Trả Lời Một Số Câu Hỏi Liên Quan Đến Loạt Bài Giảng về Loài Người

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?26lx0dplqcx58vh

Huỳnh Christian Timothy

Chúng tôi nhận được qua email một số câu hỏi liên quan đến loạt bài giảng về loài người. Chúng tôi xin tóm lược và trả lời trong bài này.

Xin vào nối mạng dưới đây để đọc và tải xuống các bài giảng về loài người:
http://thanhoc.timhieutinlanh.net/taxonomy/term/70

Xin vào nối mạng dưới đây để nghe và tải xuống mp3 các bài giảng về loài người:
http://timhieutinlanh.net/node/1034

Các Câu Hỏi

1. Loài người cũng ra từ Thiên-Chúa Cha, nhưng ra bởi lời phán của Ngài. Kinh thánh biểu tượng cho sự “ra” đó như sau : “7 GIA-VÊ là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật.” Như vậy loài người muốn hằng hữu phải có Thần-linh sự sống của chính bản thể Thiên-Chúa-Cha.

2. Nếu giải nghĩa kinh thánh hoàn toàn theo nghĩa đen tôi nhận thấy không hoàn toàn đúng và có khi còn sai trật nguy hiểm cho người đọc.

3. Kinh thánh biểu tượng cho sự “ra” đó là tôi muốn nhấn mạnh rằng nếu cứ nhất mực hiểu : “7 GIA-VÊ là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật.” theo nghĩa mặt chữ như vậy; vô tình, người viết đã biến Thiên-Chúa vốn toàn năng thành một Thiên-Chúa hữu hạn, nghĩa là Ngài phải : Ngài gom bụi của đất để làm nên một hình thể giống như hình thể vật chất của Ngài; theo như cách mà Anh đã viết.

4. Để khỏi dài dòng tôi xin nêu một ví dụ sau đây : “9 Giê-hô-va Đức Chúa Trời khiến đất mọc lên các thứ cây đẹp mắt, và trái thì ăn ngon; giữa vườn lại có cây sự sống cùng cây biết điều thiện và điều ác.” (St 2:9)

Nếu giải nghĩa câu trên theo nghĩa mặt chữ, nghĩa là hai cây đó có thực !!!

Chúng ta đã biến một Thiên-Chúa bản chất Ngài là đấng siêu-việt thành ra một Thiên-Chúa hữu hạn; nghĩa là, Ngài cũng sợ hãi, ích kỷ, tham lam….

5. Vì sao ??? Xin đọc kỹ lời Chúa sau đây :

22 Giê-hô-va Đức Chúa Trời phán rằng: Nầy, về sự phân biệt điều thiện và điều ác, loài người đã thành một bực như chúng ta; vậy bây giờ, ta hãy coi chừng, e loài người giơ tay lên cũng hái trái cây sự sống mà ăn và được sống đời đời chăng. (St 3:22)

Thiên-Chúa sợ. Và một điều vô lý nữa : Trước khi Adam chưa vi phạm ông ta đã từng ăn trái cây sự sống. Vậy sau khi ông ta vi phạm Chúa lại e ông ta ăn trái cây đó để sống mãi !!!

6. Chúa sợ, Ngài phải đuổi Adam ra khỏi Eden?

7. Tôi xin chứng minh về hai cây trong St 3:9 chỉ là biểu tượng mà Chúa dùng để nói đến hai sự chọn lựa trong lòng Adam đối với lệnh truyền trong St 1:28 như sau : “9 Giê-hô-va Đức Chúa Trời khiến đất mọc lên các thứ cây đẹp mắt,và trái thì ăn ngon; giữa vườn lại có cây sự sống cùng cây biết điều thiện và điều ác”.

8. Tóm tắt : Nếu hiểu hoàn toàn nghĩa đen từ câu số 8 cho đến câu số 24 của chương ba chúng ta sẽ biến một Thiên-Chúa toàn năng, toàn ái thành một Thiên-Chúa đầy thù hận, ghen tương, ích kỷ như loài người hữu hạn hôm nay.

Như chúng ta biết, sau khi Adam vi phạm, Thiên-Chúa phải công bố một loạt những vấn đề cần thiết cho sự sống đời đời của loài người.

Nếu giải nghĩa nội dung St 3:22-24 theo mặt chữ, thì ý nghĩa của câu số 22 như sau : Ngài nhận thấy Adam ngang bằng với mình rồi thì Ngài SỢ . Sợ, rồi Ngài ĐUỔI Adam ra khỏi vườn (St 3:23); chưa đủ, để cho yên chí Ngài lại phải cho các Thiên-sứ CANH GIỮ đường dẫn đến cây sự sống (St 3:24). Như vậy chúng ta thấy một loạt những hành động sau của một Thiên Chúa “toàn năng” bao gồm : Sợ, Đuổi, Canh giữ. Nếu theo nghĩa đen giải nghĩa chúng ta thấy sao ???

9. Một mâu thuẫn nữa không thể giải nghĩa được mà nếu có cố tình giải nghĩa thì cũng sẽ làm cho vấn đề đã sai lại càng thêm sai. Đó là trước khi Adam vi phạm ông ta đã từng ăn trái của “cây sự sống”. Vậy tại sao khi ông ta ăn trái của “cây cho biết thiện-ác” ông ta lại phải chết ???

Các Câu Trả Lời

1. Thánh Kinh chép: “Giê-hô-va Thiên Chúa bèn lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sanh khí vào lỗ mũi; thì người trở nên một loài sanh linh” (Sáng Thế Ký 2:7).

Thánh Kinh chép: “Vả, hơi sống của Thiên Chúa dầu có dư dật, chỉ làm nên một người mà thôi. Nhưng vì sao chỉ làm một người? Ấy là vì tìm một dòng dõi thánh. Vậy các ngươi khá cẩn thận trong tâm thần mình; chớ đãi cách phỉnh dối với vợ mình lấy lúc tuổi trẻ” (Ma-la-chi 2:15).

Vậy, có phải hơi sống của Đấng Hằng Hữu đã tạo nên loài người hằng hữu hay không? Nếu hơi sự sống này không phải là sự sống bản thể của Thiên Chúa thì nó là sự sống của bản thể gì? Anh lẫn lộn giữ linh hồn là bản thể của loài người với thân thể xác thịt là áo mặc, là nhà trọ của linh hồn.

Khi linh hồn của người có Chúa ra khỏi thân thể xác thịt thì sẽ đi ở với Đấng Christ. Thánh Kinh chép: “Ví thử tôi cứ sống trong xác thịt, là ích lợi cho công khó tôi, thì tôi chẳng biết nên lựa điều chi. Tôi bị ép giữa hai bề muốn đi ở với Đấng Christ, là điều rất tốt hơn; nhưng tôi cứ ở trong xác thịt, ấy là sự cần hơn cho anh em” (Phi-líp 1:22-24). Cái gì đi ở với Đấng Christ? Cái gì sống trong hay ở trong xác thịt?

Thánh Kinh chép: “Vậy tôi nói, chúng ta đầy lòng tin cậy, muốn lìa bỏ thân thể nầy đặng ở cùng Chúa thì hơn. Cho nên chúng ta dầu ở trong thân thể nầy, dầu ra khỏi, cũng làm hết sức để được đẹp lòng Chúa” (II Cô-rinh-tô 5:8-9). Cái gì lìa bỏ thân thể này đặng đi ở với Chúa?

Thân thể xác thịt có thể biến cải (phân rã thành các nguyên tố hóa học) nhưng vẫn còn lại đời đời vì mọi loài Thiên Chúa sáng tạo đều hằng hữu.

Thánh Kinh chép về sự hằng hữu của trái đất:

Thi Thiên 78:69 “Ngài xây đền thánh Ngài giống như nơi rất cao, Khác nào trái đất mà Ngài đã sáng lập đời đời.”

Thánh Kinh chép về sự hằng hữu của muôn loài thọ tạo(Thi Thiên 148):

1 Ha-lê-lu-gia! Từ các từng trời hãy tôn vinh Đức Giê-hô-va! Hãy tôn vinh Ngài trong nơi cao cả!

2 Hỡi hết thảy các thiên sứ Ngài, hãy tôn vinh Ngài! Hỡi cả cơ binh Ngài, hãy tôn vinh Ngài!

3 Hỡi mặt trời, mặt trăng, hãy tôn vinh Ngài! Hỡi hết thảy ngôi sao sáng, hãy tôn vinh Ngài!

4 Hỡi trời của các từng trời, hỡi nước trên các từng trời, Hãy tôn vinh Ngài!

5 Cả thảy khá tôn vinh danh Đức Giê-hô-va; Vì Ngài ra lịnh, thảy bèn được sáng tạo.

6 Ngài lập cho vững các vật ấy đến đời đời vô cùng; Cũng đã định mạng, sẽ không có ai vi phạm mạng ấy.

2. Dĩ nhiên, Thánh Kinh phải có lúc giải theo nghĩa bóng, nhưng chỉ khi nào văn mạch cho phép. Thí dụ: Ta là người chăn. Ta là đường đi. Ta là cửa của chiên. Hãy chăn chiên Ta. Sông nước hằng sống…

3. Đó là anh ý kiến của anh, còn Thánh Kinh thì khẳng định: thân thể xác thịt của loài người là bụi của đất và sau khi phạm tội thì sẽ trở về bụi đất.

Sáng Thế Ký 3: 17-19 chép:

17 Ngài lại phán cùng A-đam rằng: Vì ngươi nghe theo lời vợ mà ăn trái cây ta đã dặn không nên ăn, vậy, đất sẽ bị rủa sả vì ngươi; trọn đời ngươi phải chịu khó nhọc mới có vật đất sanh ra mà ăn.

18 Đất sẽ sanh chông gai và cây tật lê, và ngươi sẽ ăn rau của đồng ruộng;

19 ngươi sẽ làm đổ mồ hôi trán mới có mà ăn, cho đến ngày nào ngươi trở về đất, là nơi mà có ngươi ra; vì ngươi là bụi, ngươi sẽ trở về bụi.

Nếu anh muốn giải thích chữ đất trong câu 19 theo "nghĩa bóng" thì anh cũng phải giải thích các chữ đất trong câu 17 và 18 theo nghĩa bóng. Vậy, theo anh, nghĩa bóng của chữ đất là gì?

4. Mời anh nghe ba bài giảng của tôi về hai cây này tại đây: http://timhieutinlanh.net/node/962

5. Sự sống đời đời khác với sự thực hữu và hằng hữu. Loài người thực hữu vì được Thiên Chúa sáng tạo. Loài người hằng hữu vì ra từ Đấng Hằng Hữu. Thánh Kinh định nghĩa rõ ràng: Sự sống đời đời là thực hữu trong sự nhìn biết Đức Cha và Đức Con: "Vả, sự sống đời đời là nhìn biết Ngài, tức là Thiên Chúa có một và thật, cùng Jesus Christ, là Đấng Ngài đã sai đến" (Giăng 17:3 ), tức là thực hữu trong sự mãi mãi hiểu biết Thiên Chúa trong một thân thể vật chất không bị băng hoại và không có khả năng phạm tội vì không biết điều ác, mà chỉ biết điều thiện.

Sự chết đời đời là sự thực hữu mà không được tiếp tục hiểu biết Thiên Chúa trong một thân thể bị băng hoại bởi sự hình phạt của Thiên Chúa. Thánh Kinh cũng định nghĩa rõ ràng sự chết đời đời (Ma-thi-ơ 25:41, 46; Khải Huyền 20:10, 14-15; 21:8). Lý do của sự chết đời đời là vì không vâng phục Thiên Chúa, tức không nhận biết Ngài. Vì không nhận biết Ngài nên mới dám phản nghịch Ngài.

Khi A-đam được dựng nên, ông chưa có sự sống đời đời (tức chưa có sự mãi mãi nhận biết Thiên Chúa). Ông phải chọn ham muốn được sự sống đời đời bằng cách ăn trái của cây sự sống. Tuy nhiên, ông chưa kịp ăn trái cây sự sống đời đời thì ông đã ăn trái cây biết điều thiện và điều ác, nghịch lại thánh ý của Thiên Chúa và dẫn đến hậu quả là ông không còn được cơ hội để mãi mãi nhận biết Thiên Chúa. Chúng ta biết A-đam chưa ăn trái cây sự sống vì nếu ông đã ăn thì ông đã mãi mãi nhận biết Thiên Chúa và sẽ không có khả năng phạm tội, không biết điều ác. Khi đó Thiên Chúa sẽ hủy diệt cây biết điều thiện và điều ác.

Trái của cây sự sống đời đời (đạt được bằng sự vâng lời Thiên Chúa: ăn nó và không ăn trái của cây biết điều thiện điều ác – loài người chỉ có thể làm một trong hai lựa chọn: ăn trái của cây sự sống thì trái của cây biết điều thiện và điều ác sẽ bị cất đi, và ngược lại) có tính chất giúp cho loài người được đời đời nhận biết Thiên Chúa và tương giao với Thiên Chúa trong hạnh phúc khi loài người không nhiễm tội. Sự nhận biết Thiên Chúa và tương giao với Thiên Chúa là một tiến trình kéo dài cho đến đời đời. Mỗi lúc chúng ta càng hiểu biết Chúa hơn và càng khắng khít với Chúa hơn.

Một khi loài người phạm tội thì sự nhận biết Thiên Chúa bị chấm dứt ngay, họ không thể nào tiếp tục nhận biết Ngài cho đến khi được Ngài ban cho cơ hội ăn năn và họ tiếp nhận sự ban cho ấy. Nếu đã phạm tội mà vẫn đời đời ở trong sự nhận biết Thiên Chúa, tức sự sống đời đời, thì đó sẽ là một hình phạt kinh khủng còn hơn là hồ lửa. Vì càng nhận biết Thiên Chúa càng hơn, thì càng lộ ra sự ô uế, xấu xa, gian ác của mình càng hơn, và càng đau khổ hơn. Vì thế, Thiên Chúa đã không để cho A-đam có thể ăn trái cây của sự sống, sau khi ông phạm tội, tức là không cho phép ông tiếp tục hiểu biết Thiên Chúa ngày càng hơn trong khi ông đang ở trong địa vị bị mãi mãi xa cách Ngài.

6. Đó là sự kết luận chủ quan của anh. Thánh Kinh không hề có chỗ nào nói Chúa sợ! Ngài thương xót, không muốn A-đam mất cơ hội được tái sinh phải đau khổ đời đời trong sự mãi mãi nhận biết Chúa mà bản thân mình chưa được tha tội và sạch tội, nên Ngài không cho ông ăn trái của cây sự sống sau khi ông phạm tội. Nói cách này để cho dễ hiểu. Đối với một người bình thường, khi đang đói mà được ai cho một nồi đậu phụng luộc nóng hổi, thì người ấy sẽ tận hưởng sự thơm ngon của đậu luộc và được no lòng. Nhưng, đối với người bất bình thường, có sự khiếm khuyết trong cơ thể, bị dị ứng với chất đậu phụng, thì nồi đậu phụng luộc đối với anh ta không còn công dụng giúp cho anh ta no nê, thỏa lòng mà sẽ là nguồn của sự đau khổ khủng khiếp khi anh ta ăn vào.

7. Chính câu Thánh Kinh anh trích dẫn đã chứng minh, cả hai: cây sự sống và cây biết điều thiện điều ác đều là những cây theo nghĩa đen như các cây khác.

8. Đó chỉ là những suy luận chủ quan của anh hoàn toàn không có trong Thánh Kinh. Tôi không thấy Thiên Chúa sợ hay ích kỷ mà tôi chỉ thấy Thiên Chúa đầy lòng thương xót và ý định khôn ngoan của Ngài. Lý luận quy chụp theo kiểu trên đây là ngụy biện, gán ghép những điều Thánh Kinh không nói cho Thánh Kinh.

9. Xin cho tôi biết chỗ nào Thánh Kinh nói A-đam ăn trái của cây sự sống trước khi ăn trái của cây biết điều thiện và điều ác? Vả lại, các chữ "sống" và "chết" phải hiểu theo định nghĩa của Thánh Kinh:

  • Xác thịt sống: linh hồn và tâm thần ở trong xác thịt.
  • Tâm thần sống: linh hồn ở trong tâm thần và tâm thần giúp linh hồn tương giao với Thiên Chúa, nhận biết Thiên Chúa ngày càng hơn; luật pháp và điều răn của Thiên Chúa được ghi chép trong tâm thần; năng lực của Đức Thánh Linh tuôn đổ trong tâm thần, giúp cho linh hồn có những quyết định đúng theo thánh ý của Thiên Chúa và có năng lực làm tròn những việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn cho linh hồn.
  • Linh hồn sống: linh hồn nhận biết Thiên Chúa và vâng phục Thiên Chúa.
  • Sự sống đời đời: linh hồn đã được tái sinh ở trong một tâm thần đã được tái sinh và ở trong một xác thịt đã được phục sinh hoặc đã được biến hóa, mãi mãi ở trong trạng thái và địa vị nhận biết Thiên Chúa và hạnh phúc bên Ngài. Sự nhận biết Thiên Chúa cứ tăng tiến mãi, không ngừng nghỉ, cho đến đời đời.
  • Sự chết xác thịt: linh hồn và tâm thần rời khỏi xác thịt, xác thịt trở về cùng bụi đất.
  • Sự chết tâm thần: tâm thần không còn tương giao với Thiên Chúa, sẽ trở về cùng Thiên Chúa khi sự chết của xác thịt xảy ra.
  • Sự chết linh hồn: linh hồn không được tiếp tục nhận biết Thiên Chúa (nhưng vẫn duy trì sự nhận thức về Thiên Chúa mà Ngài đã đặt để trong linh hồn loài người khi Ngài sáng tạo loài người); hành động thiếu sự dẫn dắt của Thiên Chúa, khi sự chết của thể xác xảy ra thì rời khỏi thể xác, rời khỏi tâm thần, đi vào âm phủ, chờ ngày xác thịt được sống lại để chịu phán xét.
  • Sự chết đời đời của loài người: linh hồn ở trong thân thể xác thịt đã được phục sinh, đời đời không còn được tiếp tục nhận biết Thiên Chúa, (nhưng vẫn duy trì sự nhận thức về Thiên Chúa mà Ngài đã đặt để trong linh hồn loài người khi Ngài sáng tạo loài người), chịu hình phạt đời đời trong hỏa ngục.

Qua đó, chúng ta thấy rõ ràng: sự hằng hữu khác với sự sống đời đời và khác với sự chết đời đời. Hay nói cách khác, sự sống đời đời là hằng hữu trong sự tiếp tục nhận biết Thiên Chúa không ngừng nghỉ. Sự chết đời đời là hằng hữu trong sự không còn được tiếp tục nhận biết Thiên Chúa mà phải chịu khổ vì sự lựa chọn không vâng phục Thiên Chúa của mình [1].

Tôi nhận thấy, anh theo trường phái thần học biểu tượng cho nên anh đã hiểu Thánh Kinh theo phong cách của họ. Với tôi, hiểu cây sự sống và cây biết điều thiện điều ác theo nghĩa đen hay nghĩa bóng không liên quan gì đến sự cứu rỗi của một người. Hễ ai công nhận mình là tội nhân, vì mình sống nghịch lại điều răn và luật pháp của Thiên Chúa như đã soi sáng trong lương tâm và ghi chép trong Thánh Kinh, thật lòng ăn năn, từ bỏ tội, tin nhận chỉ một mình sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ, và hết lòng làm những gì Thánh Kinh bảo làm, tránh những gì Thánh Kinh bảo tránh thì người đó sẽ nhận được sự sống đời đời. Khi đó, họ sẽ biết sự sống đời đời là gì!

Tôi mạn phép chấm dứt thảo luận về đề tài này vì những điều tôi trình bày trên đây và trong các bài giảng của tôi là những điều tôi tin. Tôi không muốn tốn thì giờ để tranh biện điều tôi đã tin và tôi cũng đã trình bày hết những gì tôi có thể trình bày về đề tài này.

Cám ơn anh đã dành thời gian để chia sẻ và thảo luận.

Trong ân điển của Đức Chúa Jesus Christ.

Huỳnh Christian Timothy
12.12.2012

[1] Xin xem thêm bài “Sự Sống Đời Đời và Sự Chết Đời Đời” tại đây: http://thanhoc.timhieutinlanh.net/node/303


Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry.
Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Đọc Tiếp →

Trả Lời Một Số Lý Luận Bảo Vệ Việc Nói Tiếng Lạ

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?mvvinfzpx1twynd

Huỳnh Christian Timothy

Nội Dung Các Lý Luận

Saigon 08.12.2012

Hôm nay, em có gặp một người con cái Chúa, anh này có những đặc điểm là rất giống anh, ở chỗ anh ta không sinh hoạt ở bất kỳ giáo phái nào. Mà chỉ thờ phượng và giảng dạy lời Chúa theo Thánh Kinh, trung thành theo Thánh Kinh và anh cũng bỏ hết việc thế gian mà hầu việc Chúa cách nhiệt thành.

Em có đề cập đến vấn đề nói tiếng lạ ngày nay và ân tứ nói ngoại ngữ đến từ Chúa Thánh Linh. Sau đây là quan điểm hay cách hiểu của anh ấy về vấn đề này. Anh ấy chia sẻ rằng anh ấy là người chống lại vấn đề nói tiếng lạ được trên 20 năm, cho đến khi anh ấy trong một buổi cầu nguyện một mình, đau đớn khi cầu thay cho người bạn tội lỗi, mà nỗi đau đó không diễn tả đầy đủ được, thì đột nhiên âm thanh cầu nguyện của anh không còn là tiếng Việt nữa mà thật sự là bằng tiếng lạ. Sau đó, anh tha thiết xin Chúa Thánh Linh bày tỏ cho anh lẽ thật về vấn đề gây tranh cãi này. Chúa bày tỏ và sau đây là cách anh ấy diễn đạt lại với em. Trước khi đi vào nội dung chính thì anh ấy có nêu một số ý như sau:

  • Ma quỷ luôn gieo sự sợ hãi và nghi ngờ cho những người vận dụng ân tứ : Ví dụ “coi chừng cái này đến từ ma quỷ chứ không phải từ Thánh Linh để vô hiệu hóa hay ngăn cản việc sử dụng ân tứ do Chúa ban cho.”
  • Ma quỷ cũng tạo ra những tranh luận giữa vòng những người có ân tứ để lãng phí thời gian và làm suy yếu đi khả năng liên kết trên đất này của những người con cái Chúa.
  • Satan từng là tổng quản về ngợi khen và thờ phượng trên thiên đàng nên hiểu rất rõ về ân tứ.
  • Ân tứ thay vì là một tiền tố để Cơ Đốc Nhân phối hợp mạnh mẽ thì nay lại là nhân tố gây chia rẻ bậc nhất trong vòng Hội Thánh. Giống như một vị vua cha có 10 hoàng tử, và vua dạy cho mỗi người một thế võ, nhưng bài võ chỉ trọn vẹn khi 10 hoàng tử này biết phối hợp lại với nhau. (Chúa Thánh Linh ban cho ân tứ cho ai là tùy ý Ngài).

Trường hợp 1:Công vụ đoạn 2: Đây là tiếng lạ được hiểu như một ngoại ngữ xác định được với mục đích truyền giảng Tin Lành cho dân tộc khác. Đây phải dịch là tiếng ngoại quốc mới đúng.

Trường hợp 2:là trường hợp bị quở trách của Hội Thánh Cô-rinh-tô: là trường hợp giữa những người được ơn nói với hội chúng đã tin thì bắt buộc phải có sự thông giải. Trường hợp này có thể là tiếng ngoại quốc nhưng cũng có thể là tiếng lạ (tràng âm thanh không hiểu được).

Trường hợp 3:là trường hợp chắc chắn không phải là tiếng của loài người hay dân tộc ngoại quốc, tại sao lại có sự giải thích này là bởi vì: Đây là ngôn ngữ hoàn toàn riêng biệt để tương giao với Chúa trong thế giới linh. Loại tiếng này dùng để gây dựng chính phần linh của cá nhân nói tiếng đó, là một sự bày tỏ “kín nhiệm.”

Phao-lô vừa là người được ân tứ nói nhiều thứ ngoại ngữ và cũng là người được ân tứ nói nhiều “thứ tiếng lạ” này (âm thanh không hiểu được). Ông có sự tương giao với Chúa rất đặc biệt, bằng cớ là Phao-lô không trực tiếp dự Tiệc Thánh lúc Chúa Jesus lập ra, nhưng ông nhận được điều này từ Chúa về nghi thức Tiệc Thánh và viết ra để dạy trong thư Cô-rinh-tô. Ngày hôm nay, những lúc dự Tiệc Thánh thì Hội Thánh luôn đọc đoạn Kinh Thánh do Phao-lô viết dạy dỗ về nghi thức này.( I Cor 11 – Vả, tôi có nhận nơi Chúa…). Ông không hề dự Tiệc Thánh vào lúc Chúa Jesus lập, nhưng ông lại nói là ông nhận nơi Chúa vì ông có sự tương giao đặc biệt bằng linh với Thánh Linh (Nhận trong nơi kín nhiệm khi ông tương giao với Chúa). Vì ông là người nói tiếng lạ nhiều nhất nên ông cũng là người viết Tân Ước nhiều nhất sau khi Chúa Jesus thăng thiên.

Ông cũng nhắc nhở là “cầu nguyện bằng tâm linh nhưng cũng cầu nguyện bằng tâm trí nữa.”

Mục đích ông viết thư Cô-rinh-tô là để Hội Thánh được tổ chức tốt hơn, đặc biệt là trong lĩnh vực sử dụng ân tứ. Ông sắp xếp lại và hướng dẫn Hội Thánh cách vận hành ân tứ.

Tiếng lạ dùng để truyền giảng thì được hiểu là ngoại ngữ (speak other tongues), tiếng lạ dùng để gây dựng chính mình thì được hiểu là cơ quan phát âm (speak a tongue), mà loại âm thanh này không nhất thiết là loại ngôn ngữ thông thường của loài người. Ví dụ:

  • Đứa bé còn bú mẹ, khi nó “nói chuyện” với mẹ nó để xin bú thì nó sẽ không nói là “con muốn bú” mà nó chỉ có thể nói là “măm măm.” Đương nhiên, chữ “măm măm” này không phải là ngôn ngữ thông thường để diễn đạt “con muốn bú.” Việc tương giao với Cha Thiên Thượng cũng thế, có những điều “không nói bằng lời” được khi tâm linh được lớn lên. Nếu một người chưa nên thánh mà “báp tem Thánh Linh” sẽ bị hỏng chân, lúc đó thay vì được đầy dẫy Thánh Linh thì tà linh nhảy vào tương tác. Cho nên, anh ta đồng ý với anh rằng đầy dẫy Thánh Linh là phụ thuộc vào sự nên thánh khi sống đạo chứ không phải đặt tay cầu nguyện để đầy dẫy theo kiểu sai trật của các phong trào hiện nay.
  • Mối quan hệ của những cặp vợ chồng khắng khít, khi họ “gần gủi” nhau thì họ không nói những ngôn ngữ bình thường nhưng là “những âm thanh vô nghĩa” nhưng họ vẫn hiểu nhau. So sánh này hơi bình dân, nhưng dễ hiểu. Khi một con người thánh khiết, khao khát tương giao với Đức Chúa Trời thì Thánh Linh sẽ dẫn dắt để cầu nguyện tương giao với Đức Chúa Trời mà không nhất thiết âm thanh phát ra là loại ngôn ngữ thông thường, nó vẫn có khả năng là một tràng âm thanh vô nghĩa.

Anh ta cũng đồng ý trường hợp tiếng mới của Mác 16:17 Chúa Jesus dạy là ngoại lệ.

Tất cả các phân đoạn Kinh Thánh có nhắc đến vấn đề tiếng lạ ở nhiều ngữ cảnh khác nhau đều nên đổi lại cách dịch là tiếng ngoại quốc cho rõ nghĩa, ngoại trừ I Cor 14:2, 4, 14, 15, 18, 19, 23.

Kết luận:

  • Ân tứ nói ngoại ngữ được vận hành khi Chúa Thánh Linh cần ấn chứng hoặc giảng giải cách rõ ràng bằng một ngôn ngữ ngoại quốc được chuyển sang ngôn ngữ của những người nghe có thể hiểu được một cách siêu nhiên.
  • Ân tứ nói tiếng lạ (âm thanh không hiểu được) chỉ được ban cho những người có nếp sống đạo thánh khiết, khao khát tương giao với Chúa, dành nhiều thời gian cầu nguyện cho Chúa mỗi ngày, khao khát tương giao với Chúa, gầy dựng chính mình.
  • Thực trạng Satan lợi dụng “tiếng lạ” để xâm nhập vào Hội Thánh gây rối là có thật nhưng đó không phải là kết luận để nhận định một tràng âm thanh không hiểu được lúc nào cũng do tà linh gây ra.
  • Thực tế, con cái chân thật của Chúa, khao khát tương giao với Chúa, cầu xin Thánh Linh ban cho “cơ quan phát âm” của họ phát lên những âm thanh ngợi khen thờ phượng thì họ vẫn nhận lãnh. Vì “các ngươi là xấu xa còn biết cho con bánh, huống chi Cha lại không ban Thánh Linh cho những người cầu xin sao…” Vì những người khao khát, họ có tâm tình cầu nguyện nóng cháy với Chúa nên Chúa sẽ không cho phép tà linh nào nhảy vào áp chế khi con cái Chúa khao khát tương giao với Ngài. Điều này có thể nhận thấy những người “tự gầy dựng chính mình” bằng cách cầu nguyện tiếng lạ thì đều nhận được sự bình an chứ không phải bất an. (Điều này thì em có trải nghiệm trước đây).
  • Việc tà linh dùng tiếng lạ để gây rối hoàn toàn có thật, nhưng những âm thanh vô nghĩa lúc tương giao trong mối quan hệ ngọt ngào với Đức Chúa Cha cũng có thật, việc tương giao này được điều khiển bởi phần linh chứ không bị hạn chế bởi phần hồn (tâm trí có ý thức).

Nhận định của em:

  • Cảm giác bình an khi cầu nguyện một mình với Chúa bằng tiếng lạ là trải nghiệm có thật của em.
  • Em không tin rằng tại đa số Hội Thánh đang nói tiếng lạ là loại tiếng lạ được ban để tương giao, là “ tiếng thở than không nói nên lời.” mà chủ yếu họ dùng nhân linh của họ để “ra vẻ” spiritual hoặc rất nhiều trường hợp bị linh lừa dối.
  • Vì theo em nghĩ, một người phải thực sự nên thánh, không phạm tội, ao ước tương giao với Chúa nhưng ngôn ngữ không đủ diễn đạt thì trạng thái tiếng lạ tương giao đó vẫn có thể được ban cho. Ngay cả đối với người bình thường của mình, khi giao tiếp với nhau cũng đôi khi “nói” hay “ kêu” những âm thanh vô nghĩa.
  • Em hiểu liên quan đến vấn đề thờ phượng, đôi khi chúng ta “uu aa ơơ lala huhu hòhơ” đều không có nghĩa nhưng tâm thần chúng ta đang hướng về Chúa thì tà linh cũng không được phép bén mảng tới gần, và nó cũng có thể hiểu là âm thanh của sự thờ phượng, tương giao hay thở than, hoặc khi không thể diễn đạt đầy đủ.
  • Những âm thanh “uu aa ơơ lala huhu hòhơ” ở một cường độ, độ dài nhất định thì sẽ đến lúc nhận được sự thông giải sang ngôn ngữ loài người một cách rõ nghĩa hơn.
  • Đức Chúa Cha tìm kiếm những người thờ phượng bằng “tâm thần” thật sự để tương giao với Ngài.

Anh giúp em xem nội dung em vừa trình bày như thế nào nhé, vì đây là sự hiểu biết vẫn theo em trong mấy ngày qua, vì thực tế kể cả thời gian gần đây, đôi lúc em rất đau đớn khi cầu nguyện cho vấn đề hôn nhân của em, em dâng những tổn thương mà mối quan hệ này gây ra, đôi lúc nó quá đau đớn khi nói đến những chi tiết đó, thì lúc đó em lại diễn đạt bằng “tiếng lạ” để dâng lên cho Chúa, trạng thái thực sự tan vỡ. Sau đó, thì em lại rất bình an. Tuy nhiên, không chỉ lúc đau khổ mới dùng tiếng lạ cầu nguyện, ngay cả khi mừng vui cũng có thể phát lên những âm thanh vô nghĩa.

Nhưng cũng có khi sự cầu nguyện chưa sâu, mà em lại cố dùng “nhân linh” để phát ra tiếng lạ thì chắc chắn nó không đến từ Thánh Linh mà nó chỉ là sự gượng ép của cá nhân em mà thôi. Em tin rằng, Hội Thánh ngày nay có rất nhiều trường hợp như vậy.

 

Các Câu Trả Lời của Huỳnh Christian Timothy

 

Nguyên tắc đầu tiên mà chúng ta cần triệt để vâng theo, đó là: Bất cứ lý luận hay giáo lý nào không có Thánh Kinh hổ trợ thì nó đến từ Sa-tan. Thánh Kinh dạy: "Bất cứ việc gì tựa như điều ác, thì phải tránh đi" (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:22). Chứng cớ bảo vệ cho nguyên tắc nói trên là: Tất cả những lý luận hay giáo lý không có trong Thánh Kinh hổ trợ đó, nếu chúng ta không tin và không thực hành thì không thiệt hại gì cho nếp sống Đạo của chúng ta.

Nguyên tắc thứ hai là chúng ta xét người theo theo sự giảng dạy và làm theo Lời Chúa của người ấy. Một người giảng và thực hành bất cứ một giáo lý nào không có trong Thánh Kinh thì dù cho người đó có "đạo đức" như Phật Thích Ca, bỏ hết mọi sự để đi giảng đạo, thì người đó vẫn đang bị tà linh điều khiển.

Vợ chồng tôi từng bị tà linh áp chế phải cầu nguyện bằng tiếng lạ trong khi chúng tôi đang cầu nguyện đuổi quỷ, nhưng chúng tôi đã nhân danh Chúa để xua đuổi quyền lực khiến chúng tôi nói tiếng lạ ấy, nên nó không bắt phục được chúng tôi. Người bạn của anh thiếu hiểu biết nên đã bị tà linh khống chế.

Dưới đây (trong email của anh) là ý kiến của tôi và những điểm không đúng Thánh Kinh do người bạn của anh nêu ra. Tôi dùng chữ màu đỏ.

Hôm nay, em có gặp một người con cái Chúa, anh này có những đặc điểm là rất giống anh, ở chỗ anh ta không sinh hoạt ở bất kỳ giáo phái nào. Mà chỉ thờ phượng và giảng dạy lời Chúa theo Thánh Kinh, trung thành theo Thánh Kinh và anh cũng bỏ hết việc thế gian mà hầu việc Chúa cách nhiệt thành.

Em có đề cập đến vấn đề nói tiếng lạ ngày nay và ân tứ nói ngoại ngữ đến từ Chúa Thánh Linh. Sau đây là quan điểm hay cách hiểu của anh ấy về vấn đề này. Anh ấy chia sẻ rằng anh ấy là người chống lại vấn đề nói tiếng lạ được trên 20 năm, cho đến khi anh ấy trong một buổi cầu nguyện một mình, đau đớn khi cầu thay cho người bạn tội lỗi, mà nỗi đau đó không diễn tả đầy đủ được, thì đột nhiên âm thanh cầu nguyện của anh không còn là tiếng Việt nữa mà thật sự là bằng tiếng lạ.

Nội dung của ơn nói ngoại ngữ là để tôn vinh Thiên Chúa (Công Vụ Các Sứ Đồ 10:46) không phải để cầu thay cho nhau. Sứ Đồ Phao-lô nhắc nhở con dân Chúa cầu thay cho nhau và cầu thay cho ông rất nhiều nhưng không bao giờ ông bảo họ cầu thay bằng ân tứ nói ngoại ngữ. Mục đích của ơn nói ngoại ngữ là để tự gây dựng lấy mình (nhất là khi chưa có Thánh Kinh Tân Ước) không phải để cầu thay cho người khác (I Cô-rinh-tô 12:4). Thánh Kinh dạy rõ: Khi chúng ta có những nỗi niềm không thể thốt nên lời thì chính Đức Thánh Linh lấy những sự thở than không thể nói ra được mà cầu khẩn thay cho chúng ta: "Cũng một lẽ ấy, Đấng Thần Linh giúp cho sự yếu đuối chúng ta. Vì chúng ta chẳng biết sự mình phải xin đặng cầu nguyện cho xứng đáng; nhưng chính Đấng Thần Linh lấy sự thở than không thể nói ra được mà cầu khẩn thay cho chúng ta. Đấng dò xét lòng người hiểu biết ý tưởng của Đấng Thần Linh là thể nào, vì ấy là theo ý Thiên Chúa mà Ngài cầu thế cho các thánh đồ vậy" (Rô-ma 8:26-27).

Sự kiện người bạn của anh đang tha thiết cầu thay cho một người bạn có tội mà bỗng nhiên phát ra các âm thanh lạ, có thể do một trong hai nguyên nhân sau:

  1. Tương tự như lúc vợ chồng chúng tôi đang cầu nguyện đuổi quỷ thì tà linh thúc giục chúng tôi phát ra những âm thanh vô nghĩa theo kiểu nói tiếng lạ của những người Ân Tứ Ngũ Tuần, người bạn của anh có thể bị tấn công cùng một cách như vậy, nhưng anh ta đã không nắm vững lẽ thật của Chúa để chống trả nên bị mắc vào mưu kế của Sa-tan. Thánh Kinh dạy chúng ta phải lấy lẽ thật làm dây nịt lưng, dùng gươm của Thánh Linh là Lời Chúa để chống trả Ma Quỷ thì chúng ta mới thắng được mưu kế của nó (Ê-phê-sô 6:14-17). Chúng ta không thua sức Sa-tan vì Đấng ở trong chúng ta lớn hơn Sa-tan (I Giăng 4:4), nhưng nếu chúng ta không nắm vững Lời Chúa thì chúng ta sẽ thua mưu kế nó: “Hãy mang lấy mọi khí giới của Đức Chúa Trời, để được đứng vững mà địch cùng mưu kế của Ma Quỷ” (Ê-phê-sô 6:11).
  2. Có thể chính anh ta đang có một tội lỗi thầm kín nào đó, chưa chịu từ bỏ, mà lại cầu thay cho người khác, cho nên, tà linh có thể xâm nhập anh ta.

Sau đó, anh tha thiết xin Chúa Thánh Linh bày tỏ cho anh lẽ thật về vấn đề gây tranh cãi này. Chúa bày tỏ và sau đây là cách anh ấy diễn đạt lại với em. Trước khi đi vào nội dung chính thì anh ấy có nêu một số ý như sau:

Một khi đã để cho tà linh xâm nhập, xem trọng kinh nghiệm và cảm xúc xác thịt hơn lẽ thật của Lời Chúa, thì tà linh sẽ điều khiển và giả làm Chúa Thánh Linh để tiếp tục dẫn dắt người bị nó bắt phục đi sâu vào con đường sai lạc.

  • Ma quỷ luôn gieo sự sợ hãi và nghi ngờ cho những người vận dụng ân tứ : Ví dụ “coi chừng cái này đến từ ma quỷ chứ không phải từ Thánh Linh để vô hiệu hóa hay ngăn cản việc sử dụng ân tứ do Chúa ban cho.”

Câu này sai. Phải nói rằng: Đức Thánh Linh luôn cảnh cáo những người thật lòng tìm kiếm lẽ thật, rằng hiện tượng nói tiếng lạ là đến từ Ma Quỷ. Còn những người chạy theo dấu kỳ phép lạ hơn là lẽ thật của Lời Chúa thì Ma Quỷ đưa ra những lý lẽ bẻ cong Lời Chúa để giúp họ bảo vệ cho sự nói tiếng lạ của họ.

  • Ma quỷ cũng tạo ra những tranh luận giữa vòng những người có ân tứ để lãng phí thời gian và làm suy yếu đi khả năng liên kết trên đất này của những người con cái Chúa.

Câu này sai. Phải nói rằng: Đức Thánh Linh luôn vận hành giữa những người nói tiếng lạ, cáo trách họ, đưa họ đến với những tôi tớ chân thật của Đức Chúa Trời, là những người rao giảng chân thật về Lời Chúa, chỉ ra sự sai trái của hiện tượng nói tiếng lạ, để thức tỉnh những ai thật lòng tìm kiếm lẽ thật của Lời Chúa nhưng đang sa vào mưu kế của tà linh nói tiếng lạ. Đó là cách mà Đức Chúa Trời giải cứu và dạy dỗ những con chiên chân thật của Ngài nhưng còn non yếu về thuộc linh.

  • Satan từng là tổng quản về ngợi khen và thờ phượng trên thiên đàng nên hiểu rất rõ về ân tứ.

Câu này sai. Sa-tan thật có quyền phép của một thiên sứ trưởng nhưng Sa-tan không biết gì về các ân tứ Chúa ban cho Hội Thánh, bởi vì, Hội Thánh là một huyền nhiệm được giấu kín trong Đức Chúa Trời từ thời thượng cổ. Chỉ đến khi Đấng Christ phục sinh, Hội Thánh được thành lập, Sa-tan mới ý thức được sự mầu nhiệm về Hội Thánh và Sa-tan cũng phải học về Hội Thánh và các ân tứ Chúa ban cho Hội Thánh (qua sự rao giảng của các tôi tớ Chúa bởi quyền năng của Đức Thánh Linh) như chúng ta.

Ê-phê-sô 3:9 “và soi sáng cho mọi người biết sự phân phát lẽ mầu nhiệm, từ đời thượng cổ đã giấu kín trong Đức Chúa Trời là Đấng dựng nên muôn vật.”

Ê-phê-sô 5:32 “Sự mầu nhiệm ấy là lớn, tôi nói về Đấng Christ và Hội Thánh vậy.”

Dầu vậy, Sa-tan cũng không thể nào “hiểu rất rõ” về các ân tứ. Bởi vì, Sa-tan không hề nhận lãnh Thánh Linh từ Đức Chúa Trời để hiểu được các ân tứ mà Hội Thánh đã nhận lãnh. Thánh Kinh cho biết, phải dùng sự khôn ngoan do Đức Thánh Linh dạy thì mới có thể hiểu biết được các ân tứ của Ngài. Thật là vô lý nếu cho rằng sau khi Hội Thánh được thành lập và được ban cho các ân tứ của Đức Thánh Linh thì Đức Thánh Linh lại giảng dạy cho Sa-tan hiểu biết về các ân tứ mà Ngài đã ban cho Hội Thánh. “Về phần chúng ta, chúng ta chẳng nhận lấy thần thế gian, nhưng đã nhận lấy Thần từ Đức Chúa Trời đến, hầu cho được hiểu biết những ơn mà chúng ta nhận lãnh bởi Đức Chúa Trời; chúng ta nói về ơn đó, không cậy lời nói mà sự khôn ngoan của loài người đã dạy đâu, song cậy sự khôn ngoan mà Thánh Linh đã dạy, dùng tiếng thiêng liêng để giải bày sự thiêng liêng.” (I Cô-rinh-tô 2:12-13).

  • Ân tứ thay vì là một tiền tố để Cơ Đốc Nhân phối hợp mạnh mẽ thì nay lại là nhân tố gây chia rẻ bậc nhất trong vòng Hội Thánh. Giống như một vị vua cha có 10 hoàng tử, và vua dạy cho mỗi người một thế võ, nhưng bài võ chỉ trọn vẹn khi 10 hoàng tử này biết phối hợp lại với nhau. (Chúa Thánh Linh ban cho ân tứ cho ai là tùy ý Ngài).

Sự so sánh này khập khểnh. Trong khi mười người con phải tổng hợp 10 thế võ để môn võ được nên trọn vẹn thì mỗi một ân tứ của Đức Thánh Linh là một ơn ban toàn vẹn, không một ơn nào dựa trên một ơn nào. Mỗi ơn có mục đích và công dụng riêng, cho mỗi hoàn cảnh, trường hợp. Các ân tứ của Chúa vẫn hiện diện trong Hội Thánh ngày nay, kể cả ân tứ nói ngoại ngữ và thông giải ngoại ngữ (tôi là một trong những người được ơn thông giải ngoại ngữ); nhưng sự kiện nói tiếng lạ không phải là một trong các ân tứ của Đức Thánh Linh và hoàn toàn phản Thánh Kinh. Đó chỉ là một hình thức đọc thần chú của các ngoại giáo mà trong khoảng 100 năm qua, Sa-tan đã dấy lên để tấn công vào trong Hội Thánh Chúa trong những ngày cuối cùng này, dẫn đến sự bội Đạo lớn làm tiền đề cho sự Chúa trở lại: "Luận về sự đến của Đức Chúa Jesus Christ chúng ta, và về sự chúng ta hội hiệp cùng Ngài, thì, hỡi anh em, xin chớ vội bối rối và kinh hoàng hoặc bởi thần cảm giả mạo, hoặc bởi lời nói hay là bởi bức thơ nào tựa như chúng tôi đã gởi mà nói rằng ngày Chúa gần đến. Mặc ai dùng cách nào, cũng đừng để họ lừa dối mình. Vì phải có sự bỏ đạo đến trước, và có người tội ác, con của sự hư mất hiện ra" (II Tê-sa-lô-ni-ca 2:1-3).

Trong suốt lịch sử của Hội Thánh Chúa gần hai ngàn năm qua, chưa bao giờ sự bội đạo thể hiện đều khắp và rộng lớn cho bằng qua phong trào nói tiếng lạ và đặt tay té ngã. Cá nhân tôi xem sự tổng hợp của phong trào nói tiếng lạ, đặt tay té ngã cùng với phong trào chấp nhận đồng tính luyến ái trong Hội Thánh là sự bội Đạo lớn, làm dấu hiệu cho sự Chúa trở lại để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian.

Trường hợp 1: Công vụ đoạn 2: Đây là tiếng lạ được hiểu như một ngoại ngữ xác định được với mục đích truyền giảng Tin Lành cho dân tộc khác. Đây phải dịch là tiếng ngoại quốc mới đúng.

Câu này sai. Đây không phải là tiếng lạ, Thánh Kinh không bao giờ dùng từ ngữ "tiếng lạ," mà đây là các ngôn ngữ. Công Vụ Các Sứ Đồ 2 liệt kê ra ngôn ngữ của 15 dân tộc khác nhau và nhiều lần dùng các từ ngữ sau đây để chỉ định các ngôn ngữ mà Đức Thánh Linh đã ban cho các môn đồ nói ra: “các thứ tiếng khác,” “tiếng xứ mình,” “tiếng riêng của xứ chúng ta sanh đẻ,” “tiếng chúng ta” và nội dung của sự nói đó là “nói những sự cao trọng của Đức Chúa Trời!” (Công Vụ Các Sứ Đồ 2:4, 6, 8, 11).

Mục đích của sự các môn đồ Chúa được ban ơn nói các ngôn ngữ khác nhau của loài người là để chứng minh năng lực của Đức Thánh Linh bắt đầu vận hành trong Hội Thánh của Đức Chúa Trời để Tin Lành sẽ được Hội Thánh giảng ra cho mọi dân tộc, bằng mọi tiếng nói của loài người, báo hiệu thời điểm kết thúc lịch sử tội lỗi của nhân loại.

Trong trường hợp của gia đình Cọt-nây (Công Vụ Các Sứ Đồ 10:46) là để cho các tín đồ người Do-thái biết Đức Chúa Trời tiếp nhận dân ngoại vào trong Hội Thánh và báp-tem Thánh Linh cho họ như là dân Do-thái. Trước khi Đấng Christ phục sinh, Tin Lành chỉ được giảng cho người Do-thái. Sau khi Đấng Christ phục sinh, không có sự phân biệt giữa dân Do-thái và dân ngoại trong Hội Thánh của Chúa (Ga-la-ti 3:28).

Không bao giờ ân tứ nói ngoại ngữ được dùng để truyền giảng mà tất cả các nhà truyền giáo đều phải học ngôn ngữ của dân tộc mà họ muốn đến truyền giảng. Cuối cùng, ơn nói ngoại ngữ là dấu hiệu tỏ ra cho những người không tin để họ nhận biết quyền năng của Đức Thánh Linh đang vận hành trong Hội Thánh (I Cô-rinh-tô 12:22), còn hiện tượng nói tiếng lạ chỉ khiến cho người ngoại chê cười vì họ thấy những kẻ nói tiếng lạ giống những người lên đồng, lên bóng, bị quỷ nhập.

Trường hợp 2: là trường hợp bị quở trách của Hội Thánh Cô-rinh-tô: là trường hợp giữa những người được ơn nói với hội chúng đã tin thì bắt buộc phải có sự thông giải. Trường hợp này có thể là tiếng ngoại quốc nhưng cũng có thể là tiếng lạ (tràng âm thanh không hiểu được).

Chỗ nào trong Thánh Kinh dạy rằng có thể các tín đồ tại Cô-rinh-tô nói ra những tràng âm thanh vô nghĩa? Đây là Sa-tan cưỡng từ đoạt ý để ngụy biện.

Trường hợp 3: là trường hợp chắc chắn không phải là tiếng của loài người hay dân tộc ngoại quốc, tại sao lại có sự giải thích này là bởi vì: Đây là ngôn ngữ hoàn toàn riêng biệt để tương giao với Chúa trong thế giới linh. Loại tiếng này dùng để gây dựng chính phần linh của cá nhân nói tiếng đó, là một sự bày tỏ “kín nhiệm.”

Chỗ nào trong Thánh Kinh dạy như vậy? Sa-tan đã đưa ra một giáo lý không có trong Thánh Kinh.

Phao-lô vừa là người được ân tứ nói nhiều thứ ngoại ngữ và cũng là người được ân tứ nói nhiều “thứ tiếng lạ” này (âm thanh không hiểu được).

Chỗ nào trong Thánh Kinh dạy như vậy? Sa-tan đã đưa ra một giáo lý không có trong Thánh Kinh.

Ông có sự tương giao với Chúa rất đặc biệt, bằng cớ là Phao-lô không trực tiếp dự Tiệc Thánh lúc Chúa Jesus lập ra, nhưng ông nhận được điều này từ Chúa về nghi thức Tiệc Thánh và viết ra để dạy trong thư Cô-rinh-tô. Ngày hôm nay, những lúc dự Tiệc Thánh thì Hội Thánh luôn đọc đoạn Kinh Thánh do Phao-lô viết dạy dỗ về nghi thức này.( I Cor 11 – Vả, tôi có nhận nơi Chúa…). Ông không hề dự Tiệc Thánh vào lúc Chúa Jesus lập, nhưng ông lại nói là ông nhận nơi Chúa vì ông có sự tương giao đặc biệt bằng linh với Thánh Linh (Nhận trong nơi kín nhiệm khi ông tương giao với Chúa). Vì ông là người nói tiếng lạ nhiều nhất nên ông cũng là người viết Tân Ước nhiều nhất sau khi Chúa Jesus thăng thiên.

Đây là ngụy biện, dùng lý trí suy luận của loài người để tạo ra các giáo lý không có trong Thánh Kinh. Vua Đa-vít viết nhiều Thi Thiên nhất. Số câu Thánh Kinh Vua Đa-vít viết nhiều gấp hai lần số câu Phao-lô viết, vậy, có thể nào kết luận rằng Vua Đa-vít là người biết nói nhiều tiếng lạ nhất? Sự kiện Phao-lô được Chúa chọn làm sứ đồ và dạy dỗ ông cách trực tiếp không liên quan gì đến ân tứ nói ngoại ngữ và Phao-lô tuyệt đối không hề nói tiếng lạ, vì, không hề có ân tứ nói tiếng lạ mà chỉ có ân tứ nói ngoại ngữ.

Ông cũng nhắc nhở là “cầu nguyện bằng tâm linh nhưng cũng cầu nguyện bằng tâm trí nữa.”

Cầu nguyện là một hình thức thờ phượng Chúa cho nên phải bằng tâm thần và lẽ thật (Giăng 423-24). Sự cầu nguyện nào của chúng ta cũng phải xuất phát từ trong tâm thần bởi sự cảm động và dẫn dắt của Đức Thánh Linh rồi phát ra bằng ngôn ngữ qua môi miệng của xác thịt. Trong khi đó, linh hồn chúng ta am hiểu điều mình cầu xin. Riêng trường hợp cầu nguyện bằng ngoại ngữ mà chúng ta không hiểu để tự mình thông giải thì chúng ta cần có anh chị em khác đang hiện diện thông giải, nếu không, chúng ta chỉ được phép cầu nguyện bằng tiếng mẹ đẻ hoặc bằng thứ tiếng mà Hội Thánh có thể hiểu được. Dù chúng ta cầu nguyện bằng tiếng mẹ đẻ hay bằng ngoại ngữ thì chúng ta cũng cầu nguyện bằng tâm thần và theo lẽ thật của Lời Chúa. Lý luận cho rằng, cầu nguyện bằng ơn nói ngoại ngữ là cầu nguyện trong tâm thần còn cầu nguyện bằng tiếng mẹ đẻ là cầu nguyện bằng tâm trí là hoàn toàn phản Thánh Kinh.

Ý của Phao-lô là chúng ta phải tìm cầu sự cầu nguyện và tôn vinh mà chúng ta có thể hiểu được, còn nếu sự cầu nguyện và tôn vinh phát xuất từ tâm thần bởi ân tứ nói ngoại ngữ mà không có người thông giải hoặc tự chúng ta không hiểu điều chúng ta cầu nguyện hoặc tôn vinh thì chúng ta không nên thực hành. Trọn vẹn câu nói của Phao-lô là: “Bởi đó, kẻ nói ngoại ngữ, hãy cầu nguyện để được thông giải tiếng ấy. Vì nếu tôi cầu nguyện bằng ngoại ngữ, thì tâm thần tôi cầu nguyện, nhưng trí khôn tôi lơ lửng. Vậy thì tôi sẽ làm thể nào? Tôi sẽ cầu nguyện theo tâm thần, nhưng cũng cầu nguyện bằng trí khôn. Tôi sẽ hát theo tâm thần, nhưng cũng hát bằng trí khôn” (I Cô-rinh-tô 14:13-15).

Không thể có chuyện chỉ cầu nguyện hoặc tôn vinh bằng trí khôn mà không bằng tâm thần, vì mọi sự thờ phượng Chúa đều phải bằng tâm thần và lẽ thật. Cho nên, cầu nguyện và tôn vinh vừa bằng tâm thần vừa bằng trí khôn là ý rõ ràng trong câu nói của Phao-lô.

Sự giải kinh theo kiểu ngắt câu đoạn mạch đã sản xuất ra vô số tà giáo!

Mục đích ông viết thư Cô-rinh-tô là để Hội Thánh được tổ chức tốt hơn, đặc biệt là trong lĩnh vực sử dụng ân tứ. Ông sắp xếp lại và hướng dẫn Hội Thánh cách vận hành ân tứ.

Tiếng lạ dùng để truyền giảng thì được hiểu là ngoại ngữ (speak other tongues), tiếng lạ dùng để gây dựng chính mình thì được hiểu là cơ quan phát âm (speak a tongue), mà loại âm thanh này không nhất thiết là loại ngôn ngữ thông thường của loài người.

Lại thêm một sự ngụy biện của Sa-tan. "Speak a tongue" tức là nói một ngôn ngữ, không thể dịch là phát ra những âm thanh. Để nói đến sự kiện phát ra những âm thanh thì Thánh Kinh dùng: "giving sound" “Vậy, dẫu vật không có sự sống phát ra tiếng (giving sound), như ống tiêu, đờn cầm: nếu không có âm điệu phân biệt nhau, thể nào nhận biết được ống tiêu hay là đờn cầm thổi và khảy cái chi?” (I Cô-rinh-tô 14:7). Điều quan trọng là, Thánh Kinh không hề nói đến ân tứ “phát ra tiếng.”

Ví dụ:

  • Đứa bé còn bú mẹ, khi nó “nói chuyện” với mẹ nó để xin bú thì nó sẽ không nói là “con muốn bú” mà nó chỉ có thể nói là “măm măm.” Đương nhiên, chữ “măm măm” này không phải là ngôn ngữ thông thường để diễn đạt “con muốn bú.” Việc tương giao với Cha Thiên Thượng cũng thế, có những điều “không nói bằng lời” được khi tâm linh được lớn lên. Nếu một người chưa nên thánh mà “báp tem Thánh Linh” sẽ bị hỏng chân, lúc đó thay vì được đầy dẫy Thánh Linh thì tà linh nhảy vào tương tác. Cho nên, anh ta đồng ý với anh rằng đầy dẫy Thánh Linh là phụ thuộc vào sự nên thánh khi sống đạo chứ không phải đặt tay cầu nguyện để đầy dẫy theo kiểu sai trật của các phong trào hiện nay.

Chữ "măm măm" đương nhiên là ngôn ngữ để xin bú của trẻ con. Thánh Kinh khẳng định, con trẻ có ngôn ngữ của con trẻ. Ai quy định rằng "măm măm" không phải là ngôn ngữ của trẻ con để xin bú? Nếu không phải thì sao cả mẹ lẫn con đều hiểu rằng đó là đứa con muốn bú? Chẳng những con trẻ có ngôn ngữ của con trẻ mà còn có nhiều trình độ khác nhau trong sự vận dụng ngôn ngữ nữa. "Khi tôi còn trẻ, tôi nói như con trẻ, tư tưởng như con trẻ, suy xét như con trẻ; khi tôi đã thành nhơn bèn bỏ những điều thuộc về con trẻ" (I Cô-rinh-tô 13:11).

Nếu chưa nên thánh, sao lại được báp-tem bằng Thánh Linh? Nếu đã được báp-tem bằng Thánh Linh thì phải đầy dẫy Thánh Linh chứ sao tà linh lại nhảy vào? Vậy, quyền năng của Đức Thánh Linh ở đâu?

Một người thật lòng ăn năn tội, tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ thì lập tức được Đức Chúa Trời tha tội, được Đức Chúa Jesus Christ làm cho sạch tội và được Đức Thánh Linh tái sinh. Người đó lập tức được đổ đầy Thánh Linh của Chúa (báp-tem bằng Thánh Linh) để có năng lực của Thiên Chúa sống một đời sống mới theo điều răn và luật pháp mà Đức Thánh Linh đã ghi vào lương tâm mới của người ấy. Từ đó, người đã được tái sinh, nếu tiếp tục yêu mến Chúa, tìm kiếm lẽ thật của Lời Chúa để vâng theo thì tiếp tục đầy dẫy Thánh Linh, còn nếu hướng về thế gian yêu mến thế gian thì không còn đầy dẫy Thánh Linh.

Dấu chứng một người đầy dẫy Thánh Linh là sự kiện người ấy không phạm tội, dù chỉ trong tư tưởng, hoặc nếu tội lỗi vừa phát sinh trong tư tưởng thì người ấy lập tức ăn năn và xưng tội với Chúa. Khi tiếp xúc với thế giới bên ngoài, một người đầy dẫy Thánh Linh sẽ nói và hành động theo sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh. Dầu vậy, chính linh hồn người ấy quyết định là

Đọc Tiếp →

Hồi Đáp Email Góp Ý về Bài: “Mạng Lệnh của Thiên Chúa về Thức Ăn của Loài Người”

Kính thưa quý bạn đọc.

Chúng tôi vừa nhận được email góp ý của một con dân Chúa về bài: “Mạng Lệnh của Thiên Chúa về Thức Ăn của Loài Người,” http://biengiao.timhieutinlanh.net/node/44. Chúng tôi xin đăng tải nơi đây email góp ý và hồi đáp của chúng tôi để quý con dân Chúa cùng tham khảo.

Huỳnh Christian Timothy
13.10.2012


 

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?1nbfid5s582hyy1

______ thân mến,

Mỗi ngày, lời cầu nguyện đầu ngày và cuối ngày của tôi luôn có lời cầu xin Cha dạy cho tôi và gia đình tôi Lời của Ngài, vì tôi rất yêu mến sự hiểu biết Lời Chúa. Chính vì thế mà lời cầu nguyện cuối ngày của tôi cũng có lời xin Cha dạy tôi và gia đình tôi trong giấc ngủ. Nếu thân thể xác thịt của chúng ta không thể nào thiếu không khí quá 3 phút thì thân thể thiêng liêng của chúng ta là tâm thần cũng không thể nào thiếu Lời Chúa quá 3 phút. Gia đình tôi có thói quen khi xem TV cũng thảo luận và suy ngẫm đến Lời Chúa, liên kết những gì mình đang thấy trên màn ảnh với Lời Chúa.

Vì tôi bắt đầu một ngày với lời cầu nguyện xin Cha dạy dỗ lời Ngài cho tôi và gia đình, cho nên, tôi tin rằng, suốt một ngày, những gì chúng tôi đọc và suy ngẫm, dù không phải là Thánh Kinh, thì qua đó Cha cũng dạy cho chúng tôi Lời của Ngài, lẽ thật từ Lời Ngài. Mà thật vậy! Tuy nhiên, vì ______ bắt đầu email với ước mong là tôi cầu nguyện rồi hãy đọc những gì ______ viết, cho nên, tôi dừng lại cầu nguyện xin Cha soi dẫn cho tôi nhìn thấy những lẽ thật trong email của ______. Còn nếu có điều gì không đúng thì xin Cha cũng cho tôi nhìn thấy và giải bày với ______. Tôi cũng cầu nguyện xin Cha giúp ______ nhìn thấy lẽ thật trong Lời Cha. Tôi tin ______ là người yêu kính Chúa và chỉ muốn sống theo Lời Chúa, nhưng tôi không tin một số giáo lý của Cơ-đốc Phục Lâm và phương cách giải kinh của họ. Tôi đã nghiên cứu về Cơ-đốc Phục Lâm từ hàng chục năm trước.

Khi tôi đang viết những dòng này cho ______ thì tôi vẫn chưa đọc phần còn lại của email ______. Một lần nữa, tôi mở lòng để đọc những lời chân tình của ______ và xin ghi lại những ý nghĩ của tôi tiếp liền theo các ý tưởng mà ______ trình bày. Tôi sẽ dùng chữ màu đỏ. Tôi hứa với ______ là tôi đọc với tấm lòng rộng mở, không thành kiến, và sự hồi đáp của tôi chỉ hoàn toàn dựa trên Lời Chúa.

Nguyện Đức Thánh Linh dẫn chúng con vào lẽ thật của Lời Chúa. A-men.

Huỳnh Christian Timothy

Xin ______ đọc tiếp phần ý kiến của tôi được viết liền sau các ý tưởng ______ trình bày, dưới đây.

On 10/13/2012 5:42 AM, ______ wrote:

Nhu toi da viet truoc day,

Toi chi mong anh cau nguyen roi hay doc nhung gi toi viet , chuyen con lai thi xin nhuong lai giua Thien Chua va anh Tim thoi! Toi cung se ko noi lai sau nay nua, mong nhung dieu duoi day a doc va cau nguyen, vi toi tin mot nguoi ko the lam cho mot nguoi khac tin , nhung doi voi Thien Chua thi moi viec deu co the, toi da lang nghe nhung audio cua anh va doc nhung bai viet cua anh voi 1 tam long rong mo, toi hy vong anh cung vay.

Cac nha nghien cuu da noi bat cu nhung gi Kt viet co lien quan den khoa hoc, loai nguoi tu tu kham pha ra nhung van de co lien quan ma Kt da de cap. Kt noi cach day may ngan nam, va con nguoi ngay nay tung buoc da kham pha ra qua nhung bang chung khoa hoc hien dai, va dc ket luan rang nhung gi Kt de cap deu co ly do. Kt ko giai thich ly do tai sao Chua muon con nguoi fai lam nhu vay. Nhung ngay nay, Trong thu vien Luver devis France, co ba dam ruoi nhung quyen sach giao khoa khoa hoc bi loi thoi, nhung nhung gi Kt da de cap luon dung vung

Điều này là đúng. Tri thức của loài người là tiến trình dò tìm lẽ thật trong khi Thánh Kinh là lẽ thật.

1864 , France Academy Science san xuat danh sach gom 51 bang chung khoa hoc phan nghich lai voi Kt, nhung ngay hom nay 51 bang chung nay da ko con dc chap nhan voi nen van minh khoa hoc hien tai. The Science of Food of the American Association vao 2002, Phd nghien cuu ve dinh duong khoa hoc am thuc thuoc truong dai hoc Merryland the Richard arrange da khai mac chuong trinh hoi nghi va mo dau bai dien van bang cach ong da doc Leviky doan 11. Theo nha dinh duong hoc David Mence , "eating by the Book " du chung ta ko hieu het ta ca nhung ly do ve luat am thuc o trong Kt nhung cach khon ngoan nhat la vang theo Kt.

Cách khôn ngoan nhất là vâng theo Thánh Kinh cho dù chúng ta có hiểu hay là không hiểu. Đó là đức tin. Phần lớn thì chỉ sau khi chúng ta vâng theo Thánh Kinh chúng ta mới hiểu và càng trung tín vâng theo Thánh Kinh thì chúng ta càng khôn ngoan, hiểu biết càng hơn.

Nhieu su bay to khon ngoan trong Kt dc chung minh la phu hop voi van minh hien dai, dieu nay giup cho chung ta vang theo nhung dieu luat ma khoa hoc chua chung minh dc o trong Kt. Viec cam an mo da dc neu ro trong Kt va ngay nay thi khoa hoc da hoan toan dong tinh ve dieu nay, David Mence noi bietdau 50 nam nua ngta se chung minh dc su nguy hiem trong viec con nguoi an tom hum , tai sao kt ko cho an? Cach hay nhat la vang loi!

Đúng vậy, ăn mỡ nhiều có hại cho sức khỏe. Ăn tôm cua nhiều sẽ khiến cho trong máu có nhiều chất cholesterol xấu làm cho chết vì nghẽn mạch máu.

Leviky 11:46 ,47 Chua phan biet con thu sach va ko sach , thu an dc va ko an dc, Chua ban luat am thuc trong Kt la van de suc khoe cua chung ta! Nhung chung ta an se anh huong den dsong, skhoe cua chung ta.

Theo tu dien bach khoa the gioi, dong vat an co la an la cay vidu; bo truu nai, son duong va loai an co nay co he thong tieu hoa dac biet, bao tu cua chung ngan ra lam 4 ngan de bien doi nhung cay co ma chung an vao va bien nhung Amino Acid ma loai nguoi ko tieu thu dc ra nhung proteins day chat dinh duong cho con nguoi nen Chua cho chung ta an nhung con nay! Theo nhung nha nghien cuu, dong vat an co va la cay thuoc nhom nay, thit cua chung it mo hon nhung loai dong vat an ngu coc hay an thit. Theo phuong dien moi sinh nhung laoi dong vat an co nay se giup bien doi nhung vung dat tren the gioi tro thanh dat trong trot cho con nguoi.

Có lẽ vì vậy mà trong Cựu Ước Chúa gọi những loài vật trên đây là loài tinh sạch, vì chúng không đem mầm bệnh đến cho người ăn.

Con nhung loai dong vat ko dc phep an, theo khoa hoc thi nhung loai vat Chua cam an rat hop ly, co nhung con Chua tao ra de cung cap am thuc cho con nguoi, nhung cung co nhung con vat Chua tao ra voi nhung muc dich khac vdu loai dong vat an thit Chua tao ra de kiem saot ti so cua cac laoi dong vat khac va hau nhu tat ca chung la nhung dong vat an ban dem va nhu con heo la loai an hon tap la laoi dc Chua tao dung de don rac cho thien nhien, cho moi truong va phan nguoi.O trong nhieu the ky, nhieu noi o tren the gioi, nguoi ta da nuoi heo de tieu thu rac ruoi, xac thu vat chet va phan nguoi va ngay ngay hom nay nhung nong gia Hoa Ky da lay nhung con ga nuoi bi chet de cho con heo tieu thu roi sau do nguoi ta an lai heo! Do la cach tuan hoan ma nguoi ta nghi la rat la hop ly, nhung do ko fai la chuong trinh cua DCT, ngay hom nay nguoi ta nuoi heo bang bap va ngu coc ko nhu ngay xua nen Chua da ko cho an, dung quen rang he thong tieu hoa cua heo ko dc tao ra de lam viec do, cho nen heo an bap va ngu coc, chung se bi thieu chat dinh duong trong co the chung va se sinh ra nhung tat benh. Ngay nay , tai Hoa Ky 20% so bap va ngu coc moi nam nam dc dung de nuoi heo, trong khi bao nhieu quoc gia tren the gioi song trong canh doi khat ko du luong thuc cho con nguoi. Khi con nguoi an thit heo vi chung dc an ngu coc nhu da de cap o tren co the chung ko day du chat dinh duong , chung ta an vao se mang benh truyen nhiem trichinosis, day la loai ky sinh nho neu thit heo ko dc nau chin , nhung ky sinh trung nay se vao song trong bap thit cua con nguoi, tape worm trong thit heo rat nguy hiem mot khi da vao o trong nguoi roi, chung co the di chuyen vao trong te bao tim, te bao mat, te bao oc , va co the se dan den tu vong.

Không cần chứng minh bằng khoa học, chúng ta cũng có thể suy luận rằng những loài vật ăn thịt và ăn tạp không phải là thức ăn lý tưởng.

Theo nhung nha microbiologist cua Phap thi nhung quoc gia hay an thit heo nay la Mexico, South America, Spain, Portigal, Africa, India, South East Asia ( trong do co Vn, Compodia, Lao va China ) la nhung quoc gia co ti le benh nay rat nhieu. Ngay nay, nguoi ta noi rang neu nau thit heo cho chin thi se ko bi nhung benh tren, nhung theo thong ke cu moi nam nhu vay co khoang 180 trieu nguoi bi benh boi thit heo gay ra nhu tape worm, trichinosis o tren the gioi, va cach hay nhat la hay vang theo loi cua Chua Troi

Khi đã có suy luận hay sự hiểu biết cụ thể về mức độ nguy hiểm của sự ăn thịt heo hoặc tôm cua, vv… thì tự nhiên không ai muốn ăn những thức ăn có thể làm hại cho sức khỏe của mình, không cần phải chờ cho Đức Chúa Trời có cấm lệnh. Nếu tôi bị dị ứng với đậu phụng thì chắc chắc tôi không ăn đậu phụng mà không cần ai cấm đoán cả.

Dr. Jack Russel viet su khac biet giua nhung con vat sach va ko sach duong nhu lien he den loai thuc an ma chung an va he thong tieu hoa cua chung, nhung nhung con ko he an thit nhung van bi Kt xep vao loai ko sach nhu loai tho, loai ngua vi chung ko co mong re ra. Theo khoa hoc ngay nay, thit ngua chua nhieu vi khuan va ki sinh trung, va thit tho gay ra benh tho rung.

Cho nen Dct luon sap dat chuong trinh cua Nguoi , con heo la loai don rac , VA CHUNG TA KO AN RAC VAO CO THE CUA CHUNG TA. loai vat o duoi nuoc Leviky 11: 9 -12 : noi ve loai vat o duoi nuoc, vi Chua co ly do chinh dang laoi vat ko vay ko vay thuong song o duoi day dai duong , thuong la nhung loai an thit bang cach san moi, theo tai lieu US Navy Manual: thi tat ca nhung loai ca quan trong co thit doc theo nhu thong thuong thi la nhung loai ca ko co vay, thay vao do chung dc che boi nhung vay nhu gai cung lom chom , hay dc boc trong nhung bo xuong giong nhu cai hop , co nhung loai ko vay cung ko vay ( naked skin) nhu ca map, 58 loai sting rays( ca duoi), 47 cat fish ( ca bong lau, ca me), 57 scopion fish( ca bo cap) ect… Eels la loai an thit ban dem , an bat ky thuc an nao chet no cung an, trong mau cua eels(luon) co chua nhieu chat doc nguy hiem, neu dinh vao mat , mucus membrane se gay doc hai cho chung ta. Kt cho chung ta biet loai thuc an nao an toan de an, voi tinh trang nhu hien nay du la thuc an sach ma Chua cho phep an cung fai dc che bien 1 cach an toan fai nau chin,

Tom cua so hen la loai ko vay va ko vay, ro rang la ko dc an tom hum la loai pha hoai ve ban dem, chung di lai duoi day nuoc , chung san moi ,an thit xac chet va rac ruoi o duoi day bien. Thuong nguoi ta bat dc nhung con tom hum cung voi nhung con ca chet, tom hum dc Chua tao dung co he thong aten rat ben nhay du trong bong dem chung co the phat hien noi nao co xac chet de tim den de an. Tom hum khi tieu thu thuc an du thua , chung thuong chon phan thuc an con lai duoi cat, vai ngay sau chung quay lai de tim nhung xac chet thuc an ma chung da giau cach day vai ngay de an.

Cua dc cho la professional garbish hunter, chung thich ca chet. Con nhung tom nho( thuong song trong bun do de lam sach moi truong cua nuoc). Nhung con vat nay dc Chua tao dung de lam sach thien nhien , chung an rac , xac chet, thu hoi neu minh an nhung con vat tren vao cothe, thi se nhu the nao????

Như đã nói, Thiên Chúa có lý do khi Ngài cấm con dân Chúa trong thời Cựu Ước không được ăn các loài vật kể trên, và Ngài chỉ tóm gọn trong một lời là bởi vì chúng không tinh sạch.

Ai neu thay do an gom giec minh deu ko muon an het. Chung ta thuoc ve Chua, ma minh biet ro rang day la nhung con don rac! Ko fai de chung ta an, ngheu so oc hen, la laoi ko vay ko vay , va 1 lan nua nhung con vat nay giu mot nhiem vu dac biet cho thien nhien, chung la vacuum cleaners cua thien nhien o duoi nuoc. Chung ta an chung vao co phai chung ta an nhung chat do do ko? Vi trung, vi khuan , rac ren, ki sinh trung, neu thu hoi mot nguoi mo may hut bui cua nha minh ra, va nau 1 bua an thinh soan tu nhung rac ren cua may hut bui ra thi ban nghi ntn? Hay ban thu thu thap nhung gi trong he thong ong cong lam 1 bua an cao luong mi vi tu nhung gi lay trong ong cong ra thi ban nghi ntn?

So sánh như trên là không hợp lý. Không ai lấy rác từ trong máy hút bụi hoặc ống cống ra để làm thức ăn nhưng người ta có thể lấy rác bón cho rau cải và ăn rau cải, sau khi rau cải đã chế biến rác thành thực phẩm. Tất cả đều là vật chất do Đức Chúa Trời sáng tạo, trong một môi trường nhất định hoặc trong một sự kết hợp hóa học nhất định nào đó có những thứ gây hại cho loài ngườ, nhưng trong một môi trường khác hoặc với một cấu trúc hỗn hợp hóa học khác thì chúng trở thành ích lợi cho loài người.

Nhung loai tom cua so hen nay, tap trung 1 so luong vi khuan benh tatchat doc rat cao o trong co the cua chung, theo International Wild Life encyclopedia theo co quan American Food and Drug Adminitration thi trai so oc hen giu 85% nguyen nhan gay ra benh do an do an bien, nhung vu boc phat benh nhu dich ta,, thuong han , virus , salmonola, fish poisoning

Nhung loai chim Leviky 11: 13-17 bay tren ko ma ko dc an, vi chung thuoc vao laoi vat Chua tao dung de kiem soat ti so va he thong don sach thien nhien, chung san moi, an thit xac chet… Nhu con kenh kenh vi chung an thit va huyetcua con moi nen co the cua chung day nhung benh truyen nhiem v anhieu chat doc ma Chua ko muon cho chung ta an, an het nhung con do thi lay gi de lau don thien nhien? Ma ko lau don thien nhien thi benh tat lan tran trong thien nhien va chuyen gi xay ra cho con nguoi?no se lan tran den con nguoi.

Bac si David Match tai John Hopkins University School of Medicine lam 1 cuoc thi nghiem co dien goi la cuoc thu nghiem ve gia tri duoc ly cua Leviky doan 11 va Phuc Truyen Luat Le Ky doan 11 , ong dung nuoc rut ra tu 54 loai ca khac nhau ( co vay va ko vay) roi sau do , ong dung so nuoc rut ra tu nhung loai ca nay de tuoi cay. Ong cho biet ket qua nuoc ep ra tu nhung loai ca ko sach( ko vay va ko vi) deu lam hai cho cay coi, dr. Jack Russel cho biet nhung loai ko dc an thuoc nhung loai don dep rac ren o trong thien nhien cho nen chung ta ko nen an, thi du nhu Cat Fish nguoi ta nuoi no bang nhung thu phong ue tu con nguoi, roi con nguoi bat Cat Fish ( ca bong lau)len an lai, theo luat tuan hoan do , ngta nghi rang se do ton kem, nhung da dem lai biet bao nhieu benh trong co the

Tôi không có gì để phủ nhận những khám phá và thử nghiệm của khoa học như được trình bày trên đây.

Voi tinh hinh the gioi ngay hom nay, Kt cho chung ta an nhung loai thit sach nhung voi dkien nhung loai thit do fai dc nuoi theo organic ways ( tu nhien) ngay hom nay nguoi ta cho qua nhieu thuoc hoa chat trong thuc an gia suc, nhung con bo ngay nay ko con dc an co nua ma con nguoi nuoi chung bang thit luon , nen vi do dan den biet bao nhieu benh ko tot cho co the con nguoi.

Thế giới ngày nay đã đi vào kỳ cuối cùng, nhân loại chỉ biết chạy theo lợi nhuận và hủy phá các định luật thiên nhiên, cho nên, muốn tìm thức ăn tinh sạch đúng nghĩa của thời Cựu Ước hầu như là không thể, trừ khi tự mình chăn nuôi. Làm sao chúng ta có thể tin các nhãn "organic" dán trên các thực phẩm?

Tot het 95% fai la rau cai, trai cay, con lai 5% la thit ,

1- ly do thu nhat Chua ko chung ta an nhung loai thuc an do vi ly do suc khoe cua chung ta.

2- leviki 11:44-45 vi ta la Gie Ho Va DCT cua cac nguoi, Ta la Thanh nen cac nguoi fai nen thanh thi se dc thanh, …. Dung vi mot con vat o ue tren dat ma gay o ue cho than minh…. Dang da dem cac nguoi ra khoi xu Edipto Dang lam DCT cua cac Nguoi. , cac nguoi fai nen Thanh vi Ta la Thanh."

Chữ nên thánh trong Lê-vi Ký 11:44-45 sau này được nhắc lại trong I Phi-e-rơ 1:15-16 có nghĩa là "biệt riêng ra cho Thiên Chúa." Chúng ta được "nên thánh" bởi Thiên Chúa vì Ngài chọn chúng ta. Chúng ta tự mình "nên thánh" tức là tự mình "biệt riêng ra cho Thiên Chúa" bằng cách chúng ta vâng theo Lời Ngài.

Trong thời Cựu Ước, về thức ăn, chúng ta phải vâng lời Ngài mà kiêng các thức ăn không tinh sạch. Trong thời Tân Ước, về thức ăn, chúng ta phải vâng lời Ngài mà chớ cầm bằng dơ dáy vật chi đã được Đức Chúa Trời làm cho sạch (Công Vụ Các Sứ Đồ 10:15), nghĩa là đừng gọi một loài thú vật nào là không tinh sạch nữa.

Vấn đề tôi đưa ra ở đây là theo chính lời phán của Chúa, Ngài đã làm cho các loài thú không tinh sạch trở nên tinh sạch. Chữ sạch và không sạch trong nghĩa ban đầu từ thời Cựu Ước là "ăn được" và "không ăn được." Dù chúng ta có hiểu hay không hiểu lời phán của Chúa thì khi Chúa đã phán, chớ cầm bằng dơ dáy vật chi Đức Chúa Trời đã làm cho tinh sạch, thì chúng ta phải TIN và vâng theo lời Ngài.

Không ai múc nước dùng để rửa chân để đải khách dự tiệc cưới. Chúng ta sẽ có hàng trăm lý do về vệ sinh và hàng trăm thí nghiệm từ khoa học để chứng minh rằng không thể và không nên dùng nước chứa trong một chậu đá cho mục đích rửa chân làm thức uống trong tiệc cưới. Nhưng khi Chúa đã phán, hãy múc và đem đi cho người coi tiệc thì điều tốt nhất và nên làm của những người hầu bàn là TIN và VÂNG THEO Lời Chúa. Giả sử như, có một vị khách nào đó, chứng kiến từ khi những người hầu bàn đổ nước vào chậu cho đến khi họ múc đem ra mời khách trên bàn tiệc, cảm thấy ghê tởm và sợ hãi không muốn uống thứ mà theo họ là "không tinh sạch" đó, thì đó là quyền tự do của người ấy, nhưng người ấy đừng phủ nhận lời phán của Chúa đã làm cho nước dùng rửa chân trong chậu đá trở thành tinh sạch, uống được.

Tôi không bác bỏ những khám phá và chứng minh của khoa học về sự độc hại của tất cả các loài vật mà Thánh Kinh Cựu Ước đã liệt kê là không tinh sạch, không thể làm thức ăn cho loài người; cũng như tôi không bác bỏ lý luận cho rằng nước dùng để rửa chân là không tinh sạch, không nên dùng làm thức uống trong tiệc cưới. Tuy nhiên, tôi càng không thể bác bỏ rằng, trong thời Tân Ước chính Chúa đã ba lần phán, Ngài đã làm cho các loài thú không tinh sạch trở nên tinh sạch, bên cạnh ba lần phán đó, còn có sự khẳng định từ Đức Chúa Jesus và Đức Thánh Linh, rằng không còn có sự phân biệt các loài thú tinh sạch hoặc không tinh sạch, mọi loài đều có thể làm thức ăn cho loài người:

Ma-thi-ơ 15:11 “Chẳng phải điều chi vào miệng làm dơ dáy người; nhưng điều chi ở miệng ra, ấy mới là điều làm dơ dáy người vậy!”

Tít 1:15 “Mọi sự là tinh sạch cho những người tinh sạch, nhưng, cho những kẻ dơ dáy và chẳng tin, thì không sự gì là tinh sạch cả; trái lại, tâm thần và lương tâm họ là dơ dáy nữa."

I Ti-mô-thê 4:4 “Vả, mọi vật Đức Chúa Trời đã dựng nên đều là tốt lành cả, không một vật chi đáng bỏ, miễn là mình cảm ơn mà ăn lấy thì được.”

Tôi không thể nào giải thích hay hiểu khác đi ý nghĩa của ba câu Thánh Kinh trên đây. Vì thế, dù cá nhân tôi không thích ăn những loại thịt bị kể là không tinh sạch trong thời Cựu Ước, nhưng tôi không thể vì sở thích hay quan điểm cá nhân của mình mà giảng nghịch lại lẽ thật của Lời Chúa.

Tinh thần của sự tinh sạch (tức là sự tinh sạch thật theo ý của Đức Chúa Trời) nằm trong Tít 1:15. Đối với người chưa được tinh sạch vì không tin sự cứu chuộc của Đấng Christ thì dù họ có ăn chay trường thì cũng chẳng có món ăn nào là tinh sạch cho họ. Đối với người đã tinh sạch vì tin nhận sự cứu chuộc của Đấng Christ thì "mọi sự là tinh sạch," kể cả "uống giống chi độc, cũng không hại gì" (Mác 16:18).

Thịt các loài thú không tinh sạch trở nên tinh sạch đối với con dân Chúa không phải vì chúng nó không còn ăn tạp, không còn dọn rác cho địa cầu mà là vì lời phán của Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện của chúng ta mà chúng trở nên tinh sạch. I Ti-mô-thê 4:5 "vì nhờ Lời Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được nên thánh." Vì thế, không thể đem các xác minh của khoa học ra để chứng minh là con dân Chúa không được ăn các thức ăn mà chính Chúa đã làm cho tinh sạch.

Su thong cong giua chung ta voi lai Chua! Chua la Thanh, Chua ko the ngu o noi o ue, Chua da cuu chung ta ra khoi noi o ue boi su chet thay cua Ngai tren thap tu gia, Chua chet la de lau sach toi cho chung ta, chung ta la den tho cua Chua va Chua muon thong cong voi chung ta , neu ban nghi lai xem , ban cu dem rac ruoi vao co the hoai, thi chuyen gi xay ra voi noi thong cong giua Chua va ban? Lam sao Chua co the noi o ue , noi rac ren, noi ma Chua noi rang dung an ma chung ta cu tiep tuc an vao? Chua da goi chung ta noi thanh khiet de chung ta thong cong voi Chua, con nguoi cua chung ta la den tho cua DCT, Chua ngu o trong ta de chung ta thong cong voi Nguoi! Vi Chua da lam chung ta nen thanh nen chung ta fai tiep tuc song o trong su thanh do va tiep tuc thong cong voi Dct

Co nguoi noi rang day la cuu uoc, ko con gia tri nua, ban nen nho ca Kt la loi cua DCT , VA KHI KINH THANH DA VIET VA LIET KE LA LOAI O UE THI LUAT NAY KO BAO GIO THAY DOI TRONG SUOT TOAN BO KT!

Như đã nói, nên thánh tức là tin và vâng phục Chúa. Khi Chúa đã ba lần phán, Ngài đã làm cho các loài thú không tinh sạch trở nên tinh sạch và " mọi vật Đức Chúa Trời đã dựng nên đều là tốt lành cả,không một vật chi đáng bỏ, miễn là mình cảm ơn mà ăn lấy thì được;" thì tại sao chúng ta cứ khư khư cho rằng ngày nay vẫn còn có những thú vật không tinh sạch? Câu "KHI KINH THANH DA VIET VA LIET KE LA LOAI O UE THI LUAT NAY KO BAO GIO THAY DOI TRONG SUOT TOAN BO KT!" là câu nói của loài người, câu này hoàn toàn có tính phỉ báng những câu Thánh Kinh sau đây:

Công Vụ Các Sứ Đồ 10:15-16 "Tiếng đó lại phán cùng người lần thứ hai rằng: Phàm vật chi Đức Chúa Trời đã làm cho sạch, thì chớ cầm bằng dơ dáy. Lời đó lặp lại ba lần; rồi vật ấy liền bị thâu lên trên trời.

Ma-thi-ơ 15:11 “Chẳng phải điều chi vào miệng làm dơ dáy người; nhưng điều chi ở miệng ra, ấy mới là điều làm dơ dáy người vậy!”

Tít 1:15 “Mọi sự là tinh sạch cho những người tinh sạch, nhưng, cho những kẻ dơ dáy và chẳng tin, thì không sự gì là tinh sạch cả; trái lại, tâm thần và lương tâm họ là dơ dáy nữa."

I Ti-mô-thê 4:4 “Vả, mọi vật Đức Chúa Trời đã dựng nên đều là tốt lành cả, không một vật chi đáng bỏ, miễn là mình cảm ơn mà ăn lấy thì được.”

Phiero 1 :15-18 nhung nhu Dang goi anh em la thanh, thi anh em cung fai nen thanh trong moi cach an o cua minh boi co chep rang fai nen thanh vi Ta la Thanh" nguyen tac nay van dc ap dung tu trong cuu uoc cho den Tan uoc! Tat ca chung ta deu la dan su cua Chua la thanh cua Chua .

Như đã trình bày trên đây: Thiên Chúa khiến cho chúng ta nên thánh bởi huyết của Đấng Christ, còn chúng ta tự mình nên thánh bởi sự tin và vâng lời Thiên Chúa. Tại sao một người tin và vâng theo Công Vụ Các Sứ Đồ 10:15-16 lại bị cho là không thánh?

Corinto II doan 6 :1 6 den doan 7 cau 1 " co the nao hiep den tho cua Dct voi den tho ta than vi chung ta la den tho cua Dct hang song…. Ta se o va di lai giua ho…."

Các câu trên đây không nói về thức ăn mà nói về "kẻ chẳng tin" và "hình tượng tà thần." Các câu trên đây dạy chúng ta phân rẽ khỏi những kẻ chẳng tin và hình tượng tà thần, không phải bảo chúng ta phân rẽ khỏi một thức ăn nào. Vì đối với thức ăn: I Ti-mô-thê 4:4 “Vả, mọi vật Đức Chúa Trời đã dựng nên đều là tốt lành cả, không một vật chi đáng bỏ, miễn là mình cảm ơn mà ăn lấy thì được.”

Galati 5: 16 tro di "vay toi noi rang hay buoc di theo Thanh Linh cho he lam tron nhung dieu ua muon cua xac thit, vi xac thit co nhungndieu ua muon trai voi nhung dieu cua Thanh Linh, Thanh Linh co nhung dieu ua muon trai voi xac thit, nen 2 ben trai nhau la duong ay….vi bang anh em nho Thanh Linh …..say sua, me an uong cung cac su khac giong nhu vay….he ai pham nhung viec the ay thi khong dc huong nuoc cua Dct…."

Liên quan đến ăn uống thì câu này nói về sự mê ăn uống, dù chúng ta chỉ ăn chay mà chúng ta mê ăn uống thì cũng là tội lỗi. Câu này tuyệt đối không hề lên án bất cứ thức ăn nào, vì: I Ti-mô-thê 4:4 “Vả, mọi vật Đức Chúa Trời đã dựng nên đều là tốt lành cả, không một vật chi đáng bỏ, miễn là mình cảm ơn mà ăn lấy thì được.”

Xac thit co su me an uong , say sua, an tat ca moi vat ko can biet la gi, ko can biet Chua dat gioi han , ma neu me an uong thi ko dc huong cua nc Dct , chung ta co the vien du moi ly le di nua,loi trong Kt van ro rang!

Khi ban co khach quan trong moi den nha, ban chac chan fai chuan bi don dep ,lau sach nha cua lai co phai ko? DCT co phai la vi khach quan trong so 1 hay ko? Chung ta can fai don dep sach se trong doi song tin kinh cua chung ta de thong cong voi Chua.

Vấn đề là Đức Chúa Trời đã ba lần phán "Phàm vật chi Đức Chúa Trời đã làm cho sạch, thì chớ cầm bằng dơ dáy." và Đức Thánh Linh đã dạy: “Vả, mọi vật Đức Chúa Trời đã dựng nên đều là tốt lành cả, không một vật chi đáng bỏ, miễn là mình cảm ơn mà ăn lấy thì được.” Vậy, tại sao chúng ta cứ khăng khăng cho rằng người nào ăn uống không kiêng cử theo như thời Cựu Ước thì người đó ô uế, tội lỗi và thậm chí không được hưởng sự sống đời đời?

Dct Dang Tao Hoa Toan Nang biet dieu gi tot nhat cho chung ta, neu chung ta nghe loi nhung nha khoa hoc mac nhung chiec ao trang y khoa ma chung ta con nghe loi ho, ma Dct la Vi Thay Thuoc dai tai so 1 cua vu tru nay, la Dang Tao Hoa da noi ma chung ta ko nghe dc sao?

Chính những người phủ nhận các câu Thánh Kinh dưới đây là những người không vâng theo Lời Chúa:

Công Vụ Các Sứ Đồ 10:15-16 "Tiếng đó lại phán cùng người lần thứ hai rằng: Phàm vật chi Đức Chúa Trời đã làm cho sạch, thì chớ cầm bằng dơ dáy. Lời đó lặp lại ba lần; rồi vật ấy liền bị thâu lên trên trời.

Ma-thi-ơ 15:11 “Chẳng phải điều chi vào miệng làm dơ dáy người; nhưng điều chi ở miệng ra, ấy mới là điều làm dơ dáy người vậy!”

Tít 1:15 “Mọi sự là tinh sạch cho những người tinh sạch, nhưng, cho những kẻ dơ dáy và chẳng tin, thì không sự gì là tinh sạch cả; trái lại, tâm thần và lương tâm họ là dơ dáy nữa."

I Ti-mô-thê 4:4 “Vả, mọi vật Đức Chúa Trời đã dựng nên đều là tốt lành cả, không một vật chi đáng bỏ, miễn là mình cảm ơn mà ăn lấy thì được.”

Ai co the khon hon loi cua DCT? Vi Chua biet dieu gi tot dep nhat va lau ben nhat doi voi chung ta, va Chua da de lai het trong Kt, tai sao chung ta lai ko nghe theo, chung ta co the ko hieu het moi dieu nhung se co ngay chung ta se co co hoi gapChua tren thien dang, de hoi nhung thac mac do, phai ko ban?

Đúng là không ai có thể khôn hơn Lời của Đức Chúa Trời. Nhưng có "những kẻ dốt nát và tin không quyết đem giải sai ý nghĩa, cũng như họ giải sai về các phần Thánh Kinh khác, chuốc lấy sự hư mất riêng về mình" (II Phi-e-rơ 3:16). Chẳng những họ tự làm hại chính mình mà họ còn làm hại biết bao nhiêu người tin theo sự giải sai Thánh Kinh của họ hơn là tin vào Lời Hằng Sống của Đức Chúa Trời.

Tôi mạn phép đưa sự trao đổi này lên trang www.biengiao.timhieutinlanh.net để rộng đường dư luận cho con dân Chúa. Tôi sẽ không ghi tên ______. Cám ơn sự nhiệt tình của ______ và cầu xin Đức Thánh Linh bao phủ ______ bằng lẽ thật của Lời Chúa. Nhiệm vụ của tôi là rao giảng lẽ thật của Lời Chúa. Việc còn lại thuộc về Chúa. A-men!


Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry.
Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

 

Đọc Tiếp →

Hỏi & Đáp: Loài Người Xuất Hiện Sau Khủng Long?

Xin đọc thêm bài: Hỏi & Đáp: Bê-hê-mốt và Lê-vi-a-than tại đây:
http://timhieutinlanh.net/node/875

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2011 Vietnamese Christian Mission Ministry, Inc.  –  Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry  –  Xin quý bạn đọc vui lòng tiếp tay phổ biến bài viết nầy dưới mọi hình thức, nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Mục Tử
Bấm vào đây để download bài viết này

[3789]

Hỏi:

Nếu nhìn từ góc độ của các nhà khoa học thì con nguòi xuất hiện sau loài khủng long hàng triệu năm. Vậy theo Kinh-Thánh giải thích điều này như thế nào ?

Đáp:

Câu chuyện sáng tạo được ghi lại trong Thánh Kinh là đề tài tranh luận sôi nổi xưa nay giữa các nhà thần học và các nhà khoa học, đồng thời, giữa các nhà thần học với nhau. Riêng giữa các nhà thần học với nhau thì chia thành hai trường phái: trường phái ngày dài và trường phái ngày ngắn.

Theo trường phái ngày dài thì sáu ngày sáng tạo là sáu thời đại, mỗi thời đại có thể kéo dài hàng tỉ năm, và như vậy giải quyết thỏa đáng vấn đề tại sao theo cách tính của khoa học thì vũ trụ đã có khoảng 15 tỉ năm.

Theo trường phái ngày ngắn thì sáu ngày sáng tạo là sáu ngày bình thường, mỗi ngày gồm 24 tiếng đồng hồ như chúng ta biết hiện nay. Thánh Kinh ghi rõ sáu lần: "vậy có buổi chiều và buổi mai" cho thấy mỗi ngày sáng tạo là một ngày của hệ mặt trời. Hơn nữa, nếu tin rằng, mỗi ngày sáng tạo kéo dài đến hàng tỉ năm thì phải tin rằng, A-đam và Ê-va đã sống hàng tỉ năm (vì Chúa dựng nên họ vào ngày thứ sáu) trước khi bước vào ngày thứ bảy yên nghỉ. Thánh Kinh cho biết A-đam sống chưa đến 1000 năm!

Người ta có thể chấp nhận phép lạ xảy ra cho nên người ta có thể tin rằng Đức Chúa Trời đã dựng nên vũ trụ và muôn vật trong vòng sáu ngày, và như thế trời đất chỉ mới được sáng tạo cách nay khoảng 6000 năm mà thôi. Tuy nhiên, các dữ liệu của khoa học thì lại thấy tuổi của vũ trụ đã vào khoảng 15 tỉ năm. Ngoài ra, còn nhiều dữ kiện khoa học khác cho thấy địa cầu ít ra cũng đã hình thành cách nay hơn bốn tỉ năm, bởi vì không thể nào trong khoảng 6000 năm mà có thể tạo thành các mõ kim cương, dầu hỏa, hoặc có các di tích hóa thạch… như xương khủng long chẳng hạn!

Thật ra, chúng ta không thể nào dùng sự đo lường của khoa học, sự khôn ngoan của loài người để có thể hoàn toàn giải thích việc làm của Đức Chúa Trời. Nếu lời Chúa đã ghi lại rằng trời đất và muôn vật đã dựng nên trong sáu ngày (một ngày bao gồm buổi chiều và buổi mai) thì chúng ta chỉ cần tin như vậy.

Khi Chúa dựng nên A-đam thì một giây trước đó không có A-đam, một giây sau đó, A-đam xuất hiện là một người đã trưởng thành. Nếu bấy giờ có nhà khoa học nào khảo nghiệm A-đam thì chắc chắn phải kết luận rằng A-đam đã ra đời ít ra là 20 năm trước chứ không phải chỉ mới một giây đồng hồ. Những sự cân, đong, đo, đếm, X-ray… của nhà khoa học cho ra các kết quả chính xác theo "xét nghiệm" của khoa học nhưng không đúng với "sự thật." Như vậy, báo cáo của nhà khoa học không sai với tiêu chuẩn "xét nghiệm" của khoa học, nhưng Thánh Kinh cũng không sai khi cho biết A-đam vừa được dựng nên đã là một người trưởng thành.

Tương tự như vậy là phép lạ Chúa hóa nước thành rượu trong tiệc cưới tại thành Ca-na. Một giây trước đó thì là nước dùng để rửa chân, một giây sau đó là rượu ngon lâu năm. Nếu bấy giờ có nhà khoa học nào xét nghiệm thứ rượu do Chúa làm ra, thì có thể sẽ kết luận rằng loại rượu đó đã để lâu hàng trăm năm. Như vậy, báo cáo của nhà khoa học không sai với tiêu chuẩn "xét nghiệm" của khoa học, nhưng Thánh Kinh cũng không sai khi cho biết rượu này chỉ mới xuất hiện có một giây trước đó.

Thực tế, ngày nay khoa học chứng minh ánh sáng của vì sao xa nhất đến chúng ta là khoảng 15 tỉ năm, nghĩa là phải mất 15 tỉ năm, ánh sáng phát ra từ vì sao đó mới đến được địa cầu để cho chúng ta có thể nhìn thấy được vì sao đó. Khi chúng ta nhìn vào vũ trụ là chúng ta đang nhìn vào những hình ảnh đến từ quá khứ. Trong khi đó, theo Thánh Kinh thì vũ trụ này chỉ mới xuất hiện khoảng 6000 năm. Tương tự như trường hợp A-đam và rượu trong tiệc cưới, chúng ta không thể nào giải thích được sự khác nhau giữa các dữ liệu "xét nghiệm" của khoa học với sự thực; Nhưng chúng ta có thể tin rằng Lời Chúa là chân lý (Giăng 17:17) và như vậy, chúng ta chọn tin vào Lời Chúa hơn là tin vào sự giới hạn của loài người.

Những bộ xương hóa thạch của khủng long có thể được các nhà khoa học "xét nghiệm" và kết luận rằng chúng đã sống cách nay 65 triệu năm, nhưng theo các dữ liệu của Thánh Kinh thì vũ trụ này và muôn loài trong vũ trụ chỉ mới được sáng tạo trong khoảng 6000 năm.

Cơn đại hồng thủy xảy ra vào thời Nô-ê cách nay khoảng 4000 năm. Theo các nhà khoa học, "nếu thật" có một cơn lụt lớn đến nổi nước bao phủ tất cả các ngọn núi thì áp suất của nước ảnh hưởng lên địa cầu rất lớn và chỉ cần trong một khoảng thời gian ngắn với một áp suất lớn như vậy thì các mõ than đá, kim cương… có thể được hình thành trong lòng đất… Thực tế, ngày nay người ta làm kim cương nhân tạo trong một thời gian ngắn bằng cách tạo áp lực lớn trên khoáng chất giàu carbon trong một môi trường thấp nhiệt. Mặt khác, tất cả các di tích hóa thạch ngày nay chúng ta tìm ra được đều bị ảnh hưởng bởi cơn lụt lớn này, và môi sinh của địa cầu trước với sau khi cơn nước lụt hoàn toàn khác biệt đến nỗi không thể tưởng tượng được. Nên nhớ là trước cơn nước lụt không hề có hiện tượng mưa. Rất có thể, trước đó địa cầu được bao phủ bằng một vòng đai hơi nước hoặc "nước đá" khi Chúa tạo nên khoảng không để phân biệt nước "ở dưới khoảng không" và nước "ở trên khoảng không." Trong điều kiện đó, địa cầu trở thành một lồng kính (green house) khiến cho khí hậu được điều hòa khắp nơi. Thánh Kinh ghi khi cơn nước lụt xảy ra là các đập trên trời  đổ xuống. Thêm một chi tiết bên lề: vì trước nước lụt không có mưa cho nên không có hiện tượng cầu vòng. Chỉ sau cơn nước lụt mới có hiện tượng cầu vòng và Chúa đã dùng hiện tượng đó để làm dấu hiệu giao ước với Nô-ê.

Ngoài ra, phương pháp "radiocarbon dating" dùng để định tuổi các vật hóa thạch không phải là một phương pháp chính xác vì cũng dựa trên "giả định." Phương pháp này giả định tốc độ thất thoát chất carbon 14 trong một chất hữu cơ luôn luôn cố định và tỉ lệ với thời gian. Làm sao khoa học biết chắc tốc độ thất thoát carbon 14 trong các chất hữu cơ trước thời nước lụt và sau thời nước lụt vẫn giống nhau, khi mà môi sinh đã bị thay đổi ngoài sức tưởng tượng?

Nói tóm lại, các dữ liệu về "xét nghiệm" của khoa học thì đúng theo tiêu chuẩn của khoa học nhưng những điều Thánh Kinh nói mới là chân lý. Khoa học chỉ trình bày các định luật vật lý do Đức Chúa Trời đặt ra trong khi Thánh Kinh ghi chép lại những công việc Đức Chúa Trời làm vượt trên các định luật vật lý ấy.

Mục Tử
23.10.2007

 

Đọc Tiếp →

Hỏi & Đáp: Chúa Có Cứu Toàn Vẹn?

Copyright Notice:Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry – All Rights Reserved © 2007 Vietnamese Christian Mission Ministry, Inc. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức với điều kiện giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Mục Tử
B
ấm vào đây để download bài viết này

[1123]

Hỏi:

Kính thưa quý vị, tôi xin được phép hỏi quý vị một vài điều này, không có ý xấu mà thật sự là một thành ý. Mong quý vị giúp đỡ với lòng biết ơn chân thành của chúng tôi. Quý vị thờ Cứu Chúa Jesus, vậy cho tôi được hỏi Chúa Jesus chỉ cứu rỗi linh hồn người ta hay Ngài có là ơn cứu độ toàn vẹn? Ý tôi là cả phần hồn lẫn phần xác. Tại sao có người sống tốt không bao giờ hại ai nhưng lại phải chịu biết bao tai họa cay đắng, nghèo khổ, cơ cực do nhiều lý do mà chúng tôi thường hiểu là số phận. Tại sao lại bất công thế? Nếu cầu nguyện với Chúa Jesus, Ngài có cứu người ấy đỡ khổ không? Nếu được, kính mong quý vị cầu nguyên cùng Chúa Jesus của quý vị cứu chúng tôi khỏi cảnh cơ cực và bế tắc này. Nếu Ngài nhận lời quý vị mà cho tôi được như vậy, tôi xin được theo đạo Chúa của quý vị. Chào đoàn kết.

Nguyen Huu Chac

 

Đáp:

Thưa bạn Nguyen Huu Chac,

Những điều bạn hỏi trên đây là vấn nạn chung của rất nhiều người. Trước đây, tôi cũng là một trong số những người thắc mắc như vậy. Trong cảnh bối rối, túng cùng, đã có lúc tôi muốn tự tử để thoát khổ, và cũng có lúc tôi muốn đi cướp của (cho dù có phải giết người) để có thể thoát ra cảnh nghèo khổ, cơ cực; nhưng cũng có lúc tôi tự an ủi: "cùng tắc biến, biến tắc thông," nghĩa là khi đã đến nước cùng thì sẽ có sự thay đổi, mà hễ có sự thay đổi thì phải có lối thoát!

Sự thay đổi thật dẫn tôi vào lối thoát thật đã xảy ra trong đời tôi khi tôi đến với Đức Chúa Jesus. Ngài là Đấng phán rằng: "Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống;" và:"Hỡi những kẻ mệt mõi và gánh nặng, hãy đến cùng Ta, Ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ." Ngài cũng chính là Đấng mà Thánh Kinh chép rằng: "Đức Chúa Jesus hôm qua, ngày nay, cho đến đời đời không hề thay đổi."

Nhiều năm đã trôi qua kể từ khi tôi tiếp nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus. Đời sống của tôi vẫn còn trải qua nhiều phong ba, bảo táp, nhưng tất cả khó khăn trên đường đời không còn làm cho tôi sờn lòng hay tuyệt vọng. Trong Đức Chúa Jesus tôi đã được dựng nên thành một con người mới. Thế gian không thay đổi nhưng Chúa đã thay đổi tôi để tôi có thể chịu đựng tất cả những gì đến với tôi trong tháng ngày tôi bước đi trong Chúa giữa thế gian này. Con người cũ của tôi đã chết, con người mới của tôi sống bằng sức sống của Chúa với: "yêu thương, vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhơn từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, và tiết độ." Tôi vẫn còn những thiếu thốn trong đời sống vật chất. Có khi không có được một đồng bạc trong túi dù đang sống giữa nước Mỹ. Nhưng tôi có sự bình an và thỏa lòng trong mọi cảnh ngộ. Trong khó khăn, gian khổ, và bất công tôi cảm thông được những khó khăn, gian khổ, và bất công Chúa đã chịu vì tôi, tôi cảm thông được những khó khăn, gian khổ, bất công mà rất nhiều người chung quanh tôi vẫn đang phải gánh chịu. Điều đó, khiến cho tôi yêu Chúa và yêu người càng hơn. Điều đó, khiến cho tôi luôn trông chờ nơi sự tiếp trợ của Chúa, kinh nghiệm được sự tiếp trợ đúng lúc của Chúa, kinh nghiệm được tình yêu và sự thành tín của Ngài. Có nhiều khi, sự tiếp trợ của Chúa đến một cách siêu nhiên khiến cho tôi được kinh nghiệm quyền năng của Chúa qua phép lạ của Ngài.

Để trả lời trực tiếp vào các câu hỏi của bạn, tôi xin dựa vào Thánh Kinh để khẳng định rằng: Đức Chúa Jesus cứu rỗi toàn vẹn con người của chúng ta từ tâm thần (spirit), linh hồn (soul), cho đến thể xác (body). Khi chúng ta thật lòng ăn năn tội, quyết tâm từ bỏ tội, và tin nhận sự cứu rỗi qua cái chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus trên thập tự giá, thì chúng ta được cứu rỗi. Thánh Kinh chép:

"Nguyền xin chính Đức Chúa Trời bình an khiến anh em nên thánh trọn vẹn, và nguyền xin tâm thần, linh hồn, và thân thể của anh em đều được giữ vẹn, không chỗ trách được, khi Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta đến! Đấng đã gọi anh em là Đấng thành tín, chính Ngài sẽ làm việc đó."(1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:23, 24)

Tội là biết điều lành mà không làm điều lành, biết điều dữ mà vẫn làm điều dữ. Trên hết, tội là không thờ phượng Đức Chúa Trời là Đấng tạo dựng muôn loài vạn vật lại đi thờ phượng các hình tượng do tay người tạo ra. Ăn năn tội là đau đớn, hối tiếc những tội lỗi đã gây ra trong đời, muốn được ra khỏi đời sống phạm tội, muốn từ bỏ tất cả những sự tín ngưỡng, thờ lạy thần tượng, muốn được tha thứ và muốn được sạch tội. Sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời là Ngài đã sai Đức Chúa Jesus (Jesus có nghĩa Đức Chúa Trời là Đấng Cứu Rỗi), Con Một của Ngài nhập thế làm người để gánh lấy hình phạt tội lỗi của nhân loại bằng cách chết thay cho nhân loại trên thập tự giá; nhờ đó, hễ ai tin nhận Đức Chúa Jesus đã chết thay cho mình thì nhận được sự cứu rỗi. Sự cứu rỗi bao gồm hai phương diện: tha thứ tội và làm cho sạch tội. Tha thứ tội là tất cả tội lỗi của người tin nhận Chúa được Ngài tha thứ (vì Ngài đã chịu án phạt thay cho người ấy). Làm cho sạch tội là Chúa tái sinh người tin nhận Chúa, ban cho người tin nhận Ngài quyền năng để thắng điều dữ, làm điều lành, và tấm lòng khao khát thờ phượng Chúa.

Sự cứu rỗi bắt đầu bằng sự tái sinh tâm thần. Tâm thần của một người là chức năng tương giao với thế giới thần linh, là nghe được tiếng Chúa, biết được lời Chúa (trực giác), ghi nhớ sự dạy dỗ của Chúa (lương tâm), thấy được Chúa (chiêm bao và khải tượng), và thờ phượng chỉ một mình Chúa. Kế tiếp, sự tái sinh tâm thần là sự tái sinh của linh hồn. Linh hồn suy gẫm về lời Chúa (lý trí), yêu mến luật pháp và điều răn của Chúa được bày tỏ trong lời Ngài, ghét bỏ những sự ô uế, tội lỗi (tình cảm), và quyết định tin cậy Chúa, đầu phục Chúa, quyết định sống một đời sống trọn vẹn trong Chúa (ý chí). Sau cùng là sự tái sinh của thể xác. Thể xác được tái sinh qua hai giai đoạn. Giai đoạn một, thân thể hiện tại được dùng làm công cụ, phương tiện phục vụ Chúa qua tha nhân, làm những việc lành mà Chúa đã sắm sẵn cho những người tin nhận Chúa, thay vì bị nô lệ tội lỗi và làm những điều xấu xa, gian ác… Giai đoạn hai, sau khi thân xác này chết đi, sẽ được Chúa tái sinh thành một thân xác mới, vinh hiển, siêu nhiên, sống đời đời trong phước hạnh với Chúa. Khi đó, sự cứu rỗi được thành toàn.

Tại sao có người sống tốt không bao giờ hại ai nhưng lại phải chịu biết bao tai họa cay đắng, nghèo khổ, cơ cực do nhiều lý do mà chúng tôi thường hiểu là số phận. Tại sao lại bất công thế?

Trong cái nhìn của loài người, chúng ta thấy một người không bao giờ hại ai, thì chúng ta cho đó là một người tốt. Trong cái nhìn của Thiên Chúa thì tất cả mọi người đều đã phạm tội. Đối với Thiên Chúa, không phải lúc chúng ta hành động tội thì chúng ta mới có tội, nhưng khi chúng ta tư tưởng tội, nghĩ đến tội, là chúng ta đã phạm tội. Với Thiên Chúa, không phải chỉ khi chúng ta làm điều ác mới là có tội, nhưng cả những khi chúng ta không làm điều lành mà chúng ta biết nên làm thì chúng ta cũng có tội. Một người cướp của, giết đi một mạng người so với một người không hề cướp của giết người nhưng thù ghét mười người khác, thì trong cái nhìn của Thiên Chúa, kẻ phạm tội cướp của giết đi một mạng người đó lại nhẹ tội hơn là người có lòng thù ghét mười người khác. Với Thiên Chúa, thù ghét người khác tương đương với tội giết người. Trong cái nhìn của loài người, một nguời phạm tội giết người khác với một người phạm tội nói dối, nhưng trong cái nhìn của Thiên Chúa, cả hai cùng bị hình phạt trong hỏa ngục. Mỗi người phạm tội với các mức độ khác nhau và trong ngày chung cuộc Thiên Chúa sẽ phán xử rất công bằng mỗi người tùy theo việc họ làm (tốt lẫn xấu), nhưng có một cái tội chung, mang lấy một bản án chung, đó là tội không tin cậy và thờ phượng Thiên Chúa, Đấng sáng tạo và cầm quyền trên muôn loài vạn vật, và bản án chung đó là "sẽ bị hình phạt hư mất đời đời, xa cách mặt Chúa và sự vinh hiển của quyền phép Ngài" trong hỏa ngục.

Những đau khổ, bất công, và sự chết xảy ra hàng ngày trong thế gian là hậu quả của tội lỗi. Thế gian như là một trại cùi lớn, trong đó, mọi người đều nhiễm vi trùng Hansen; có những người bị cùi lỡ đến giai đoạn cuối, toàn cơ thể đã bị biến dạng đến mức không còn nhìn ra được, nhưng cũng có những người hình dáng vẫn xinh đẹp dường như không bị mắc bệnh cùi. Xét về hình dáng bên ngoài thì mọi người khác nhau, nhưng xét máu thử nghiệm, thì mọi người đều mang bệnh cùi. Phương cách để xử lý bệnh cùi không phải là quẹt thuốc đỏ vào vết lỡ rồi dán băng keo lên, nhưng mà phải dùng thuốc men để trị tận gốc, để diệt hết vi trùng Hansen trong máu.

Đức Chúa Jesus đến thế gian không phải để chữa bệnh, đuổi quỷ, và hóa bánh ra cho người đang đói. Ngài đến thế gian để cứu loài người ra khỏi tội lỗi, việc chữa bệnh, đuổi quỷ, hóa bánh chỉ là dấu hiện để cho nhân loại nhận biết rằng Ngài có quyền trên muôn sự và khi chúng ta thật lòng ăn năn tội đến với Ngài thì Ngài sẽ giải quyết mọi nhu cầu của chúng ta:

"25 Vậy nên ta phán cùng các ngươi rằng: đừng vì sự sống mình mà lo đồ ăn uống; cũng đừng vì thân thể mình mà lo đồ mặc. Sự sống há chẳng quí trọng hơn đồ ăn sao, thân thể há chẳng quí trọng hơn quần áo sao?
26 Hãy xem loài chim trời: chẳng có gieo, gặt cũng chẳng có thâu trử vào kho tàng, mà Cha các ngươi trên trời nuôi nó. Các ngươi há chẳng phải là quí trọng hơn loài chim sao?
27 Vả lại, có ai trong vòng các ngươi lo lắng mà làm cho đời mình được dài thêm một khắc không?
28 Còn về quần áo, các ngươi lại lo lắng mà làm chi? Hãy ngắm xem những hoa huệ ngoài đồng mọc lên thể nào: chẳng làm khó nhọc, cũng không kéo chỉ;
29 nhưng ta phán cùng các ngươi, dẫu vua Sa-lô-môn sang trọng đến đâu, cũng không được mặc áo tốt như một hoa nào trong giống đó.
30 Hỡi kẻ ít đức tin, loài cỏ ngoài đồng, là giống nay còn sống, mai bỏ vào lò, mà Đức Chúa Trời còn cho nó mặc đẹp thể ấy thay, huống chi là các ngươi!
31 Ấy vậy, các ngươi chớ lo lắng mà nói rằng: Chúng ta sẽ ăn gì? uống gì? mặc gì?
32 Vì mọi điều đó, các dân ngoại vẫn thường tìm, và Cha các ngươi ở trên trời vốn biết các ngươi cần dùng những điều đó rồi.
33 Nhưng trước hết, hãy tìm kiếm nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài, thì Ngài sẽ cho thêm các ngươi mọi điều ấy nữa.
34 Vậy, chớ lo lắng chi về ngày mai; vì ngày mai sẽ lo về việc ngày mai. Sự khó nhọc ngày nào đủ cho ngày ấy."
(Ma-thi-ơ 6:25-34)

Chúng ta phải đến với Chúa bằng đức tin trước. Việc đòi hỏi Chúa làm điều này hay điều kia cho chúng ta rồi chúng ta mới tin nhận Chúa chỉ chứng minh được một điều duy nhất là chúng ta không tin Chúa. Một bệnh nhân tin tưởng nơi bác sĩ thì sẽ vui vẻ nhận thuốc, uống vào với lòng tin là thuốc sẽ chữa lành bệnh của mình. Một bệnh nhân đòi hỏi phải lành bệnh trước rồi mới chịu tin bác sĩ và uống thuốc là một bệnh nhân thật sự không tin tưởng gì vào bác sĩ. Ngày xưa có hơn năm ngàn người được Chúa hoá bánh ra cho họ ăn, họ bèn chạy theo để tôn Chúa lên làm vua, nhưng Chúa đã từ bỏ họ mà đi. Chúa không tiếp nhận những ai chỉ đến với Ngài để tìm cầu phước hạnh vật chất.

Trên một phương diện khác, những người đi theo Chúa sẽ bị thế gian ghét bỏ, và phải chịu khổ vì danh Chúa. Dưới đây là lời tự thuật của một người sinh ra trong một dòng dõi quý phái, sang giàu, có học thức… nhưng khi đi theo Chúa thì nhận lấy những điều sau đây:

"23 Họ là kẻ hầu việc của Đấng Christ phải chăng? Ừ, tôi nói như kẻ dại dột, tôi lại là kẻ hầu việc nhiều hơn! Tôi đã chịu khó nhọc nhiều hơn, tù rạc nhiều hơn, đòn vọt quá chừng. Đòi phen tôi gần phải bị chết;
24 năm lần bị người Giu-đa đánh roi, mỗi lần thiếu một roi đầy bốn chục;
25 ba lần bị đánh đòn; một lần bị ném đá; ba lần bị chìm tàu. Tôi đã ở trong biển sâu một ngày một đêm.
26 Lại nhiều lần tôi đi đường nguy trên sông bến, nguy với trộm cướp, nguy với giữa dân mình, nguy với dân ngoại, nguy trong các thành, nguy trong các đồng vắng, nguy trên biển, nguy với anh em giả dối;
27 chịu khó chịu nhọc, lắm lúc thức đêm, chịu đói khát, thường khi phải nhịn ăn, chịu lạnh và lõa lồ.
28 Còn chưa kể mọi sự khác, là mỗi ngày tôi phải lo lắng về hết thảy các Hội thánh.
29 Nào có ai yếu đuối mà tôi chẳng yếu đuối ư? Nào có ai vấp ngã mà tôi chẳng như nung như đốt ư?
30 Vì phải khoe mình, thì tôi sẽ khoe mình về sự yếu đuối tôi.
31 Đức Chúa Trời là Cha Đức Chúa Jêsus, là Đấng đáng ngợi khen đời đời vô cùng, biết rằng tôi không nói dối đâu.
32 Ở thành Đa-mách, quan tổng đốc của vua A-rê-ta giữ thành của người Đa-mách để bắt tôi.
33 Có người từ cửa sổ dòng tôi xuống, bằng một cái giỏ, dọc theo lưng thành, ấy vậy là tôi thoát khỏi tay họ."
(II Cô-rinh-tô 11:23-33)

Chúa kêu gọi những ai muốn theo Chúa thì phải chịu khổ:

"23 Đoạn, Ngài phải cùng mọi người rằng: Nếu ai muốn theo ta, phải tự bỏ mình đi, mỗi ngày vác thập tự giá mình mà theo ta.
24 Vì ai muốn cứu sự sống mình thì sẽ mất, còn ai vì cớ ta mất sự sống, thì sẽ cứu."
(Lu-ca 9:23, 24)

Lịch sử của loài người và lịch sử của Thánh Kinh ghi lại sự gian khổ của những người đi theo Chúa:

"33 Những người đó bởi đức tin đã thắng được các nước, làm sự công bình, được những lời hứa, bịt mồm sư tử,
34 tắt ngọn lửa hừng, lánh khỏi lưỡi gươm, thắng bịnh tật, tỏ sự bạo dạn nơi chiến tranh, khiến đạo binh nước thù chạy trốn
35 Có người đờn bà đã được người nhà mình chết sống lại, có kẻ bị hình khổ dữ tợn mà không chịu giải cứu, để được sự sống lại tốt hơn.
36 Có kẻ khác chịu nhạo cười, roi vọt, lại cũng chịu xiềng xích, lao tù nữa.
37 Họ đã bị ném đá, tra tấn, cưa xẻ; bị giết bằng lưỡi gươm; lưu lạc rày đây mai đó, mặc những da chiên da dê, bị thiếu thốn mọi đường, bị hà hiếp, ngược đãi,
38 thế gian không xứng đáng cho họ ở, phải lưu lạc trong đồng vắng, trên núi trong hang, trong những hầm dưới đất.
39 Hết thảy những người đó dầu nhơn đức tin đã được chứng tốt, song chưa hề nhận lãnh điều đã được hứa cho mình.
40 Vì Đức Chúa Trời có sắm sẵn điều tốt hơn cho chúng ta, hầu cho ngoại chúng ta ra họ không đạt đến sự trọn vẹn được."
(Hê-bơ-rơ 11:23-40

Nếu bạn muốn tìm sự cứu rỗi ra khỏi tội lỗi và ra khỏi sự chết đời đời trong hỏa ngục thì bạn hãy đến với Chúa. Khi bạn tin nhận Ngài và được Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái của Đức Chúa Trời rồi thì đời sống trong thế gian này của bạn ở trong sự chăm sóc của Chúa. Chúa có thể ban cho bạn đủ ăn đủ mặc, Chúa có thể để cho bạn đói khát… Nhưng trong tất cả mọi sự đó, bạn đều nhận biết bạn sống là sống cho Chúa, và chết là chết cho Chúa. Bạn có sự bình an để đi qua mọi cảnh ngộ trong cuộc đời này, hiểu thấu ý nghĩa của những khổ đau mà Chúa cho phép xảy đến trong đời sống của bạn, nhận lấy dư dật ân điển của Chúa để vượt qua tất cả.

Người không tin nhận Chúa và người tin nhận Chúa đều phải vượt qua những đau khổ và bất công trong cuộc đời này. Người không tin nhận Chúa vượt qua một mình, đi vào nơi hư mất đời đời trong hỏa ngục; người tin nhận Chúa vượt qua với bàn tay của Chúa nắm chặt lấy bàn tay của mình, đi vào trong cõi đời đời phước hạnh trong sự hiện diện của Chúa.  Chúc bạn sớm tìm đến với sự cứu rỗi trong Đức Chúa Jesus Christ.

"16 Vì Ðức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời.
17 Vả, Đức Chúa Trời đã sai Con Ngài xuống thế gian, chẳng phải để đoán xét thế gian đâu, nhưng hầu cho thế gian nhờ Con ấy mà được cứu.
18 Ai tin Ngài thì chẳng bị đoán xét đâu; ai không tin thì đã bị đoán xét rồi, vì không tin đến danh Con một Đức Chúa Trời.
19 Vả, sự đoán xét đó là như vầy: sự sáng đã đến thế gian, mà người ta ưa sự tối tăm hơn sự sáng, vì việc làm của họ là xấu xa.
20 Bởi vì phàm ai làm ác thì ghét sự sáng và không đến cùng sự sáng, e rằng công việc của mình phải trách móc chăng."
(Giăng 3:16-20)

"Ai tin Con, thì được sự sống đời đời; ai không chịu tin Con, thì chẳng thấy sự sống đâu, nhưng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người đó."(Giăng 3:36)

"Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha." (Giăng 14:6)

"Chẳng có sự cứu rỗi trong đấng nào khác; vì ở dưới trời, chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu."(Công Vụ Các Sứ Đồ 4:12)

 

Mục Tử
16.04.2007

Đọc Tiếp →

Hỏi & Đáp: Priest và Pastor

Copyright Notice:Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry – All Rights Reserved © 2007 Vietnamese Christian Mission Ministry, Inc. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức với điều kiện giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Mục Tử
Bấm vào đây để download bài viết này

[1166]

Hỏi:

Cha cố ( Priest ) của Thiên Chúa Giáo La mã, Không được lấy vợ. Còn Mục sư Tin lành thì được lập gia đình và sinh con cái? Sự khác nhau cơ bản giữa Mục Sư Tin Lanh ( Pastor ) và Cha Cố Công Giáo (Priest).

Trong tác phầm văn học " The Thorn Bird " của nữ nhà văn Colleen McCullough Úc(Australia).Có đề cập tới sức mạnh, sự hấp dẫn hơn cả đức tin của tình yêu nam nữ mà cụ thể ở đây là Cha Cố Ralph de Bricassart đã vì Cô gái trẻ Meggie Cleary mà phạm luật của Công Giáo La Mã. Tác phẩm văn học này, sau đó được chuyển dựng thành một bộ phim rất hấp dẫn cho tất cả mọi người và là một đề tài thường xuyên được mổ sẻ. Vấn đề là Giáo Hội Công Giáo La Ma lên án mạnh mẽ quan điểm Tôn giáo của tác phẩm văn học này. Còn Người Cơ Đốc Nhân sẽ phải có nhận xét gì về quan điểm Tôn Giáo trong tác phẩm văn học này?

Lee.

 

Đáp:

Thưa bạn Lee.

Trước hết, xin nhắc nhở lẫn nhau là trong Thánh Kinh không hề có chức "Cha" và "Mẹ" (Father and Mother) trong Hội Thánh như Giáo Hội Công Giáo đang dùng. Thậm chí, Đức Chúa Jesus nghiêm cấm môn đồ của Ngài như sau:

"8 Nhưng các ngươi đừng chịu người ta gọi mình bằng thầy; vì các ngươi chỉ có một Thầy, và các ngươi hết thảy đều là anh em.
9 Cũng đừng gọi người nào ở thế gian là cha mình; vì các ngươi chỉ có một Cha, là Đấng ở trên trời.
10 Cũng đừng chịu ai gọi mình là chủ; vì các ngươi chỉ có một Chủ, là Đấng Christ."
(Ma-thi-ơ 23:8-10)

Vì vậy, trong Hội Thánh và về mặt đức tin, chúng ta đừng chịu ai gọi mình bằng thầy, bằng  chủ, và đừng gọi ai bằng cha.

Giáo hội Công Giáo thiết lập một giai cấp tư tế (priest) và như thế không công nhận địa vị tư tế của giáo dân. Trong khi đó, Thánh Kinh dạy rõ, mỗi Cơ-đốc nhân là một thầy tế lễ. Nhiều giáo phái Tin Lành, về mặt giáo lý thì thừa nhận địa vị tư tế của tín đồ nhưng trong thực tế thì xem hàng ngũ giáo phẩm (những người có phẩm trật trong giáo hội, do loài người tự phong cho nhau) là một giai cấp "bất khả xâm phạm" và hay dùng câu: "Chớ đụng đến người được Chúa xức dầu" để bịt miệng tín đồ. Thật ra, trong Thánh Kinh không có cái mệnh lệnh "Chớ đụng đến người được Chúa xức dầu". Đây chỉ là một sự bẻ cong lời Chúa để phục vụ cho tham vọng cá nhân và giai cấp! Tín đồ ít đọc Thánh Kinh rất dễ bị hù dọa vì câu "ngụy kinh" này!

Thánh Kinh chép:

"Nhưng anh em là dòng giống được lựa chọn, là chức thầy tế lễ nhà vua, là dân thánh là dân thuộc về Đức Chúa Trời, hầu cho anh em rao giảng nhơn đức của Đấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm, đến nơi sáng láng lạ lùng của Ngài." (I Phi-e-rơ 2:9)

"Đấng yêu thương chúng ta, đã lấy huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng tôi, và làm cho chúng ta nên nước Ngài, nên thầy tế lễ của Đức Chúa Trời và Cha Ngài, đáng được sự vinh hiển và quyền năng đời đời vô cùng! A-men."  (Khải Huyền 1:6)

Vì vậy, mỗi Cơ-đốc nhân là một thầy tế lễ (priest).

Trong Thánh Kinh có đề cập đến chức vụ pastor trong Hội Thánh. Nghĩa của chữ pastor là người chăn giữ súc vật, tiếng Hán Việt là "mục tử" như trong một bài thơ của bà Huyện Thanh Quan: "Gõ sừng, mục tử lại cô thôn!" Dân Israel và các dân tộc khác miền Trung Đông rất quen thuộc với hình ảnh của những bầy chiên và những người chăn chiên, vì thế, Chúa đã hình ảnh hóa người chăn và bầy chiên với những người chăm sóc con dân của Ngài và con dân của Ngài.

Danh xưng pastor lần đầu tiên được sử dụng trong Giê-rê-mi 17:16. Sau đó được nhắc đến trong Ê-phê-sô 4:11. Khi Tin Lành đến Việt Nam, không hiểu vì sao danh xưng pastor được dịch thành "mục sư" nghĩa là "thầy chăn". Có lẽ do bị tiêm nhiễm nền lễ nghĩa của Khổng Giáo chăng? Nếu thật vậy, chúng ta thấy cái nham hiểm của Satan khi dùng văn hóa làm suy đồi sự khiêm nhường của một chức vụ thánh!

Không một chỗ nào trong Thánh Kinh quy định hễ làm người chăn chiên của Chúa thì không được lập gia đình. Trái lại, Thánh Kinh chép:

"1 Vả, Đức Thánh Linh phán tỏ tường rằng, trong đời sau rốt, có mấy kẻ sẽ bội đạo mà theo các thần lừa dối, và đạo lý của quỉ dữ,
2 bị lầm lạc bởi sự giả hình của giáo sư dối, là kẻ có lương tâm đã lì,
3 họ sẽ cấm cưới gả, và biểu kiêng các thức ăn Đức Chúa Trời đã dựng nên cho kẻ có lòng tin và biết lẽ thật, tạ ơn mà dùng lấy.
4 Vả, mọi vật Đức Chúa Trời đã dựng nên đều là tốt lành cả, không một vật chi đáng bỏ, miễn là mình cảm ơn mà ăn lấy thì được;
5 vì nhờ lời Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được nên thánh.
6 Con giải tỏ các việc đó cho anh em, thì con sẽ nên kẻ giúp việc ngay lành của Đức Chúa Jêsus Christ, được nuôi bởi các lời của đức tin và đạo lý lành mà con đã theo."
(I Ti-mô-thê 4:1-6)

Sứ Đồ Phi-e-rơ được Giáo Hội Công Giáo xem là "giáo hoàng đầu tiên" là một người có vợ (Ma-thi-ơ 8:4; Mác 1:30; Lu-ca 4:38) và ông dắt vợ theo trong khi đi đó đây hầu việc Chúa:

"Chúng tôi há không có phép ăn uống sao? 5 Há không có phép dắt một người chị em làm vợ đi khắp nơi với chúng tôi như các sứ đồ khác cùng các anh em Chúa và Sê-pha đã làm, hay sao" (I Cô-rinh-tô 9:4, 5)? – Sê-pha tức là Phi-e-rơ!

Một trong các tiêu chuẩn của các giám mục (bishop –  là người giám sát công tác của các pastor), và các trưởng lão (elders – những người lãnh đạo trong Hội Thánh, từ đó chọn ra pastor và giám mục) là "chồng của một vợ:"

"Vậy, người giám mục cần phải không chỗ trách được, là chồng chỉ một vợ mà thôi, có tiết độ, có tài trí, xứng đáng, hay tiếp khách và khéo dạy dỗ."(I Ti-mô-thê 3:2)

"Mỗi người trong vòng trưởng lão đó phải cho không chỗ trách được, chỉ chồng của một vợ; con cái phải tin Chúa, không được bị cáo là buông tuồng hoặc ngỗ nghịch." (Tít 1:6)

Từ thuở ban đầu Đức Chúa Trờidựng nên người nam và người nữ và chính Đức Chúa Trời phán rằng:

"Giê-hô-va Đức Chúa Trời phán rằng: Loài người ở một mình thì không tốt; ta sẽ làm nên một kẻ giúp đỡ giống như nó." (Sáng Thế Ký 2:18)

Thời Tân Ước, Đức Thánh Linh cậy Phao-lô viết những lời răn dạy sau đây:

"Song, cho được tránh khỏi mọi sự dâm dục, thì mỗi người đờn ông phải có vợ, mỗi người đờn bà phải có chồng." (I Cô-rinh-tô 7:2)

Tóm lại, Giáo Hội Công Giáo đã dạy giáo dân nhiều điều sai lầm, trong đó có việc dành riêng chức tư tế cho một số ít người, và buộc số ít người đó phải sống độc thân, không được lập gia đình; bất chấp lời dạy của Chúa. Giáo Hội Công Giáo lập ra những cái gọi là các dòng tu biệt lập để những người muốn xa lánh cuộc đời đi vào đó "tu"; trong khi lệnh truyền của Chúa cho các thầy tế lễ của Ngài là đi khắp thế gian giảng Tin Lành và khiến muôn dân trở nên mộn đồ của Chúa. Giáo Hội Công Giáo lập ra những dòng tu mà người vào tu hành hạ khắc nghiệt thân xác của mình như ngủ trên nệm gai, ăn uống kham khổ và dùng roi đánh đập thân thể… trong khi Thánh Kinh dạy thân thể của tín nhân là đền thờ của Đức Thánh Linh, và ai hủy hoại đền thờ của Chúa thì sẽ bị Ngài hủy hoại.

Về việc sống độc thân hầu việc Chúa thì Thánh Kinh dạy rõ như sau:

"25 Về những kẻ đồng thân, tôi chẳng có lời Chúa truyền; song nhờ ơn thương xót của Chúa, tôi được làm người đáng tin, nên tôi ban lời khuyên bảo.
26 Vậy tôi tưởng vì cớ tai vạ hầu đến, một người nam cứ ở vậy là nên.
27 Có phải ngươi đã bị vấn vương với vợ chăng? Chớ tìm cách mà lìa mình ra. Có phải ngươi chưa bị vấn vương với vợ chăng? Đừng kiếm vợ.
28 Nhưng nếu ngươi lấy vợ, thì chẳng phạm tội gì; và nếu người nữ đồng trinh lấy chồng, thì cũng chẳng phạm tội gì. Song những người cưới gả sẽ có sự khó khăn về xác thịt, và tôi muốn cho anh em khỏi sự đó.
29 Hỡi anh em, vậy thì tôi bảo nầy: thì giờ ngắn ngủi. Từ nay về sau, kẻ có vợ hãy nên như kẻ không có;
30 kẻ đương khóc, nên như kẻ không khóc; kẻ đương vui, nên như kẻ chẳng vui; kẻ đương mua, nên như kẻ chẳng được của gì;
31 và kẻ dùng của thế gian, nên như kẻ chẳng dùng vậy; vì hình trạng thế gian nầy qua đi.
32 Vả, tôi muốn anh em được thong thả chẳng phải lo lắng gì. Ai không cưới vợ thì chăm lo việc Chúa, tìm phương cho Chúa đẹp lòng.
33 Song ai cưới vợ rồi thì chăm lo việc đời nầy, tìm cách cho vợ mình thỏa dạ.
34 Người nữ có chồng và đồng trinh cũng khác nhau như vậy: ai không chồng thì chăm lo việc Chúa, đặng cho thân thể và tinh thần đều được thánh; nhưng ai có chồng thì chăm lo các việc đời nầy, tìm cách cho đẹp lòng chồng mình.
35 Tôi nói điều đó vì sự ích lợi cho anh em, chớ chẳng phải để gài bẫy, song để dắt anh em theo lẽ phải, hầu cho không phân tâm mà hầu việc Chúa."
(I Cô-rinh-tô 7:25-35)

Nữ nhà văn Colleen McCullough là một giáo dân Công Giáo. Bà là một nhà khoa học trong ngành Y và cũng là một nhà nghiên cứu lịch sử xuất sắc. Các tác phẩm của bà có giá trị văn chương, lịch sử, và tâm lý. Nhưng có lẽ bà không hề kinh nghiệm được sự tái sinh cho nên không kinh nghiệm được quan hệ mật thiết  giữa một người với Chúa sâu nhiệm, tuyệt vời đến mức nào. Vì thế, bà dễ dàng viết nên một tác phẩm, trong đó, cho nhân vật của mình chọn tình yêu nam nữ hơn là tình yêu của Thiên Chúa. Vì không hề nếm biết tình yêu của Thiên Chúa cho nên bà ca ngợi tình yêu của loài người.

Thánh Kinh chép:

"Tình yêu mạnh như sự chết, lòng ghen hung dữ như âm phủ."(Nhã Ca 8:6)

Mời bạn suy gẫm tìm hiểu ý nghĩa sâu xa của câu Thánh Kinh này trong quan hệ giữa bạn và Chúa.

Thân mến!

 

Mục Tử
19.03.2007

Đọc Tiếp →

Hỏi & Đáp: Thức Ăn Không Tinh Sạch

Copyright Notice:Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry – All Rights Reserved © 2007 Vietnamese Christian Mission Ministry, Inc. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức với điều kiện giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Mục Tử
Bấm vào đây để download bài viết này

[1182]

Hỏi:

Cơ đốc nhân có được ăn thịt lợn không, hay bị CẤM?

Lee

 

Đáp:

Vào buổi sáng thế, Đức Chúa Trời quy định thực vật là thức ăn cho loài người lẫn loài thú, và Ngài thấy đó là tốt lành:

"29 Đức Chúa Trời lại phán rằng: Nầy, ta sẽ ban cho các ngươi mọi thứ cỏ kết hột mọc khắp mặt đất, và các loài cây sanh quả có hột giống; ấy sẽ là đồ ăn cho các ngươi.
30 Còn các loài thú ngoài đồng, các loài chim trên trời, và các động vật khác trên mặt đất, phàm giống nào có sự sống thì ta ban cho mọi thứ cỏ xanh đặng dùng làm đồ ăn; thì có như vậy.
31 Đức Chúa Trời thấy các việc Ngài đã làm thật rất tốt lành. Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ sáu."
(Sáng Thế Ký 1:29-31)

Mãi đến khi loài người phạm tội và tội lỗi gia tăng đến mức Đức Chúa Trời phải hủy diệt mặt đất và mọi sinh vật trên đất bằng một cơn nước lụt, (ngoại trừ gia đình 8 người của Nô-ê nhờ vâng lời Chúa mà được sống,) làm thay đổi hoàn toàn môi sinh của địa cầu, thì Đức Chúa Trời bắt đầu cho phép loài người ăn thịt thú vật:

"2 Các loài vật ở trên đất, các loài chim trời, và các vật hành động trên đất, cùng các cá biển, đều sẽ kinh khủng ngươi và bị phú vào tay ngươi.
3 Phàm vật chi hành động và có sự sống thì dùng làm đồ ăn cho các ngươi. Ta cho mọi vật đó như ta đã cho thứ cỏ xanh.
4 Song các ngươi không nên ăn thịt còn hồn sống, nghĩa là có máu."
(Sáng Thế Ký 9:2-4)

Trong giai đoạn này, Đức Chúa Trời chỉ thị rõ là "phàm vật chi hành động và có sự sống thì dùng làm đồ ăn cho các ngươi," không hề có việc phân biệt vật tinh sạch và vật không tinh sạch. Giai đoạn loài người chỉ dùng thực vật làm thức ăn (trước cơn nước lụt) kéo dài khoảng 1,700 năm. Giai đoạn loài người dùng các động vật làm thức ăn không phân biệt vật tinh sạch và vật không tinh sạch (sau cơn nước lụt cho đến khi dân Israel nhận luật pháp) kéo dài khoảng 1,100 năm.

Khi Đức Chúa Trời đem dân Israel ra khỏi xứ Ai-cập, lập họ thành một quốc gia, ban hành luật pháp cho họ, thì mới có luật phân biệt thức ăn tinh sạch và thức ăn không tinh sạch (Lê-vi Ký 11). Thánh Kinh không giải thích tại sao có những sinh vật bị xem là không tinh sạch. Tuy nhiên, ngày nay y khoa biết được các sinh vật mà Thánh Kinh xếp loại không tinh sạch là những sinh vật có chứa nhiều mầm bệnh như: sán sơ-mít trong thịt heo, chất cholesterol xấu trong các loại tôm, cua…

Chúng ta có thể hiểu rằng, trải qua hàng ngàn năm, môi sinh bị ô nhiễm trầm trọng, các mầm bệnh mới phát sinh trong một số loại sinh vật cho nên Chúa ra lệnh cho dân sự của Ngài kiêng cữ những thức ăn có thể gây hại cho cơ thể của họ.

Tuy nhiên, sau đó khoảng 1500 năm, vào thời Tân Ước, sau khi Hội Thánh được thành lập thì Đức Chúa Trời cho Sứ Đồ Phi-e-rơ một khải tượng về sự chấm dứt việc phân biệt các loài sinh vật tinh sạch và không tinh sạch:

"9 Bữa sau, trong lúc ba người ấy đương đi đường và đã đến gần thành, vừa nhằm giờ thứ sáu Phi-e-rơ leo lên mái nhà để cầu nguyện.
10 người đói và thèm ăn; khi người ta đương dọn cho ăn, thì người bị ngất trí đi.
11 Người thấy trời mở ra, và có vật chi giống như một bức khăn lớn níu bốn chéo lên, giáng xuống và sa đến đất:
12 thấy trong đó có những thú bốn cẳng, đủ mọi loài, côn trùng bò trên đất, và chim trên trời.
13 Lại có tiếng phán cùng người rằng: Hỡi Phi-e-rơ, hãy dậy, làm thịt và ăn.
14 Song Phi-e-rơ thưa rằng: Lạy Chúa, chẳng vậy; vì tôi chẳng ăn giống gì dơ dáy chẳng sạch bao giờ.
15 Tiếng đó lại phải cùng người lần thứ hai rằng: Phàm vật chi Đức Chúa Trời đã làm cho sạch, thì chớ cầm bằng dơ dáy.
16 Lời đó lặp lại ba lần; rồi vật ấy liền bị thâu lên trên trời."
(Công Vụ 10:9-16)

Qua sự hiện thấy của Phi-e-rơ chúng ta học được một điều là: Khi Đức Chúa Trời muốn, Ngài có thể làm bất cứ điều gì, kể cả thay đổi các định luật, các quy chế… Nói cho cùng, Ngài là Đức Chúa Trời toàn năng cho nên Ngài muốn làm gì thì làm. Nhưng Ngài là tình yêu, cho nên bất kỳ những gì Ngài làm đều không đi ngược lại thuộc tính yêu thương của Ngài, vì thế Đức Chúa Trời là "thiện, sự nhân từ Ngài còn đến đời đời!"

Về  sau, trong các thư tín, Sứ Đồ Phao-lô cũng luận rõ về việc luật phân biệt các thức ăn tinh sạch với thức ăn không tinh sạch chẳng còn áp dụng cho tín đồ nữa. Tuy nhiên, nếu ai muốn tiếp tục kiêng cử thì cứ kiêng cử nhưng đừng xét đoán người không kiêng cử. Theo Phao-lô, người kiêng cử là người có đức tin yếu đuối (vì không dám tin vào khải tượng Chúa đã tỏ ra cho Phi-e-rơ):

"Mọi sự là tinh sạch cho những người tinh sạch, nhưng, cho những kẻ dơ dáy và chẳng tin, thì không sự gì là tinh sạch cả; trái lại, tâm thần và lương tâm họ là dơ dáy nữa."(Tít 1:15)

"1 Hãy bằng lòng tiếp lấy kẻ kém đức tin, chớ cãi lẫy về sự nghi ngờ.
2 Người nầy tin có thể ăn được cả mọi thứ; người kia là kẻ yếu đuối, chỉ ăn rau mà thôi.
3 Người ăn chớ khinh dể kẻ không ăn; và người không ăn chớ xét đoán kẻ ăn, vì Đức Chúa Trời đã tiếp lấy người.
4 Ngươi là ai mà dám xét đoán tôi tớ của kẻ khác? Nó đứng hay ngã, ấy là việc chủ nó; song nó sẽ đứng, vì Chúa có quyền cho nó đứng vững vàng.
5 Người nầy tưởng ngày nầy hơn ngày khác, kẻ kia tưởng mọi ngày đều bằng nhau; ai nấy hãy tin chắc ở trí mình.
6 Kẻ giữ ngày là giữ vì Chúa; kẻ ăn là ăn vì Chúa, vì họ tạ ơn Đức Chúa Trời; kẻ chẳng ăn cũng chẳng ăn vì Chúa, họ cũng tạ ơn Đức Chúa Trời."
(Rô-ma 14:1-6)

(Sự giữ ngày nói đến trong những câu trên đây không phải là sự giữ ngày Sa-bát theo điều răn của Đức Chúa Trời mà con dân Chúa trong mọi thời đại phải vâng giữ, kể cả thời ngàn năm bình an, nhưng là sự giữ ngày kiêng ăn, là điều Thánh Kinh không quy định, cho nên ai muốn kiêng ăn vào ngày nào thì cứ kiêng ăn vào ngày đó. Ngay cả sự kiêng ăn, Thánh Kinh cũng không đặt thành điều răn, ngoại trừ việc kêu gọi tội nhân kiêng ăn trong sự ăn năn tội và con dân Chúa kiêng ăn để đuổi những thứ quỷ dữ.)

Giáo phái Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật(Seventh Day Adventist) dạy tín đồ giữ nghiêm nhặt luật phân biệt các thức ăn tinh sạch với các thức ăn không tinh sạch. Thánh Kinh chép:

"1 Vả, Đức Thánh Linh phán tỏ tường rằng, trong đời sau rốt, có mấy kẻ sẽ bội đạo mà theo các thần lừa dối, và đạo lý của quỉ dữ,
2 bị lầm lạc bởi sự giả hình của giáo sư dối, là kẻ có lương tâm đã lì,
3 họ sẽ cấm cưới gả, và biểu kiêng các thức ăn Đức Chúa Trời đã dựng nên cho kẻ có lòng tin và biết lẽ thật, tạ ơn mà dùng lấy.
4 Vả, mọi vật Đức Chúa Trời đã dựng nên đều là tốt lành cả, không một vật chi đáng bỏ, miễn là mình cảm ơn mà ăn lấy thì được;
5 vì nhờ lời Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được nên thánh."
(I Ti-mô-thê 4:1-5)

Điều duy nhất Đức Thánh Linh cấm trong sự ăn uống là:

"28 ấy là Đức Thánh Linh và chúng ta đã ưng rằng chẳng gán gánh nặng nào khác cho anh em ngoài những điều cần dùng,
29 tức là anh em phải kiêng ăn của cúng thần tượng, huyết, thú vật chết ngột, và chớ tà dâm; ấy là mọi điều mà anh em khá kiêng giữ lấy vậy. Kính chúc bình an."
(Công Vụ 15:28, 29)

"Còn người ngoại đã tin, chúng tôi có viết thơ cho họ về điều chúng tôi đã định: là chỉ phải kiêng ăn của cùng thần tượng, huyết và thú vật chết ngộp, cùng chớ gian dâm."(Công Vụ 21:25)

 

Mục Tử
15.03.2007

Đọc Tiếp →

Hỏi & Đáp: Phép Cắt Bì

Copyright Notice:Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry – All Rights Reserved © 2007 Vietnamese Christian Mission Ministry, Inc. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức với điều kiện giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Mục Tử
Bấm vào đây để download bài viết này

[2365]

Hỏi:

Cơ đốc nhân cần phải thực hành phép "cắt bì " như một điều bắt buộc không?

Lee.

 

Đáp:

Chào bạn Lee. Sáng Thế Ký 17:9-14 là phân đoạn Thánh Kinh đầu tiên đề cập đến phép cắt bì do chính Đức Chúa Trời ban truyền cho Áp-ra-ham và dùng đó làm dấu chỉ về giao ước giữa Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham và dòng dõi của ông (theo nghĩa hẹp tức dân tộc Israel, theo nghĩa rộng là những ai tin nhận Chúa) cho đến đời đời:

"9 Đoạn, Đức Chúa Trời phán cùng Áp-ra-ham rằng: Phần ngươi cùng dòng dõi ngươi, từ đời nọ sang đời kia, sẽ giữ sự giao ước của ta.
10 Mỗi người nam trong vòng các ngươi phải chịu phép cắt bì; ấy là giao ước mà các ngươi phải giữ, tức giao ước lập giữa ta và các ngươi, cùng dòng dõi sau ngươi.
11 Các ngươi phải chịu cắt bì; phép đó sẽ là dấu hiệu của sự giao ước giữa ta cùng các ngươi.
12 Trải qua các đời, mỗi người nam trong vòng các ngươi, hoặc sanh đẻ tại nhà, hoặc đem tiền ra mua nơi người ngoại bang, chẳng thuộc về dòng giống ngươi, hễ lên được tám ngày rồi, đều phải chịu phép cắt bì.
13 Chớ khá bỏ làm phép cắt bì cho ai sanh tại trong nhà ngươi, hay đem tiền ra mua về; sự giao ước của ta sẽ lập đời đời trong xác thịt của các ngươi vậy.
14 Một người nam nào không chịu phép cắt bì nơi xác thịt mình, sẽ bị truất ra khỏi ngoài dân sự mình; người đó là kẻ bội lời giao ước ta."

Kể từ đó, con cháu của Áp-ra-ham đều vâng theo mạng lịnh làm phép cắt bì cho đến ngày hôm nay, kể cả người Ả-rập theo dòng Ích-ma-ên:

"Đoạn, Đức Chúa Trời ban cho người sự giao ước về phép cắt bì. Ấy vậy, khi Áp-ra-ham đã sanh một con trai là Y-sác, thì làm phép cắt bì cho, trong ngày thứ tám; Y-sác làm phép cắt bì cho Gia-cốp, và Gia-cốp làm phép ấy cho mười hai tổ phụ."(Công Vụ 7:8)

Thánh Kinh cũng nói đến việc Áp-ra-ham sẽ trở thành cha của nhiều dân tộc:

"4 Nầy, phần ta đây, ta đã lập giao ước cùng ngươi; vậy ngươi sẽ trở nên tổ phụ của nhiều dân tộc.
5 Thiên hạ chẳng còn gọi ngươi là Áp-ram nữa, nhưng tên ngươi là Áp-ra-ham, vì ta đặt ngươi làm tổ phụ của nhiều dân tộc.
6 Ta sẽ làm cho ngươi sanh sản rất nhiều, làm cho ngươi thành nhiều nước; và các vua sẽ do nơi ngươi mà ra."
(Sáng Thế Ký 17:4-6)

Cho nên câu hỏi trên đây của bạn có thể diễn giải rộng thêm như sau: Nếu phép cắt bì là giao ước đời đời của Đức Chúa Trời lập ra với Áp-ra-ham là tổ phụ của những người tin Chúa (không riêng dân Israel) thì tôi có bị ràng buộc thi hành dấu hiệu giao ước này hay không?

Và Thánh Kinh đã giải đáp như sau:

"11 Vậy, người đã nhận lấy dấu cắt bì, như dấu ấn của sự công bình mà người đã được bởi đức tin, khi chưa chịu cắt bì; hầu cho làm cha hết thảy những kẻ tin mà không chịu cắt bì, đặng họ được kể là công bình,
12 và cũng làm cha những kẻ chịu cắt bì, tức là cha những kẻ không những chịu cắt bì thôi, lại cũng noi theo dấu đức tin mà Áp-ra-ham, tổ phụ chúng ta, đã có trước khi chưa chịu cắt bì vậy."
(Rô-ma 4:11, 12)

Nghĩa là, Áp-ra-ham cũng là tổ phụ của những người tin Chúa nhưng ngoại tộc Israel, không hề chịu phép cắt bì; và qua sự nhận lấy dấu cắt bì của Áp-ra-ham mà ngày nay, chúng ta là những người tin Chúa không chịu cắt bì vẫn được xưng là công bình. Như vậy, rõ ràng phép cắt bì là không cần thiết cho Cơ-đốc nhân. Thánh Kinh xác nhận điều đó nhiều lần:

"26 Vậy nếu kẻ chưa chịu cắt bì giữ các điều răn của luật pháp thì sự chưa chịu cắt bì đó há chẳng cầm như đã chịu sao?
27 Kẻ vốn không chịu cắt bì, mà làm trọn luật pháp sẽ đoán xét ngươi, là kẻ dẫu có chữ của luật pháp và phép cắt bì, lại phạm luật pháp.
28 Vì người nào chỉ bề ngoài là người Giu-đa, thì không phải là người Giu-đa, còn phép cắt bì làm về xác thịt ở ngoài, thì không phải là phép cắt bì;
29 nhưng bề trong là người Giu-đa mới là người Giu-đa, phép cắt bì bởi trong lòng, làm theo cách thiêng liêng, không theo chữ nghĩa, mới là phép cắt bì thật. Một người Giu-đa như vậy được khen ngợi, chẳng phải bởi loài người, bèn là bởi Đức Chúa Trời."
(Rô-ma 2:26-29)

"Có người nào đã chịu phép cắt bì rồi được gọi chăng? nên cứ giữ cắt bì vậy. Có người nào chưa chịu phép cắt bì mà được gọi chăng? thì chớ chịu phép cắt bì. Chịu cắt bì chẳng hề gì, không chịu cắt bì cũng chẳng hề gì; sự quan hệ là giữ các điều răn của Đức Chúa Trời."(I Cô-rinh-tô 7:18, 19)

"1 Đấng Christ đã buông tha chúng ta cho được tự do; vậy hãy đứng vững, chớ lại để mình dưới ách tôi mọi nữa.
2 Tôi là Phao-lô nói với anh em rằng, nếu anh em chịu làm phép cắt bì, thì Đấng Christ không bổ ích chi cho anh em hết.
3 Tôi lại rao cho mọi người chịu cắt bì rằng, họ buộc phải vâng giữ trọn cả luật pháp.
4 Anh em thảy đều muốn cậy luật pháp cho được xưng công bình, thì đã lìa khỏi Đấng Christ, mất ân điển rồi.
5 Về phần chúng ta, ấy là bởi đức tin và nhờ Thánh Linh mà chúng ta được nhận lãnh sự trông cậy của sự công bình.
6 Vì trong Đức Chúa Jêsus Christ, cái điều có giá trị, không phải tại chịu phép cắt bì hoặc không chịu phép cắt bì, nhưng tại đức tin hay làm ra bởi sự yêu thương vậy."
(Ga-la-ti 5:1-6)

"Vì điều yếu cần, chẳng phải sự chịu cắt bì, hay là sự chẳng chịu cắt bì, bèn là trở nên người mới."(Ga-la-ti 6:15)

"Tại đây không còn phân biệt người Gờ-réc hoặc người Giu-đa, người chịu cắt bì hoặc người không chịu cắt bì, người dã man hoặc người Sy-the, người tôi mọi hoặc người tự chủ; nhưng Đấng Christ là mọi sự và trong mọi sự." (Cô-lô-se 3:13)

Thánh Kinh cho biết trong thực tế mỗi Cơ-đốc nhân đã được làm phép cắt bì trong Đấng Christ, theo ý nghĩa thuộc linh:

"Anh em cũng chịu cắt bì trong Ngài, không phải phép cắt bì bởi tay người ta làm ra, nhưng là phép cắt bì của Đấng Christ, là lột bỏ tánh xác thịt của chúng ta."(Cô-lô-se 2:11)

Phép cắt bì trong nguyên thủy là dấu hiệu cắt bỏ tội lỗi ra khỏi đời sống của người được nhận làm con dân Chúa. Nhưng xét về mặt thể chất thì phép cắt bì giúp cho bộ phận sinh dục của người nam tránh bị nhiễm trùng. Lớp da (bì) bao quanh quy đầu khiến cho các chất dơ bị kẹt lại giữa lớp da và quy đầu, sinh ra hôi hám, ngứa ngáy, và nhiễm trùng. Đó là chưa kể những trường hợp lớp da đó quá chật, có thể gây ra đau đớn trong việc giao hợp. Vì thế, ngày nay các nước Tây Phương làm thủ thuật cắt bì cho trẻ sơ sinh để bảo vệ sức khoẻ của công dân mà không liên quan gì đến nghi thức tôn giáo. Điều thú vị là Đức Chúa Trời ra lệnh làm phép cắt bì cho trẻ sơ sinh vào ngày thứ tám sau khi được sinh ra, và y khoa ngày nay chứng minh được rằng đứa bé sơ sinh có tính miễn nhiễm cao nhất vào ngày thứ tám sau khi được sinh ra.

Người nam tin Chúa có thể làm thủ thuật cắt bì vì lý do vệ sinh và sức khoẻ nhưng không cần thiết phải làm để được kể là vâng giữ giao ước với Đức Chúa Trời.

Mục Tử
15.02.2007

* Quý bạn đọc có thể tham khảo về cách thức cắt bì tại đây:
http://vi.wikipedia.org/wiki/C?t_bao_quy_??u

 

Đọc Tiếp →

Hỏi & Đáp: Loạn Luân

Copyright Notice:Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry – All Rights Reserved © 2007 Vietnamese Christian Mission Ministry, Inc. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức với điều kiện giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Mục Tử
Bấm vào đây để download bài viết này

[3859]

Hỏi:

Kính thưa các thầy và các anh các chị. Tôi có một số thắc mắc sau, kính mong các thầy các anh các chị giúp tôi sáng tỏ : 1 – yếu tố " loạn luân " trong Kinh Thánh a) Ngay từ thủa Sáng thế ký, Thiên Chúa tạo ra Adam và Eva tổ tông của loài người, vậy dòng dõi sau này của loài người nhất định từ con cái của Adam va Eva mà ra, vậy là có tính cận huyết thống trong hôn nhân?( như anh em ruột lấy nhau). b) ông I xa ac lấy bà Rebeca , ông Giacóp lấy hai bà (là hai chị em ruột) là bà Le-a và Rakhen và nhiều hôn nhân cận huyết thống khác như ông To-bi-a lấy bà Xa-ra họ hàng gần… vậy luật Chúa Trời có cấm quan hệ cận huyết thống (loạn luân) hay không?

Lee.

Đáp:

Chào bạn Lee. Trước hết, xin gọi nhau là anh chị em trên diễn đàn biện giáo này cho được thân mật. Tất cả chúng ta sẽ cùng nhau học biết về Chúa và lời Chúa qua sự dẫn dắt của một vị thầy duy nhất là Đức Thánh Linh:  

"Lúc nào Thần lẽ thật sẽ đến, thì Ngài dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật; vì Ngài không nói tự mình, nhưng nói mọi điều mình đã nghe, và tỏ bày cho các ngươi những sự sẽ đến." (Giăng 16:13)

8 Nhưng các ngươi đừng chịu người ta gọi mình bằng thầy; vì các ngươi chỉ có một Thầy, và các ngươi hết thảy đều là anh em. 9 Cũng đừng gọi người nào ở thế gian là cha mình; vì các ngươi chỉ có một Cha, là Đấng ở trên trời. 10 Cũng đừng chịu ai gọi mình là chủ; vì các ngươi chỉ có một Chủ, là Đấng Christ. (Ma-thi-ơ 23;8-10)

Thắc mắc bạn đưa ra trên đây không có câu trả lời đơn giản. Trong thế giới vật chất cũng có những nan đề tương tự. Khoa học ngày xưa băn khoăn về ánh sáng, không biết ánh sáng là sóng hay là hạt? Trong sự hiểu biết giới hạn, khoa học thời xưa nghĩ rằng vật chất chỉ có thể là sóng hoặc là hạt; nhưng đến khi khoa học lượng tử ra đời thì người ta biết được rằng mọi vật thể đều mang lưỡng tính: sóng và hạt. Vì ánh sáng có trường độ của sóng rất dài nên hiện tượng lưỡng tính thể hiện rõ, trong khi các vật chất có trường độ sóng quá ngắn cho nên khoa học ngày xưa chỉ thấy dạng hạt mà không thấy được dạng sóng của vật chất.

Trong lãnh vực đạo đức và thuộc linh có những việc dường như nghịch lý, hoặc được chấp nhận hay bị cấm đoán vào những thời điểm khác nhau. Điều đó khiến cho chúng ta bị bối rối, không biết phải hành xử như thế nào, nhất là khi có liên quan đến nếp sống đạo. Dựa vào thắc mắc trên đây của bạn, chúng ta có thể nêu ra câu hỏi rất thực tế như sau:

Nếu xưa kia, các con trai, con gái của A-đam và Ê-va kết hôn lẫn nhau để phát triển dòng giống loài người thì tại sao ngày nay tôi không thể kết hôn với anh chị em cùng cha cùng mẹ của mình?

Chúng ta biết chắc, ban đầu Đức Chúa Trời chỉ dựng nên ông A-đam và từ ông A-đam Ngài tạo ra bà Ê-va. Sau khi tạo thành A-đam và Ê-va, Đức Chúa Trời ban phước cho họ, ra lệnh cho họ sinh sản thêm nhiều để làm đầy dẫy đất, và  trao quyền cai quản địa cầu cho họ: 

"27 Đức Chúa Trời dựng nên loài người như hình Ngài; Ngài dựng nên loài người giống như hình Đức Chúa Trời; Ngài dựng nên người nam cùng người nữ.

28 Đức Chúa Trời ban phước cho loài người và phán rằng: Hãy sanh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy đất; hãy làm cho đất phục tùng, hãy quản trị loài cá dưới biển, loài chim trên trời cùng các vật sống hành động trên mặt đất." (Sáng Thế Ký 1:27, 28)

Sáng Thế Ký 5:4 cho biết sau khi sinh được người con trai thứ ba là Sết vào năm 130 tuổi thì A-đam sống thêm 800 năm nữa, sinh thêm các con trai và con gái. Do vậy, chúng ta biết rằng ngay trong thế hệ thứ nhì của loài người, anh chị em ruột đã phải kết hôn với nhau để lưu truyền và phát triển giống người theo mạng lệnh của Đức Chúa Trời.

Ngày nay, chúng ta dùng từ ngữ "loạn luân" để nói đến việc những người có huyết thống gần trong ba đời kết hôn với nhau. Loạn ở đây có nghĩa là làm cho xáo trộn, mất trật tự; và luân là luân thường, đạo lý, tức là các tiêu chuẩn luân lý, đạo đức.

Trong Lê-vi Ký 20 có ghi lại những cấm lệnh của Đức Chúa Trời về việc kết hôn hay quan hệ tình dục giữa những người có quan hệ huyết thống rất gần với nhau. Những cấm lệnh này được truyền cho dân Israel khoảng 2,700 năm sau khi A-đam sinh các con trai, con gái, và họ kết hôn với nhau. Như vậy, trước khi luật cấm được ban hành, sự kết hôn giữa anh chị em ruột thịt và bà con gần không vi phạm cấm lệnh của Đức Chúa Trời, và cũng không thể gọi là loạn luân!

Vì sao trước khi dân Israel ra khỏi Ai-cập thì việc kết hôn giữa anh chị em ruột, bà con gần là tự nhiên (nếu không, thì giống người sẽ không tồn tại sau thế hệ thứ hai, tức thế hệ các con của A-đam) nhưng sau khi dân Israel ra khỏi Ai-cập thì Đức Chúa Trời ban cấm lệnh? Thánh Kinh không giải thích nhưng qua khoa học chúng ta có thể hiểu rằng: Sau khoảng hai ngàn bảy trăm năm, hệ di truyền DNA của loài người đã bị thoái hóa trầm trọng, vì thế Đức Chúa Trời không cho phép sự kết hôn giữa những người có quan hệ huyết thống quá gần với nhau. Ngày nay khoa học chứng minh được những người có quan hệ huyết thống quá gần mà kết hôn với nhau sẽ sinh ra những đứa con bị thoái hóa về cấu trúc thân thể lẫn tâm trí. Để chuẩn bị cho dân tộc Israel hùng mạnh về cả tâm linh và thể xác, Đức Chúa Trời đã ban hành luật đạo đức là 10 điều răn, cùng các luật về luân lý, vệ sinh, và quan hệ xã hội. Trong đó, luật cấm kết hôn giữa những người có quan hệ huyết thống quá gần nhằm bảo vệ dân Israel khỏi sự suy thoái về DNA.

Luật đạo đức của Đức Chúa Trời (kính Chúa, yêu người) không bao giờ thay đổi nhưng các luật về luân lý, vệ sinh, xã hội, thờ phượng… có thể được Đức Chúa Trời thay đổi tùy theo thời điểm lịch sử, môi trường sống, trình độ hiểu biết của nhân loại.

Sự đúng hay sai không do loài người chúng ta định ra nhưng do quyền tuyệt đối của Đức Chúa Trời. Khi Đức Chúa Trời cho phép hoặc bảo chúng ta làm một điều gì thì điều đó là đúng. Thí dụ: Chúa bảo Áp-ra-ham phải dâng con ruột của mình là Y-sác làm của lễ thiêu. Chúa bảo Tiên Tri Ô-sê cưới một phụ nữ tà dâm về làm vợ. Khi Đức Chúa Trời ngăn cấm chúng ta làm một điều gì mà chúng ta vẫn làm thì điều đó trở thành sai. Thí dụ: Chúa bảo Phao-lô không được đi vào vùng Tiểu Á để giảng Tin Lành. Chúa bảo Hội Thánh không được ăn của cúng thần tượng, huyết, hoặc thịt thú vật chết ngột.

Mục Tử
15.03.2007

Đọc Tiếp →

Hỏi & Đáp: Phá Thai

Copyright Notice:Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry – All Rights Reserved © 2007 Vietnamese Christian Mission Ministry, Inc. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức với điều kiện giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Mục Tử
Bấm vào đây để download bài viết này

[958]

Hỏi:

Tôi xin lấy một ví dụ cụ thể: một người phụ nữ mang thai, bào thai vì lý do nào đó làm nguy hiểm đến tính mạng người phụ nữ đó.  Bác sĩ phải quyết định phá cái thai đó đi để cứu mạng sống người mang thai.  Vậy thì Tim Huỳnh sẽ làm gì? Chọn để cái thai kia vẫn nằm trong lòng người mang thai để rồi cả người mang thai và cái thai chết một lượt hay là chọn phá cái thai để cứu sinh mạng người mang thai?

(ditimchanly)

 

Đáp:

Chào bạn ditimchanly

Trong Mười Điều Răn của Thiên Chúa đã có ghi rõ: "Ngươi chớ giết người" (Xuất Ê-díp-tô 20:13; Phục Truyền 5:17). Mười Điều Răn của Thiên Chúa không chỉ khắc trên đá, viết trên giấy, mà còn được trình bày cho nhân loại từ trước khi được viết thành chữ (Rô-ma 1:19). Thiên Chúa dựng nên loài người giống như hình ảnh của Ngài cho nên trong lương tâm của mỗi người đều có tiêu chuẩn thánh khiết của Ngài (điều răn, luật pháp) để loài người biết yêu kính, tôn thờ Thiên Chúa và yêu thương lẫn nhau. Sau khi loài người phạm tội thì lương tâm trở nên chai lì trước lẽ phải (I Ti-mô-thê 4:2), cho nên loài người không còn tôn kính Thiên Chúa và sẵn sàng giết hại lẫn nhau. Thậm chí, họ có thể giết hại ngay cả con ruột của mình để thỏa mãn những ham muốn ích kỷ trong lòng họ.

Cảm tạ Chúa, khi chúng ta tin nhận ơn cứu rỗi của Ngài thì Ngài tái sinh chúng ta và ban lòng mới cho chúng ta, trên đó, Ngài ghi khắc luật pháp của Ngài để chúng ta có một lương tâm ngay thẳng mà sống một đời sống mới trong Chúa:

Ta sẽ ban lòng mới cho các ngươi, và đặt thần mới trong các ngươi. Ta sẽ cất lòng bằng đá khỏi thịt các ngươi, và ban cho các ngươi lòng bằng thịt.(Ê-xê-chi-ên 36:26)

Chúa phán: Nầy là giao ước ta lập với chúng nó. Sau những ngày đó, Ta sẽ để luật pháp ta vào lòng chúng nó; Và ghi tạc nơi trí khôn. (Hê-bơ-rơ 10:16)

Ngày nay, những người có tư tưởng tự do, phóng khoáng, cho rằng luật pháp, điều răn của Thiên Chúa không còn ràng buộc tín đồ của Đấng Christ, nhưng chính Đấng Christ tuyên bố:

17 Các ngươi đừng tưởng ta đến đặng phá luật pháp hay là lời tiên tri; ta đến, không phải để phá, song để làm cho trọn.
18 Vì ta nói thật cùng các ngươi, đương khi trời đất chưa qua đi, thì một chấm một nét trong luật pháp cũng không qua đi được cho đến khi mọi sự được trọn.
(Ma-thi-ơ 5:17,18)

Và Đức Thánh Linh, qua ngòi bút của Phao-lô, đã răn dạy Hội Thánh:

Vậy, chúng ta nhơn đức tin mà bỏ luật pháp hay sao? Chẳng hề như vậy! Trái lại, chúng ta làm vững bền luật pháp.(Rô-ma 3:31)

Phải giữ điều răn, ở cho không vết tích và không chỗ trách được, cho đến kỳ sự hiện ra của Đức Chúa Jesus Christ chúng ta. (I Ti-mô-thê 6:14)

Thiên Chúa hôm qua, ngày nay, cho đến đời đời, không hề thay đổi. Dẫu trời đất có qua đi, song lời Chúa còn lại đời đời:

Trời đất qua đi còn dễ hơn một nét chữ trong luật pháp phải bỏ đi. (Lu-ca 16:7)

Lời Chúa còn lại đời đời.(I Phi-e-rơ 1:25)

Khi Thiên Chúa đã phán: "Ngươi chớ giết người," thì chúng ta không thể giết ngưòi vì bất kỳ lý do cá nhân nào. Nên nhớ, giết người vì ý riêng là điều Thiên Chúa nghiêm cấm ở đây. Điều răn "Ngươi chớ giết người" không trói buộc sự thi hành luật tử hình do chính Thiên Chúa ban ra trong luật pháp của Ngài (Xuất Ê-díp-tô 21:12-17). Ngày nay, nhiều người xưng là con dân của Thiên Chúa nhưng lại tổ chức biểu tình chống lại luật tử hình đối với những người vi phạm các tội ác nghịch lại với điều răn của Thiên Chúa (thí dụ hãm hiếp, giết người…). Thiên Chúa cũng dự trù điều luật cho trường hợp ngộ sát (giết người vì vô ý). Lời Chúa cũng cho biết, trưòng hợp ngộ sát có thể vì Chúa muốn cất mạng của người bị giết (Xuất Ê-díp-tô 21:13; Dân Số 35).

Khi xét đến vấn đề phá thai, nhiều người quan niệm bào thai chưa kể là người, giết một bào thai không thể kể là giết người. Định nghĩa về "người" và "giết người" không do chúng ta, nhưng do chính Thiên Chúa qua lời hằng sống của Ngài là Thánh Kinh. Lời Chúa chép:

Vì người sẽ có nghén và sanh một đứa con trai. Dao cạo sẽ không đưa qua đầu nó, bởi vì đứa trẻ từ trong lòng mẹ sẽ làm người Na-xi-rê cho Đức Chúa Trời; về sau nó sẽ giải cứu Y-sơ-ra-ên khỏi tay dân Phi-li-tin (Các Quan Xét 13:5). Na-xi-rê là người được biệt riêng ra cho Thiên Chúa.

Đấng đã tạo thành tôi trong lòng mẹ tôi, Há chẳng có dựng nên chúng nó sao? Há chẳng phải cũng một Đức Chúa Trời dựng nên chúng ta trong lòng mẹ sao? (Gióp 31:15)

Từ trong tử cung tôi đã được giao cho Chúa; Chúa là Đức Chúa Trời tôi từ khi tôi lọt lòng mẹ.(Thi Thiên 22:10)

Vì chính Chúa nắn nên tâm thần tôi, dệt thành tôi trong lòng mẹ tôi.(Thi Thiên 139:13)

Đức Giê-hô-va, là Đấng đã làm nên ngươi, đã gây nên ngươi từ trong lòng mẹ,và sẽ giúp đỡ ngươi, phán như vầy: Hỡi Gia-cốp, tôi tớ Ta, và Giê-su-run mà Ta đã chọn, đừng sợ chi. (Ê-sai 44:2)

Đức Giê-hô-va, là Đấng Cứu chuộc ngươi, đã gây nên ngươi từ trong lòng mẹ,phán như vầy: Ta là Đức Giê-hô-va, đã làm nên mọi vật, một mình Ta đã giương các từng trời và trải đất, ai ở cùng Ta? (Ê-sai 44:24)

Hỡi nhà Gia-cốp, và hết thảy các ngươi là dân sót của nhà Y-sơ-ra-ên, hãy nghe Ta, Ta đã gánh vác các ngươi từ lúc mới sanh, bồng-ẵm các ngươi từ trong lòng mẹ. (Ê-sai 46:3)

Có lời Đức Giê-hô-va phán cùng tôi như vầy: Trước khi tạo nên ngươi trong lòng mẹ, Ta đã biết ngươi rồi.(Giê-rê-mi 1:4)

Vì người sẽ nên tôn trọng trước mặt Chúa; không uống rượu hay là giống gì làm cho say, và sẽ được đầy dẫy Thánh Linh từ khi còn trong lòng mẹ. (Lu-ca 1:15)

Nhưng khi Đức Chúa Trời, là Đấng đã để riêng tôi ra từ lúc còn trong lòng mẹ, và lấy ân điển gọi tôi…(Ga-la-ti 15:10)

Chúng ta đã là NGƯỜI từ khi được tạo dựng trong lòng mẹ. Dựa trên lời Chúa, chúng ta có thể kết luận: Phá thai là giết người.

Mặt khác, lời Chúa cho biết:

Kìa, con cái là cơ nghiệp bởi Đức Giê-hô-va mà ra; Bông trái của tử cung là phần thưởng. (Thi Thiên 127:3)

Phá thai để bảo vệ những ham muốn ích kỷ của xác thịt là khinh thường lời Chúa, khinh thường điều răn và luật pháp của Ngài, đồng thời khinh bỉ cơ nghiệp và phần thưởng của Thiên Chúa.

Trở lại với lý luận: Việc phá thai có thể chấp nhận nếu cứu được sinh mạng của người mẹ. Lời Chúa dạy:

Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta là sự sống lại và sự sống; kẻ nào tin Ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi. (Giăng 11:25)

Chúng ta biết rằng mình đã vượt khỏi sự chết qua sự sống, vì chúng ta yêu anh em mình. Còn ai chẳng yêu thì ở trong sự chết.(I Giăng 3:14)

Sự sống và sự chết của chúng ta hoàn toàn ở trong bàn tay của Thiên Chúa. Nếu Chúa đã cho phép chúng ta chết vì sự mang thai, thì chúng ta là ai mà muốn chống lại Thiên Chúa bằng cách giết người vô tội để giữ lại mạng sống của mình? Nếu hai con chim sẻ đáng giá một đồng tiền mà không vì ý muốn của Thiên Chúa sẽ không một con nào rơi xuống đất (Ma-thi-ơ 10:29) thì mạng sống của con dân Chúa không quý trọng hơn hay sao? Chúa phán:

Dầu đến tóc trên đầu các ngươi cũng đã đếm cả rồi. Đừng sợ chi, vì các ngươi trọng hơn nhiều chim sẻ. (Lu-ca 12:7)

Con dân của Chúa cần tin chắc chắc rằng, nếu không có sự cho phép của Thiên Chúa, thì không một tai ương, hoạn nạn nào có thể xảy đến cho mình, kể cả bệnh tật và sự chết. Lời Chúa dạy rõ:

Vả, chúng ta biết rằngmọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đã định.(Rô-ma 8:28)

Nếu chúng ta thật sự yêu mến Đức Chúa Trời, thì ngay cả cái chết cũng là có ích cho chúng ta, vìmọi sự hiệp lại làm ích cho chúng ta. Cho nên, Phao-lô đã thốt lên lẽ thật này:

Vì nếu chúng ta sống, là sống cho Chúa, và nếu chúng ta chết, là chết cho Chúa. Vậy nênchúng ta hoặc sống hoặc chết, đều thuộc về Chúa cả. (Rô-ma 14:8)

Hiểu biết lẽ thật của lời Chúa khiến cho chúng ta được bình an, biết cảm tạ Chúa trong mọi cảnh ngộ, và không hành xử theo ý muốn riêng tư của mình mà phạm tội với Chúa.

Với những ai đã từng phạm tội giết người qua hình thức phá thai, hãy đến với sự thương xót của Chúa. (Người khuyến khích, đồng ý, hoặc giúp ngưòi khác phá thai cũng mang tội giết người). Ngài là Đấng yêu thương mỗi một linh hồn và Ngài đã trả giá cho tất cả hành vi tội lỗi của mỗi một người qua sự hy sinh của Đấng Christ trên thập tự giá. Chính cái mặc cảm tội lỗi đeo đuổi bạn từ khi phá thai cho đến giờ phút này là bằng chứng mạnh mẽ cho biết đó là hành vi tội lỗi, chống nghịch điều răn và luật pháp của Thiên Chúa. Bạn hãy ăn năn, thống hối và đến với Chúa qua lời cầu xin tương tự như sau:

Kính lạy Thiên Chúa, con đã phạm tội giết người. Xin tha thứ cho con và tẩy rửa con bằng huyết báu của Đức Chúa Jesus Christ. Xin ban cho con lòng khao khát lời Chúa để con được thánh hóa và soi sáng bởi lời Ngài. Con cầu xin và cảm tạ trong danh Đức Chúa Jesus Christ.

Thiên Chúa phán:

Đức Giê-hô-va phán: Bây giờ hãy đến, cho chúng ta biện luận cùng nhau. Dầu tội các ngươi như hồng điều, sẽ trở nên trắng như tuyết; dầu đỏ như son, sẽ trở nên trắng như lông chiên. (Ê-sai 1:18)

8 Ví bằng chúng ta nói mình không có tội chi hết, ấy là chính chúng ta lừa dối mình, và lẽ thật không ở trong chúng ta.
9 Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta, và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác.
10 Nhược bằng chúng ta nói mình chẳng từng phạm tội, ấy là chúng ta cho Ngài là kẻ nói dối, lời Ngài không ở trong chúng ta.
(I Giăng 1:8-10)

Nguyện sự bình an của Thiên Chúa bao phủ bạn.

Mục Tử
09.03.2007

Download tại đây:http://www.divshare.com/download/15276090-1b8

Đọc Tiếp →

Hỏi & Đáp: Ước Mơ, Giấc Mơ, và Khải Tượng

[2200]

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?yu2982qrt5r5p9l

Huỳnh Christian Timothy

Hỏi

Khi học về cuộc đời của Giô-sép ở trong chương trình học Thánh Kinh vào tối thứ sáu hàng tuần, khi học đến đoạn Chúa cho phép Giô-sép nằm mơ thì bà mục sư P.Đ.N. hỏi:

– Anh em có thường hay nằm mơ không?

– Anh em thường có những giấc mơ cho Chúa không?

Và bà đồng nhất ước mơ với khải tượng.

Theo tôi thì giấc mơ, sự ước mơ và khải tượng khác nhau. Chúa cho phép những giấc mơ xảy ra khi chúng ta ngủ (không phải khải tượng), nó không đến từ ý chí của bản thân. Ước mơ là điều mong ước ra từ ý chí của chúng ta. Khải tượng cũng như giấc mơ, không đến từ ý chí của bản thân, nhưng được Chúa xác quyết rõ ràng. Do đó, không thể nào đồng nhất ước mơ với khải tượng được. Mà Chúa thì làm gì cần chúng ta mơ ước, lên kế hoạch cho Ngài?

Tôi thắc mắc điều này vì:

– Không chắc điều mình nghĩ là đúng, mà hỏi những người xung quanh (tư gia) thì chỉ nhận được những câu trả lời cổ súy cho quan điểm của bà mục sư trên.

– Những năm gần đây, quan điểm đó được các diễn giả giảng dạy rất nhiều trong các buổi học, buổi nhóm của thanh niên trong Hội Thánh. Và những ngày này, tôi thường thấy nhiều người đưa ra những mơ ước thật lớn theo ý chí của họ, rồi cầu nguyện Chúa ban sức cho họ để hoàn thành mơ ước đó.

 

Đáp

Đúng như bạn phân tích, ước mơ, giấc mơ, và khải tượng là ba điều hoàn toàn khác biệt nhau. Ước mơ cũng không phải là ý chí.

1. Ước mơ (wish):là điều mình muốn mà biết rằng không thực tế hoặc rất khó hoàn thành vì mình không có năng lực hoặc không đủ phương tiện để đạt đến. Ước mơ khác với “dự tính” là sự tính toán, sắp xếp những điều mình sẽ thực hiện theo ý muốn và năng lực của mình. Một người bị tật nguyền có thể ước mơ được chạy nhảy như một người khỏe mạnh. Một người không có kỷ năng âm nhạc có thể mơ ước được trở thành một nhạc sĩ hoặc ca sĩ. Trong Thánh Kinh có ghi lại điều ước mơ của Phao-lô: “Tôi nói thật trong Đấng Christ, tôi không nói dối, lương tâm tôi làm chứng cho tôi bởi Đức Chúa Trời: tôi buồn bực lắm, lòng tôi hằng đau đớn. Bởi tôi ước ao có thể chính mình bị dứt bỏ, lìa khỏi Đấng Christ, vì anh em bà con tôi theo phần xác, tức dân Y-sơ-a-ên, là dân được những sự làm con nuôi, sự vinh hiển, lời giao ước, luật pháp, sự thờ phượng và lời hứa; là dân sanh hạ bởi các tổ phụ, và theo phần xác, bởi dân ấy sanh ra Đấng Christ, là Đấng trên hết mọi sự, tức là Đức Chúa Trời đáng ngợi khen đời đời. A-men” (Rô-ma 9:1-5).

2. Ý chí (will):là điều mình muốn và quyết tâm dốc đổ mọi năng lực, phương tiện để đạt đến. Thánh Kinh tiếng Anh dùng chữ "will", Thánh Kinh tiếng Việt dùng chữ "ý," "ý muốn." Một người không có Chúa thì ý chí của họ bị điều động bởi xác thịt và lý trí. Ê-phê-sô 2:1-3 nói rõ về điều này. Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống dịch "ý chí" trong câu 3 thành "sự ham mê:” “Còn anh em đã chết vì lầm lỗi và tội ác mình, đều là những sự anh em xưa đã học đòi, theo thói quen đời nầy, vâng phục vua cầm quyền chốn không trung tức là thần hiện đương hành động trong các con bạn nghịch. Chúng ta hết thảy cũng đều ở trong số ấy, trước kia sống theo tư dục xác thịt mình, làm trọn các sự ham mê của xác thịt và ý tưởng chúng ta, tự nhiên làm con của sự thạnh nộ, cũng như mọi người khác.”

Một người được tái sinh trong Đấng Christ thì sẽ dâng mình cho Chúa, đầu phục thánh ý của Ngài, và không còn sinh hoạt theo ý chí của riêng mình nữa, mà hoà nhập ý chí của mình với thánh ý của Thiên Chúa: “Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là sự thờ phượng phải lẽ của anh em. Đừng làm theo đời nầy, nhưng hãy biến hóa bởi sự đổi mới của tâm thần mình, để thử cho biết ý muốn tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn của Đức Chúa Trời là thể nào” (Rô-ma 12:1-2). “Vì ấy chính Đức Chúa Trời cảm động lòng anh em vừa muốn vừa làm theo ý tốt Ngài” (Phi-líp 2:13).

Suốt cuộc đời của Đức Chúa Jesus trong xác thịt, Ngài không sống theo ý chí của Ngài mà sống theo thánh ý của Đức Chúa Cha: “Ta không thể tự mình làm nổi việc gì; ta xét đoán theo điều ta nghe, và sự xét đoán ta là công bình, vì ta chẳng tìm ý muốn của ta, nhưng tìm ý muốn của Đấng đã sai ta” (Giăng 5:30). “Vì ta từ trên trời xuống, chẳng phải để làm theo ý ta, nhưng làm theo ý Đấng đã sai ta đến” (Giăng 6:38).

Đời sống người tín đồ không phải đi theo ý chí riêng tư của mình, yêu cầu Chúa chấp nhận và ban phước cho ý riêng của mình, nhưng phải là: "Làm theo ý muốn của Cha chúng ta ở trên trời" để "Ý Cha được nên" (Ma-thi-ơ 6:10). Vì không phải chỉ tin Chúa là được vào thiên đàng, nhưng phải chứng minh đức tin của mình qua sự vâng phục, làm theo Thánh Ý của Thiên Chúa, tức là trung tín cho đến chết: “Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì đều được vào nước thiên đàng đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha ta ở trên trời mà thôi” (Ma-thi-ơ 7:21).

3. Giấc mơ (dream):hay chiêm bao có thể là sinh hoạt tâm lý hoặc sinh hoạt tâm linh. Giấc mơ liên quan đến tâm lý là giấc mơ dựa trên các chi tiết hàng ngày trong đời sống, không liên quan gì đến thế giới thần linh. Giấc mơ liên quan đến tâm linh có thể là một sự tiếp nhận thông tin đến từ Thiên Chúa, như đã được ghi chép rất nhiều trong Thánh Kinh, hoặc là một sự tiếp nhận thông tin đến từ Sa-tan và các tà linh khác. Thánh Kinh không ghi lại trường hợp nào giấc mơ đến từ Sa-tan hoặc tà linh nhưng trong dân gian thì hiện tượng này xảy ra rất nhiều. Nhiều người nằm mơ:

  • Thấy người chết hiện về trong giấc mơ đòi hỏi cúng bái.
  • Thấy người thân hiện về báo cho biết là người ấy đã bị chết.
  • Thấy các thần tượng sai bảo làm việc này, việc nọ…

4. Khải tượng (vision):là những điều nhìn thấy trong tâm linh vào lúc tỉnh táo, không phải lúc ngủ mê như giấc mơ. Khải tượng có thể đến từ Thiên Chúa hoặc từ Sa-tan và các tà thần. Trong Thánh Kinh ghi lại rất nhiều các khải tượng đến từ Thiên Chúa, đặc biệt, nguyên cả sách Khải Huyền ghi chép những khải tượng đến từ Đấng Christ về lịch sử của loài người trong những ngày sau rốt. Thánh Kinh cũng ghi lại một trường hợp khải tượng đến từ tà thần, đó là việc bà bóng ở Ên-đô-rơ cầu vong tiên tri Sa-mu-ên và thấy hình dạng một thần linh (spirit) từ dưới đất hiện lên giống như Sa-mu-ên (I Sa-mu-ên 28).

Chúng ta biết Thiên Chúa ra lệnh tiêu diệt đồng bóng và các thầy tà thuật. Chúng ta biết Thiên Chúa đã từ bỏ vua Sau-lơ, không còn phán với ông nữa. Ngay khi Sa-mu-ên lúc còn sống cũng đã tuyệt giao với Sau-lơ. Như vậy, không thể nào một bà bóng có thể ra lệnh triệu tập tiên tri của Thiên Chúa như bà vẫn thường triệu tập các tà linh. Không thể nào Thiên Chúa dùng phương pháp cầu vong mà chính Ngài lên án để đối thoại với Sau-lơ. Việc bà bóng và Sau-lơ gọi tà linh bằng danh Sa-mu-ên và việc tà linh tự nhận là Sa-mu-ên không xác chứng đó chính là Sa-mu-ên. Việc tà linh nói với Sau-lơ những lời giống như Sa-mu-ên đã nhân danh Chúa nói trước đó không có gì lạ, vì tà linh chỉ lập lại những gì đã nghe Sa-mu-ên nói. Việc tà linh tiên tri về cái chết của Sau-lơ và Giô-na-than trong cuộc giao-tranh sẽ xảy ra ngày hôm sau cũng không có gì lạ. Trong thời của Gióp, Sa-tan có thể giết hết 10 đứa con của Gióp, có thể giết các tôi tớ của Gióp, có thể tạo ra chiến tranh (với sự cho phép của Thiên Chúa), thì trong sự cho phép của Thiên Chúa và trong chương trình của Ngài, Sa-tan vẫn có thể giết Sau-lơ và Giô-na-than, đồng thời nói trước về ý đồ của nó.

Ngày nay, Thiên Chúa vẫn dùng giấc mơ và khải tượng để thông tin cho loài người. Thánh Kinh khẳng định như vậy: “Đức Chúa Trời phán: Trong những ngày sau rốt, Ta sẽ đổ Thần ta khắp trên mọi xác-thịt; Con trai và con gái các ngươi đều sẽ nói lời tiên tri, Bọn trai trẻ sẽ thấy điềm lạ, Và các người già cả sẽ có chiêm bao” (Công Vụ 2:17). Những ngày sau rốt trong lời tiên tri này kéo dài từ khi Đấng Christ hoàn thành công cuộc cứu chuộc nhân loại cho đến khi Ngài tái lâm, tiêu diệt AntiChrist và nhốt Sa-tan vào vực sâu.

Các giấc mơ và khải tượng ngày nay chỉ có tính cách nâng đỡ đời sống đức tin của riêng một người chứ không có tính cách phổ quát cho cả Hội Thánh như khi Thánh Kinh chưa hoàn tất. Những khải tượng Thiên Chúa muốn cho toàn thể nhân loại biết, thậm chí khải tượng về tận thế và trời mới, đất mới đã được hoàn tất và ghi lại trong Thánh Kinh. Ngày nay, người nào cho rằng mình nhận được những khải tượng về tận thế, về thiên dàng, về hoả ngục mà "Chúa" (thật ra là Sa-tan mạo nhận) bảo họ phải công bố ra cho mọi người khác biết là người ấy có ý nói Thánh Kinh cần phải được viết thêm! Dĩ nhiên, do sự nhân từ, thương xót của Thiên Chúa, Ngài vẫn có thể cho một người thấy những khải tượng về tận thế, về thiên đàng, về hoả ngục… nhưng những khải tượng này chỉ dành riêng cho người nhận khải tượng để nâng đỡ đức tin hoặc chức vụ của chính người ấy.

Những hình thức khải tượng đến từ tà linh là:

  • Khải tượng của những người hành thiền.
  • Khải tượng về sự hiện ra của bà Ma-ri.
  • Khải tượng về hỏa ngục, thiên đàng của bà Mary K. Baxter.
  • Khải tượng về hoả ngục, thiên đàng của ông Daniel Ekechukwu
  • Các khải tượng của những người Ân Tứ và Ngũ Tuần, như trường hợp khải tượng thấy California bị động đất của ông Nguyễn Viết Ánh.

Có những nhóm Ân Tứ và Ngũ Tuần thường họp nhau lại "cầu nguyện trong tiếng lạ" hết giờ này sang giờ khác và sau đó ngồi kể cho nhau nghe những "khải tượng" họ được nhìn thấy trong khi "cầu nguyện." Trong mỗi buổi "cầu nguyện" như vậy, một người có thể thấy hàng chục "khải tượng…” Có điều gì đó sai trái trong sinh hoạt này. Chúa dạy chúng ta hãy đi khắp thế gian để giảng Tin Lành. Chúa không dạy chúng ta tụm nhau lại một chỗ, thành lập những nhóm cá biệt để "cầu nguyện tiếng lạ" và "nhận lãnh khải tượng." Sự giảng giải Lời Chúa của những người này có vấn đề.

Những ai đang sinh hoạt trong các phong trào Ân Tứ và Ngũ Tuần cần phải thật lòng hạ mình trước mặt Chúa xin Chúa thương xót giải phóng mình khỏi sự ràng buộc của tà thần. Tinh thần kiêu ngạo, tinh thần chạy theo dấu kỳ phép lạ, và tà linh nói tiếng lạ… đến từ Sa-tan, mạo nhận là ân tứ của Đức Thánh Linh, đang cầm giữ những người này trong bóng tối và sự chết! Một người đang bị ảnh hưởng của Ân Tứ và Ngũ Tuần chỉ cần chân thành hướng lòng về Thiên Chúa Ba Ngôi, thưa với Chúa, đại khái: "Lạy Chúa, nếu những sự nói tiếng lạ, chữa bệnh, trừ quỷ, nói tiếng tri, thấy khải tượng… trong con là ân tứ của Đức Thánh Linh thì con cảm tạ Chúa và xin Chúa ấn chứng cho con. Nếu những quyền phép này đến từ Sa-tan và các tà thần của nó mà xưa nay con đã bị lường gạt, thì xin Chúa cứu lấy con, giải phóng con khỏi các quyền lực tối tăm này và phục hồi cho con những ân tứ thật sự đến từ Đức Thánh Linh." Tiếp liền theo đó là nhân danh Đức Chúa Jesus Christ để xua đuổi các tà linh ra khỏi thân thể mình.

Chúng ta không thể đồng nhất ước mơ với khải tượng. Ước mơ đến từ chúng ta và khó thể hiện thực. Khải tượng đến từ Thiên Chúa hoặc tà linh. Chúng ta cũng không thể đưa ra ý chí của mình cho Thiên Chúa đóng dấu chấp thuận, mà chúng ta phải sống và làm theo thánh ý của Cha chúng ta ở trên trời. Người thật sự ở trong Chúa sẽ nghe được tiếng gọi của Chúa, sẽ biết được Chúa ban cho mình những ân tứ gì, và sẽ hết lòng, hết sức làm theo tiếng gọi của Ngài. Đức Chúa Jesus phán: "Chiên Ta nghe tiếng Ta!" Chiên thật của Chúa đương nhiên nghe tiếng Chúa, không cần phải cầu xin cho được nghe tiếng Chúa! Điều duy nhất con dân Chúa cần cầu xin đó là: cầu xin Chúa ban cho sự khôn ngoan và được kết quả trong sự hầu việc Chúa của mình.

 

Huỳnh Christian Timothy
03.09.2007
Hiệu Đính Lần Thứ Nhất 14.12.2012


Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry.
Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Đọc Tiếp →

Hỏi & Đáp: Ví Dụ về Tiệc Cưới

Copyright Notice:Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry – All Rights Reserved © 2007 Vietnamese Christian Mission Ministry, Inc. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức với điều kiện giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Mục Tử
Bấm vào đây để download bài viết này

[951]

Hỏi:

Diễn giả chia sẻ Lời Chúa sáng nay ở chi Hội mà tôi sinh hoạt chung. Đến giờ chia sẻ Lời Chúa, thì ông chọn chương Ma-thi-ơ 22 làm nền tảng. Vì trong lúc chưa đến giờ giảng thì tôi thấy ông mục sư này nhiều lần mở đọc quyển 'Hội Thánh theo đúng mục đích,' nên tôi chú ý rất kỹ đến những điều giảng dạy của ông. Phần lớn thì tôi đồng tình với những gì ông phân tích và áp dụng, nhưng có phần sau thì tôi không chắc, xin tinlanhbiengiao.net cho ý kiến ngắn gọn về phần này của ông:

Ma-thi-ơ 22:2: "nước thiên đàng giống như một vua kia làm tiệc cưới cho con mình"

– Diễn giả giới thiệu các cách tổ chức buổi tiệc và đặc biệt là tiệc buffet, tiệc mà mọi người được đối xử công bằng với nhau, các món được dọn ra thì ai cũng có thể được ăn.

– Diễn giả đồng nhất tiệc của Chúa với tiệc của vị vua đó với tiệc buffet.
– Diễn giả đưa ra bài học áp dụng: Trong Hội Thánh, nếu tín đồ muốn có ân "nói, cầu nguyện tiếng lạ; chữa lành; đuổi quỷ; biện biệt…"' thì cứ yêu cầu Chúa, thì sẽ được, vì Chúa "đã dọn ra rồi". Ông trích dẫn câu Thánh Kinh "anh em chẳng được chi vì không cầu xin"

(Andy)

Đáp:

Chào bạn Andy,

Trong Ma-thi-ơ 22:1-14 Đức Chúa Jesus dùng hình ảnh một tiệc cưới hoàng gia để nêu lên một số đặc điểm về nước thiên đàng. Có hai điểm nổi bật trong thí dụ này:

1. Khách danh dự được mời đã từ chối đến dự tiệc cho nên nhiều người khác đã được mời thế vào.
2. Trong số những khách dự tiệc có một người không mặc lễ phục nên bị đuổi ra khỏi bửa tiệc.

Câu 14 đúc kết ý nghĩa thật sự của thí dụ này: "Bởi vì có nhiều kẻ được gọi, mà ít người được chọn."

Ngay từ buổi ban đầu của mục vụ, Đức Chúa Jesus đã liên kết mục vụ của Ngài với hình ảnh của một tiệc cưới mà Ngài là chàng rễ (Mác 2:19,20). Thí dụ tiệc cưới nhằm nói lên có nhiều người được mời gọi đến với sự cứu rỗi của Thiên Chúa nhưng có ít người tiếp nhận. Trong tiệc cưới, sự mời gọi tùy thuộc vào chủ tiệc nhưng sự được chọn tùy thuộc vào khách được mời. Trong nước trời, sự mời gọi tùy thuộc vào Đức Chúa Cha nhưng sự được chọn tùy thuộc vào những người tiếp nhận sự mời gọi ấy.

Bài học trong thí dụ tiệc cưới đối với dân tộc Israel là:

1. Nước thiên đàng bị khưóc từ bởi những người lẽ ra phải hân hoan đón nhận. Những người này là các nhà lãnh đạo Do-thái giáo, những người được gần gũi, bảo tồn, và truyền đạt lời Chúa.

2. Nước thiên đàng được mở rộng ra cho"những kẻ thu thuế, phường đĩ điếm," những người gian ác không có cơ hội gần gũi lời Chúa như các nhà lãnh đạo Do-thái giáo.

3. Dù đã được mời gọi, đã tiếp nhận lời mời gọi, đã được quyền vào trong nước trời, nhưng nếu người nào không mặc lấy Đấng Christ (sự công chính do huyết báu của Đấng Chris đổ ra trên thập tự giá) thì sẽ bị ném ra khỏi nước trời.

Trong Ma-thi-ơ 5:20 Đức Chúa Jesus nói rõ, nếu sự công bình của một người không trổi hơn của những người Pha-ri-si, những giáo sư dạy Thánh Kinh của Do-thái Giáo thì người ấy không thể vào thiên đàng. Sự công bình mà Đức Chúa Jesus nói đến đó, chỉ có thể có do sự chuộc tội của Ngài. Muốn trở nên công bình hơn tiêu chuẩn của các nhà lãnh đạo Do-thái giáo chỉ có một phương cách duy nhất là hạ mình ăn năn tội và tiếp nhận ơn cứu rỗi của Thiên Chúa. Một người muốn dựa vào sự công bình cá nhân của mình (tu trì, làm việc công đức, "hầu việc Chúa…") sẽ không thể nào vào được thiên đàng. Sự công bình của loài người chỉ là áo nhớp trước mặt Thiên Chúa (Ê-sai 64:6), vì không có một người công bình nào trên đất (Thi Thiên 14:3).

Bài học trong thí dụ tiệc cưới đối với Hội Thánh ngày nay là:

1. Nước thiên đàng bị khước từ bởi những người cao trọng trong hàng ngũ lãnh đạo của các giáo hội, những Pha-ri-si và thầy thông giáo thời đại, suốt hơn ngàn năm nay (Cô-lô-se 2:16-23; II Ti-mô-thê 3:6-9); điển hình là Giáo Hội Công Giáo La-mã.

2. Nước thiên đàng được mở rộng ra cho tất cả mọi dân tộc (Lu-ca 24:47).

3. Nhiều người tin nhận Chúa nhưng cậy vào công đức của mình thay vì cậy vào sự thương xót của Thiên Chúa, họ kiêu căng, ngạo mạn, tìm kiếm quyền lực và vinh hiển cá nhân nên sập bẫy ma quỷ. Họ ngày càng lún sâu hơn trong sự kiêu ngạo và những quyền năng, phép lạ đến từ ma quỉ, tự lừa gạt chính mình và lừa gạt người khác. Họ sẵn lòng bẻ cong lời Chúa, giải thích, rao giảng Thánh Kinh theo ý riêng sao cho phù hợp với mục đích riêng của mình; điển hình là các phong trào Ân Tứ/Ngũ Tuần. Về những người này, lời Chúa đã phán tỏ tường trong Ma-thi-ơ 7:

21 Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng Ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì đều được vào nước thiên đàng đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha Ta ở trên trời mà thôi.
22 Ngày đó, sẽ có nhiều người thưa cùng Ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng tôi chẳng từng nhơn danh Chúa mà nói tiên tri sao? nhơn danh Chúa mà trừ quỉ sao? và lại nhơn danh Chúa mà làm nhiều phép lạ sao?
23 Khi ấy, Ta sẽ phán rõ ràng cùng họ rằng: Hỡi kẻ làm gian ác, Ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi Ta!

Thí dụ tiệc cưới là thí dụ về nước thiên đàng, không phải thí dụ về sự ban cho ân tứ của Đức Thánh Linh.

Cho là thí dụ tiệc cưới nói về sự ban cho ân tứ của Đức Thánh Linh đi chăng nữa, thì tín đồ cũng không cần "cầu xin" gì cả, vì Chúa "đã dọn ra rồi." Không một người nào xin Vua mời mình dự tiệc cưới. Không một chỗ nào trong thí dụ cho thấy là người dự tiệc phải "cầu xin được ăn."

Câu Thánh Kinh Gia-cơ 4:2,3 thường được trích dẫn để nói rằng: một người không nhận lãnh Đức Thánh Linh hoặc ân tứ của Đức Thánh Linh là vì không cầu xin. Sự áp dụng này hoàn toàn sai lạc:

– Thứ nhất, Gia-cơ 4:2,3 không nói đến việc cầu xin Đức Thánh Linh hay cầu xin ân tứ của Đức Thánh Linh. Muốn hiểu rõ ý nghĩa của những câu này, chúng ta cần phải xem xét toàn bộ văn cảnh (context), bắt đầu từ Gia-cơ 3:13:

13 Trong anh em có người nào khôn ngoan thông sáng chăng: Hãy lấy cách ăn ở tốt của mình mà bày tỏ việc mình làm bởi khôn ngoan nhu mì mà ra.
14 Nhưng nếu anh em có sự ghen tương cay đắng và sự tranh cạnh trong lòng mình, thì chớ khoe mình và nói dối nghịch cùng lẽ thật.
15 Sự khôn ngoan đó không phải từ trên mà xuống đâu; trái lại, nó thuộc về đất, về xác thịt và về ma quỉ.
16 Vì ở đâu có những điều ghen tương tranh cạnh ấy, thì ở đó có sự lộn lạo và đủ mọi thứ ác.
17 Nhưng sự khôn ngoan từ trên mà xuống thì trước hết là thanh sạch, sau lại hòa thuận, tiết độ, nhu mì, đầy dẫy lòng thương xót và bông trái lành, không có sự hai lòng và giả hình.
18 Vả bông trái của điều công bình thì gieo trong sự hòa bình, cho những kẻ nào làm sự hòa bình vậy.

Gia-cơ 4:

1 Những điều chiến đấu tranh cạnh trong anh em bởi đâu mà đến? Há chẳng phải từ tình dục anh em vẫn hay tranh chiến trong quan thể mình sao?
2 Anh em tham muốn mà chẳng được chi; anh em giết người và ghen ghét mà chẳng được việc gì hết; anh em có sự tranh cạnh và chiến đấu; anh em chẳng được chi, vì không cầu xin.
3Anh em cầu xin mà không nhận lãnh được, vì cầu xin trái lẽ, để dùng trong tư dục mình.
4 Hỡi bọn tà dâm kia, anh em há chẳng biết làm bạn với thế gian tức là thù nghịch với Đức Chúa Trời sao? Cho nên, ai muốn làm bạn với thế gian, thì người ấy trở nên kẻ nghịch thù cùng Đức Chúa Trời vậy.
5 Hay là anh em tưởng Kinh Thánh nói vô ích sao? Đức Thánh Linh mà Đức Chúa Trời khiến ở trong lòng chúng ta, ham mến chúng ta đến nỗi ghen tương,
6 nhưng Ngài lại ban cho ta ơn lớn hơn nữa. Vì vậy, Thánh Kinh chép rằng: Đức Chúa Trời chống cự kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường.
7 Vậy hãy phục Đức Chúa Trời; hãy chống trả ma quỉ, thì nó sẽ lánh xa anh em.
8 Hãy đến gần Đức Chúa Trời, thì Ngài sẽ đến gần anh em. Hỡi kẻ có tội, hãy lau tay mình, có ai hai lòng, hãy làm sạch lòng đi;
9 hãy cảm biết sự khốn nạn mình, hãy đau thương khóc lóc; hãy đổi cười ra khóc, đổi vui ra buồn.
10 Hãy hạ mình xuống trước mặt Chúa, thì Ngài sẽ nhắc anh em lên.

Rõ ràng Gia-cơ nhắc đến việc Đức Thánh Linh đã ở trong lòng người tin Chúa cho nên tín đồ không cần thiết phải cầu xin Chúa ban Đức Thánh Linh cho mình (câu 5). Chính Đức Chúa Jesus khẳng định, hễ ai tin nhận Ngài thì được nhận lãnh Đức Thánh Linh (Giăng 7:38,39):

38 Kẻ nào tin ta thì sông nước hằng sống sẽ chảy từ trong lòng mình, y như Kinh Thánh đã chép vậy.
39 Ngài phán điều đó chỉ về Đức Thánh Linh mà người nào tin Ngài sẽ nhận lấy; bởi bấy giờ Đức Thánh Linh chưa ban xuống, vì Đức Chúa Jêsus chưa được vinh hiển.

Đức Chúa Jesus đã được vinh hiển qua sự sống lại và thăng thiên, ĐứcThánh Linh đã được ban xuống trong ngày Lễ Ngũ Tuần cách nay gần hai ngàn năm, cho nên kể từ đó, hễ ai tin nhận Đấng Christ và tuyên xưng đức tin qua lễ báp-tem nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi, thì đương nhiên nhận lãnh Đức Thánh Linh và Thánh Linh mà không cần cầu xin gì cả (Công Vụ 2:38):

38 Phi-e-rơ trả lời rằng: Hãy hối cải, ai nấy phải nhơn danh Đức Chúa Jêsus chịu phép báp-tem, để được tha tội mình, rồi sẽ được lãnh sự ban cho Đức Thánh Linh.

– Thứ nhì, điều mà Gia-cơ nói tín đồ không nhận lãnh vì không cầu xin không phải là Đức Thánh Linh hay ân tứ của Ngài, mà là "sự khôn ngoan thông sáng từ Thiên Chúa" dẫn đến nếp sống đạo tràn đầy "bông trái của sự công bình" (Gia-cơ 3:13, 17). Thật vậy, ngay trong phần mở đầu của lá thư, Gia-cơ đã khuyên tín đồ cầu xin sự khôn ngoan thông sáng từ Thiên Chúa (Gia-cơ 1:1-3):

5 Ví bằng trong anh em có kẻ kém khôn ngoan, hãy cầu xin Đức Chúa Trời, là Đấng ban cho mọi người cách rộng rãi, không trách móc ai, thì kẻ ấy sẽ được ban cho.
6 Nhưng phải lấy đức tin mà cầu xin, chớ nghi ngờ; vì kẻ hay nghi ngờ giống như sóng biển, bị gió động và đưa đi đây đi đó.
7 Người như thế chớ nên tưởng mình lãnh được vật chi từ nơi Chúa:

Nhiều người trong Hội Thánh thời bấy giờ cũng như thời nay kiêu ngạo dựa vào sự khôn ngoan của thế gian (triết học, tâm lý học, văn hóa dân tộc, đạo đức tôn giáo, mưu kế, thủ đoạn…) để "hầu việc Chúa" nhưng bị thất bại, không kết quả thì lại ganh tỵ, nói xấu, hãm hại những người biết nương cậy nơi sự khôn ngoan từ Thiên Chúa mà hầu việc Ngài.

Toàn bộ thư Gia-cơ không hề nói đến sự tín đồ cầu xin cho được nhận lãnh Đức Thánh Linh hoặc ân tứ của Ngài. Việc sử dụng câu "anh em chẳng được chi vì không cầu xin" trong Gia-cơ 4:2 để cho rằng một người muốn nhận lãnh Đức Thánh Linh hay ân tứ của Ngài thì phải cầu xin là một việc làm giải kinh tùy tiện và gượng ép, bóp méo lẽ thật của Lời Chúa.

Đức Thánh Linh đương nhiên ngự vào lòng những ai tin nhận sự cứu rỗi của Thiên Chúa và vâng theo lời phán dạy của Chúa để làm ấn chứng cho sự cứu rỗi mà tín đồ không cần phải cầu xin. Một đứa bé được sinh ra đời, đương nhiên có sự sống mà không cần phải cầu xin cha mẹ ban sự sống cho mình. Một người tin nhận và đầu phục Chúa, được tái sinh, đương nhiên có Đức Thánh Linh và Đức Cha, Đức Con ngự trong lòng mà không cần cầu xin.

Ân tứ của Đức Thánh Linh đương nhiên được ban cho mỗi người tùy theo ý muốn của Đức Thánh Linh để gây dựng Hội Thánh của Đấng Christ mà không cần phải cầu xin.Nếu chúng ta không cần cầu xin sự sống đời đời thì chúng ta cũng không cần cầu xin ân tứ của Đức Thánh Linh, vì sự sống đời đời và ân tứ của Đức Thánh Linh đều là quà tặng của Thiên Chúa cho những ai đã được ban cho quyền phép trở nên con cái của Đức Chúa Trời. Một thân thể có sự sống thì mỗi chi thể đương nhiên tiếp nhận những gì cần thiết do sự sống đem lại mà không cần cầu xin gì cả. Ân tứ của Đức Thánh Linh là sự ban cho đương nhiên, tín đồ không cần cầu xin:

38 Kẻ nào tin ta thì sông nước hằng sống sẽ chảy từ trong lòng mình, y như Kinh Thánh đã chép vậy.
39 Ngài phán điều đó chỉ về Đức Thánh Linh mà người nào tin Ngài sẽ nhận lấy; bởi bấy giờ Thánh Linh chưa ban xuống, vì Đức Chúa Jêsus chưa được vinh hiển.
(Giăng 7:38-39).

4 Lúc ở với các sứ đồ, Ngài dặn rằng đừng ra khỏi thành Giê-ru-sa-lem, nhưng phải ở đó chờ điều Cha đã hứa, là điều các ngươi đã nghe ta nói.
8 Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi, thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép, và làm chứng về ta tại thành Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến cùng trái đất.
(Công Vụ 1:4,8).

Chúa bảo các môn đồ chờ đợi để nhận lãnh Đức Thánh Linh và ân tứ (quyền phép) của Đức Thánh Linh, Chúa không bảo họ kêu cầu.

17 Đức Chúa Trời phán: Trong những ngày sau rốt, Ta sẽ đổ Thần ta khắp trên mọi xác-thịt; Con trai và con gái các ngươi đều sẽ nói lời tiên tri, Bọn trai trẻ sẽ thấy điềm lạ, Và các người già cả sẽ có chiêm bao,
18 Phải, trong những ngày đó, ta sẽ đổ Thần ta khắp trên các đầy tớ trai và gái ta, Chúng nó đều nói lời tiên tri;
(Công Vụ 2:17-18).

Không hề có điều kiện cầu xin được nêu lên. Đức Chúa Cha ban Con Một của Ngài cho thế gian mà không cần thế gian phải cầu xin. Đức Chúa Cha ban Đức Thánh Linh cho Hội Thánh mà không cần Hội Thánh phải cầu xin.

37 Chúng nghe bấy nhiêu lời, trong lòng cảm động, bèn hỏi Phi-e-rơ và các sứ đồ khác rằng: Hỡi anh em, chúng ta phải làm chi?
38 Phi-e-rơ trả lời rằng: Hãy hối cải, ai nấy phải nhơn danh Đức Chúa Jêsus chịu phép báp-tem, để được tha tội mình, rồi sẽ được lãnh sự ban cho Đức Thánh Linh.

(Công Vụ 2:37-38).

Điều kiện nhận lãnh sự ban cho của Đức Thánh Linh là: Ăn năn, chứng tỏ sự ăn năn qua sự chịu lễ báp-tem Chúa dạy. Không hề có điều kiện cầu xin.

4 Vả, có các sự ban cho khác nhau, nhưng chỉ có một Đức Thánh Linh.
5 Có các chức vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa.
6 Có các việc làm khác nhau, nhưng chỉ có một Đức Chúa Trời, là Đấng làm mọi việc trong mọi người.
7 Đức Thánh Linh tỏ ra trong mỗi một người, cho ai nấy đều được sự ích chung.
8 Vả, người nầy nhờ Đức Thánh Linh, được lời nói khôn ngoan; kẻ kia nhờ một Đức Thánh Linh ấy, cũng được lời nói có tri thức.
9 Bởi một Đức Thánh Linh, cho người nầy được đức tin; cũng bởi một Đức Thánh Linh ấy, cho kẻ kia được ơn chữa tật bịnh;
10 người thì được làm phép lạ; kẻ thì được nói tiên tri; người thì được phân biệt các thần; kẻ thì được nói nhiều thứ tiếng khác nhau, người thì được thông giải các thứ tiếng ấy.
11 Mọi điều đó là công việc của đồng một Đức Thánh Linh mà thôi, theo ý Ngài muốn, phân phát sự ban cho riêng cho mỗi người.

(1 Cô-rinh-tô 12:4-11).

Lời Chúa dạy rõ ràng, ân tứ của Đức Thánh Linh là do Đức Thánh Linh ban cho mỗi người tùy theo ý ngài muốn, không phải tùy theo sự cầu xin của chúng ta. Làm sao chúng ta biết ân tứ nào thích hợp cho mình để gây dựng Hội Thánh mà cầu xin?

Trên một phương diện khác, một người thật lòng tin nhận Chúa, đã được ban cho Đức Thánh Linh làm ấn chứng và ân tứ của Đức Thánh Linh để gây dựng Hội Thánh nhưng không tin điều đó, cho rằng mình chưa có Đức Thánh Linh, chưa có ân tứ Đức Thánh Linh, lại cầu xin Đức Thánh Linh và ân tứ Đức Thánh Linh qua các tổ chức Ân Tứ/Ngũ Tuần là một sự mắc bẫy của Sa-tan, khiến cho tà linh thừa cơ xâm nhập thân thể của mình.

Chúa phán:"Dân ta bị diệt vì thiếu sự thông biết" (Ô-sê 4:6). Dân Chúa thiếu sự thông biết vì không tra cứu lời Chúa xem những sự giảng dạy của người khác có đúng với lời Chúa hay không (ví dụ như lời giảng của người mục sư về thí dụ tiệc cưới trên đây) mà cứ tin theo vì thấy những "dấu kỳ phép lạ."

Cái gọi là "ân tứ" mà một người có được do "cầu xin," chắc chắn không phải đến từ Đức Thánh Linh, vì Đức Thánh Linh không hề ban ân tứ cho chúng ta theo sự cầu xin của chúng ta mà là theo ý Ngài muốn. Quyền năng, phép lạ không đến từ Đức Chúa Trời hẳn nhiên đến từ Satan.

Mục Tử
09.03.2007

Đọc Tiếp →

Hỏi & Đáp: Đặt Tay Té Ngã

[2100]

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài này:
http://www.mediafire.com/view/?obtn39dr3euu0kd

Huỳnh Christian Timothy

Hỏi

Vào ngày kỷ niệm lễ Ngũ Tuần gần đây nhất (2007) vào cuối giờ thờ phượng, ông mục sư P.Đ.N có mời gọi các tín đồ tiến lên phía trên để được ông đặt tay cầu nguyện (đầy dẫy Thánh Linh), có hai ba người lên để được cầu nguyện. Khi được đặt tay cầu nguyện, ông mục sư có cầm micro và cầu nguyện bằng tiếng lạ, đa phần những người được đặt tay đều té ngã… Theo phân tích của Huỳnh Christian Timothy, việc làm của ông là sai với Thánh Kinh, và sai với Thánh Kinh thì có kẻ hở để Satan chen vào, suy ra những việc làm ra từ đây đều đến từ ma quỷ.

Về phần mục sư này, tôi cũng biết về ông hơi nhiều: càng ngày ông càng ít nóng tính, ông dâng hiến 6/10, ông hay giúp đỡ người nghèo, theo cách nhìn của tôi thì ông là một người rất tốt, lộ ra bông trái của Thánh Linh (nhưng tôi không biết về thời gian cầu nguyện của ông). Điều này có gì trái ngược với phân tích của Huỳnh Christian Timothy trong tinlanhbiengiao.net hay không?

Đáp

Như bạn đã biết, trong Thánh Kinh không hề có ghi lại một trường hợp nào một người được người khác đặt tay cầu nguyện, hoặc được đầy dẫy Thánh Linh, thì té ngã. Dưới đây là những trường hợp được báp-tem bằng Thánh Linh và đầy dẫy Thánh Linh mà Thánh Kinh ghi chép rõ ràng:

  • Trường hợp 1:Các môn đồ, bao gồm các sứ đồ, khoảng 120 người, vâng lời Chúa, chờ đợi tại Giê-ru-sa-lem để được báp-tem bằng Thánh Linh (Công Vụ 1:4-5). Khi Đức Thánh Linh giáng lâm, Ngài đổ đầy Thánh Linh trên họ, họ được đầy dẫy Thánh Linh và khởi nói các thứ tiếng ngoại quốc theo như sự ban cho của Đức Thánh Linh (Công Vụ 2:4). Không một người nào bị té ngã. Không một người nào xin được nói tiếng lạ. Không một người nào tập nói tiếng lạ. Không một ai đặt tay trên họ!
  • Trường hợp 2:Những người Sa-ma-ri từ bỏ phép thuật của thuật sĩ Si-môn, và tin nhận Đấng Christ (Công Vụ 8:4-25). Đây là một trưòng hợp đặc biệt. Dân Sa-ma-ri vốn là một sắc dân lai chủng giữa dân I-sơ-ra-ên và các dân tộc khác. Người I-sơ-ra-ên chính gốc khinh rẽ và không giao tiếp với dân Sa-ma-ri (Giăng 4:9). Sau khi Hội Thánh bị Sau-lơ bách hại nặng nề, dẫn đến sự tuẫn đạo của Ê-tiên thì các môn đồ (ngoại trừ các sứ đồ) đều phải lánh nạn khỏi thành Giê-ru-sa-lem (Công Vụ Các Sứ Đồ 8:1). Phi-líp là một trong những môn đồ lánh nạn, và ông đã đi đến thành Sa-ma-ri. Có lẽ, vì dân Sa-ma-ri vốn có dòng máu I-sơ-ra-ên, và trước đó cũng đã có cả làng tin nhận Đấng Christ, cho nên, Phi-líp tự nhiên rao giảng về Chúa cho họ. Cũng có lẽ, Phi-líp ghi nhớ lòi Chúa dạy là hãy rao giảng về Chúa khắp Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri… (Công Vụ Các Sứ Đồ 1:8) cho nên ông chọn đến Sa-ma-ri.

Kết quả truyền giáo của Phi-líp rất là độc đáo. Đức Thánh Linh qua Phi-líp đã thi hành nhiều phép lạ, đánh bại sự tôn thờ của người Sa-ma-ri đối với tà thuật của Si-môn, (họ tin rằng quyền phép của Si-môn đến từ Đức Chúa Trời – Công Vụ Các Sứ Đồ 8:10), và bắt phục luôn cả Si-môn, khiến Si-môn cùng với dân thành Sa-ma-ri tin nhận Đấng Christ và chịu phép báp-tem.

Điều lạ lùng ở đây là, mặc dù dân Sa-ma-ri đã tin nhận Chúa, đã chịu lễ báp-tem, nhưng Đức Thánh Linh vẫn chưa giáng trên họ (Công Vụ Các Sứ Đồ 8:16). Khi nghe tin những người Sa-ma-ri đã tin nhận Chúa thì các sứ đồ tại thành Giê-ru-sa-lem cử Phi-e-rơ và Giăng, là hai nhân vật mà sau này Phao-lô xác nhận rằng là cột trụ của Hội Thánh (Ga-la-ti 2:9), đến để cầu nguyện cho những môn đồ người Sa-ma-ri được nhận lãnh Thánh Linh.

Lý do sự nhận lãnh Đức Thánh Linh và được báp-tem trong Thánh Linh bị trì hoãn đối với những người Sa-ma-ri có thể được trình bày như sau:

a) Chúa muốn những sứ đồ, cột trụ của Hội Thánh, đại diện cho Hội Thánh, đích thân và công khai tìm đến tiếp nhận những người Sa-ma-ri vào trong Hội Thánh, từ đó xóa đi hàng rào ngăn cách lâu đời giữa dân I-sơ-ra-ên và dân Sa-ma-ri.

b) Đức Thánh Linh giáng xuống trên các môn đồ Sa-ma-ri trước sự hiện diện và đặt tay của các sứ đồ cột trụ trong Hội Thánh khiến cho không một ai trong Hội Thánh có thể chống đối việc hội nhập những người Sa-ma-ri vào trong Hội Thánh.

Nhận xét:Chính Phi-líp là một nhà truyền giáo đầy ơn của Chúa, qua Phi-líp, Đức Thánh Linh đã làm nhiều phép lạ để thu phục thuật sĩ Si-môn cùng dân thành Sa-ma-ri, thì không có lý do gì Phi-líp không thể đặt tay cầu nguyện cho những người Sa-ma-ri nhận lãnh Đức Thánh Linh và Thánh Linh, như sau này Phao-lô đã làm đối với các môn đồ tại thành Ê-phê-sô. Nếu Phi-líp không có tư cách để đặt tay cầu nguyện cho những người Sa-ma-ri thì e rằng ngày nay chẳng có một mục sư Ân Tứ hay Ngũ Tuần nào có tư cách, vì trong lịch sử 100 năm của các phong trào Ân Tứ và Ngũ Tuần chưa hề có người nào được đầy ơn và làm ra các phép lạ như Phi-líp, người được chính Thánh Kinh làm chứng là đầy dẫy Thánh Linh. Vậy, hai lý do nêu ra trên đây là khả dĩ. Trường hợp tại Sa-ma-ri là một biệt lệ. Trong trường hợp này cũng không có sự té ngã nào.

  • Trường hợp 3:Gia đình Cọt-nây (Công Vụ Các Sứ Đồ 10). Trong khi Phi-e-rơ đang giảng Đạo thì gia đình Cọt-nây được báp-tem bằng Thánh Linh, mặc dù họ chưa nhân danh Ba Ngôi Thiên Chúa để làm báp-tem bằng nước, và cũng chưa xưng nhận ra miệng đức tin của mình. Đây là trường hợp biệt lệ thứ nhì, là một "phép lạ" để bắt phục các sứ đồ và những tín đồ gốc Do-thái, rằng Tin Lành cũng được ban cho dân ngoại, rằng phép cắt bì không là điều kiện để được cứu rỗi, rằng ngay cả phép báp-tem bằng nước cũng không phải là điều kiện để được cứu rỗi (ngày nay có tà thuyết "tái sinh bởi phép báp-tem"). Gia-đình Cọt-nây đã tin Chúa từ trước khi Phi-e-rơ đến giảng (Công Vụ Các Sứ Đồ 10:2). Vì vậy, điều kiện duy nhất để nhận sự cứu rỗi, được nhận lãnh Đức Thánh Linh, được báp-tem bằng Thánh Linh là tin nhận Chúa và kính sợ, vâng phục Ngài. Không một ai đặt tay trên gia đình Cọt-nây, không một ai trong gia đình Cọt-nây té ngã khi được báp-tem bằng Thánh Linh, không một ai trong gia đình Cọt-nây nài xin nhận lãnh Đức Thánh Linh, không một ai trong gia đình Cọt-nây cầu xin được nói tiếng lạ.
  • Trường hợp 4:Một số môn đồ tại thành Ê-phê-sô (Công Vụ Các Sứ Đồ 19:1-7). Khi Phao-lô gặp khoảng 12 người tin Chúa tại thành Ê-phê-sô, có lẽ ông nhận biết họ chưa được báp-tem bằng Thánh Linh, cho nên, ông hỏi họ: "Từ khi anh em tin, có lãnh được Thánh Linh chăng?" và những người đó thưa rằng: "Chúng tôi cũng chưa nghe có Thánh Linh nào!" (Công Vụ Các Sứ Đồ 19:2).

Nhận xét:Phao-lô không hỏi "Từ khi anh em tin, có cầu xin cho được nhận lãnh Thánh Linh chưa?" Phao-lô cũng không hỏi "Anh em có muốn nhận lãnh Thánh Linh hay không?" Phao-lô cũng không hỏi "Từ khi anh em tin, có sứ đồ nào đặt tay trên anh em chưa?". Nhưng Phao-lô hỏi: "Từ khi anh em tin, có lãnh được Thánh Linh chăng?" Khi nghe họ trả lời rằng chưa hề nghe nói đến Thánh Linh thì Phao-lô biết ngay họ chưa được báp-tem bằng Thánh Linh, cho nên, ông hỏi tiếp: "Vậy thì anh em đã chịu phép báp-tem nào?" Các môn đồ trả lời: "Phép báp-tem của Giăng." Phao-lô liền giải thích phép báp-tem của Giăng dạy chỉ là phép báp-tem ăn năn tội, và ngay sau đó họ bằng lòng làm báp-tem trở lại theo mệnh lệnh của Đức Chúa Jesus Christ, nghĩa là phép báp-tem nhân danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh, là phép báp-tem ăn năn tội, phép báp-tem vào trong sự sống lại và sự sống đời đời của Đấng Christ, và phép báp-tem vào trong quyền phép của Đức Thánh Linh. Câu 6: "Sau khi Phao-lô đặt tay lên, thì có Đức Thánh Linh giáng trên họ…" cũng có thể hàm ý Phao-lô là người làm báp-tem cho họ, và như vậy, không phải vì Phao-lô đặt tay mà họ được đầy dẫy Thánh Linh, nhưng vì họ vừa nhận lãnh lễ báp-tem trong danh Thiên Chúa Ba Ngôi, tức vừa được báp-tem bằng Thánh Linh. Trong trường hợp này cũng không có sự té ngã, sự cầu xin.

Việc tôi tớ Chúa cầu nguyện, đặt tay khiến cho con dân Chúa được nhận lãnh Đức Thánh Linh và được báp-tem bằng Thánh Linh là một thực tế xảy ra trong Hội Thánh lúc ban đầu trong hai trường hợp đặc biệt đã nêu trên, (2) và (4). Ngày nay, Hội Thánh của Chúa đã lớn mạnh, đạo Tin Lành đã vững, nguyên tắc nhận lãnh Đức Thánh Linh là ăn năn tội, chịu lễ báp-tem trong danh Thiên Chúa Ba Ngôi; nguyên tắc để được đầy dẫy Thánh Linh là "đừng say rượu" (đừng để cho sự ham mến thế gian điều khiển lòng mình). Khi một người không còn yêu mến thế gian và những sự thuộc về thế gian thì đương nhiên chỉ còn lại sự hết lòng yêu kính Chúa và yêu thương tội nhân. Một người như vậy không thể không đầy dẫy Thánh Linh.

Nhận lãnh Đức Thánh Linh là được Đức Thánh Linh ngự vào lòng, ấn chứng cho sự cứu chuộc. Báp-tem bằng Thánh Linh là được dầm thấm, đổ đầy trong năng lực và quyền quép của Đức Thánh Linh. Năng lực và quyền phép của Đức Thánh Linh được gọi là Thánh Linh, khác với Đức Thánh Linh là thân vị của Thiên Chúa Ngôi Thánh Linh.

Bông trái của Đức Thánh Linh không phải là hành vi đạo đức bên ngoài của một người. Dâng hiến 6/10 cũng không phải là biểu hiệu của sự đầy dẫy Thánh Linh, lại càng không phải là bông trái của Đức Thánh Linh (nhưng làm sao bạn biết là ông dâng 6/10?) Nhiều người không hề tin nhận Chúa, không hề có Đức Thánh Linh trong lòng nhưng đời sống đạo đức trong xã hội đáng làm gương cho con dân Chúa.

Bông trái của Đức Thánh Linh là hành vi đạo đức bên ngoài đúng theo Lời Chúa, phát xuất từ sự biến đổi bên trong bởi Đức Thánh Linh. Một người có Đức Thánh Linh thì không thể rao giảng nghịch lại lẽ thật của Thánh Kinh. Một người được đầy dẫy Thánh Linh thì không còn yêu mến thế gian và những sự thuộc về thế gian.

 

Huỳnh Christian Timothy
03.09.2007
Hiệu Đính Lần Thứ Nhất 14.12.2012


Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry.
Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

 

 

Đọc Tiếp →

Hỏi & Đáp: Ý Nghĩa I Cô-rinh-tô 12

Copyright Notice:Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry – All Rights Reserved © 2007 Vietnamese Christian Mission Ministry, Inc. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức với điều kiện giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Mục Tử
Bấm vào đây để download bài viết này

[656]

Hỏi:

Xin Tin-Lành Biện Giáo vui lòng giảng dạy thêm đoạn Thánh Thư của vị Sứ Đồ khả kính Phao-lô gởi cho Hội Thánh Cô-rinh-tô: I Cor. 12:1-31.(Tran d. Phung)

Đáp:

Thưa bạn Tran d. Phung,

Nhận được yêu cầu trên đây của bạn gửi đến Ban Biên Tập tinlanhbiengiao.net, Mục Tử mạn phép cậy ơn Chúa để chia sẻ sự hiểu biết của mình về đoạn Thánh Kinh I Cô-rinh-tô 12.

1 Hỡi anh em, tôi không muốn anh em chẳng biết về các sự ban cho thiêng liêng.

Sứ Đồ Phao-lô muốn cho tín hữu của Hội Thánh Cô-rinh-tô và "mọi người bất luận ở nơi nào, cầu khẩn danh Đức Chúa Jesus Christ chúng ta, là Chúa của những người ấy và của chúng ta" (I Cô-rinh-tô 1:2) được hiểu biết về các sự ban cho thiêng liêng, tức là sự ban cho:

1. Quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, được tái sinh trong Đấng Christ, trở thành chi thể của Ngài
(câu 12-27)
2. Các chức vụ trong Hội Thánh (câu 5, 28-30)
3. Các công vụ của Đức Thánh Linh trong Hội Thánh (câu 6-11)

Sau khi có sự hiểu biết tỏ tường về các sự ban cho thiêng liêng thì tín hữu mới có thể hiểu được sự ban cho lớn hơn hết mà Phao-lô trình bày trong đoạn 13 (câu 31).

2 Anh em biết khi mình còn là người ngoại đạo, bị khuyên dỗ hướng về các thần tượng câm, tùy ý người ta dẫn dụ mình.

Khi nói "anh em biết" là Phao-lô khẳng định mỗi tín hữu đều biết lẽ thật này: ấy là khi còn là người chưa tin nhận Chúa, chúng ta bị người khác dụ dỗ chúng ta thờ lạy các thần tượng câm. Thần tượng câm có nghĩa là thần tượng không có lời sự sống, khác với Đức Chúa Trời là Đấng có Ngôi Lời và Ngôi Lời là sự sống và sự sáng của thế gian (Giăng 1:4). Chữ "tùy ý" trong câu này có nghĩa là người ta bảo sao, chúng ta làm vậy, bất kể có đúng lời Chúa hay không.

Ngày nay, nhiều người vẫn bị người khác "tùy ý" dẫn dụ đi xa lẽ thật, đi xa lời sự sống và sự sáng của Đức Chúa Trời. Những phong trào "hòa đồng tôn giáo" như Thần Học Hội Nhập, Thần Học Con Mắt Thứ Ba, Sống Theo Đúng Mục Đích, Hội Thánh Theo Đúng Mục Đích, Nói Tiếng Lạ (Người Công Giáo và người Tin Lành "thông công" với nhau trong những buổi cầu nguyện tiếng lạ)… là điển hình cho sự "tùy ý dẫn dụ" trong câu này.

Chỉ có những người "ngoại đạo" mới bị dẫn dụ mà thôi. Những người thật sự "ở trong đạo" và "đạo ở trong họ" (Giăng 15:5) thì không thể bị dẫn dụ. Nhiều người đã cầu nguyện tin nhận Chúa, đã làm báp-tem, sốt sắng các công việc trong Hội Thánh, thậm chí làm chứng cho nhiều người tin Chúa, hoặc là giáo sĩ, là người chăn được xem là "đầy ơn" nhưng vẫn là người "ngoại đạo." Những người "ngoại đạo" mang bảng hiệu "trong đạo" này thờ lạy các thần tượng: bằng cấp, chức vụ, giáo phái… là những thần tượng có thể thấy được bên ngoài. Sâu kín trong tâm thần của họ là các thần tượng: tham lam, kiêu ngạo, tà dâm… là những thần tượng khó thể thấy, trừ khi chúng ta nhờ ơn Chúa đục một cái lỗ để nhìn vào (Ê-xê-chi-ên 8).

3 Bởi đó, tôi tỏ cùng anh em, chẳng ai cảm Thánh Linh của Đức Chúa Trời, mà nói rằng: Đức Chúa Jêsus đáng nguyền rủa! Nếu không cảm Đức Thánh Linh, cũng chẳng ai xưng Đức Chúa Jêsus là Chúa!

Một người buông lời nguyền rủa Đức Chúa Jesus là một người bị quyền lực của tà linh tác động. Dễ nhận diện nhất là những người công khai mang bảng hiệu "ngoại đạo" như Trần Chung Ngọc, Charlie Nguyễn, và nhóm Giao Điểm. Rất khó để nhận diện là những người mang bảng hiệu "trong đạo" nhưng thật ra, họ là những người "ngoại đạo," là sói đội lốt chiên, là những kẻ giúp việc Sa-tan, mạo làm kẻ giúp việc công bình (Ma-thi-ơ 7:15; 2 Cô-rinh-tô 11:14-15). Khi một người không vâng phục lời Chúa là người ấy lên mình kiêu ngạo. Một người lên mình kiêu ngạo, lập tức rơi vào quyền lực của Sa-tan. Vì vậy, những người "được ơn nói tiếng lạ," nếu nói tiếng lạ ngoài quy định của Thánh Kinh, thì coi chừng lòng kiêu ngạo của mình là cái cớ để Sa-tan "thần cảm" cho mình nói tiếng lạ nguyển rủa Đấng Christ mà mình không biết, lại còn tự hào là đang thông công với Đức Chúa Trời. Đừng để cho cảm giác đánh lừa. Vấn đề không phải là cảm giác hay hiện tượng. Vấn đề là chúng ta có vâng phục lời Chúa hay không.

Người ta thường lấy câu sau đây để chứng minh là họ được thần cảm bởi Đức Thánh Linh: "Nếu không cảm Đức Thánh Linh, cũng chẳng ai xưng Đức Chúa Jêsus là Chúa!" Ý của Phao-lô nói ở đây không phải là hình thức xưng Đức Chúa Jesus là Chúa bên ngoài môi miệng (mà lòng thì cách xa Ngài lắm). Nếu như vậy, thì các quỷ dữ khi bị Chúa đuổi ra khỏi thân thể các nạn nhân, xưng Ngài là Chúa cũng được cảm Đức Thánh Linh hay sao? Công An giả mạo làm tín đồ, mục sư xưng Đức Chúa Jesus là Chúa cũng được cảm bởi Đức Thánh Linh hay sao? Chẳng phải vậy. Sự xưng Đức Chúa Jesus là Chúa mà Phao-lô nói ở đây, có nghĩa xưng nhận Đức Chúa Jesus làm Chúa của mình. Lời xưng nhận này là kết quả của lòng ăn năn, thống hối về tội lỗi của mình, tiếp nhận ân điển cứu rỗi của Đấng Christ, và dâng hiến cuộc đời mình cho Ngài, đặt sự sống và sự chết của mình trong bàn tay của Đấng Christ (Rô-ma 8:8-10; 14:7-9). Sự đầu phục đó phải được thần cảm bởi Đức Thánh Linh. Sự đầu phục đó, nghĩa là sự hoàn toàn đặt để sự sống và sự chết của mình trong bàn tay của Đấng Christ, là ấn chứng của sự tái sinh.

4 Vả, có các sự ban cho khác nhau, nhưng chỉ có một Đức Thánh Linh.

Các sự ban cho của Đức Chúa Trời, còn gọi là ân tứ, dù có khác nhau, nhưng chỉ xuất phát từ Đức Thánh Linh, vì vậy, không thể có sự mâu thuẫn giữa các sự ban cho này. Cũng chính vì thế mà những người thật sự ở "trong đạo" nhận biết đâu là ân tứ thật sự đến từ Đức Thánh Linh, đâu là ân tứ giả mạo đến từ Sa-tan. Người thật sự đã được tái sinh, không chạy theo danh tiếng và phép lạ thì không thể bị Sa-tan dẫn dụ, gạt gẫm; vì trong người ấy có Đức Thánh Linh là Thần Lẽ Thật, dẫn người vào trong "mọi lẽ thật" của lời Chúa và dùng lời Chúa thánh hóa người (Giăng 16:13; 17:17).

5 Có các chức vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa.

Trong Hội Thánh có nhiều chức vụ khác nhau do Chúa kêu gọi và ban cho mỗi tín hữu để gây dựng bản thân và phát triển Hội Thánh. Mặc dù các chức vụ khác nhau nhưng đều đến từ một Chúa, đều được xức chung một Thánh Linh cho nên không thể có bất đồng và bất hòa. Hội Thánh nào mà người chăn và các chấp sự, các trưởng lão có sự xung khắc với nhau là Hội Thánh đó đang có "sói đội lốt chiên" trong hàng ngũ lãnh đạo.

6 Có các việc làm khác nhau, nhưng chỉ có một Đức Chúa Trời, là Đấng làm mọi việc trong mọi người.

Các việc làm ở đây là các việc Đức Chúa Trời làm ra ở trong Hội Thánh qua mỗi tín hữu. Vì là cùng một Đức Chúa Trời cho nên các việc trong Hội Thánh không thể có sự mâu thuẫn. Vấn đề là chúng ta có bằng lòng đầu phục Chúa trọn vẹn để Ngài làm mọi việc trong chúng ta hay không.

7 Đức Thánh Linh tỏ ra trong mỗi một người, cho ai nấy đều được sự ích chung.

Mỗi một ân tứ của Đức Thánh Linh ban cho bất kỳ ai trong Hội Thánh đều nhằm một mục đích là đem lại ích lợi chung cho toàn thể Hội Thánh, không phải để xây dựng vinh hiển và của cải vật chất cho riêng một cá nhân nào. Chữ "tỏ ra" (manifestation) trong câu này có ý nói tất cả các ân tứ của Đức Thánh Linh đều giúp cho chúng ta nhận thấy thuộc tính của Đức Thánh Linh (Ga-la-ti 5:22):

·         lòng yêu thương

·         sự vui mừng

·         sự bình an

·         sự nhịn nhục

·         sự nhơn từ

·         sự hiền lành

·         sự trung tín

·         sự mềm mại

·         sự tiết độ.

Bất kỳ một sự thể hiện ân tứ nào mà không hội đủ các thuộc tính trên đây thì ân tứ đó không đến từ Đức Thánh Linh. Đây là câu Thánh Kinh hàm chứa nguyên tắc giúp chúng ta nhận biết ân tứ thật của Đức Thánh Linh. Ân tứ thật của Đức Thánh Linh luôn luôn tỏ ra đầy trọn thuộc tính của Đức Thánh Linh.

8 Vả, người nầy nhờ Đức Thánh Linh, được lời nói khôn ngoan; kẻ kia nhờ một Đức Thánh Linh ấy, cũng được lời nói có tri thức.

Lời nói khôn ngoan đem lại sự hòa thuận trong Hội Thánh. Lời nói tri thức (cả thuộc thể lẫn thuộc linh) khiến cho Hội Thánh được thông biết, tránh được cái họa bị diệt (Ô-sê 4:6).

9 Bởi một Đức Thánh Linh, cho người nầy được đức tin; cũng bởi một Đức Thánh Linh ấy, cho kẻ kia được ơn chữa tật bịnh;

Chúng ta đã biết, nhờ ân điển, bởi đức tin mà chúng ta được cứu. Ân điển và đức tin đều là sự ban cho của Đức Chúa Trời. Sau khi có đức tin vào trong sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, là đức tin dẫn đến sự tái sinh, chúng ta tiếp tục sống bởi đức tin:

Vì trong Tin Lành nầy có bày tỏ sự công bình của Đức Chúa Trời, bởi đức tin mà được, lại dẫn đến đức tin nữa, như có chép rằng: Người công bình sẽ sống bởi đức tin. (Rô-ma 1:17).

Đức Thánh Linh ban thêm đức tin cho chúng ta tùy theo sự khao khát được tăng trưởng trong Chúa của chúng ta. Một người cha công bình sẽ chia tài sản nhiều hơn cho những đứa con hết lòng muốn tạo dựng sự nghiệp. Đó là ý nghĩa của sự đức tin dẫn đến đức tin mà sự chọn lựa nhận nhiều hay ít là do tấm lòng của chúng ta. Những đức tin mà Đức Thánh Linh ban thêm cho chúng ta có thể là đức tin cần phải có để đứng vững, trung tín với Chúa khi bị cám dỗ, thử thách, hoặc bị bách hại, nhất là khi những sự đó đến từ gia đình hoặc từ những người ở trong Hội Thánh mà không thánh.

10 người thì được làm phép lạ; kẻ thì được nói tiên tri; người thì được phân biệt các thần; kẻ thì được nói nhiều thứ tiếng khác nhau, người thì được thông giải các thứ tiếng ấy.

Đây là một câu Thánh Kinh quan trọng cho thấy giáo lý dạy rằng: Hễ một người được báp-tem bằng Thánh Linh thì phải biết nói tiếng lạ, là ngụy giáo lý. Rõ ràng lời Chúa dạy: "kẻ thì được nói nhiều thứ tiếng khác nhau, người thì được thông giải các thứ tiếng ấy" cho thấy không phải tất cả mọi người trong Hội Thánh đều được ân tứ nói tiếng lạ hoặc tất cả mọi ngưòi trong Hội Thánh đều được ân tứ thông giải tiếng lạ. Cũng vậy, không phải tất cả mọi người trong Hội Thánh đều được ơn nói tiên tri, hoặc ơn phân biệt các thần. Chính vì không phải ai cũng được ân tứ giống nhau cho nên Hội Thánh phải nhóm họp lại để nghe người được ơn nói tiên tri rao giảng lời Chúa, nghe người được ơn phân biệt các thần chỉ ra các thứ "thần cảm giả mạo," nghe người được ơn nói tiếng lạ rao giảng những điều kỳ diệu của Đức Chúa Trời khi có người thông giải cho sự rao giảng ấy (I Cô-rinh-tô 14:26-28). Không có người thông giải tiếng lạ mà cầu nguyện và rao giảng tiếng lạ trong Hội Thánh là lên mình kiêu ngạo, chống nghịch lời Chúa (I Cô-rinh-tô 14:37). Người như thế sẽ bị Sa-tan xâm nhập để giả mạo tiếng lạ mà nguyền rủa Đấng Christ ngay trong Hội Thánh của Ngài.

11 Mọi điều đó là công việc của đồng một Đức Thánh Linh mà thôi, theo ý Ngài muốn, phân phát sự ban cho riêng cho mỗi người.

Đây lại là một câu Thánh Kinh quan trọng cho thấy giáo lý dạy rằng: Hễ một người được báp-tem bằng Thánh Linh thì phải biết nói tiếng lạ, là ngụy giáo lý. Vì nói tiếng lạ là một trong các ân tứ của Đức Thánh Linh, theo ý Ngài muốn, phân phát sự ban cho riêng cho mỗi người. Chúng ta thấy hai nguyên tắc như sau:

1. Ân tứ được Đức Thánh Linh phân phát theo ý Ngài muốn, chứ không phải theo sự nài xin của chúng ta mà được, mặc dù chúng ta nên có lòng khao khát, mong ước tất cả những sự tốt đẹp đến từ Đức Chúa Trời.
2. Đức Thánh Linh phân phát riêng cho mỗi người ân tứ mà Ngài muốn ban cho người ấy chứ không có chuyện mọi người cùng lãnh nhận ân tứ như nhau.

12 Vả, như thân là một, mà có nhiều chi thể, và như các chi thể của thân dầu có nhiều, cũng chỉ hiệp thành một thân mà thôi, Đấng Christ khác nào như vậy.
13 Vì chưng chúng ta hoặc người Giu-đa, hoặc người Gờ-réc, hoặc tôi mọi, hoặc tự chủ, đều đã chịu phép báp-tem chung một Thánh Linh để hiệp làm một thân; và chúng ta đều đã chịu uống chung một Thánh Linh nữa.
14 Thân cũng chẳng phải có một chi thể, bèn là nhiều chi thể.
15 Nếu chơn rằng: vì ta chẳng phải là tay, nên ta không thuộc về thân, thì chẳng phải bởi đó chơn không có phần trong thân.
16 Và nếu tai rằng: Vì ta chẳng phải là mắt, nên ta không thuộc về thân, thì tai chẳng phải bởi đó không có phần trong thân.
17 Ví bằng cả thân đều là mắt, thì sự nghe ở đâu? Nếu cả thân đều là tai, thì sự ngửi ở đâu?
18 Nhưng bây giờ, Đức Chúa Trời đã sắp đặt các chi thể của thân chúng ta, ban cho mỗi một chi thể cái địa vị theo ý Ngài lấy làm tốt mà chỉ định.
19 Nếu chỉ có một chi thể mà thôi, thì cái thân ở đâu?
20 vậy, có nhiều chi thể, song chỉ có một thân.
21 Mắt không được nói với bàn tay rằng: Ta chẳng cần đến mầy; đầu cũng chẳng được nói với chơn rằng: Ta chẳng cần đến bay.
22 Trái lại, các chi thể của thân xem ra rất yếu đuối lại là cần dùng.
23 Chi thể nào trong thân chúng ta nghĩ là hèn hạ hơn, thì chúng ta tôn trọng hơn; chi thể nào chẳng đẹp, thì chúng ta lại trau giồi hơn,
24 còn như cái nào đã đẹp rồi, thì không cần trau giồi. Nhưng Đức Chúa Trời đã sắp đặt thân người, để chi thể nào thiếu thốn thì được quí trọng hơn,
25 hầu cho trong thân không có sự phân rẽ, mà các chi thể phải đồng lo tưởng đến nhau.

Đức Thánh Linh, qua Phao-lô mượn hình ảnh hiệp một của thân thể xác thịt chúng ta mà dạy chúng ta về sự hiệp một của Hội Thánh là thân thể Đấng Christ. Có nhiều giáo phái hay hệ phái không phải là vấn đề. Vấn đề là các giáo phái và hệ phái không hiệp một trong sự gây dựng và phát triển thân thể của Đấng Christ. Thực tế phủ phàng cho chúng ta thấy:

– Đại hội Baptist không được CMA ủng hộ,
– Đại hội CMA không được Baptist ủng hộ.

Đã không ủng hộ mà còn "tẩy chay" mới là tệ hại! Nhiều khi, ngay cả cùng một giáo phái mà cũng không có sự hiệp nhứt. Chúng tôi từng biết có những "mục sư" tuyên bố đại khái: "Nếu có mục sư ABC đến thì tôi sẽ không đến!". Khi vào thiên đàng, không biết những người  này có dám tuyên bố: "Nếu có mục sư ABC trong thiên đàng thì tôi sẽ không vào"? Nhiều "mục sư" không tham dự và tẩy chay những buổi nhóm cầu nguyện cho Hội Thánh và quê hương, dân tộc Việt Nam do các tín hữu đứng ra tổ chức. Cái tinh thần ganh tỵ, kiêu ngạo dẫn đến sự bất hợp tác trong Hội Thánh Việt Nam thật là lớn lắm.

Thiết tưởng, chúng ta cần phải lấy lời Chúa làm thẩm quyền tuyệt đối chứ không phải nội quy, điều lệ, tín lý… của một giáo hội. Đấng Christ chỉ tạo nên Hội Thánh, Ngài không tạo ra các giáo hội.

Ngày nào, Hội Thánh dùng đến tên gọi của Hội Thánh do Đức Thánh Linh đã bày tỏ trong Thánh Kinh: Hội Thánh Của Đấng Christ hoặc Hội Thánh Của Đức Chúa Trời (Rô-ma 16:16; 1 Cô-rinh-tô 1:2; 10:32; 11:16; 15:9; 2 Cô-rinh-tô 1:1; Ga-la-ti 1:13; 1 Tê-sa-lô-ni-ca 2:14; 2 Tê-sa-lô-ni-ca 1:4; 1 Ti-mô-thê 3:15) thay vì những tên gọi do loài người đặt ra (như: Hội Thánh Baptist, Hội Thánh Giám Lý, Hội Thánh Trưởng Lão…) thì ngày đó chắc sự hiệp một trong thân thể của Đấng Christ được thành toàn.

26 Lại, trong các chi thể, khi có một cái nào chịu đau đớn, thì các cái khác đều cùng chịu; và khi một cái nào được tôn trọng, thì các cái khác cùng vui mừng.

Đây là tiêu chuẩn để nhận biết một người có thật đã ăn năn tội, đã được tái sinh vào trong Hội Thánh của Chúa hay chưa. Những ai không hề chạnh lòng trước những đau khổ, bất công, và sự bách hại đang giáng xuống trên con dân của Chúa ở khắp nơi, thì đó là những người không thuộc về Hội Thánh, vì nếu họ thuộc về Hội Thánh, họ phải tự nhiên đau đớn và tích cực xoa dịu, chăm sóc phần chi thể bị đau.  Những ai có lòng ganh tỵ khi thấy anh chị em trong Đấng Christ được đầy ơn, được tôn trọng, thì những người đó cũng không thuộc về Hội Thánh, vì lẽ tự nhiên là bất kỳ một chi thể nào được khen ngợi thì cả thân thể đều vui mừng.

27 Vả, anh em là thân của Đấng Christ, và là chi thể của thân, ai riêng phần nấy.
28 Đức Chúa Trời đã lập trong Hội thánh, thứ nhứt là sứ đồ, thứ nhì là đấng tiên tri, thứ ba là thầy giáo, kế đến kẻ làm phép lạ, rồi kẻ được ơn chữa bịnh, cứu giúp, cai quản, nói các thứ tiếng.
29 Có phải cả thảy là sứ đồ sao? Cả thảy là tiên tri sao? Cả thảy đều là thầy giáo sao? Cả thảy đều làm phép lạ sao?
30 Cả thảy đều được ơn chữa bịnh sao? Cả thảy đều nói tiếng lạ sao? Cả thảy đều thông giải tiếng lạ sao?

Một lần nữa, Phao-lô tái xác định địa vị, chức vụ, và ân tứ khác nhau của mỗi người trong Hội Thánh. Một người có thể cùng lúc nhận được nhiều ân tứ khác nhau. Một người có thể chỉ nhận được có một ân tứ duy nhất. Không ai nhận lãnh gống nhau vì tất cả đều tùy thuộc vào sự ban cho của Đức Thánh Linh, ai riêng phần nấy, theo thánh ý của Ngài! Những câu Thánh Kinh trên đây một lần nữa chứng minh giáo lý: Hễ một người được báp-tem bằng Thánh Linh thì phải biết nói tiếng lạ, là ngụy giáo lý:

– Cả thảy đều được ơn chữa bịnh sao? Không phải vậy, chỉ những ai Đức Thánh Linh ban cho ơn chữa bịnh.
– Cả thảy đều nói tiếng lạ sao? Không phải vậy, chỉ những ai được Đức Thánh Linh ban cho ơn nói tiếng lạ.
– Cả thảy đều thông giải tiếng lạ sao? Không phải vậy, chỉ những ai được Đức Thánh Linh ban cho ơn thông giải tiếng lạ.

Nói tiếng lạ là một ơn theo sau các ơn: làm sứ đồ, nói tiên tri, làm thầy giáo, làm phép lạ, chữa bệnh, cứu giúp, và cai quản. Nói tiếng lạ không phải là một ơn mà tín hữu nào cũng được ban cho!

31 Hãy ước ao cho được sự ban cho lớn hơn hết. Bây giờ, tôi sẽ chỉ dẫn cho anh em con đường tốt lành hơn.

Sau khi giảng giải cho các tín hữu hiểu biết nguồn gốc, mục đích, ý nghĩa các sự ban cho của Đức Thánh Linh, Phao-lô hướng tâm trí tín hữu đến sự ban cho lớn hơn hết, món quà mà bất kỳ tín hữu nào cũng được nhận lãnh và còn đến đời đời, đó là TÌNH YÊU THƯƠNG!

Mục Tử
03.09.2007

Đọc Tiếp →