng ta không bao giờ thắc mắc để tìm hiểu xem chúng đến từ đâu – Có phải chúng đến từ Thánh Kinh hay chúng đến từ sự thờ lạy thần tượng của ngoại giáo?

Chúng ta bị sững sốt khi học biết được lẽ thật – buồn thay, một số người chống nghịch lại lẽ thật rõ ràng! Nhưng Thiên Chúa truyền cho các tôi tớ trung tín của Ngài, Hãy kêu to lên, đừng dứt; hãy cất tiếng lên như cái loa; rao bảo tội lỗi dân ta cho nó…”(Ê-sai 58:1). Dầu những dữ kiện này gây sững sốt nhưng chúng là những dữ kiện rõ ràng của lịch sử và Thánh Kinh.

Nguồn gốc thật của Christmas đi ngược về Ba-by-lôn thời cổ. Nó được gói gọn trong cái tổ chức bội Đạo mà Sa-tan đã dùng để kiềm chế thế gian bị lừa dối trong suốt bao nhiêu thế kỷ qua. Tại Ai-cập, người ta vẫn luôn tin rằng con của Iris (Tên trong tiếng Ai-cập của “Nữ Vương Trên Trời”) được sinh ra vào ngày 25 tháng 12. Dân ngoại giáo kỷ niệm sinh nhật danh tiếng này trong hầu hết thế giới biết được suốt hàng nhiều thế kỷ trước khi Đấng Christ giáng sinh.

Ngày 25 tháng 12 không phải là sinh nhật của Đức Chúa Jesus, Đấng Christ thật! Các sứ đồ và Hội Thánh ban đầu không hề kỷ niệm sinh nhật của Đấng Christ bao giờ. Không có một mạng lệnh hay chỉ thị nào trong Thánh Kinh bảo phải kỷ niệm nó – ngược lại, tin hay không thì sự kỷ niệm sinh nhật là của những người không tin Chúa, không phải là phong tục của Cơ-đốc nhân.

Không một chỗ nào trong Thánh Kinh dạy chúng ta thờ phượng “Mẹ và Hài Nhi.” Các sứ đồ và các Cơ-đốc nhân chân thật buổi ban đầu không hề làm điều đó. Thánh Kinh cho thấy, một thiên sứ báo với Ma-ri: “Hỡi người được ơn, mừng cho ngươi; Chúa ở cùng ngươi.” Ê-li-sa-bét nói với Ma-ri: “Ngươi có phước trong đám đàn bà, thai trong lòng ngươi cũng được phước,” và Ma-ri đáp lời: “Nầy, từ rày về sau, muôn đời sẽ khen tôi là có phước” (Lu-ca 1:28, 42, 48).

Ma-ri được Thiên Chúa ban phước nhiều và điều này được công nhận bởi mọi thế hệ kể từ ngày ấy – nhưng điều này không có nghĩa là bà phải được thần hóa, được thờ phượng, được làm cho thành một thần linh khi bà chỉ là một con người. Sự thờ phượng bà Ma-ri một cách rộng khắp như là “Mẹ Thiên Chúa,” giáo lý dạy rằng bà Ma-ri là vô nhiễm nguyên tội, xem bà như một Đấng Trung Bảo giữa loài người và Đức Chúa Trời chính là sự tiếp diễn của sự thờ lạy thần tượng từ người Ba-by-lôn thời cổ, bắt đầu bởi sự lường gạt xảo trá của Semiramis, vợ của Nim-rốt! Nó được ràng buộc chằng chịt với ý tưởng “Christmas.”

Như vậy, sự thờ lạy thần tượng thời cổ “Huyền Nhiệm của Người Canh-đê” được thành lập bởi vợ của Nim-rốt, được lưu truyền qua các tín ngưỡng ngoại giáo vào trong Giáo Hội Công Giáo dưới những cái tên mới mang tính Cơ-đốc, và từ đó, vào trong các giáo phái Tin Lành, rồi đến với tất cả chúng ta ngày nay.

Nguồn Gốc của Vòng Lá Thánh (Holly Wreath), Cây Tầm Gửi (Mistletoe), và Khúc Củi (Yule Log)

Từ đâu mà chúng ta có thói tục làm vòng cây chùm gửi (mistletoe) này? Trong thế giới của các dân ngoại giáo thời cổ thì cây chùm gửi được dùng trong ngày lễ hội đông chí, bởi vì, nó được xem là thiêng liêng đối với mặt trời, được cho là có năng lực chữa lành cách lạ lùng. Thói tục hôn nhau dưới cây chùm gửi của ngoại giáo là bước khởi đầu cho một đêm vui chơi và say sưa dâm dật – kỷ niệm sự chết của “mặt trời cũ” và sự sinh ra của mặt trời mới vào ngày đông chí (ngày ngắn nhất trong năm). Cây chùm gửi, thiêng liêng trong các lễ hội ngoại giáo, là một loại ký sinh (ăn bám, sống bám)!

Những trái dâu thánh cũng được xem là thiêng liêng đối với thần mặt trời. Khúc củi “Yule” thật ra, chính là “khúc củi mặt trời.” “Yule” có nghĩa là “vòng khung,” một biểu tượng của ngoại giáo dành cho mặt trời. Thế nhưng, những người xưng mình là Cơ-đốc nhân ngày nay lại nói đến “Mùa Yule thiêng liêng!”

Ngay cả việc đốt lửa và thắp nến như là một nghi thức của Cơ-đốc Giáo cũng chỉ là một sự kế tục của thói tục ngoại giáo để khích lệ thần mặt trời xế tàn khi nó xuống đến điểm thấp nhất trên vùng trời phương nam.

Bộ Americana Bách Khoa Từ Điển cho biết: “Vòng thánh, cây chùm gửi, khúc củi Yule… là những giáo tích của thời tiền Cơ-đốc.” Cuốn sách “Ngoại Giáo,” Trả Lời Các Câu Hỏi, được biên soạn bởi Frederick J. Haskins, có thể tìm thấy trong các thư viện công cộng, cho biết: “Sự sử dụng các vòng Christmas được các nhà có thẩm quyền tin rằng, có thể truy ngược về các thói tục trang trí nhà cửa và những nơi thờ phượng của ngoại giáo vào lúc lễ hội được diễn ra cùng một thời điểm với Christmas. Cây Christmas đến từ Ai-cập, và nguồn gốc của nó được tính ra là một thời điểm rất lâu dài trước thời đại Cơ-đốc.

Ngay Cả Ông Già Nô-en (Santa Claus)

Nhưng phải chăng, Ông Già Nô-en (Santa Claus) thân thương không phải là một sản phẩm của ngoại giáo? Ông ta chính là sản phẩm của ngoại giáo và tính chất thật của ông ta không nhân ái và thánh thiện như nhiều người nghĩ.

Cái tên “Santa Claus” là một cái tên đã bị biến thể từ tên “Thánh Nicholas,” một giám mục Công Giáo La-mã sống vào thế kỷ thứ năm. Xem trong bộ Britannica Bách Khoa Từ Điển, cuốn 19, trang 648-649, ấn bản thứ 11, bạn sẽ đọc thấy: “Thánh Nicholas, giám mục thành Myra… là một vị thánh được tôn kính bởi người Hy-lạp và La-tinh vào ngày 6 tháng 12… Có một huyền thoại về sự ông kín đáo tặng của hồi môn cho ba cô con gái của một người dân nghèo… được cho rằng làm phát sinh phong tục cổ về việc tặng quà cách bí mật vào đêm kỷ niệm Thánh Nicholas [6 tháng 12], rồi sau đó được chuyển sang ngày Christmas. Đó là sự liên kết giữa Christmas với Ông Già Nô-en (Santa Claus).

Trong suốt năm, các bậc cha mẹ trừng phạt con cái mình về tội nói dối. Thế rồi, vào thời điểm Christmas, chính họ lại nói dối với con cái của họ về Ông Già Nô-en. Điều đáng suy nghĩ là, có khi nào nhiều đứa trẻ lúc lớn lên, biết được sự thật thì cũng bắt đầu nghi ngờ Đức Chúa Trời cũng là một huyền thoại?

Có một em bé bị vỡ mộng về Ông Già Nô-en đã nói với bạn mình rằng: “Vậy, mình cũng sẽ xem xét lại câu chuyện về Đức Chúa Jesus Christ.” Có phải chính các Cơ-đốc nhân đã dạy cho trẻ em về những huyền thoại và những sự dối trá? Đức Chúa Trời phán: “Các ngươi chớ làm chứng dối!” Có lẽ theo lý luận loài người thì việc đó không sao, có thể làm được, nhưng Đức Chúa Trời phán “Có một con đường, xem dường chánh đáng cho loài người; nhưng cuối cùng, nó thành ra những nẻo của sự chết! “Ông Già Nick” (Old Nick) cũng là một tên của Ma Quỷ. Có sự liên kết nào chăng? Sa-tan giả làm “thiên sứ sáng láng” để lường gạt (II Cô-rinh-tô 11:4 và Khải Huyền 12:9).

Và khi chúng ta xem xét các dữ kiện, chúng ta ngạc nhiên biết rằng, rốt cuộc, sự thực hành kỷ niệm Christmas không phải là một sự thực hành chân thật của Cơ-đốc nhân nhưng là một thói tục ngoại giáo – một trong những nẻo của Ba-by-lôn mà chúng ta đã rơi vào.

Thánh Kinh nói gì về cây Christmas?

Nhưng nếu Thánh Kinh im lặng về việc dạy chúng ta kỷ niệm Christmas hoặc ghi lại sự kỷ niệm nó bởi các sứ đồ của Hội Thánh thật lúc ban đầu, thì Thánh Kinh có nói đến cây Christmas.

Điều này sẽ khiến cho nhiều người ngạc nhiên nhưng đây là điều Thánh Kinh nói:

Giê-rê-mi 10:2-4 “Đức Giê-hô-va phán như vầy: Chớ tập theo tục của các dân ngoại, chớ sợ các dấu trên trời, mặc dầu dân ngoại nghi sợ các dấu ấy. Vì thói quen của các dân ấy chỉ là hư không. Người ta đốn cây trong rừng, tay thợ lấy búa mà đẽo; rồi lấy bạc vàng mà trang sức; dùng búa mà đóng đinh vào, đặng khỏi lung lay.”

Trên đây là lời mô tả chính xác cây Christmas, bị Đấng Hằng Hữu gọi là “tục của các dân ngoại.” Chúng ta được truyền lệnh là chớ tập hoặc theo các tục ấy. Trong phân đoạn này, nó được xem như là thần tượng. Câu thứ năm cho thấy những cây này không thể nói, không thể đi, phải được khiêng vác. “Đừng sợ các thần ấy, vì không có quyền làm họa hay làm phước.” Chúng chẳng phải là các thần để bị sợ. Nhiều người cho rằng phân đoạn Thánh Kinh này dạy rằng không có gì nguy hiểm trong việc dựng cây Christmas, nhưng đó không phải là điều Thánh Kinh dạy.

Việc Trao Đổi Quà Có Hợp Thánh Kinh Không?

Nhưng khi đến phần quan trọng nhất trong tất cả các phần của sự kỷ niệm Christmas – mùa mua sắm Christmas – sự mua sắm và trao đổi quà – nhiều người sẽ kêu lên cách đắc thắng rằng: “Ít ra thì Thánh Kinh cũng dạy chúng ta làm như vậy. Không phải những nhà thông thái đã tặng quà khi Chúa giáng sinh đó sao?”

Một lần nữa, chúng ta lại sẽ ngạc nhiên khi chúng ta biết được lẽ thật hiển nhiên. Trước hết, chúng ta hãy xem lại lịch sử nguồn gốc của việc trao đổi quà, rồi chúng ta sẽ xem Thánh Kinh nói gì về việc đó.

Từ bộ Bibliotheca Sacra, cuốn 12, trang 153-155, chúng ta đọc được: “Sự trao đổi quà giữa bạn bè là đặc tính giống nhau giữa Christmas và Saturnalia, và đã được tiếp nhận bởi các Cơ-đốc nhân từ những dân ngoại giáo, theo sự cáo trách mà Tertullian đã tỏ ra cách rõ ràng.”

Sự thực là, thói quen trao đổi quà giữa bạn bè và bà con vào mùa Christmas không hề có một chút dấu tích nào về nó trong Cơ-đốc Giáo. Dầu có vẻ lạ lùng nhưng thói tục này không kỷ niệm sinh nhật của Đấng Christ mà cũng không tôn kính ngày ấy hay tôn kính Chúa. Giả sử như vào dịp sinh nhật của một người thân yêu của bạn. Bạn muốn tôn trọng sinh nhật của người ấy. Có khi nào bạn tốn kém tiền bạc mua sắm quà cho tất cả những người khác, trao đổi quà qua lại với tất cả các bạn bè và người thân khác của bạn, nhưng hoàn toàn quên lãng tặng quà cho chính người có sinh nhật mà bạn đang tôn trọng? Ngược lại, điều đó thật là lố bịch khi được xem xét như vậy, có phải không?

Nhưng đó chính xác là điều mà người ta đang làm khắp nơi trên thế giới. Họ tôn trọng một ngày không phải là sinh nhật của Đấng Christ, bằng cách tiêu phí hết từng xu mà họ dành dụm được để mua các món quà trao đổi qua lại giữa bạn bè và bà con. Tôi có thể nói theo kinh nghiệm nhiều năm của mình, như tôi tin rằng hầu hết các người chăn và người hầu việc Chúa có thể nói, rằng khi tháng 12 đến gần, hầu như tất cả những người xưng mình là Cơ-đốc nhân cùng nhau quên lãng việc tặng quà cho Đấng Christ và mục vụ của Ngài.

Bây giờ, hãy xem Thánh Kinh nói gì về việc tặng quà khi Đấng Christ giáng sinh. Ma-thi-ơ 2:1-11 chép: “Khi Đức Chúa Jesus đã sanh tại thành Bết-lê-hem, xứ Giu-đê, đang đời vua Hê-rốt, có mấy thầy bác sĩ ở đông phương đến thành Giê-ru-sa-lem, mà hỏi rằng: Vua dân Giu-đa mới sanh tại đâu? Vì chúng ta đã thấy ngôi sao Ngài bên đông phương, nên đến đặng thờ lạy Ngài… Khi vào đến nhà, thấy con trẻ cùng Ma-ri, mẹ Ngài, thì sấp mình xuống mà thờ lạy Ngài; rồi bày của báu ra, dâng cho Ngài những lễ vật, là vàng, nhũ hương, và một dược.”

Tại Sao Quà Được Tặng Đấng Christ?

Chúng ta chú ý đến điều này: Họ hỏi thăm về hài nhi Jesus, Đấng được sinh ra để làm vua của dân Giu-đa. Tại sao họ tặng quà Ngài? Có phải bởi vì đó là sinh nhật của Ngài? Không hề như vậy, bởi vì khi họ tìm đến nơi thì đã là nhiều ngày hay nhiều tuần sau khi Ngài được sinh ra. Sự kiện đó có là tấm gương để chúng ta noi theo mà trao đổi quà với nhau? Không! Hãy để ý kỷ: họ không trao đổi quà lẫn nhau nhưng họ “dâng cho Ngài!” Họ dâng quà của họ cho Đấng Christ chứ không phải cho bạn bè, thân thuộc hay cho lẫn nhau.

Tại sao?Tôi xin trích từ bộ giải kinh của Adam Clarke, cuốn 5, trang 46: “Câu 11. (Họ dâng quà lên Ngài). Dân đông phương không bao giờ đến gần các vua hay các bậc quyền quý mà không có quà trong tay của mình. Phong tục này thường được ghi nhận trong Cựu Ước và vẫn tồn tại ở đông phương, và trong một vài hải đảo mới được khám phá tại Nam Dương.

Sự việc là như vậy. Họ không thiết lập một phong tục Cơ-đốc mới về việc trao đổi quà để tôn vinh sinh nhật của Đấng Christ. Họ chỉ theo phong tục cũ từ thời cổ của đông phương trong việc tặng quà cho một vì vua Khi họ đến ra mắt Ngài. Họ đang ra mắt Ngài, Đấng được sinh ra để làm vua của dân Giu-đa. Vì vậy, phong tục khiến họ phải tặng quà – như khi khi Nữ Vương nước Sheba ra mắt Vua Sa-lô-môn – như nhiều người ngày nay mang quà theo khi họ viếng thăm tòa Bạch Ốc để gặp tổng thống.

Không, thói tục trao đổi quà qua lại không hề phát xuất từ sự kiện này trong Thánh Kinh, ngược lại, như đã trích từ lịch sử trên đây, nó là sự tiếp nối của một thói tục ngoại giáo. Thay vì tôn kính Đấng Christ, nó luôn luôn làm cho cản trở công việc của Ngài, thường làm cho chậm trể, vào mùa Christmas mỗi năm.

Chúng Ta Đang ở Trong Ba-by-lôn Mà Không Biết!

Christmas đã trở thành một mùa thương mãi. Những kẻ bảo trợ nó, giữ cho nó sống còn bằng những chiến dịch quảng cáo bán hàng tưng bừng nhất trong năm. Bạn sẽ thấy những hóa trang “Ông Già Nô-en” trong nhiều cửa tiệm. Các quảng cáo giữ cho chúng ta bị dẫn dắt sai lạc và bị lường gạt về “sự đẹp đẻ của tinh thần Christmas.” Các báo chí, đăng các quảng cáo, in những ấn bản sặc sở đề cao và tán tụng mùa ngoại giáo và “tinh thần” của nó. Những kẻ khờ dại đã bị tiêm nhiễm quá nặng, đến nỗi chống đối kịch liệt khi được nghe nói về lẽ thật. Nhưng “tinh thần Christmas” được tạo ra mỗi năm không phải để tôn kính Đấng Christ, mà để bán hàng hóa. Giống như tất cả các sự lường gạt của Sa-tan, nó hiện ra như “thiên sứ sáng láng,” nó được làm cho thể hiện như tốt lành. Hàng tỷ đô-la đã bị tốn phí trong cơn dịch mua sắm hàng năm, trong khi mục vụ của Đấng Christ phải chịu tổn thất. Nó chính là một phần trong hệ thống kinh tế của Ba-by-lôn.

Chúng ta là tuyển dân của Đức Chúa Trời. Nhưng chúng ta đang ở trong Ba-by-lôn, như Thánh Kinh đã tiên tri, mà chúng ta không biết. Hãy ra khỏi nó, hỡi dân ta, để các ngươi không dự phần trong tội lỗi của nó, và các ngươi sẽ không cùng chịu sự đoán phạt của nó – sẽ đến cách nhanh chóng – là tiếng cảnh báo của Khải Huyền 18:4.

Nguyên Tác: “The Plain Truth About Christmas” by David J. Stewart
Chuyển Ngữ: Huỳnh Christian Timothy
12.12.2012

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry.
Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

 

Đọc Tiếp →

Nguồn Gốc và Tín Lý Các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?u2ld9mi6cmzf976

Huỳnh Christian Timothy

Dẫn Nhập

Kể từ thập niên 1960 cho đến nay, một phong trào phát sinh từ trong các Giáo Hội Tin Lành và Công Giáo được gọi là "Phong Trào Ân Tứ," đã trở nên lớn mạnh và xâm nhập sâu rộng vào trong Hội Thánh của Chúa ở khắp nơi. Phong Trào Ân Tứ (Charismatic Movement – 1906) thoát thai từ Phong Trào Ngũ Tuần (Pentecostal Movement – 1901). Theo thống kê vào năm 2003, số người thuộc hai phong trào này lên đến khoảng 700 triệu, nghĩa là chiếm khoảng 33% tổng số những người xưng nhận có đức tin trong Đấng Christ (Christians – bao gồm Chính Thống Giáo, Công Giáo, Anh Giáo, và Tin Lành Giáo) trên toàn thế giới. Các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần mang lại nhiều tranh luận cũng như phân rẽ trong Hội Thánh. Nhiều giáo phái lớn trong các Giáo Hội Tin Lành và Công Giáo đã thành lập những ban nghiên cứu. Ngay cả, người ngoại đạo cũng thành lập các ban nghiên cứu về hiệu ứng tâm lý trong sự kiện chữa bệnh và nói tiếng lạ của các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần.

Nếu nhìn một cách khách quan thì có thể nói Ân Tứ với Ngũ Tuần chỉ là một. Ngũ Tuần như là gốc và thân chính của một cây với vài nhánh lớn, Ân Tứ như là những nhánh nhỏ phát sinh từ những nhánh lớn của Ngũ Tuần. Những hoa, lá, cành nhiều khi che lấp cả thân cây, vì thế, ngày nay thế giới biết nhiều đến Ân Tứ hơn là Ngũ Tuần.

Dấu hiệu đặc trưng của Phong Trào Ân Tứ là sự "đặt tay té ngã" và "nói tiếng lạ." Người Ân Tứ tin rằng, khi một người nhận được báp-tem bằng Thánh Linh thì phải biết "nói tiếng lạ" và khi một người được đầy dẫy Thánh Linh thì bị té ngã mà họ gọi là "bị giết trong Thánh Linh" (slain in the Spirit). Hiện tượng "té ngã" khi được đầy dẫy Thánh Linh là điều không hề được ghi lại trong Thánh Kinh. Tiếng lạ mà những người Ân Tứ và Ngũ Tuần nói không phải là ngôn ngữ có người hiểu được, như Thánh Kinh đã ghi lại trong Công Vụ Các Sứ Đồ chương hai, mà là một thứ âm thanh không có cấu trúc của ngôn ngữ và cũng không có ai hiểu.

Từ ngữ "nói các thứ tiếng khác" trong Công Vụ Các Sứ Đồ 2:4 được dịch sang tiếng Anh là “speak in other tongues.” Trong nguyên tác tiếng Hy-lạp (Greek) của Thánh Kinh là:

  • λαλειν, G2980, phiên âm quốc tế /laleō/, phiên âm tiếng Việt [la-lé-ồ], có nghĩa là: phát âm, nói.
  • ετεραις, G2087, phiên âm quốc tế /heteros/, phiên âm tiếng Việt [hé-tơ-ro-s], có nghĩa là: khác.
  • γλωσσαις,G1100, phiên âm quốc tế /glōssa/, phiên âm tiếng Việt [g-lố-xà], có nghĩa là: các ngôn ngữ.

Thánh Kinh không bao giờ nói đến một thứ “tiếng lạ.” Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống đã dịch không chuẩn khi dịch γλωσσαις(các ngôn ngữ) thành “tiếng lạ.”

Lược sử các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần

Các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần dấy lên trong lịch sử của Hội Thánh kể từ ngày đầu tiên của thế kỷ 20 và kéo dài cho đến nay đã tạo ra nhiều ảnh hưởng sâu đậm cả bên trong lẫn bên ngoài Hội Thánh. Sự tìm hiểu về các phong trào này thường khiến cho người ta đối diện với hai vấn đề:

1. Lẫn lộn giữa Phong Trào Ân Tứ và Phong Trào Ngũ Tuần.

2. Lẫn lộn giữa Phong Trào Ân Tứ, Phong Trào Ngũ Tuần, và các giáo phái Tin Lành truyền thống.

Để giảm thiểu những khó khăn dẫn đến sự rối trí trong khi theo dõi bài này, độc giả cần ghi nhớ các điểm quan trọng sau đây:

  • Danh từ Phong Trào Ngũ Tuần được dùng để gọi sự kiện "nói tiếng lạ" xuất hiện trong một cộng đồng Cơ-đốc nhân thuộc Giáo Hội Tin Lành, làm phát sinh ra một giáo phái mới trong Giáo Hội Tin Lành gọi là Giáo Phái Ngũ Tuần. Giáo Phái Ngũ Tuần theo thời gian phân nhánh ra thành nhiều tiểu giáo phái. Có thể ví Phong Trào Ngũ Tuần như một trong những cây con nảy ra từ gốc của cây mẹ (Giáo Hội Tin Lành), sau đó, từ gốc của cây con đó lại nảy ra nhiều cây con khác nữa.
  • Danh từ Phong Trào Ân Tứ được dùng để gọi sự kiện “đặt tay té ngã” và "nói tiếng lạ" xuất hiện trong tất cả các giáo hội và giáo phái của Cơ-đốc Giáo. Phong trào này thoạt đầu không tách rời khỏi các giáo phái như Phong Trào Ngũ Tuần, nhưng khi đã phát triển mạnh mẽ thì tự hình thành các giáo phái. Phong Trào Ân Tứ ví như những trái cây phát sinh ra trên khắp các nhánh của một thân cây (Cơ-đốc Giáo, bao gồm các giáo hội Chính Thống Giáo, Anh Giáo, Công Giáo, Tin Lành…) khi chín mùi thì rụng xuống và mọc lên thành những cây mới.
  • Danh từ Phong Trào Dấu Lạ được dùng để gọi sự kiện những dấu kỳ, phép lạ xuất hiện trong tất cả các giáo hội và giáo phái của Cơ-đốc Giáo mà không nhất thiết phải có hiện tượng “té ngã” và “nói tiếng lạ” kèm theo. Trên một phương diện, Phong Trào Dấu Lạ cũng chính là một Phong Trào Ân Tứ nhưng không chủ trương đề cao việc “đặt tay té ngã” và “nói tiếng lạ” cho bằng việc đề cao dấu kỳ, phép lạ xuất hiện trong khi giảng đạo.
  • Danh từ "trường phái" nói đến những khuynh hướng khác nhau trong cùng một phong trào. Thí dụ: Phong Trào Ngũ Tuần có mẫu số chung là "nói tiếng lạ" và tin rằng hiện tượng "nói tiếng lạ" là dấu hiệu của một người được báp-tem bằng Thánh Linh. Tuy nhiên, có ba khuynh hướng khác nhau về ý nghĩa của hiện tượng "nói tiếng lạ," khiến cho phân chia thành ba trường phái khác nhau. Có thể nói, phong trào là gốc cây chính, trường phái là các cây khác nảy ra từ gốc cây chính.
  • Danh từ "làn sóng" do Phong Trào Dấu Lạ đặt ra để tự phân biệt với các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần. Theo họ, từ đầu thế kỷ 20 đến nay, Đức Thánh Linh đã ba lần phục hưng Hội Thánh mà họ gọi là "những làn sóng phục hưng" (the revival waves). Họ xem Phong Trào Ngũ Tuần là làn sóng thứ nhất, Phong Trào Ân Tứ là làn sóng thứ hai, và họ là làn sóng thứ ba.

Nhìn theo quan điểm của những người Ân Tứ và Ngũ Tuần Tin Lành thì Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần được phân biệt như sau:

1. Làn sóng thứ nhất:Phong Trào Ngũ Tuần (The Pentecostal Movement) khởi động bởi Charles Fox Parham tại Topeka, Kansas, USA vào năm 1901 và phát triển bởi William Joseph Seymour tại Los Angeles, California, USA vào năm 1906.

2. Làn sóng thứ nhì:Phong Trào Ân Tứ (The Charismatic Movement) còn được gọi là Phong Trào Ân Tứ Phục Hưng (Charismatic Renewal Movement) khởi động bởi Dennis Bennett tại Van Nuys, California, USA vào năm 1960.

3. Làn sóng thứ ba:Phong Trào Dấu Lạ (The Signs and Wonders Movement) khởi động bởi John Wimber từ Trường Thần Học Fuller (Fuller Theological Seminary) tại Pasadena, California, USA vào năm 1981.

Nhìn khách quan về lịch sử của Cơ-đốc Giáo thì Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần phải được chia ra làm bốn làn sóng, bao gồm Phong Trào Công Giáo Ân Tứ Phục Hưng (The Catholic Charismatic Renewal Movement) khởi động giữa các sinh viên và nhân sự của Trường Đại Học DuQuesne tại Pittsburgh, Pennsylvania, USA vào năm 1967.

Phong Trào Ngũ Tuần (The Pentecostal Movement)

Còn được gọi là Phong Trào Ngũ Tuần Cổ Điển (The Classical Pentecostal Movement). Ngũ Tuần (Pentecostalism) phát xuất từ Giáo Hội Tin Lành như một phong trào nhấn mạnh đến kinh nghiệm cá nhân của một người với Đức Chúa Trời thông qua cái gọi là "báp-tem bằng Thánh Linh" (the baptism of the Holy Spirit). Có ba trường phái Ngũ Tuần chính:

Trường phái thứ nhất chiếm đa số, có tín lý tương tự như các giáo phái trong Giáo Hội Tin Lành, như tín lý về Thiên Chúa Ba Ngôi, tín lý về sự cứu rỗi, tín lý về thẩm quyền của Thánh Kinh. Điều khác biệt là họ tin rằng "nói tiếng lạ" là dấu hiệu phải có của một người đã được báp-tem bằng Thánh Linh. Hai trường phái còn lại (một làm lễ báp-tem chỉ trong danh của Đức Chúa Jesus Christ, một làm lễ báp-tem trong danh của Ba Ngôi Thiên Chúa) dùng Công Vụ Các Sứ Đồ 2:38 làm nền tảng cho tín lý: Một người cần phải ăn năn tội, nhận báp-tem trong danh Đức Chúa Jesus Christ, rồi nhận lãnh Đức Thánh Linh. Nhận lãnh Đức Thánh Linh là điều cần thiết cho sự cứu rỗi và (theo hai trường phái này) có nghĩa là phải biết "nói tiếng lạ." Như vậy, theo họ, nếu một người tin Chúa mà không biết "nói tiếng lạ" là chưa được báp-tem bằng Thánh Linh và có nghĩa là chưa được cứu rỗi. Hai trường phái này chia ra thành các giáo phái: "Jesus Name," "First," "United," và "Oneness." Từ trong bốn giáo phái chính này lại phát sinh ra nhiều tiểu giáo phái khác nữa.

Phong trào Ngũ Tuần phát sinh với George Fox (1624-1691, England), một tín đồ thuộc Giáo Phái Giám Lý (Methodist) và thành viên của phong trào Thánh Khiết (Holliness Movement), là một phong trào cũng bắt nguồn từ Giám Lý. Vào năm 19 tuổi, George Fox ly khai giáo hội vì không chịu nỗi sự hâm hẫm của nó. Chàng thanh niên trẻ khao khát một đời sống thuộc linh phong phú và nóng cháy. Tuy nhiên, thay vì dựa trên nền tảng muôn đời là Lời Chúa để sống đạo, chàng đã dựa trên cảm giác và kinh nghiệm. Chàng nghe một giọng nói phán với chàng, như sau: "Không phải Lời Thánh Kinh bên ngoài, không phải sự giảng dạy của giáo hội, không phải Đấng Christ bên ngoài có thể hướng dẫn con, nhưng là ánh sáng bên trong, là Đấng Christ nội tại." (Not the outward Word of Scripture, not the teaching of the church, not the outward Christ can lead you, but only the inner light, the inward Christ.)

Fox trở thành người sáng lập nhóm Con Cái của Sự Sáng (Children of Light) còn gọi là Xã Đoàn Thân Hữu (Society of Friends). Về sau, các đối thủ của ông gọi nhóm của ông là Quakers. (Quake = rung động, quakers = những người hay vật bị rung động. Có lẽ các đối thủ của Fox muốn chế nhạo sự kiện run rẩy trong khi xuất thần của những người thuộc nhóm ông. Tại Việt Nam, Quaker được gọi là Giáo Phái Anh Em). Danh xưng Quaker không bao giờ được Fox và những người theo ông chấp nhận nhưng vẫn được những người ngoài nhóm của ông sử dụng và vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Dù trong thuở ban đầu phái Quaker bị bách hại tàn bạo tại Anh nhưng đã phát triển đi khắp nơi, mạnh mẽ nhất là tại Hoa Kỳ và Đông Phi Châu. Điểm quan trọng cần chú ý trong quan điểm cực đoan của phái Quaker ngay từ nguyên thỉ, là: Họ xem ánh sáng nội tại (tâm thức, sự hiểu biết đến từ bên trong) và tiếng phán từ trên cao quan trọng hơn là Lời của Chúa trong Thánh Kinh. (Đối với Phong Trào Ân Tứ sau này thì dấu kỳ và phép lạ quan trọng hơn là Thánh Kinh). Điều đó là cánh cửa mở rộng cho đủ mọi thứ tà giáo xâm nhập. Ngay từ buổi sơ khai của phái Quaker đã có hiện tượng "nói tiếng lạ" xuất hiện trong nhiều nhóm.

Vào những năm 1800, phái Irvinggian được thành lập bởi Edward Irving (1792-1834), vốn là một pastor thuộc Giáo Hội Trưởng Lão (Presbyterian), với danh xưng là Giáo Hội Công Giáo Sứ Đồ (Catholic Apostolic Church) xứ Scotland. Phái này thực hành, giảng dạy sự "nói tiếng lạ" cùng những hình thức xuất thần và các hiện tượng chữa bệnh, khải tượng, nói tiên tri… nên thu hút rất đông tín đồ từ các giáo hội truyền thống vốn đã quá khô cạn sự sống thuộc linh vì sự tắc trách của những người chăn bầy. Phái Irvingian phát triển nhanh chóng sang Anh, Hòa Lan, Hoa Kỳ, và đặc biệt là Đức, với trung tâm chính tại Augsburg, và nơi có đông tín đồ nhất là Stuttgart.

Giữa những phong trào xuất thần có phái Mormon, còn được biết dưới danh xưng Latter Day Saints, do Joseph Smith (1805-1844) thành lập. Người Mormon cũng được biết đến qua những hiện tượng về khải tượng, mạc khải, "nói tiếng lạ," và chữa bệnh. Smith xưng rằng, ông nhận được khải tượng đến từ thiên sứ Moroni. Theo Smith, thiên sứ Moroni đã cho ông thấy những tấm bảng bằng vàng trên có viết chữ tại Mount Cumorah và ông đã nhận lãnh những bảng này vào năm 1827. Đối với những người Mormon, những chữ viết trên các tấm bảng vàng này có cùng một thẩm quyền như Thánh Kinh. Smith còn tuyên bố ông đã được phong chức tế lễ theo dòng A-rôn bởi Giăng Báp-tít. Về sau, ông tuyên bố rằng: các Sứ Đồ Phi-e-rơ, Gia-cơ, và Giăng đã phong chức tế lễ cho ông theo dòng Mên-chi-xê-đéc. Smith bị giết vào năm 1844.

Ngay cả vùng cực Bắc của Liên Xô cũ cũng có hiện tượng "nói tiếng lạ" trong một làng nhỏ tên là Kara Kala của dân tộc Armenian, vốn theo Chính Thống Giáo Nga. Vì bị giáo hội khủng bố, cho nên, vào năm 1900, những người Armenian "nói tiếng lạ" này lánh nạn sang Hoa Kỳ và định cư tại Los Angeles. Vài năm sau, nhóm này kết hợp với một nhóm "nói tiếng lạ" khác tại Azusa Street, Los Angeles.

Tại Hoa Kỳ, mặc dù hiện tượng "nói tiếng lạ" (không phải là một ngôn ngữ) đã xảy ra từ trước, nhưng đến năm 1901 mới thành phong trào dấy lên khi ân tứ “nói ngoại ngữ” phát sinh từ Trường Thánh Kinh Bethel ở Thủ Đô TopeKa của Tiểu Bang Kansas, do Charles Fox Parham (1873-1929) dẫn đầu. Parham xuất thân từ Giáo Phái Giám Lý (Methodist), là một người sốt sắng trong sự kêu gọi người theo Chúa phải sống thánh khiết. Ông phản đối lối tổ chức giáo quyền hàng dọc của Giám Lý, ly khai giáo hội này, tự lập ra một mục vụ riêng, độc lập với các giáo phái và thành lập Trường Thánh Kinh Bethel.

Vào đêm tất niên năm 1900, Parham đang giảng cho các sinh viên tại Trường Thánh Kinh Bethel, một nữ sinh viên tên là Agnes Ozman, đã dạn dĩ đứng lên yêu cầu ông đặt tay trên cô và cầu nguyện xin Chúa đổ Thánh Linh xuống trên cô. Parham đáp ứng lời yêu cầu này và lập tức Ozman bắt đầu nói tiếng Trung Hoa. Vài ngày sau, chính Parham cũng nói được một ngoại ngữ mà ông chưa hề biết. Rồi sau đó là các sinh viên khác. Ngày 1 tháng 1 năm 1901, ngày đầu tiên của thế kỷ 20, Parham thành lập Phong Trào Đức Tin Sứ Đồ (Apostolic Faith) và bắt đầu đi khắp nơi rao giảng về sự thánh khiết, sự chữa lành thiên thượng, sự chữa lành bởi đức tin, sự đặt tay cầu nguyện, sự thánh hóa bởi đức tin, và tuyên bố "speak in tongues" (nói ngoại ngữ) là dấu hiệu của sự được báp-tem bằng Thánh Linh và bằng lửa (?) [1]. Đến cuối năm 1901, hiện tượng "speak in tongues" trong Phong Trào Đức Tin Sứ Đồ được báo chí đưa tin, bàn thảo sôi nổi, xem như là dấu hiệu của Lễ Ngũ Tuần lần thứ hai. Điểm cần ghi nhớ: Đây là sự kiện các tín đồ bỗng nhiên nói thông thạo một ngoại ngữ, không phải là sự lấp ba lấp bấp một tràng âm thanh vô nghĩa như những người “nói tiếng lạ” ngày nay.

Năm 1905, Parham mở một Trường Thánh Kinh tại Houston, Texas và một người da đen tên là William Joseph Seymour được đào tạo tại đó. Trong suốt thời gian ở tại Houston, Seymour không biết "speak in tongues." Tháng 2 năm 1906, Seymour được mời giảng tại Los Angeles về đề tài "Phép Báp-tem Bằng Thánh Linh." Buổi giảng đầu của ông gây nên nhiều xáo trộn, là vì ông tuyên bố "speak in tongues" là dấu hiệu của sự đã được báp-tem bằng Thánh Linh, trong khi ông lại không biết "speak in tongues." Đến tháng 4 năm đó, một người nghe ông giảng tên là Edward Lee bỗng nhiên phát ra những tràng âm thanh vô nghĩa và sau đó vài ngày đến lượt Seymour. Họ xem như đó là ân tứ “speak in tongues” mặc dầu đó chỉ là những tràng âm thanh vô nghĩa.

Tháng 5 năm 1906, Seymour trở thành lãnh tụ của Phong Trào "Azusa Street Revival," một phong trào không phân biệt giáo phái, chủng tộc, hoặc giới tính. Thuở ấy, mỗi ngày từ 10 giờ sáng cho đến khoảng hai, ba giờ sáng hôm sau, vô số người từ các nơi kéo về tụ hội ca hát, la hét lớn tiếng, nhảy múa, co giật như bị động kinh, té xuống ngất đi, kêu khóc, tru, rống như thú vật, và "nói tiếng lạ." Các giới lãnh đạo tôn giáo vùng Los Angeles và những nơi khác lập tức lên tiếng phủ nhận hiện tượng đang xảy ra tại Black Holiness Church, 312 Azusa Street, Los Angeles. Họ không công nhận đó là công việc của Đức Thánh Linh, khuyến cáo các tín hữu của họ, rằng phong trào này chạy theo cảm xúc, thông linh, và có Sa-tan tính.

Vào tháng 10 năm 1906, khi Parham đến thăm Seymour và giảng tại Azusa Street, cũng đã sững sốt khi nhìn thấy các hiện tượng xảy ra tại đó. Theo Parham, những hiện tượng đó đến từ xác thịt, hoặc Ma Quỷ. Parham không công nhận phong trào "Azusa Street Revival." Parham đã phát biểu về phong trào này như sau: "God is sick at His stomach!" (Tạm dịch: Đức Chúa Trời đang buồn nôn!) Sau đó, Parham và Seymour đã chia tay nhau và không bao giờ kết hợp trở lại.

Tại đây, chúng ta cần chú ý đến chi tiết quan trọng này: Trong khi Parham và các sinh viên của ông được ơn nói lưu loát các ngoại ngữ mà trước đó họ không hề biết ,thì Seymour và những người theo ông chỉ phát ra những tràng âm thanh vô nghĩa, và có những biểu hiện cười, la, khóc, hú, vật vã thân hình không tự kiểm soát được như những người bị tà linh xâm nhập.

Phong trào "Azusa Street Revival" lắng xuống vào năm 1909 nhưng vẫn còn âm ỉ cho đến năm 1915. Từ phong trào này phát sinh ra nhiều giáo phái Ngũ Tuần khắp nơi trên thế giới. Người từ các nơi khác đến Los Angeles thăm viếng, khi trở về quê hương của họ đã mang theo các tín lý mới của Ngũ Tuần, gieo rắc trong cộng đồng của họ.

Phong Trào Ân Tứ (The Charismatic Movement)

Còn được gọi là Phong Trào Tân Ngũ Tuần (The Neo-Pentecostal Movement). Từ Phong Trào Ngũ Tuần phát sinh ra Phong Trào Ân Tứ. Phong Trào Ân Tứ nhấn mạnh đến các ân tứ của Đức Thánh Linh như: nói ngoại ngữ (nhưng đã bị hiểu lầm thành “nói tiếng lạ” – xin độc giả ghi nhớ, “nói tiếng lạ” tức là phát ra những âm thanh vô nghĩa), nói tiên tri, nói lời khôn ngoan, nói lời thông biết, chữa bệnh, đuổi quỷ, làm phép lạ… (I Cô-rinh-tô 12:8-10). Phong Trào Ân Tứ ảnh hưởng đến Hội Thánh mạnh mẽ hơn Phong Trào Ngũ Tuần. Ban đầu, Phong Trào Ân Tứ không chủ trương cho các thành viên tách rời khỏi các giáo hội, giáo phái như Phong Trào Ngũ Tuần, nhưng chủ trương cho các thành viên ở lại để Ân Tứ hóa toàn bộ giáo hội và giáo phái mà họ đang sinh hoạt với. Chỉ khi nào bị chính các giáo hội hay giáo phái khai trừ thì các thành viên của Phong Trào Ân Tứ mới đi ra lập thành nhóm khác. Về sau, với sự lớn mạnh của phong trào, các nhà lãnh đạo Ân Tứ muốn độc lập điều hành ngân quỹ do các thành viên đóng góp, cho nên, đã lập ra các giáo phái riêng.

Vào năm 1960, Dennis Bennett, linh mục của Saint Mark's Episcopal Church tại Van Nuys, California (thuộc Giáo Phái American Episcopal – Giám Nhiệm Hoa Kỳ) tuyên bố với hội chúng, rằng ông ta đã được báp-tem bằng Thánh Linh. Sau đó, Bennett dẫn thêm 100 tín hữu đến với kinh nghiệm nhận "báp-tem bằng Thánh Linh" và biết "nói tiếng lạ." Hiện tượng "nói tiếng lạ" bùng nổ tại Saint Mark's Episcopal Church khiến cho các tạp chí Times và Newsweek thời bấy giờ làm phóng sự đưa lên bìa báo (cover story). Giáo Phái Giám Nhiệm Hoa Kỳ không công nhận hiện tượng đó đến từ Đức Thánh Linh nên đã bãi nhiệm Bennett. Ông đến Vancouver, Canada thiết lập nhiều lớp huấn luyện, dạy về công vụ của Đức Thánh Linh, gây ảnh hưởng sâu đậm đến tín đồ Anh Giáo khắp nơi trên thế giới, và dẫn đến những cuộc gọi là "phục hưng" trong các hội chúng Giám Nhiệm, Anh Giáo, Lutheran, Công Giáo và Chính Thống Giáo. Đến tháng 10 năm 1962 Phong Trào Tân Ngũ Tuần xâm nhập vào các trường đại học tại Mỹ, sau đó lan vào trong các trường thần học. Chính Phong Trào Tân Ngũ Tuần đi vào Giáo Hội Công Giáo làm phát sinh ra Phong Trào Công Giáo Ân Tứ Phục Hưng. Tính đến năm 1990, phong trào này bao gồm trên 55 triệu tín đồ thuộc các giáo phái trong Giáo Hội Tin Lành.

Phong Trào Lời Đức Tin (Word of Faith Movement) được xem như sự nối dài của Phong Trào Ân Tứ. Ngoài những đặc điểm chung với Phong Trào Ân Tứ, Phong Trào Lời Đức Tin nhấn mạnh đến "quyền năng của đức tin." Những người thuộc phong trào này tin rằng họ có thể dùng lời nói để điều động "quyền năng của đức tin," và như vậy, họ có thể tạo ra những gì mà họ tin rằng Thánh Kinh đã hứa, như: sức khoẻ, sự giàu có… Theo họ, những định luật chi phối "quyền năng của đức tin" vận hành độc lập với ý chỉ siêu việt của Đức Chúa Trời và chính Đức Chúa Trời cũng bị chi phối bởi những định luật này (?) Ngoài ra, Phong Trào Lời Đức Tin còn đưa ra những tín lý như: Mỗi tín nhân là một Đức Chúa Trời Con vì Đức Chúa Trời dựng nên loài người cùng bản thể với Ngài. Tín đồ Đấng Christ phải được khoẻ mạnh và giàu có. Tín đồ Đấng Christ phải luôn có những lời tuyên xưng tích cực (positive confession). Vì Đức Chúa Trời đã dùng lời nói để sáng tạo nên tín nhân cũng có thể dùng những lời nói tích cực để thu đạt những kết quả tích cực. Đấng Christ chết phần thể xác, nhưng cũng chết phần tâm thần trong địa ngục, chịu Ma Quỷ hành hạ, và tâm thần của Ngài đã được tái sinh trong địa ngục…

Sáng lập viên và hiệu trưởng của trường Rhema Bible College tại Tulsa, Oklahoma, USA là Kenneth Hagin (1917-2003), được xem là bố già (Papa Hagin) của Phong Trào Lời Đức Tin. Những giáo sư nổi tiếng khác của phong trào này là: Benny Hinn, Bishop Eddie L. Long, Clarence McClendon, Creflo Dollar, Ed Young, Fred Price, Jesse Duplantis, John Bevere, Joel Osteen, Joyce Meyer, Juanita Bynum, Karl Strader, Kenneth Copeland, Kim Clement, Larry Huch, Marilyn Hickey, Markus Bishop, Mike Murdock, Morris Cerullo, Myles Munroe, Oral Roberts, Paul Crouch, Paula White, Peter Popoff, R.W. Shambach, Robert Schuller, Rod Parsley, Rodney Howard-Browne, Robert Tilton, Steve Munsey, T.D. Jakes…

Phong Trào Công Giáo Ân Tứ Phục Hưng (The Catholic Charismatic Renewal Movement)

Tháng 2 năm 1967, một số nhân viên và nhiều sinh viên của một trường đại học tư, Duquesne University, thuộc Giáo Hội Công Giáo tại Pittsburgh, Pennsylvania, USA trải qua một kinh nghiệm mà họ gọi là "được báp-tem bằng Thánh Linh." Những điều họ kinh nghiệm, là: "nói tiếng lạ," "thánh tiếu" (tiếng cười thánh – Holy laughter), xuất thần, khóc, la, gào, hú, tru như chó… không thể tự kềm chế. Liền sau đó, những hiện tượng này lan tràn sang một trường đại học tư khác, cũng thuộc Giáo Hội Công Giáo, University of Notre Dame, tại Indiana, USA. Notre Dame có nghĩa là "Đức Bà của chúng ta," (chỉ về bà Ma-ri). Đến năm 2003, Phong Trào Công Giáo Ân Tứ Phục Hưng lan rộng đến trên 230 quốc gia và bao gồm trên 119 triệu tín đồ Công Giáo.

Các Giáo Hoàng: Paul VI (nắm quyền: 1963-1978), John Paul II (nắm quyền: 1978-2005), và Benedict XVI (nắm quyền: 2005 – đến nay) đều chấp nhận Phong Trào Công Giáo Ân Tứ Phục Hưng. Giáo Hoàng John Paul II cho rằng, phong trào này thuộc vào sự phục hưng của toàn Giáo Hội Công Giáo. Giáo Hoàng Paul và Benedict khuyến cáo các thành viên của phong trào phải giữ gìn sự thông công giữa họ và Giáo Hội Công Giáo.

Tháng 3 năm 1992, Giáo Hoàng John Paul II đã phát biểu như sau: "Trong khoảnh khắc này của lịch sử giáo hội, sự Phục Hưng Ân Tứ có thể đóng một vai trò thiết yếu trong sự cổ vũ tính tự vệ rất cần thiết cho cuộc sống của người tín đồ Đấng Christ trong những xã hội mà thế tục và vật chất đã làm suy yếu khả năng đáp ứng Đức Thánh Linh và nhận thức tiếng gọi từ Đức Chúa Trời của nhiều người. Sự cống hiến của quý vị vào công cuộc tái phúc âm hóa xã hội sẽ được thực hiện trước hết qua lời chứng cá nhân về sự Đức Thánh Linh ngự trị bên trong và sự chiếu ra sự hiện diện của Ngài qua các công tác thánh khiết và hiệp một."

("At this moment in the Church's history, the Charismatic Renewal can play a significant role in promoting the much-needed defense of Christian life in societies where secularism and materialism have weakened many people's ability to respond to the Spirit and to discern God's loving call. Your contribution to the re-evangelization of society will be made in the first place by personal witness to the indwelling Spirit and by showing forth His presence through works of holiness and solidarity." – Address of Pope John Paul II to the ICCRO Council – March 14, 1992.)

Phần lớn người Công Giáo Ân Tứ tin rằng Phong Trào Công Giáo Ân Tứ Phục Hưng được phát sinh bởi lời cầu nguyện của Giáo Hoàng John XXIII trong Công Đồng Vatican II: "Lạy Đức Thánh Linh… xin tuôn tràn sự đầy dẫy các ân tứ của Ngài… Xin làm mới lại những sự lạ lùng của Ngài trong thời đại này như là một Lễ Ngũ Tuần mới." ("O Holy Spirit… pour forth the fullness of your gifts… Renew your wonders in this day as by a new Pentecost").

Điều đáng chú ý là Phong Trào Công Giáo Ân Tứ Phục Hưng không loại bỏ sự thờ lạy hình tượng của bà Ma-ri, sự lần chuỗi hạt Mân-côi, sự cầu nguyện với bà Ma-ri… cùng nhiều giáo lý phản Thánh Kinh khác của Giáo Hội Công Giáo. Nhiều nhóm Ân Tứ Công Giáo nhận được sự xuất thần và sự "nói tiếng lạ" trong khi kêu cầu bà Ma-ri (!)

Phong Trào Dấu Lạ (The Signs and Wonders Movement)

Phong Trào Dấu Lạ (The Signs and Wonders Movement) hoặc "Làn Sóng Thánh Linh Thứ Ba" (The Third Wave of the Holy Spirit) bắt đầu vào đầu thập niên 1980 và vẫn còn kéo dài cho đến ngày nay. Các phong trào như: Vineyard Christian Fellowship, Global Harvest, Toronto Blessing, Eternal Grace là biến dạng của Phong Trào Dấu Lạ. Những người thuộc Phong Trào Dấu Lạ không chấp nhận họ thuộc về Ngũ Tuần hoặc Ân Tứ.

Điểm khác biệt nổi bật của Phong Trào Dấu Lạ đối với Ân Tứ và Ngũ Tuần là Phong Trào Dấu Lạ có khuynh hướng không nhấn mạnh đến sự kiện "nói tiếng lạ" như là bằng chứng của một người đã được báp-tem bằng Thánh Linh. Nhiều nhà lãnh đạo trong phong trào này không hề có kinh nghiệm "nói tiếng lạ," trái lại, họ quan tâm đến khía cạnh dấu kỳ, phép lạ, các sự hiện thấy, sự nói tiên tri, cùng cái gọi là "lời nói thông biết" (the word of knowledge – được tận dụng trong chương trình truyền hình 700 Club của Pat Robertson trong sự tuyên bố các chi tiết về sự chữa lành xảy ra cho một số khán thính giả đang ngồi tại nhà riêng, xem chương trình 700 Club qua máy truyền hình). Phong Trào Dấu Lạ chấp nhận cả hai quan điểm về sự được báp-tem bằng Thánh Linh:

1. Một người được tái sinh và được báp-tem bằng Thánh Linh khi thật lòng ăn năn tội và tin nhận Đấng Christ, (quan điểm của Tin Lành truyền thống). Những người thuộc Giáo Phái Vineyard Christian Fellowship bảo vệ tích cực quan điểm này.

2. Một người được báp-tem bằng Thánh Linh nếu tìm cầu điều này sau khi tin nhận Chúa, (quan điểm của Ân Tứ và Ngũ Tuần). Báp-tem bằng Thánh Linh không liên quan đến sự cứu rỗi mà chỉ liên quan đến năng lực sống đạo và giảng đạo.

Peter Wagner (Global Havest Ministry) và John Wimber (Vineyard Christian Fellowship) được xem là những nhân vật tiên phong của Phong Trào Dấu Lạ. Vào năm 1977, Carol, vợ của Wimber, vốn xuất thân từ Công Giáo, nằm chiêm bao thấy mình được đầy dẫy Thánh Linh và khi bà thức dậy thì biết "nói tiếng lạ." Mười tháng sau, Wimber kinh nghiệm được một sự chữa lành trong chính thân thể của ông và bắt đầu tin rằng việc chữa bệnh, đuổi quỷ như Đức Chúa Jesus là khả thi. Nhờ quen biết với Peter Wagner, một giảng sư tại Fuller Theological Seminary School of World Missions mà Wimber được mời cùng dạy lớp "Dấu Lạ" (Signs and Wonders) tại Fuller Seminary với Wagner. Lớp học này dạy về sự chữa lành thiên thượng và trở thành lớp học nổi tiếng nhất tại Fuller cho đến khi bị đình chỉ vào năm 1985, vì các viên chức trong trường có những thắc mắc về tính thần học và kinh viện của môn học.

Bên cạnh hiện tượng "bị giết trong Thánh Linh" như trong các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần, có ba hiện tượng nổi bật trong Phong Trào Dấu Lạ được cho là sự thể hiện của Đức Thánh Linh, là: Tiếng Cười Thánh (The Holy Laughter – sự vui mừng khi được đầy dẫy Thánh Linh khiến một người trở thành "say Thánh Linh," không kềm hãm được tiếng cười biểu lộ niềm vui), Tiếng Gầm Tiên Tri (The Prophetic Roar – tiếng rống lớn phát ra từ cổ họng của những người được đầy dẫy Thánh Linh, được cho là dấu hiệu Đức Chúa Trời thông báo sự kiện Ngài bắt đầu chiếm lại quyền tể trị thế giới này từ Satan), và Âm Thanh Của Thú Vật (The Animal Noises – sự tru, hú, gầm gừ như các loài thú, kể cả cục tác như gà, rống như heo, và tru như chó… chưa được những người Ân Tứ định nghĩa) [2]. Gần đây, Wimber đã yêu cầu các hội chúng thuộc giáo phái Vineyard Christian Fellowship do ông sáng lập ngưng chấp nhận hiện tượng Tiếng Cười Thánh.

Các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần trong Hội Thánh Việt Nam

Tin Lành đến Việt Nam vào năm 1911 do các giáo sĩ của Hội Truyền Giáo Phúc Âm Liên Hiệp. Vào giữa thập niên 1960, các Giáo Phái Ngũ Tuần, và Giáo Phái Anh Em (Quaker) đem theo hiện tượng "nói tiếng lạ," theo chân những người lính viễn chinh Hoa Kỳ đến Việt Nam, và tạo ra vài nhóm nhỏ tại Saigon nhưng không gây ảnh hưởng nhiều đến Hội Thánh Việt Nam. Phong Trào Ân Tứ đến Việt Nam vào cuối thập niên 1960 và bắt đầu trong Giáo Hội Công Giáo trước, qua Phong Trào Công Giáo Về Nguồn (do những người Công Giáo chủ trương quay lại với lời Chúa, là Thánh Kinh, khởi xướng). Chính hiện tượng "nói tiếng lạ" trong Phong Trào Công Giáo Về Nguồn gây nhiều chú ý đến các mục sư và tín đồ thuộc Hội Thánh Tin Lành Việt Nam. Có một số sinh viên Tin Lành đã tham dự sinh hoạt với Phong Trào Công Giáo Về Nguồn và nhận được sự "nói tiếng lạ." Nhiều sinh viên Tin Lành khác bắt đầu nghiên cứu về các Giáo Phái Ngũ Tuần. Điều đáng nói là thuở ấy tài liệu biện giáo thì ít, hầu như là không có, trong khi các tài liệu cổ võ về Phong Trào Ngũ Tuần thì tràn ngập, cho nên, các sinh viên chỉ học biết một chiều về những điểm tích cực của Ngũ Tuần. Hội Thánh Việt Nam, vào thời đoạn đó, phần lớn là tín đồ thuộc Giáo Phái Phúc Âm Liên Hiệp (với danh xưng chính thức là: Hội Thánh Tin Lành Việt Nam) đã tích cực chống đối các hiện tượng “đặt tay té ngã” và "nói tiếng lạ." Ít lâu sau, một vài mục sư và tín đồ thuộc Hội Thánh Tin Lành Việt Nam nhận được sự "nói tiếng lạ" trong khi nhóm họp với các nhóm Công Giáo Về Nguồn, hoặc trong khi nhóm họp với các nhóm Anh Em (Quaker). Sau đó, một vài mục sư đã ly khai Hội Thánh Tin Lành Việt Nam, sáng lập các giáo phái Ngũ Tuần Việt Nam.

Năm 1972, tại Việt Nam có sự phục hưng phát sinh từ Thánh Kinh Thần Học Viện tại Nha Trang. Trong cuộc phục hưng đó, không có sự kiện té ngã, không có sự kiện "nói tiếng lạ" nhưng có sự tan vỡ cõi lòng, khóc lóc, ăn năn, xưng tội tập thể, đốt bỏ bùa chú, hình tượng, mọi người làm hòa với nhau, có sự chữa lành bệnh tật tức thì (không phải lành bệnh từ từ), có sự đuổi quỷ, có sự người chết được sống lại… nghĩa là có đầy đủ dấu hiệu Hội Thánh được đầy dẫy Thánh Linh như đã được ghi chép trong Thánh Kinh. (Xin xem "Phép Lạ Rừng Xanh," Bà Phạm Văn Năm; "Việc của Đức Giê-hô-va," Pastor Trương Văn Tốt; "Công Cuộc Truyền Giáo Tin Lành," Pastor Phạm Xuân Tín). Trước khi Hội Thánh Việt Nam bị Phong Trào Ân Tứ xâm nhập và bị cường quyền đàn áp thì Đức Chúa Trời đã thương xót, cho Hội Thánh được nếm trải sự tuôn tràn Thánh Linh, để dựa vào đó mà phân biệt với hiện tượng “nói tiếng lạ” đến từ tà linh.

Sau năm 1975, Phong Trào Ân Tứ bắt đầu lan tràn khắp Miền Nam Việt Nam trong các nhóm Tư Gia, (những nhóm nhỏ nhóm họp thờ phượng Chúa tại nhà riêng để tránh sự đàn áp của chính quyền), và phát triển mạnh mẽ vào cuối thập niên 1990 nhờ các tài liệu về Ân Tứ được dịch ra Việt Ngữ và phổ biến trong các nhóm Tư Gia; đồng thời, có nhiều giáo sĩ Ân Tứ người Việt cũng như người ngoại quốc, từ nước ngoài âm thầm xâm nhập Việt Nam qua hình thức thăm quê hương và du lịch để quảng bá cho Phong Trào Ân Tứ. Trong giai đoạn đó, Hội Thánh Tin Lành Việt Nam một mặt buộc phải hòa hoãn với chính quyền mới để được công nhận tư cách pháp nhân, một mặt các mục sư bị cán bộ và công an tôn giáo theo dõi chặt chẽ, cho nên, sinh hoạt của Hội Thánh dần dần bị giảm thiểu và khô cạn. Trong hoàn cảnh đó, những sứ giả của Ân Tứ và Ngũ Tuần càng nổ lực phát triển mô hình nhóm nhỏ, nhóm tại tư gia và tích cực trong công tác truyền giáo. Có thể nói, số người tuyên xưng đức tin trong Đấng Christ thuộc các Hội Thánh Tư Gia phần lớn là tín đồ mới chứ không phải tín đồ từ Hội Thánh Tin Lành Việt Nam chuyển sang.

Đến cuối thập niên 1990, với sự tiếp sức của các giáo phái Ân Tứ và Ngũ Tuần Nam Hàn, với áp lực của các doanh nhân Nam Hàn trên chính quy

Đọc Tiếp →