Sự Thật về Hiện Tượng Nói Tiếng Lạ và Đặt Tay Té Ngã

Xin trân trọng giới thiệu đến quý bạn đọc tác phẩm: "Sự Thật về Hiện Tượng Nói Tiếng Lạ và Đặt Tay Té Ngã" của Pastor Huỳnh Christian Timothy.

  • Phiên bản in sẽ phát hành vào ngày 1 tháng 1 năm 2013:

    • Khổ 5.5 X 8.5
    • Dày 146 trang
    • Bìa tráng nhựa
    • Ấn phí và cước phí trong Hoa Kỳ: $10.00 USD một cuốn – ngoài Hoa Kỳ $15.00 USD một cuốn.
    • Ấn phí và cước phí trong Hoa Kỳ: $300.00 USD cho 50 cuốn hoặc $500.00 USD cho 100 cuốn.

Quý bạn đọc muốn đặt mua sách in, xin gửi thư và money order hoặc check về:

Timothy Christian Huynh
Three Sixteen Family
501 N Robinson Dr
Robinson TX 76706

Thời gian nhận sách qua bưu điện khoảng từ 1 đến 2 tuần, kể từ ngày chúng tôi nhận được thư đặt mua.

Chúng tôi có thể gửi tặng miễn phí 1 sách (trong Hoa Kỳ) cho quý bạn nào muốn nhận sách in nhưng không thể chi trả ấn phí và chi phí.

Dưới đây là phần "Lời Nói Đầu" được trích ra từ tác phẩm:

Lời Nói Đầu

Cuốn sách nhỏ này là một tổng hợp bài biên khảo và các bài giải đáp thắc mắc của tôi về các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần.

Trong giai đoạn từ 2001 đến 2006, tôi chung đụng và cùng làm việc với rất nhiều người Ân Tứ và Ngũ Tuần. Vào lúc đầu, khi chứng kiến các hiện tượng “đặt tay té ngã,” “nói tiếng lạ,” “say Thánh Linh…” tôi cảm thấy rất là lạ lùng vì không thấy những điều này được nói đến trong Thánh Kinh. Tuy nhiên, sự nóng cháy của những người Ân Tứ và Ngũ Tuần trong sự cầu nguyện, thờ phượng, chứng Đạo, và truyền giảng khiến cho tôi không dám nghĩ rằng, những hiện tượng đó không đến từ Chúa.

Tôi dành một thời gian dài, cầu nguyện, xin Chúa bày tỏ cho mình. Thậm chí, tôi xin với Chúa rằng: “Con biết ân tứ của Đức Thánh Linh được ban cho tùy theo thánh ý của Ngài, nhưng con cầu xin điều này, nếu sự “nói tiếng lạ” của những người Ân Tứ và Ngũ Tuần là ân tứ của Đức Thánh Linh, thì xin Chúa ban cho con được một lần có thể “nói tiếng lạ” để ấn chứng rằng, nó đến từ Chúa, rồi Chúa cất nó ra khỏi con, nếu ý của Chúa là không ban cho con ân tứ đó, chỉ để con được yên tâm mà hầu việc Chúa chung với những người Ân Tứ và Ngũ Tuần…”

Tôi không bao giờ nhận được sự “nói tiếng lạ” từ nơi Chúa, mà trong tâm thần tôi chỉ có một sự nhắc nhở rõ ràng: “Chớ tin cậy mọi thần, nhưng hãy thử cho biết các thần có phải đến bởi Đức Chúa Trời chăng?” (I Giăng 4:1). Tôi tự hỏi, làm sao để thử các thần? Câu trả lời đến trong tâm trí tôi: “Cả Thánh Kinh đều là bởi Thiên Chúa hà hơi, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình, hầu cho người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành” (II Ti-mô-thê 3:16-17).

Sau khi xét thấy rõ các hiện tượng: “đặt tay té ngã,” “nói tiếng lạ,” “say Thánh Linh…” hoàn toàn không được nói đến trong Thánh Kinh, ngược lại, có hình thức như dân ngoại giáo lên đồng, lên bóng, đọc thần chú hoặc bị quỷ nhập, đồng thời, qua một thời gian chung đụng, cùng làm việc với những người tự xưng là đầy dẫy Thánh Linh, tôi nhận ra họ đang sống trong tội lỗi cách thầm kín (đủ các thói: kiêu ngạo, tham lam, dối trá, thất tín, ganh tỵ, nói xấu, vu khống… và tà dâm), thì tôi chấm dứt sự giao tiếp với họ và tránh xa tất cả các tổ chức giáo hội nào công nhận việc “nói tiếng lạ.”

Đến tháng 6 năm 2006, trong khi đang quản nhiệm Hội Thánh của Chúa tại Tucson, Arizona, và phụ trách tổ chức ngày kiêng ăn cầu nguyện cho Việt Nam, thì tôi thực sự bị tà linh nói tiếng lạ tấn công. Trong dịp đó, có một mục sư Việt Nam sơ giao với tôi, dẫn theo bảy tín đồ từ California đến tham dự nhóm cầu nguyện, trong đó có một người Mỹ. Họ là những người “nói tiếng lạ.” Vì họ xin phép được tham dự cầu nguyện cho Việt Nam và hứa là sẽ vâng theo các quy định của ban tổ chức, nên tôi đồng ý cho họ đến tham dự.

Họ lái xe từ California đến Tucson, Arizona vào lúc nửa đêm, nên tôi thu xếp cho họ ngủ qua đêm trong nhà của tôi. Căn nhà chúng tôi thuê lúc đó có ba phòng ngủ và một phòng khách rộng, nên có đủ chỗ cho mọi người.

Sáng hôm sau là thứ bảy, ngày đầu tiên kiêng ăn cầu nguyện, mọi người cùng đến nơi nhóm họp thờ phượng. Nhóm tám người “nói tiếng lạ” đó cũng đến nhóm với chúng tôi nhưng có một điểm kỳ lạ nơi họ mà tôi không bao giờ quên được. Đó là: không một người nào trong số họ mang theo Thánh Kinh, kể cả người mục sư. Họ phải hỏi mượn Thánh Kinh từ nơi tôi. Chúng tôi tổ chức nhóm liên tục suốt hai ngày, với những buổi nghỉ giải lao. Dưới đây là một vài hiện tượng đã xảy ra với nhóm tám người nói tiếng lạ:

·         Có một lúc, tôi đang hướng dẫn Hội Thánh tôn vinh Chúa thì một phụ nữ trong nhóm họ đứng lên, bắt giọng hát một bài thánh ca khác mà cả nhóm họ hát theo. Tôi và cả hội chúng yên lặng, chờ cho họ hát xong thì chúng tôi tiếp tục chương trình thờ phượng của mình. Tôi dự định, nếu họ còn tiếp tục quấy rối như vậy thì tôi sẽ mời họ ra khỏi phòng nhóm. Nhưng sau đó, họ đã ngồi yên, đắm chìm trong sự lâm râm cầu nguyện tiếng lạ của họ.

·         Khi đến giờ cầu nguyện thì họ cùng nhau lớn tiếng cầu nguyện tiếng lạ, người thì ngồi xếp bằng trên sàn nhà, lắc lư thân hình, người thì quỳ mọp trên sàn, người thì lăn lộn trên mặt sàn, người thì nằm ngữa trên sàn, gác cả hai chân lên vách tường. Trong số họ, có nhiều người là phụ nữ nhưng đã thể hiện nhiều tư thế thật là hớ hênh, khó coi… Những âm thanh do họ phát ra làm cho toàn thể hội chúng đều bị nhức đầu và khiếp sợ, hầu hết phải bỏ ra khỏi phòng nhóm, chỉ còn lại những người trong ban tổ chức và vài chấp sự trong Hội Thánh. Chính cá nhân tôi cũng bị nhức đầu rất là lạ lùng. Chúng tôi đã nhân danh của Đức Chúa Jesus Christ để truyền cho các tà linh đang hiện diện phải lui ra khỏi phòng nhóm thì cơn nhức đầu mới lui đi và nhóm tám người nói tiếng lạ đó mới dịu lại.

·         Sau đó, nhóm tám người kéo ra ngoài, đứng cầu nguyện tiếng lạ trong bãi đậu xe, và kể cho nhau nghe các “khải tượng” mà họ đang thấy. Họ không chịu vào phòng nhóm, trừ khi tôi cho phép mục sư của họ đứng lên điều khiển buổi nhóm. Họ đòi đặt tay trên tôi để tôi được báp-tem bằng Thánh Linh. Họ nói tà linh đang hiện diện trong phòng nhóm nên họ không vào trong đó. Họ nói, họ thấy khải tượng có rất nhiều con rắn lớn trong phòng nhóm, đồng thời, có nhiều chim bồ câu trắng bay đến nhưng không vào trong phòng nhóm được vì có quá nhiều rắn. Họ giải thích với tôi, rắn là tà linh còn bồ câu là Đức Thánh Linh. Họ yêu cầu tôi để cho mục sư của họ đứng lên điều khiển buổi nhóm để trục xuất hết các tà linh thì Đức Thánh Linh mới vào phòng nhóm, và Hội Thánh mới được đầy dẫy Thánh Linh và một cuộc phục hưng lớn sẽ xảy ra.

Dĩ nhiên, tôi khước từ tất cả các đề nghị của họ, và sự kiện đó khiến cho tôi nhớ lại Chúa đã báo trước cho tôi rằng Sa-tan sẽ vào trong phòng nhóm trong kỳ kiêng ăn cầu nguyện cho Việt Nam này. Trước đó khoảng một tuần, liên tục ba đêm, tôi nằm mơ nghe tiếng Chúa phán với tôi là Sa-tan sẽ vào trong phòng nhóm trong ngày kiêng ăn cầu nguyện cho Việt Nam. Tôi nghĩ, có lẽ Sa-tan sẽ hiện diện trong thân thể thuộc linh của nó để cản trở sự cầu nguyện của chúng tôi. Mục đích chính trong sự cầu nguyện của chúng tôi vào năm đó, là xin Chúa cất đi quyền lực của Sa-tan trên đất nước và dân tộc Việt Nam, đã được biểu hiện qua hình ảnh con rồng và truyền thuyết “con rồng cháu tiên” của dân tộc Việt Nam.

Trước đó khoảng một tháng, nhà tôi đang cầu nguyện xin Chúa thương xót, giải cứu dân tộc Việt Nam ra khỏi sự thờ lạy hình tượng, thì bà nghe Chúa phán: “Dân tộc con phạm thượng, kêu “Trời” vô cớ. Dân tộc con đã nhận rồng làm Cha. Các con đã mời nó vào thì phải đuổi nó ra, thì các linh sợ hãi sẽ không còn cai trị trên họ. Hình tượng bị vô hiệu hóa thì Tin Lành sẽ được tiếp nhận dễ dàng. Hai mươi lăm năm trước Ta đã cho con thấy hình ảnh hai con rồng. Chính nó là chúa quỷ. Chính nó đã dẫn dụ dân tộc con thờ phượng nó. Hãy kiêng ăn cầu nguyện, vì có những thứ quỷ cần phải kiêng ăn cầu nguyện mới đuổi được chúng.”

Vợ chồng chúng tôi hết lòng cầu nguyện xin sự bảo vệ của Chúa và có nghĩ đến việc, Sa-tan có thể tấn công hai con chúng tôi để phá vỡ ngày kiêng ăn cầu nguyện của chúng tôi. Chúng tôi dâng trình sự an toàn của hai con mình lên Chúa và hứa nguyện rằng, dầu cho có bất cứ chuyện gì xảy đến cho hai con chúng tôi: bệnh tật, tai nạn, và ngay cả sự chết, thì chúng tôi vẫn cậy ơn và sức của Chúa để hoàn tất hai ngày kiêng ăn, cầu nguyện cho Việt Nam, rồi mới giải quyết những vấn đề liên quan đến con mình.

Thế nhưng, Sa-tan không thể dùng sức để tấn công chúng tôi, vì Đấng ở trong chúng tôi mạnh hơn nó, mà chỉ có thể dùng kế, và nó đã sai các sứ giả của nó đến, tìm cách phá rối chương trình nhóm họp của chúng tôi.

Cảm tạ Chúa, hai ngày kiêng ăn và cầu nguyện cho dân tộc Việt Nam vào tháng 6 năm 2006 đã hoàn tất một cách tốt đẹp, dầu có sự tấn công của Sa-tan. Chiều chủ nhật, sau khi kết thúc sự nhóm họp, ban tổ chức mời tất cả mọi người tham dự, ra nhà hàng ăn uống và thông công với nhau. Trong bữa ăn và vào lúc chia tay, nhóm tám người nói tiếng lạ đã trở nên hết sức hiền hòa, thân ái với chúng tôi, và còn khen rằng, chúng tôi là những người đầy ơn Chúa.

Tối hôm đó, khi về đến nhà, vợ chồng chúng tôi có cái cảm giác rất là khác thường. Hình như có những cái bóng đen thoát hiện, thoát ẩn, lẫn quất trong nhà chúng tôi và có một mùi hôi lạ lùng, thoang thoảng. Nhưng sau hai ngày kiêng ăn cầu nguyện, thân thể chúng tôi đã mệt mõi và vì mới được ăn no, nên chúng tôi vội tắm rửa rồi đi ngủ, không bận tâm lắm về cảm giác và mùi hôi khác thường.

Đến khoảng ba giờ sáng thì tôi giật mình thức giấc vì tiếng kêu khóc của nhà tôi. Dưới đây là lời làm chứng của nhà tôi:

Lời làm chứng của Huỳnh Christian Priscilla (Mỹ Linh):

Tôi đang ngủ thì nằm mơ thấy những người phụ nữ trong nhóm tám người nói tiếng lạ, từ trong bóng tối âm u tiến ra. Họ hỏi tôi người phụ nữ trong Hội Thánh Tucson mà trong buổi nhóm đã chống đối sự nói tiếng lạ của họ, ở đâu? Tôi cảm thấy dường như những người này có ý muốn kiếm người tín đồ đó để làm khó, cho nên, tôi mới nói, người đó không có ở đây, các chị có điều gì thì hãy nói với chồng tôi, là người quản nhiệm Hội Thánh. Nghe tôi nói vậy thì họ bèn bỏ đi. Liền sau đó, một người đàn ông xuất hiện ngay đầu giường của tôi, thân thể cao lớn lạ thường, mặt thì đỏ bầm. Tôi nhận ra khuôn mặt đó chính là của người mục sư cầm đầu bảy người nói tiếng lạ từ California.

Ông ta tiến đến chỗ tôi nằm. Tôi cảm nhận là ông ta muốn làm hại tôi, nên tôi sợ hãi. Ông ta ngồi xuống trên giường và đưa hai tay ra bóp lấy cổ tôi. Dù ông ta không nói gì, nhưng tôi có cảm nhận là ông ta đang muốn tôi phải phát ra những tiếng lạ như những người Ân Tứ và Ngũ Tuần. Tôi ú ớ, chống đối và kêu cầu Chúa: Chúa ơi! xin cứu con. Con không muốn nói thứ tiếng lạ đến từ quỷ. Lúc đó, chồng tôi nghe tôi ú ớ nên lay tôi thức dậy. Tôi kể cho chồng tôi nghe giấc mơ và chồng tôi nói: Mình hãy cầu nguyện, xin Chúa bày tỏ. Nếu đây là tà linh muốn ép em nói tiếng lạ thì xin Chúa ấn chứng, bằng cách cho phép sự kiện này tái diễn.

Chúng tôi cầu nguyện và nằm ngủ lại. Tôi vừa nằm xuống thì lập tức một quyền lực xâm hãm tôi, buộc tôi phải buộc miệng phát ra những âm thanh lạ. Quyền lực này cố mở miệng tôi ra, ép tôi phát ra những âm thanh lạ, trong khi tôi cố hết sức để chống lại và kêu cầu danh Chúa. Tôi bật ngồi dậy và khẩn thiết kêu cầu danh Chúa. Lúc đó, chồng tôi cũng ngồi bật dậy và ôm lấy tôi, cầu nguyện cho tôi.

Khi tôi nghe nhà tôi vừa khóc vừa kêu cầu Chúa: “Chúa ơi, con không muốn nói thứ tiếng lạ của quỷ, xin cất ra khỏi con sự thúc giục nói tiếng lạ này!” Thì tôi lập tức ngồi dậy, ôm nhà tôi vào lòng và cất tiếng cầu nguyện xin Chúa giải cứu. Vừa khi tôi chạm tay vào người của nhà tôi thì lập tức có một điều gì giống như một luồng điện từ thân thể nhà tôi chuyền sang tôi, lan tràn khắp người tôi và đầy cả bụng tôi, làm cho tôi bị ớn lạnh. Rồi, có một sức mạnh đi từ dưới bụng của tôi, dâng tràn lên cổ họng tôi, làm cho cứng cả quai hàm của tôi, khiến cho lời cầu nguyện của tôi không còn được phát ra cách rõ ràng nữa. Tôi biết quyền lực của tà linh đang tìm cách khống chế mình. Tôi không cảm thấy sợ hãi mà chỉ cố cầu nguyện ra tiếng, xin Chúa giải cứu chúng tôi ra khỏi quyền lực của tà linh.

Bỗng nhiên, tôi cảm nhận rất rõ ràng một sự thúc giục trong tôi là tôi phải mở miệng ra để nói tiếng lạ. Lúc đó, tôi vẫn lập cà lập cập kêu cầu Chúa, vì quai hàm tôi bị tê cứng khó phát âm. Nhưng tôi cảm nhận rất rõ ràng là, nếu tôi để cho miệng tôi phát ra một tràng âm thanh lạ thì tôi sẽ phát thanh một cách thông suốt. Tôi lập tức ý thức là tà linh nói tiếng lạ đang xúi giục tôi nói tiếng lạ nên tôi chuyển lời cầu nguyện sang: “Lạy Chúa, xin đừng để chúng con nói thứ tiếng lạ không đến từ Chúa.” Và, trong danh của Đức Chúa Jesus Christ, tôi ra lệnh cho tà linh nói tiếng lạ phải ra khỏi chúng tôi, ra khỏi căn nhà của chúng tôi.

Lập tức, mọi áp lực tan biến, vợ chồng chúng tôi trở lại bình thường. Chúng tôi cảm tạ Chúa và nằm ngủ lại, bình an cho tới sáng.

Sáng hôm sau, vì cái mùi hôi thoang thoảng lạ lùng vẫn còn trong nhà, cho nên, chúng tôi gom tất cả các mền, và khăn trải giường đã đưa cho tám người nói tiếng lạ sử dụng, đem đi bỏ. Sau đó, thì mùi hôi biến mất, cảm giác có những bóng đen lãng vãng trong nhà cũng biến mất. Chúng tôi không bao giờ quên được mùi hôi đó. Nó giống như mùi tử khí trong nhà xác, tanh tanh và làm cho ớn lạnh, nổi da gà. Từ đó, chúng tôi càng vững tin: hiện tượng nói tiếng lạ và đặt tay té ngã là đến từ Sa-tan.

Trong danh của Đức Chúa Jesus Christ và bởi ơn ban cho từ Ngài, chúng tôi đã giúp cho nhiều người nhận thức được sự thật về hiện tượng nói tiếng lạ và đặt tay té ngã. Chúng tôi đã cầu nguyện hoặc hướng dẫn cho nhiều người cầu nguyện để trục xuất tà linh nói tiếng lạ ra khỏi thân thể của họ. Ngày nay, họ đã trở nên những người lớn mạnh trong Chúa và là những chứng nhân về sự Sa-tan giả mạo ân tứ nói ngoại ngữ của Đức Thánh Linh trong các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần.

Quý bạn đọc có thể xem thêm các video clips sau đây trên Youtube:

Tôi cầu xin Đức Chúa Trời sẽ dùng cuốn sách nhỏ này, và những lời chứng trong các video clips nói trên đem lẽ thật của Lời Chúa đến cho những người đang bị tà linh nói tiếng lạ kiềm chế, để họ được lẽ thật của Lời Chúa giải phóng họ ra khỏi sự lừa gạt của Sa-tan, và có được một đời sống sung mãn trong Đức Chúa Jesus Christ. A-men!

Huỳnh Christian Timothy
21.12.2012

 

Đọc Tiếp →

Sự Thật Hiển Nhiên về Christmas

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?4plxbd3up4t7up6

Nguyên Tác: “The Plain Truth About Christmas” by David J. Stewart
Chuyển Ngữ: Huỳnh Christian Timothy

Có phải Christmas thật sự kỷ niệm sinh nhật của Đức Chúa Jesus? Có phải Ngài đã được sinh ra vào ngày 25 tháng mười hai? Phao-lô, các sứ đồ, và Hội Thánh ban đầu của Tân Ước có kỷ niệm Christmas hay không? Bạn có biết Thánh Kinh nói gì về cây Christmas không?

Hãy dừng lại và suy nghĩ! Rất ít người biết tại sao chúng ta làm những điều mà chúng ta làm hoặc các thói tục của chúng ta đến từ đâu! Chúng ta lớn lên, thực hành chúng, đương nhiên tiếp nhận chúng, nhưng không bao giờ hỏi tại sao!

Một Lễ Hội của Ngoại Giáo Không Phải của Cơ-đốc Nhân

Chúng ta cho rằng Christmas là ngày lễ chính của các lễ hội Cơ-đốc. Chúng ta không hề thắc mắc khi chúng ta giả định sự giữ nó phải là một trong các giáo lý chính và các mạng lệnh của Tân Ước. Chúng ta cho rằng Đức Chúa Jesus đã được sinh ra vào ngày 25 tháng mười hai, và rằng, Tân Ước đã biệt riêng ngày này như là ngày lễ chính của Cơ-đốc nhân. Chúng ta cho rằng, chúng ta trao đổi quà bởi vì các nhà thông thái đã tặng quà cho hài nhi Christ.

Nhưng, đừng cho rằng nữa, mà hãy nhìn vào lịch sử và Thánh Kinh để tìm hiểu các dữ kiện!

Chữ “Christmas” có nghĩa là “Mass of Christ” (có nghĩa là lễ tái diễn sự chết của Đấng Christ) hay là, về sau được rút ngắn thành, “Christ-Mass.” Chữ đó đến với chúng ta với ý nghĩa là một lễ tế (mass) của Công Giáo La-mã. Từ đâu mà họ có chữ đó? Từ sự kỷ niệm ngày 25 tháng mười hai như ngày sinh của mặt trời, tức thần mặt trời, bởi dân ngoại Đạo. Thật ra, nó là nghi thức cổ thờ phượng thần Ba-anh của ngoại giáo, mà Thánh Kinh lên án là sự đáng gớm ghiếc nhất trong tất cả các sự thờ lạy thần tượng.

Lễ ấy không hề được nói đến chút nào trong Tân Ước. Lễ ấy không hề được giữ bởi Phao-lô, các sứ đồ hay Hội Thánh chân thật lúc ban đầu.

Ý tưởng cho rằng Đức Chúa Jesus được sinh ra vào ngày 25 tháng 12, là một trong các chuyện huyển mà Sứ Đồ Phao-lô đã tiên tri rằng sẽ lừa gạt thế gian trong những ngày cuối cùng này (Ti-mô-thê 4:4).

Lẽ thật rõ ràng là, Christmas không phải là sinh nhật của Christ! Và lễ hội này, dầu được xem là quan trọng đối với nhiều người, nhưng nó không thuộc về Cơ-đốc nhân, nhưng thuộc về ngoại giáo – bắt nguồn từ Ba-by-lôn! Nhưng điều đó có gây ra sự khác biệt gì không? Có thể nào chúng ta cứ thản nhiên mà kỷ niệm nó? Không phải tinh thần của Christmas là điều tốt lành và đẹp đẻ, bất kể là nó đã được bắt đầu như thế nào hay sao? Chúng ta sẽ xem xét điều này!

Đức Chúa Jesus Không Được Sinh Ra vào Ngày 25 Tháng Mười Hai

Bây giờ, chúng ta hãy nhìn vào các chứng cớ đáng chú ý! Đức Chúa Jesus được sinh ra khi nào?

Đức Chúa Jesus không hề được sinh ra trong mùa đông. Khi hài nhi Christ được sinh ra “có mấy kẻ chăn chiên trú ngoài đồng, thức đêm canh giữ bầy chiên” (Lu-ca 2:8). Điều này không bao giờ có thể xảy ra tại xứ Palestin trong tháng mười hai. Những người chăn luôn đem các bầy của họ từ các triền núi và các đồng cỏ về và cho vào chuồng không trể hơn ngày 15 tháng mười, để bảo vệ chúng khỏi mùa mưa lạnh sẽ theo sau ngày đó. Hãy để ý là chính Thánh Kinh chứng minh trong Nhã Ca 2:11 và E-xơ-ra 10:9, 13 rằng, mùa đông là mùa mưa khiến cho những kẻ chăn không thể ở ngoài đồng trống vào ban đêm.

Sách Giải Kinh của Adam Clark, cuốn 5, chương 386 (và 370), cho biết: Theo phong tục cổ truyền của người Do-thái thời ấy, họ đưa chiên ra đồng và hoang mạc vào khoảng Lễ Vượt Qua (đầu mùa xuân), và mang chúng về lại nhà vào lúc bắt đầu cơn mưa đầu mùa.”

Tác giả nói tiếp: “trong suốt thời gian chúng ở bên ngoài, những người chăn canh giữ chúng ngày đêm. Khi… cơn mưa đầu mùa bắt đầu vào đầu tháng Marchesvan, là tháng tương đương với tháng mười và tháng mười một của chúng ta [bắt đầu vào giữa tháng mười], chúng ta thấy rằng, những con chiên được giữ ngoài trời ở miền quê trong suốt mùa hè. Và, bởi vì những người chăn chiên này chưa đem bầy của họ về lại nhà, chúng ta có thể lý luận cách giả định rằng, tháng mười chưa bắt đầu, và như vậy, dẫn đến việc Chúa của chúng ta không được sinh ra vào ngày 25 tháng mười hai, là lúc mà không có bầy chiên nào còn ở ngoài đồng. Ngài cũng không thể được sinh ra sau tháng chín, là tháng mà các bầy chiên vẫn còn ở ngoài đồng vào lúc ban đêm. Trên chính nền tảng này, câu chuyện Chúa giáng sinh vào tháng mười hai cần phải được loại bỏ. Sự cho các bầy chiên ăn vào ban đêm trên các đồng cỏ là một dữ kiện lịch sử…”

Bất cứ một bộ bách khoa từ điển nào hay một thẩm quyền nào khác, sẽ nói cho bạn biết rằng Đấng Christ không được sinh vào ngày 25 tháng mười hai. Bộ Công Giáo Bách Khoa Từ Điển nói rõ sự kiện này.

Sinh nhật chính xác của Đức Chúa Jesus là điều hoàn toàn không biết được như các nhà có thẩm quyền đã xác nhận – Tuy nhiên, nếu tôi có đủ chỗ trong cuốn sách nhỏ này, tôi có thể chỉ cho bạn những câu Thánh Kinh ít nhất cho thấy cách mạnh mẽ rằng, nó phải vào đầu mùa thu – có thể là tháng chín – khoảng chừng sáu tháng sau Lễ Vượt Qua.

Nếu Đức Chúa Trời muốn chúng ta giữ và kỷ niệm sinh nhật của Đấng Christ thì Ngài đã không dấu đi ngày chính xác ấy.

Các Bộ Bách Khoa Từ Điển Nói Gì?

Không hề có một chữ nào trong Tân Ước hoặc trong bất cứ nơi nào của Thánh Kinh bảo chúng ta phải kỷ niệm Christmas. Các Cơ-đốc nhân trong thế kỷ thứ nhất, dưới sự giảng dạy thần cảm của Phi-e-rơ và Phao-lô cùng các sứ đồ khác, không hề kỷ niệm nó. Thật lạ lùng, không hề có thẩm quyền Thánh Kinh nào cho sự giữ nó.

Thế thì, từ đâu mà chúng ta có “Christmas?” Vì nó đến với chúng ta qua Giáo Hội Công Giáo La-mã và không bởi thẩm quyền nào ngoài thẩm quyền của Giáo Hội Công Giáo La-mã, chúng ta hãy xem xét bộ Công Giáo Bách Khoa Từ Điển, phát hành bởi giáo hội. Dưới tựa đề “Christmas,” bạn sẽ tìm thấy:

“Christmas không thuộc về các lễ hội đầu tiên của Hội Thánh… Chứng cớ đầu tiên về lễ hội này là từ Ai-cập… Các thói tục ngoại giáo tập trung vào ngày đầu tháng Giêng dồn lại thành Christmas.” Và, khi đọc thêm, chúng ta sẽ tìm thấy lời xác nhận này: “… trong Thánh Kinh, chỉ có các tội nhân, chứ không phải các thánh đồ, kỷ niệm sinh nhật của họ.”

Bộ Britannica Bách Khoa Từ Điển chép: “Christmas (tức là: the Mass of Christ). Christmas không thuộc về các lễ hội đầu tiên của Hội Thánh…” Nó không được thiết lập bởi Đấng Christ hay các sứ đồ hay bởi thẩm quyền của Thánh Kinh – Nó được thu nhận sai này từ sự thờ phượng của ngoại giáo.

Bộ Americana Bách Khoa Từ Điển chép: “Christmas. Theo nhiều thẩm quyền, nó không hề được kỷ niệm trong các thế kỷ đầu của Hội Thánh Cơ-đốc, bởi vì, thói quen chung của các Cơ-đốc nhân là kỷ niệm sự chết của những người đáng nhớ hơn là kỷ niệm sự sinh ra của họ…” (“Tiệc Thánh” là lễ được thiết lập bởi thẩm quyền của Thánh Kinh, là sự nhớ đến sự chết của Đấng Christ.”)… một lễ hội đã được thiết lập vào thế kỷ thứ tư để ghinhớ sự kiện này [sự sinh ra của Đấng Christ]. Vào thế kỷ thứ năm, Giáo Hội Tây Phương ra lệnh nó phải được kỷ niệm đời đời vào ngày lễ cũ của dân La-mã mừng sinh nhật thần mặt trời, vì không ai biết chắc sinh nhật của Đấng Christ nhằm ngày nào.

Bằng Cách Nào Thói Tục Ngoại Giáo Này Đã Vào Trong Hội Thánh?

Hãy lưu ý rằng, Những thẩm quyền được xác nhận này đã cho thấy Christmas không hề được các Cơ-đốc nhân giữ trong hai hay ba trăm năm đầu – đó là một thời gian lâu dài hơn cả toàn chiều dài lịch sử lập quốc của Hoa Kỳ. Nó thâm nhập vào Giáo Hội Tây Phương, còn gọi là Giáo Hội La-mã, vào thế kỷ thứ tư. Mãi đến thế kỷ thứ năm thì Giáo Hội La-mã mới ra lệnh cho nó được kỷ niệm như một lễ hội chính thức của Cơ-đốc nhân!

Thế thì, thói tục này của dân ngoại đã len vào cái gọi là Cơ-đốc Giáo như thế nào?

Bộ Schaff-Herzog Bách Khoa Từ Điển giải thích cách rõ ràng trong tiết mục về “Christmas:” “Ngày của lễ hội tùy thuộc vào ngày Brumalia của ngoại giáo (25 tháng 12) theo sau ngày Saturnalia (17-24 tháng 12) và sự kỷ niệm ngày ngắn nhất trong năm cùng với 'mặt trời mới' như thế nào… không thể xác định. Các lễ hội Saturnalia và Brumalia của ngoại giáo đã quá chìm sâu trong các thói tục phổ thông để mà có thể bị dẹp bỏ bởi sự ảnh hưởng của Cơ-đốc nhân… Lễ hội của ngoại giáo cùng với sự náo loạn và vui chơi của nó đã quá phổ thông đến nỗi các Cơ-đốc nhân vui mà viện cớ để tiếp tục sự kỷ niệm nó với một chút thay đổi trong tinh thần và hình thức. Các nhà truyền giảng Cơ-đốc của Phương Tây và Cận Đông phản đối, chống lại sự phù phiếm không chính đáng mà sinh nhật của Đấng Christ đã được kỷ niệm với, trong khi đó, các Cơ-đốc nhân ở Mesopotamia thì lên án anh em của họ ở Phương Tây về tội thờ lạy thần tượng và mặt trời, vì là Cơ-đốc nhân mà đã tiếp nhận lễ hội này của ngoại giáo.”

Hãy nhớ rằng, thế giới La-mã thuộc về ngoại giáo. Trước thế kỷ thứ tư, Cơ-đốc nhân chỉ là số ít, dầu có gia tăng, và bị bách hại bởi chính quyền và những người ngoại giáo. Nhưng, khi Constanrine trở thành hoàng đế, xưng mình theo Cơ-đốc Giáo, vào thế kỷ thứ tư, đặt Cơ-đốc Giáo ngang hàng với ngoại giáo, hàng trăm ngàn dân chúng trong thế giới La-mã bắt đầu tiếp nhận Cơ-đốc Giáo đang thịnh hành.

Nhưng cũng hãy nhớ rằng, những người này đã lớn lên trong các thói tục ngoại giáo, mà đứng đầu là lễ hội thờ lạy thần tượng vào ngày 25 tháng 12. Đó là một lễ hội vui chơi với tinh thần đặc biệt của nó. Họ vui hưởng nó! Họ không muốn bỏ nó! Cũng trong cùng một chủ đề, bộ Schaff-Herzog Bách Khoa Từ Điển giải thích rằng: chủ nhật, vốn là ngày dân ngoại giáo thờ lạy mặt trời, đã được Constantine công nhận như thế nào, và sự ảnh hưởng của Manichaeism ngoại giáo khiến cho Con của Đức Chúa Trời đã bị đồng hóa với chính mặt trời vật chất như thế nào, khiến cho những dân ngoại giáo của thế kỷ thứ tư, cùng gia nhập tập thể vào Cơ-đốc Giáo, có được lý do để gọi ngày lễ hội ngoại giáo của họ 25 tháng 12 (sinh nhật của thần mặt trời) là sinh nhật của Con Đức Chúa Trời.

Và đó là cách thức mà “Christmas” đã đi vào trong cái gọi là Cơ-đốc Giáo của chúng ta! Chúng ta có thể gọi nó bằng một tên khác, nhưng nó vẫn là lễ hội cũ của ngoại giáo thờ lạy mặt trời! Điều duy nhất thay đổi là cách mà chúng ta gọi nó. Bạn có thể gọi một con thỏ là một con “sư tử,” nhưngnó vẫn là con thỏ, y nguyên.

Một lần nữa, từ bộ Britannica Bách Khoa Từ Điển: “Có lẽ những người La-tinh, vào khoảng năm 354, đã chuyển sinh nhật 6 tháng Giêng sang 25 tháng 12, lúc ấy là lễ hội Mithraic… hay sinh nhật của mặt trời bất khuất… Dân Syrians và Armenians, những người bám vào ngày 6 tháng Giêng, lên án dân La-mã về tội thờ mặt trời thờ lạy thần tượng, cho rằng, lễ hội 25 tháng 12 do các môn đồ của Cerinthus lập ra…”

Nguồn Gốc Thật của Christmas

Nhưng nếu chúng ta nhận Christmas từ Công Giáo La-mã, và họ nhận nó từ ngoại giáo, thì ngoại giáo nhận nó từ đâu? Ở đâu, khi nào, và cái gì là nguồn gốc thật của nó?

Nó là thói tục đứng đầu của một hệ thống hủ bại dưới tên Ba-by-lôn, bị lên án trong suốt các lời tiên tri và các giáo lý của Thánh Kinh. Nó bắt đầu và có nguồn gốc từ Ba-by-lôn nguyên thỉ của Nim-rốt thời cổ. Vâng, nó phát sinh từ gốc rể của kẻ xuất hiện không bao lâu sau Cơn Nước Lụt.

Nim-rốt là cháu của Cham, Cham là con của Nô-ê. Nim-rốt là người thật sự xây dựng hệ thống Ba-by-lôn nắm bắt cả thế gian kể từ thời bấy giờ – một hệ thống ganh đua có tổ chức – của các chính quyền và đế quốc do loài người cai trị, dựa trên hệ thống kinh tế cạnh tranh và thủ lợi. Nim-rốt xây dựng tháp Ba-bên, là Ba-by-lôn nguyên thỉ, cổ thành Ni-ni-ve, và nhiều thành phố khác. Ông tổ chức vương quốc đầu tiên của thế giới. Tên Nim-rốt trong tiếng Hê-bơ-rơ ra từ chữ “Marad,” và có nghĩa là “kẻ phản nghịch” (Sáng Thế Ký 10:6, 8-12).

Từ các bản thảo xa xưa, có nhiều điểm giúp cho chúng ta biết về Nim-rốt, người khởi đầu một tổ chức của thế gian, bội bạc Thiên Chúa và thống trị thế giới cho tới ngày nay. Nim-rốt rất là gian ác, ông ta đã kết hôn với chính mẹ mình, bà tên là Semiramis. Sau cái chết bất kỳ của Nim-rốt, thì Semiramis, người được gọi là vợ-và-mẹ của Nim-rốt rao truyền tà giáo về sự Nim-rốt vẫn còn sống như là một thần linh. Bà ta xưng rằng, một cây thông đã nảy sinh ra từ một gốc cây chết, qua một đêm, đã trở thành cao lớn, tiêu biểu cho sự nảy sinh từ sự chết vào trong một đời sống mới của Nim-rốt. Bà xưng rằng, hàng năm, vào sinh nhật của Nim-rốt, ông sẽ viếng thăm cây thông và lưu các món quà lại trên cây. Ngày 25 tháng 12 là sinh nhật của Nim-rốt. Đây là nguồn gốc thật của cây Christmas (còn gọi là cây Nô-en).

Qua mưu kế và sắp xếp của mình, Semiramis đã trở thành “Nữ Vương Trên Trời” của Ba-by-lôn, và Nim-rốt, dưới nhiều tên khác nhau, đã trở thành “con thánh của Trời.” Trải qua nhiều thế hệ, trong sự thờ lạy tà thần này, Nim-rốt cũng trở thành Đấng Mê-si-a giả, con của thần mặt trời Ba-anh. Trong hệ thống Ba-by-lôn giả dối này, “Mẹ và Con,” (Semiramis và Nim-rốt được phục sinh), trở thành đối tượng được thờ phượng. Sự thờ phượng “Mẹ và Con” này lan truyền khắp thế gian. Tên gọi của nó đổi khác theo từng ngôn ngữ ở mỗi quốc gia. Tại Ai-cập, nó là “Iris và Osiris.” Tại Á-châu, nó là Cybele và Deoius.” Tại ngoại giáo La-mã, nó là “Fortuna và Jupiterpuer.” Ngay cả tại Hy-lạp, Trung Quốc (“Quan Âm và Na-tra”), Nhật Bản, và Tibet, các hình thức tương tự Madonna (bà Ma-ri) cũng được tìm thấy từ lâu đời, trước khi Đấng Christ giáng sinh.

Như vậy, trong thế kỷ thứ tư và thứ năm, khi hàng trăm ngàn dân ngoại giáo của thế giới La-mã bắt đầu “tiếp nhận” một Cơ-đốc Giáo mới được thịnh hành, thì họ đã mang theo các thói tục và niềm tin ngoại giáo cũ của họ, mà chỉ cần khoác cho nó những cái tên có tính Cơ-đốc. Các ý tưởng “Madonna” và “Mẹ và Hài Nhi” cũng trở nên thịnh hành, đặc biệt là vào thời điểm Christmas. Mỗi mùa Christmas bạn sẽ nghe hát và tụng hàng chục lần bài thánh ca “Đêm Yên Lặng, Đêm Thánh” với chủ đề quen thuộc “Mẹ và Hài Nhi.” Chúng ta, những người được sinh ra trong thế giới Ba-by-lôn như vậy, được nuôi dưỡng và nhúng chìm trong những điều này suốt cả đời sống của chúng ta, được dạy rằng phải tôn những điều ấy là thánh và xem chúng là thiêng liêng. Chúng ta không bao giờ thắc mắc để tìm hiểu xem chúng đến từ đâu – Có phải chúng đến từ Thánh Kinh hay chúng đến từ sự thờ lạy thần tượng của ngoại giáo?

Chúng ta bị sững sốt khi học biết được lẽ thật – buồn thay, một số người chống nghịch lại lẽ thật rõ ràng! Nhưng Thiên Chúa truyền cho các tôi tớ trung tín của Ngài, Hãy kêu to lên, đừng dứt; hãy cất tiếng lên như cái loa; rao bảo tội lỗi dân ta cho nó…”(Ê-sai 58:1). Dầu những dữ kiện này gây sững sốt nhưng chúng là những dữ kiện rõ ràng của lịch sử và Thánh Kinh.

Nguồn gốc thật của Christmas đi ngược về Ba-by-lôn thời cổ. Nó được gói gọn trong cái tổ chức bội Đạo mà Sa-tan đã dùng để kiềm chế thế gian bị lừa dối trong suốt bao nhiêu thế kỷ qua. Tại Ai-cập, người ta vẫn luôn tin rằng con của Iris (Tên trong tiếng Ai-cập của “Nữ Vương Trên Trời”) được sinh ra vào ngày 25 tháng 12. Dân ngoại giáo kỷ niệm sinh nhật danh tiếng này trong hầu hết thế giới biết được suốt hàng nhiều thế kỷ trước khi Đấng Christ giáng sinh.

Ngày 25 tháng 12 không phải là sinh nhật của Đức Chúa Jesus, Đấng Christ thật! Các sứ đồ và Hội Thánh ban đầu không hề kỷ niệm sinh nhật của Đấng Christ bao giờ. Không có một mạng lệnh hay chỉ thị nào trong Thánh Kinh bảo phải kỷ niệm nó – ngược lại, tin hay không thì sự kỷ niệm sinh nhật là của những người không tin Chúa, không phải là phong tục của Cơ-đốc nhân.

Không một chỗ nào trong Thánh Kinh dạy chúng ta thờ phượng “Mẹ và Hài Nhi.” Các sứ đồ và các Cơ-đốc nhân chân thật buổi ban đầu không hề làm điều đó. Thánh Kinh cho thấy, một thiên sứ báo với Ma-ri: “Hỡi người được ơn, mừng cho ngươi; Chúa ở cùng ngươi.” Ê-li-sa-bét nói với Ma-ri: “Ngươi có phước trong đám đàn bà, thai trong lòng ngươi cũng được phước,” và Ma-ri đáp lời: “Nầy, từ rày về sau, muôn đời sẽ khen tôi là có phước” (Lu-ca 1:28, 42, 48).

Ma-ri được Thiên Chúa ban phước nhiều và điều này được công nhận bởi mọi thế hệ kể từ ngày ấy – nhưng điều này không có nghĩa là bà phải được thần hóa, được thờ phượng, được làm cho thành một thần linh khi bà chỉ là một con người. Sự thờ phượng bà Ma-ri một cách rộng khắp như là “Mẹ Thiên Chúa,” giáo lý dạy rằng bà Ma-ri là vô nhiễm nguyên tội, xem bà như một Đấng Trung Bảo giữa loài người và Đức Chúa Trời chính là sự tiếp diễn của sự thờ lạy thần tượng từ người Ba-by-lôn thời cổ, bắt đầu bởi sự lường gạt xảo trá của Semiramis, vợ của Nim-rốt! Nó được ràng buộc chằng chịt với ý tưởng “Christmas.”

Như vậy, sự thờ lạy thần tượng thời cổ “Huyền Nhiệm của Người Canh-đê” được thành lập bởi vợ của Nim-rốt, được lưu truyền qua các tín ngưỡng ngoại giáo vào trong Giáo Hội Công Giáo dưới những cái tên mới mang tính Cơ-đốc, và từ đó, vào trong các giáo phái Tin Lành, rồi đến với tất cả chúng ta ngày nay.

Nguồn Gốc của Vòng Lá Thánh (Holly Wreath), Cây Tầm Gửi (Mistletoe), và Khúc Củi (Yule Log)

Từ đâu mà chúng ta có thói tục làm vòng cây chùm gửi (mistletoe) này? Trong thế giới của các dân ngoại giáo thời cổ thì cây chùm gửi được dùng trong ngày lễ hội đông chí, bởi vì, nó được xem là thiêng liêng đối với mặt trời, được cho là có năng lực chữa lành cách lạ lùng. Thói tục hôn nhau dưới cây chùm gửi của ngoại giáo là bước khởi đầu cho một đêm vui chơi và say sưa dâm dật – kỷ niệm sự chết của “mặt trời cũ” và sự sinh ra của mặt trời mới vào ngày đông chí (ngày ngắn nhất trong năm). Cây chùm gửi, thiêng liêng trong các lễ hội ngoại giáo, là một loại ký sinh (ăn bám, sống bám)!

Những trái dâu thánh cũng được xem là thiêng liêng đối với thần mặt trời. Khúc củi “Yule” thật ra, chính là “khúc củi mặt trời.” “Yule” có nghĩa là “vòng khung,” một biểu tượng của ngoại giáo dành cho mặt trời. Thế nhưng, những người xưng mình là Cơ-đốc nhân ngày nay lại nói đến “Mùa Yule thiêng liêng!”

Ngay cả việc đốt lửa và thắp nến như là một nghi thức của Cơ-đốc Giáo cũng chỉ là một sự kế tục của thói tục ngoại giáo để khích lệ thần mặt trời xế tàn khi nó xuống đến điểm thấp nhất trên vùng trời phương nam.

Bộ Americana Bách Khoa Từ Điển cho biết: “Vòng thánh, cây chùm gửi, khúc củi Yule… là những giáo tích của thời tiền Cơ-đốc.” Cuốn sách “Ngoại Giáo,” Trả Lời Các Câu Hỏi, được biên soạn bởi Frederick J. Haskins, có thể tìm thấy trong các thư viện công cộng, cho biết: “Sự sử dụng các vòng Christmas được các nhà có thẩm quyền tin rằng, có thể truy ngược về các thói tục trang trí nhà cửa và những nơi thờ phượng của ngoại giáo vào lúc lễ hội được diễn ra cùng một thời điểm với Christmas. Cây Christmas đến từ Ai-cập, và nguồn gốc của nó được tính ra là một thời điểm rất lâu dài trước thời đại Cơ-đốc.

Ngay Cả Ông Già Nô-en (Santa Claus)

Nhưng phải chăng, Ông Già Nô-en (Santa Claus) thân thương không phải là một sản phẩm của ngoại giáo? Ông ta chính là sản phẩm của ngoại giáo và tính chất thật của ông ta không nhân ái và thánh thiện như nhiều người nghĩ.

Cái tên “Santa Claus” là một cái tên đã bị biến thể từ tên “Thánh Nicholas,” một giám mục Công Giáo La-mã sống vào thế kỷ thứ năm. Xem trong bộ Britannica Bách Khoa Từ Điển, cuốn 19, trang 648-649, ấn bản thứ 11, bạn sẽ đọc thấy: “Thánh Nicholas, giám mục thành Myra… là một vị thánh được tôn kính bởi người Hy-lạp và La-tinh vào ngày 6 tháng 12… Có một huyền thoại về sự ông kín đáo tặng của hồi môn cho ba cô con gái của một người dân nghèo… được cho rằng làm phát sinh phong tục cổ về việc tặng quà cách bí mật vào đêm kỷ niệm Thánh Nicholas [6 tháng 12], rồi sau đó được chuyển sang ngày Christmas. Đó là sự liên kết giữa Christmas với Ông Già Nô-en (Santa Claus).

Trong suốt năm, các bậc cha mẹ trừng phạt con cái mình về tội nói dối. Thế rồi, vào thời điểm Christmas, chính họ lại nói dối với con cái của họ về Ông Già Nô-en. Điều đáng suy nghĩ là, có khi nào nhiều đứa trẻ lúc lớn lên, biết được sự thật thì cũng bắt đầu nghi ngờ Đức Chúa Trời cũng là một huyền thoại?

Có một em bé bị vỡ mộng về Ông Già Nô-en đã nói với bạn mình rằng: “Vậy, mình cũng sẽ xem xét lại câu chuyện về Đức Chúa Jesus Christ.” Có phải chính các Cơ-đốc nhân đã dạy cho trẻ em về những huyền thoại và những sự dối trá? Đức Chúa Trời phán: “Các ngươi chớ làm chứng dối!” Có lẽ theo lý luận loài người thì việc đó không sao, có thể làm được, nhưng Đức Chúa Trời phán “Có một con đường, xem dường chánh đáng cho loài người; nhưng cuối cùng, nó thành ra những nẻo của sự chết! “Ông Già Nick” (Old Nick) cũng là một tên của Ma Quỷ. Có sự liên kết nào chăng? Sa-tan giả làm “thiên sứ sáng láng” để lường gạt (II Cô-rinh-tô 11:4 và Khải Huyền 12:9).

Và khi chúng ta xem xét các dữ kiện, chúng ta ngạc nhiên biết rằng, rốt cuộc, sự thực hành kỷ niệm Christmas không phải là một sự thực hành chân thật của Cơ-đốc nhân nhưng là một thói tục ngoại giáo – một trong những nẻo của Ba-by-lôn mà chúng ta đã rơi vào.

Thánh Kinh nói gì về cây Christmas?

Nhưng nếu Thánh Kinh im lặng về việc dạy chúng ta kỷ niệm Christmas hoặc ghi lại sự kỷ niệm nó bởi các sứ đồ của Hội Thánh thật lúc ban đầu, thì Thánh Kinh có nói đến cây Christmas.

Điều này sẽ khiến cho nhiều người ngạc nhiên nhưng đây là điều Thánh Kinh nói:

Giê-rê-mi 10:2-4 “Đức Giê-hô-va phán như vầy: Chớ tập theo tục của các dân ngoại, chớ sợ các dấu trên trời, mặc dầu dân ngoại nghi sợ các dấu ấy. Vì thói quen của các dân ấy chỉ là hư không. Người ta đốn cây trong rừng, tay thợ lấy búa mà đẽo; rồi lấy bạc vàng mà trang sức; dùng búa mà đóng đinh vào, đặng khỏi lung lay.”

Trên đây là lời mô tả chính xác cây Christmas, bị Đấng Hằng Hữu gọi là “tục của các dân ngoại.” Chúng ta được truyền lệnh là chớ tập hoặc theo các tục ấy. Trong phân đoạn này, nó được xem như là thần tượng. Câu thứ năm cho thấy những cây này không thể nói, không thể đi, phải được khiêng vác. “Đừng sợ các thần ấy, vì không có quyền làm họa hay làm phước.” Chúng chẳng phải là các thần để bị sợ. Nhiều người cho rằng phân đoạn Thánh Kinh này dạy rằng không có gì nguy hiểm trong việc dựng cây Christmas, nhưng đó không phải là điều Thánh Kinh dạy.

Việc Trao Đổi Quà Có Hợp Thánh Kinh Không?

Nhưng khi đến phần quan trọng nhất trong tất cả các phần của sự kỷ niệm Christmas – mùa mua sắm Christmas – sự mua sắm và trao đổi quà – nhiều người sẽ kêu lên cách đắc thắng rằng: “Ít ra thì Thánh Kinh cũng dạy chúng ta làm như vậy. Không phải những nhà thông thái đã tặng quà khi Chúa giáng sinh đó sao?”

Một lần nữa, chúng ta lại sẽ ngạc nhiên khi chúng ta biết được lẽ thật hiển nhiên. Trước hết, chúng ta hãy xem lại lịch sử nguồn gốc của việc trao đổi quà, rồi chúng ta sẽ xem Thánh Kinh nói gì về việc đó.

Từ bộ Bibliotheca Sacra, cuốn 12, trang 153-155, chúng ta đọc được: “Sự trao đổi quà giữa bạn bè là đặc tính giống nhau giữa Christmas và Saturnalia, và đã được tiếp nhận bởi các Cơ-đốc nhân từ những dân ngoại giáo, theo sự cáo trách mà Tertullian đã tỏ ra cách rõ ràng.”

Sự thực là, thói quen trao đổi quà giữa bạn bè và bà con vào mùa Christmas không hề có một chút dấu tích nào về nó trong Cơ-đốc Giáo. Dầu có vẻ lạ lùng nhưng thói tục này không kỷ niệm sinh nhật của Đấng Christ mà cũng không tôn kính ngày ấy hay tôn kính Chúa. Giả sử như vào dịp sinh nhật của một người thân yêu của bạn. Bạn muốn tôn trọng sinh nhật của người ấy. Có khi nào bạn tốn kém tiền bạc mua sắm quà cho tất cả những người khác, trao đổi quà qua lại với tất cả các bạn bè và người thân khác của bạn, nhưng hoàn toàn quên lãng tặng quà cho chính người có sinh nhật mà bạn đang tôn trọng? Ngược lại, điều đó thật là lố bịch khi được xem xét như vậy, có phải không?

Nhưng đó chính xác là điều mà người ta đang làm khắp nơi trên thế giới. Họ tôn trọng một ngày không phải là sinh nhật của Đấng Christ, bằng cách tiêu phí hết từng xu mà họ dành dụm được để mua các món quà trao đổi qua lại giữa bạn bè và bà con. Tôi có thể nói theo kinh nghiệm nhiều năm của mình, như tôi tin rằng hầu hết các người chăn và người hầu việc Chúa có thể nói, rằng khi tháng 12 đến gần, hầu như tất cả những người xưng mình là Cơ-đốc nhân cùng nhau quên lãng việc tặng quà cho Đấng Christ và mục vụ của Ngài.

Bây giờ, hãy xem Thánh Kinh nói gì về việc tặng quà khi Đấng Christ giáng sinh. Ma-thi-ơ 2:1-11 chép: “Khi Đức Chúa Jesus đã sanh tại thành Bết-lê-hem, xứ Giu-đê, đang đời vua Hê-rốt, có mấy thầy bác sĩ ở đông phương đến thành Giê-ru-sa-lem, mà hỏi rằng: Vua dân Giu-đa mới sanh tại đâu? Vì chúng ta đã thấy ngôi sao Ngài bên đông phương, nên đến đặng thờ lạy Ngài… Khi vào đến nhà, thấy con trẻ cùng Ma-ri, mẹ Ngài, thì sấp mình xuống mà thờ lạy Ngài; rồi bày của báu ra, dâng cho Ngài những lễ vật, là vàng, nhũ hương, và một dược.”

Tại Sao Quà Được Tặng Đấng Christ?

Chúng ta chú ý đến điều này: Họ hỏi thăm về hài nhi Jesus, Đấng được sinh ra để làm vua của dân Giu-đa. Tại sao họ tặng quà Ngài? Có phải bởi vì đó là sinh nhật của Ngài? Không hề như vậy, bởi vì khi họ tìm đến nơi thì đã là nhiều ngày hay nhiều tuần sau khi Ngài được sinh ra. Sự kiện đó có là tấm gương để chúng ta noi theo mà trao đổi quà với nhau? Không! Hãy để ý kỷ: họ không trao đổi quà lẫn nhau nhưng họ “dâng cho Ngài!” Họ dâng quà của họ cho Đấng Christ chứ không phải cho bạn bè, thân thuộc hay cho lẫn nhau.

Tại sao?Tôi xin trích từ bộ giải kinh của Adam Clarke, cuốn 5, trang 46: “Câu 11. (Họ dâng quà lên Ngài). Dân đông phương không bao giờ đến gần các vua hay các bậc quyền quý mà không có quà trong tay của mình. Phong tục này thường được ghi nhận trong Cựu Ước và vẫn tồn tại ở đông phương, và trong một vài hải đảo mới được khám phá tại Nam Dương.

Sự việc là như vậy. Họ không thiết lập một phong tục Cơ-đốc mới về việc trao đổi quà để tôn vinh sinh nhật của Đấng Christ. Họ chỉ theo phong tục cũ từ thời cổ của đông phương trong việc tặng quà cho một vì vua Khi họ đến ra mắt Ngài. Họ đang ra mắt Ngài, Đấng được sinh ra để làm vua của dân Giu-đa. Vì vậy, phong tục khiến họ phải tặng quà – như khi khi Nữ Vương nước Sheba ra mắt Vua Sa-lô-môn – như nhiều người ngày nay mang quà theo khi họ viếng thăm tòa Bạch Ốc để gặp tổng thống.

Không, thói tục trao đổi quà qua lại không hề phát xuất từ sự kiện này trong Thánh Kinh, ngược lại, như đã trích từ lịch sử trên đây, nó là sự tiếp nối của một thói tục ngoại giáo. Thay vì tôn kính Đấng Christ, nó luôn luôn làm cho cản trở công việc của Ngài, thường làm cho chậm trể, vào mùa Christmas mỗi năm.

Chúng Ta Đang ở Trong Ba-by-lôn Mà Không Biết!

Christmas đã trở thành một mùa thương mãi. Những kẻ bảo trợ nó, giữ cho nó sống còn bằng những chiến dịch quảng cáo bán hàng tưng bừng nhất trong năm. Bạn sẽ thấy những hóa trang “Ông Già Nô-en” trong nhiều cửa tiệm. Các quảng cáo giữ cho chúng ta bị dẫn dắt sai lạc và bị lường gạt về “sự đẹp đẻ của tinh thần Christmas.” Các báo chí, đăng các quảng cáo, in những ấn bản sặc sở đề cao và tán tụng mùa ngoại giáo và “tinh thần” của nó. Những kẻ khờ dại đã bị tiêm nhiễm quá nặng, đến nỗi chống đối kịch liệt khi được nghe nói về lẽ thật. Nhưng “tinh thần Christmas” được tạo ra mỗi năm không phải để tôn kính Đấng Christ, mà để bán hàng hóa. Giống như tất cả các sự lường gạt của Sa-tan, nó hiện ra như “thiên sứ sáng láng,” nó được làm cho thể hiện như tốt lành. Hàng tỷ đô-la đã bị tốn phí trong cơn dịch mua sắm hàng năm, trong khi mục vụ của Đấng Christ phải chịu tổn thất. Nó chính là một phần trong hệ thống kinh tế của Ba-by-lôn.

Chúng ta là tuyển dân của Đức Chúa Trời. Nhưng chúng ta đang ở trong Ba-by-lôn, như Thánh Kinh đã tiên tri, mà chúng ta không biết. Hãy ra khỏi nó, hỡi dân ta, để các ngươi không dự phần trong tội lỗi của nó, và các ngươi sẽ không cùng chịu sự đoán phạt của nó – sẽ đến cách nhanh chóng – là tiếng cảnh báo của Khải Huyền 18:4.

Nguyên Tác: “The Plain Truth About Christmas” by David J. Stewart
Chuyển Ngữ: Huỳnh Christian Timothy
12.12.2012

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry.
Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

 

Đọc Tiếp →

Tiếng Mới và Ân Tứ Nói Ngoại Ngữ Không Phải Là Hiện Tượng Nói Tiếng Lạ

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?93rqt3ac144dve3

Huỳnh Christian Timothy

Dẫn Nhập

Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống đã dùng bốn từ ngữ: "tiếng mới," "tiếng lạ," "các thứ tiếng," và "tiếng ngoại quốc" để dịch hai từ ngữ hoàn toàn khác nhau trong nguyên ngữ Hy-lạp. Sự dùng từ ngữ “tiếng lạ” trong Bản Dịch Truyền Thống đã khiến cho rất nhiều người hiểu lầm hiện tượng “nói tiếng lạ” trong các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần, là ân tứ nói ngoại ngữ do Đức Thánh Linh ban cho Hội Thánh. Chắc chắn là “tiếng mới” khác với ân tứ “nói ngoại ngữ” và cả hai hoàn toàn không phải là sự “nói tiếng lạ” của những người Ân Tứ và Ngũ Tuần.

Trong bài này, chúng tôi nêu lên tất cả những câu Thánh Kinh trong Bản Dịch Truyền Thống có những từ ngữ: "tiếng mới," "tiếng lạ," "các thứ tiếng," và "tiếng ngoại quốc,” đối chiếu với Bản Hiệu Đính 2012. Bản Hiệu Đính 2012 là bản hiệu đính Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống (1926), còn được gọi là Bản Dịch Phan Khôi, do chúng tôi đang tiến hành mà bạn đọc có thể tham khảo trên mạng tại đây: http://www.tt2012.thanhkinhvietngu.net/. Sau đó, chúng tôi sẽ nêu lên phần nhận xét.

Dữ kiện

Trước hết, xin liệt kê các câu Thánh Kinh Việt ngữ có các từ ngữ "tiếng mới," "tiếng lạ," "các thứ tiếng" và "tiếng ngoại quốc." Kèm theo các từ ngữ đó là nguyên ngữ Hy-lạp và từ Anh ngữ tương đương được đặt trong hai dấu ngoặc vuông [ ]. Xin chú ý, cách dùng số ít "language" và số nhiều "languages" trong tiếng Anh là phản ánh trung thực từ nguyên ngữ:

1. Tiếng mới

Mác 16:17 "Vậy những kẻ tin sẽ được các dấu lạ nầy: lấy danh Ta mà trừ quỉ; dùng tiếng [γλωσσαις, glōssa – languages] mới [καιναις, kainos – new] mà nói." Bản Hiệu Đính 2012: "Và những dấu hiệu này sẽ theo những kẻ tin: Trong danh Ta họ sẽ đuổi quỷ, họ sẽ nói những thứ tiếng mới."

2. Tiếng lạ

I Cô-rinh-tô 12:30"Cả thảy đều được ơn chữa bịnh sao? Cả thảy đều nói tiếng lạ [γλωσσαις, glōssa – languages] sao? Cả thảy đều thông giải tiếng lạ [trong nguyên ngữ chỉ có chữ "diermēneuō" nghĩa là phiên dịch, không có chữ "glōssa"] sao?" Bản Hiệu Đính 2012: "Cả thảy đều được ơn chữa bịnh sao? Cả thảy đều nói các ngoại ngữ sao? Cả thảy đều thông giải sao?"

I Cô-rinh-tô 13:8"Tình yêu thương chẳng hề hư mất bao giờ. Các lời tiên tri sẽ hết, sự ban cho nói tiếng lạ [γλωσσαι, glōssa – languages] sẽ thôi, sự thông biết hầu bị bỏ." Bản Hiệu Đính 2012: "Tình yêu thương chẳng hề hư mất bao giờ. Các lời tiên tri sẽ hết, sự ban cho nói các ngoại ngữ sẽ thôi, sự thông biết hầu bị bỏ."

I Cô-rinh-tô 14:2"Vì người nào nói tiếng lạ [γλωσση,glōssa – languages], thì không phải nói với người ta, bèn là với Đức Chúa Trời, bởi chẳng có ai hiểu (ấy là trong tâm thần mà người kia nói lời mầu nhiệm)." Bản Hiệu Đính 2012: "Vì người nào nói các ngoại ngữ, thì không phải nói với người ta, bèn là với Đức Chúa Trời, bởi chẳng có ai hiểu (ấy là trong tâm thần mà người kia nói lời mầu nhiệm)."

I Cô-rinh-tô 14:4"Kẻ nói tiếng lạ [γλωσση, glōssa – language], tự gây dựng lấy mình; song kẻ nói tiên tri, gây dựng cho Hội thánh." Bản Hiệu Đính 2012: "Kẻ nói ngoại ngữ, tự gây dựng lấy mình; song kẻ nói tiên tri, gây dựng cho Hội thánh."

I Cô-rinh-tô 14:5"Tôi ước ao anh em đều nói tiếng lạ [γλωσσαις,glōssa – languages] cả, song tôi còn ước ao hơn nữa là anh em nói tiên tri. Người nói tiên tri là trọng hơn kẻ nói tiếng lạ [γλωσσαις, glōssa – languages] mà không giải nghĩa để cho Hội thánh được gây dựng." Bản Hiệu Đính 2012: "Tôi ước ao anh em đều nói các ngoại ngữ cả, song tôi còn ước ao hơn nữa là anh em nói tiên tri. Người nói tiên tri là trọng hơn kẻ nói các ngoại ngữ mà không giải nghĩa để cho Hội thánh được gây dựng."

I Cô-rinh-tô 14:6"Hỡi anh em, ví bằng tôi đến cùng anh em, nói các thứ tiếng lạ [γλωσσαις, glōssa – languages], mà lời nói tôi chẳng tỏ sự mầu nhiệm, chẳng có sự thông biết, chẳng có lời tiên tri, chẳng có sự khuyên dạy, thì ích gì đến anh em?" Bản Hiệu Đính 2012: "Hỡi anh em, ví bằng tôi đến cùng anh em, nói các thứ ngoại ngữ, mà lời nói tôi chẳng tỏ sự mầu nhiệm, chẳng có sự thông biết, chẳng có lời tiên tri, chẳng có sự khuyên dạy, thì ích gì đến anh em?"

I Cô-rinh-tô 14:13"Bởi đó, kẻ nói tiếng lạ [γλωσση, glōssa – language], hãy cầu nguyện để được thông giải tiếng ấy." Bản Hiệu Đính 2012: "Bởi đó, kẻ nói ngoại ngữ, hãy cầu nguyện để được thông giải tiếng ấy."

I Cô-rinh-tô 14:14"Vì nếu tôi cầu nguyện bằng tiếng lạ [γλωσση, glōssa – language], thì tâm thần tôi cầu nguyện, nhưng trí khôn tôi lơ lửng." Bản Hiệu Đính 2012: "Vì nếu tôi cầu nguyện bằng ngoại ngữ, thì tâm thần tôi cầu nguyện, nhưng trí khôn tôi lơ lửng."

I Cô-rinh-tô 14:18"Tôi tạ ơn Đức Chúa Trời, vì đã được ơn nói tiếng lạ [γλωσσαις, glōssa – languages] nhiều hơn hết thảy anh em." Bản Hiệu Đính 2012: "Tôi tạ ơn Đức Chúa Trời, vì đã được ơn nói các ngoại ngữ nhiều hơn hết thảy anh em."

I Cô-rinh-tô 14:19"nhưng thà tôi lấy năm lời bằng trí khôn mình mà rao giảng trong Hội thánh, để được dạy bảo kẻ khác, hơn là lấy một vạn lời bằng tiếng lạ [γλωσση, glōssa – language]." Bản Hiệu Đính 2012: "nhưng thà tôi lấy năm lời bằng trí khôn mình mà rao giảng trong Hội thánh, để được dạy bảo kẻ khác, hơn là lấy một vạn lời bằng ngoại ngữ."

I Cô-rinh-tô 14:21"Trong luật pháp có chép rằng: Chúa phán: Ta sẽ nhờ những người nói tiếng lạ [ετερογλωσσοις, heteroglōssos – foreign languages], và môi miệng người ngoại quốc mà phán cho dân nầy; dầu vậy họ cũng chẳng nghe ta." Bản Hiệu Đính 2012: "Trong luật pháp có chép rằng: Chúa phán: Ta sẽ bởi các ngoại ngữ và môi miệng những người ngoại quốc mà phán cho dân nầy; dầu vậy họ cũng chẳng nghe Ta."

I Cô-rinh-tô 14:23"Vậy thì cả Hội thánh nhóm lại một nơi, nếu ai nấy đều nói tiếng lạ [γλωσσαις, glōssa – languages], mà có kẻ tầm thường hoặc người chẳng tin vào nghe, họ há chẳng nói anh em là điên cuồng sao?" Bản Hiệu Đính 2012: "Vậy thì cả Hội Thánh nhóm lại một nơi, nếu ai nấy đều nói các ngoại ngữ, mà có kẻ tầm thường hoặc người chẳng tin vào nghe, họ há chẳng nói anh em là điên cuồng sao?"

I Cô-rinh-tô 14:26"Hỡi anh em, nên nói thể nào? Khi anh em nhóm lại với nhau, trong anh em, ai có bài ca, hoặc bài giảng dạy, hoặc lời tỏ sự kín nhiệm, hoặc nói tiếng lạ [γλωσσαν, glōssa – languages], hoặc giải tiếng lạ [trong nguyên ngữ chỉ có chữ "hermēneia" nghĩa là thông giải, không có chữ "glōssa"] chăng? Hãy làm hết thảy cho được gây dựng." Bản Hiệu Đính 2012: "Hỡi anh em, nên nói thể nào? Khi anh em nhóm lại với nhau, trong anh em, ai có bài ca, hoặc bài giảng dạy, hoặc lời tỏ sự kín nhiệm, hoặc nói các ngoại ngữ, hoặc thông giải chăng? Hãy làm hết thảy cho được gây dựng."

I Cô-rinh-tô 14:27"Ví bằng có người nói tiếng lạ [γλωσση, glōssa – language], chỉ nên hai hoặc ba người là cùng; mỗi người phải nói theo lượt mình, và phải có một người thông giải." Bản Hiệu Đính 2012: "Ví bằng có người nói ngoại ngữ, chỉ nên hai hoặc ba người là cùng; mỗi người phải nói theo lượt mình, và phải có một người thông giải."

I Cô-rinh-tô 14:39"Ấy vậy, hỡi anh em, hãy trông mong ơn nói tiên tri, và đừng ngăn trở chi về điều nói tiếng lạ [γλωσσαις, glōssa – languages]." Bản Hiệu Đính 2012: "Ấy vậy, hỡi anh em, hãy trông mong ơn nói tiên tri, và đừng ngăn trở chi về điều nói các ngoại ngữ."

3. Các thứ tiếng

Công Vụ Các Sứ Đồ 2:4"Hết thảy đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh, khởi sự nói các thứ tiếng [γλωσσαις, glōssa – languages] khác [ετεραις, heteros – other], theo như Đức Thánh Linh cho mình nói." Bản Hiệu Đính 2012: "Hết thảy đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh, khởi sự nói các ngoại ngữ khác, theo như Đức Thánh Linh cho mình nói."

I Cô-rinh-tô 14:22"Thế thì, các thứ tiếng [γλωσσαι, glōssa – languages] là một dấu, chẳng cho người tin Chúa, song cho người chẳng tin; còn như lời tiên tri là một dấu, chẳng phải cho người không tin, song cho người tin Chúa." Bản Hiệu Đính 2012: "Thế thì, các ngoại ngữ là một dấu, chẳng cho người tin Chúa, song cho người chẳng tin; còn như lời tiên tri là một dấu, chẳng phải cho người không tin, song cho người tin Chúa."

4. Tiếng ngoại quốc

Công Vụ Các Sứ Đồ 10:46"Vì các tín đồ nghe họ nói tiếng ngoại quốc [γλωσσαις, glōssa – languages] và khen ngợi Đức Chúa Trời." Bản Hiệu Đính 2012: "Vì các tín đồ nghe họ nói các ngoại ngữ và tôn vinh Đức Chúa Trời."

Công Vụ Các Sứ Đồ 19:6 "Sau khi Phao-lô đã đặt tay lên, thì có Đức Thánh Linh giáng trên chúng, cho nói tiếng ngoại quốc[γλωσσαις, glōssa – languages] và lời tiên tri." Bản Hiệu Đính 2012: "Sau khi Phao-lô đã đặt tay lên, thì có Đức Thánh Linh giáng trên chúng, cho nói các ngoại ngữ và lời tiên tri."

Nhận Xét

1. Ân tứ ngoại ngữ không phải là hiện tượng “nói tiếng lạ”

Trước hết, chúng ta cần xác định ý nghĩa của chữ "glōssa" trong nguyên tác Hy-lạp. Theo Thayer’s Greek Definitions (Bộ Định Nghĩa Tiếng Hy-lạp của Thayer) thì "glōssa" bao gồm các nghĩa như sau:

(1) cái lưỡi, một chi thể của thân thể, một cơ quan của sự nói

(2) một ngôn ngữ: ngôn ngữ hay thổ ngữ được dùng bởi một sắc dân khác với [ngôn ngữ hay thổ ngữ] của các quốc gia khác.

Như vậy, chữ "glōssa" được dùng trong tất cả các câu Thánh Kinh trưng dẫn trên đây dù là số ít hay số nhiều cũng đều mang nghĩa thứ (2), tức là ngôn ngữ. Khi chữ "glōssa" được dùng ghép với động từ "laleō" (nói) thành "laleō glōssa" thì luôn luôn mang ý nghĩa: "nói tiếng ngoại quốc" hay gọn hơn: “nói ngoại ngữ.” Chúng ta thấy trong các câu Thánh Kinh được trích dẫn không hề có tính từ "xenos" (lạ) kèm theo "glōssa" cho nên không thể dịch là "tiếng lạ." Điển hình về việc dùng tính từ "xenos" (lạ) là:

"Vì Ta đói, các ngươi đã cho Ta ăn; Ta khát, các ngươi đã cho Ta uống; Ta là khách lạ [ξενος, xenos – strange], các ngươi tiếp rước Ta." (Ma-thi-ơ 25:35)

"Rồi họ bàn với nhau dùng bạc đó mua ruộng của kẻ làm đồ gốm để chôn những khách lạ [ξενοις, xenos – strange]." (Ma-thi-ơ 27:7)

"Anh em chớ để cho mọi thứ đạo lạ [ξεναις, xenos – strange] dỗ dành mình; vì lòng nhờ ân điển được vững bền, ấy là tốt, chớ không phải nhờ đồ ăn, là sự chẳng ích chi cho kẻ làm như vậy." (Hê-bơ-rơ 13:9)

Như vậy, trừ trường hợp của Mác 16:17 mà chúng ta sẽ bàn tiếp dưới đây, tất cả các câu Thánh Kinh còn lại có từ ngữ "laleō glōssa" nên dịch thành "nói tiếng ngoại quốc" hoặc "nói ngoại ngữ."

Sách Công Vụ Các Sứ Đồ ghi lại ba trường hợp các môn đồ được đầy dẫy Thánh Linh và được ơn nói tiếng ngoại quốc mà chúng ta có thể dùng đó để xác chứng chỉ có ân tứ nói ngoại ngữ chứ không hề có ân tứ “nói tiếng lạ!" Điểm cần chú ý là, mỗi khi ân tứ nói ngoại ngữ được thể hiện thì đều có sự ấn chứng của những người chứng kiến, rằng người đang nói ngoại ngữ đó nói lên những sự cao trọng của Đức Chúa Trời mà tôn vinh Ngài hoặc nói tiên tri. Đây là điểm rất quan trọng để phân biệt giữa ân tứ nói ngoại ngữ do Đức Thánh Linh ban cho con dân Chúa với sự "nói tiếng lạ" đến từ tà linh. Chúng tôi đã từng chứng kiến cảnh một tín đồ gốc Ân Tứ bị quỷ ám "nói tiếng lạ" và sau đó "nói ngoại ngữ" (tiếng Anh) một cách lưu loát để giảng Tin Lành. Người này trước đó không thông thạo Anh ngữ. Mặc dù người ấy giảng Tin Lành một cách thông suốt, đúng Thánh Kinh, nhưng lại tự xưng là Đức Chúa Jesus và lại nói rằng rất yêu người nữ tín đồ đang bị nhập xác đó, muốn có con với người nữ tín đồ đó… thì rõ ràng là hiện tượng quỷ nhập, chưa kể các biểu hiện nói lãm nhảm, cười, khóc, trợn trắng, thè lưỡi, sùi nước bọt rất là bất bình thường. Chính nạn nhân vào lúc tỉnh cũng biết mình bị quỷ nhập.

2. Tiếng mới

Từ ngữ này chỉ được dùng có một lần trong Mác 16:17. Sự nói các thứ tiếng mới của người tin nhận Chúa chắc chắn là khác hẵn với ân tứ nói ngoại ngữ. Trong khi ân tứ nói ngoại ngữ là một trong các ân tứ do Đức Thánh Linh "theo ý Ngài muốn, phân phát sự ban cho riêng cho mỗi người" không phải tín đồ nào cũng nhận được (I Cô-rinh-tô 12:11), thì sự nói các thứ tiếng mới là dấu hiệu đi theo tất cả những ai là môn đồ thật của Chúa:

Mác 16:17"Vậy những kẻ tin sẽ được các dấu lạ nầy: lấy danh Ta mà trừ quỷ; dùng tiếng [γλωσσαις, glōssa – languages] mới [καιναις, kainos – new] mà nói."

Trong nguyên ngữ Hy-lạp, tính từ "kainos" có nghĩa là "mới," được dùng chung với danh từ "glōssa" số nhiều. Nếu dịch câu trên cho sát với nguyên ngữ thì sẽ như sau: "Và những dấu hiệu này sẽ theo những kẻ tin: Trong danh Ta họ sẽ đuổi quỷ, họ sẽ nói những thứ tiếng mới."

Tiếng mới hay ngôn ngữ mới ở đây khác với ngoại ngữ hay tiếng ngoại quốc được dùng trong những câu Thánh Kinh chúng ta vừa bàn đến phía trên. Tiếng mới này là tiếng của những người đã được dựng nên mới sử dụng: Tiếng của sự yêu thương! Ngôn ngữ của những người thật sự ở trong Chúa! Hễ những ai đã được dựng nên mới trong Đức Chúa Jesus Christ thì tự nhiên họ sẽ dùng thứ tiếng mới này. Khi một người đã được dựng nên mới thì "những sự cũ đã qua đi" trong đó có luôn thứ ngôn ngữ cũ của hận thù, cay đắng, châm chọc, mỉa mai, thô tục, kiêu ngạo… Các thứ tiếng mới chính là các thứ tiếng mẹ đẻ đã được đổi mới trong Chúa của những người đã được dựng nên mới trong Chúa.

"Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới."(II Cô-rinh-tô 5:17)

Chúng tôi xin lập lại điều quan trọng này: Trong khi "nói ngoại ngữ" là một trong các ân tứ do Đức Thánh Linh "theo ý Ngài muốn, phân phát sự ban cho riêng cho mỗi người," nghĩa là không phải con dân Chúa nào cũng nhận được, thì "nói tiếng mới" là một dấu hiệu đi theo tất cả những kẻ tin! Nghĩa là, bất cứ ai thực lòng tin nhận Chúa, được tái sinh thì đều nói tiếng mới! Từ ngữ "tiếng mới" được dùng trong Mác 16:17 dưới hình thức số nhiều cho chúng ta biết người thuộc dân tộc nào, ngôn ngữ nào, khi được đổi mới sẽ dùng tiếng mới của chính dân tộc đó, ngôn ngữ đó. Nếu tôi là người Việt Nam được dựng nên mới trong Đấng Christ thì tôi sẽ nói một thứ tiếng Việt Nam mới, là thứ tiếng Việt Nam thể hiện sự thương xót, công bình và thánh khiết của Đức Chúa Trời.

Người không thật lòng tin Chúa thì không có được các dấu hiệu "nói tiếng mới," và không thể nào "trong danh Chúa trừ quỷ…" cho nên, họ vẫn còn nói năng thô tục, giả ngộ tầm phào, bàn chuyện huyễn, và không ngại thốt ra những lời cay độc, kiêu căng, ngạo mạn… Những người như thế dễ dàng bị sập bẫy của Sa-tan để khoác cho mình những thứ ân tứ giả như: "nói tiếng lạ," "chữa bệnh," "đuổi quỷ," "nói tiên tri," thậm chí làm ra các “phép lạ” trong danh Chúa (Ma-thi-ơ 7:21-23). Con dân chân thật của Chúa có thể nhìn ra họ cách dễ dàng, vì họ không có được một trong các dấu hiệu thật của những người đã thật sự "tự bỏ mình đi, mỗi ngày vác thập tự giá mình mà theo" Chúa, là dùng “tiếng mới” mà nói!

Kết Luận

Ngày nay, hiện tượng "nói tiếng lạ" là một trong những động cơ phá tán Hội Thánh Chúa một cách đáng sợ nhất. Nhiều người chăn bầy thiếu khôn ngoan (mà lại không cầu xin Chúa – Gia-cơ 1:5) để phân biệt ân tứ nói ngoại ngữ đến từ Đức Thánh Linh với hiện tượng "nói tiếng lạ" đến từ tà linh, cho nên, đã dung chứa các sứ giả của Sa-tan trong Hội Thánh (II Cô-rinh-tô 11:14, 15). Hậu quả là trong vòng ba năm, Hội Thánh địa phương bị phá tán và biến thành hội của Sa-tan (Khải Huyền 2:9)!

Hy vọng rằng, trong các bản hiệu đính hoặc trong các bản dịch tương lai, Thánh Kinh Việt ngữ sẽ không còn những thiếu sót về thuật ngữ khiến gây ra những hiểu lầm, ảnh hưởng tai hại đến sự hiểu biết và áp dụng Lời Chúa vào trong cuộc sống của con dân Chúa người Việt.

 

Huỳnh Christian Timothy
28.12.2009
Hiệu Đính Lần Thứ Nhất 14.12.2012


Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry.
Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Đọc Tiếp →

Nguồn Gốc và Tín Lý Các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?u2ld9mi6cmzf976

Huỳnh Christian Timothy

Dẫn Nhập

Kể từ thập niên 1960 cho đến nay, một phong trào phát sinh từ trong các Giáo Hội Tin Lành và Công Giáo được gọi là "Phong Trào Ân Tứ," đã trở nên lớn mạnh và xâm nhập sâu rộng vào trong Hội Thánh của Chúa ở khắp nơi. Phong Trào Ân Tứ (Charismatic Movement – 1906) thoát thai từ Phong Trào Ngũ Tuần (Pentecostal Movement – 1901). Theo thống kê vào năm 2003, số người thuộc hai phong trào này lên đến khoảng 700 triệu, nghĩa là chiếm khoảng 33% tổng số những người xưng nhận có đức tin trong Đấng Christ (Christians – bao gồm Chính Thống Giáo, Công Giáo, Anh Giáo, và Tin Lành Giáo) trên toàn thế giới. Các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần mang lại nhiều tranh luận cũng như phân rẽ trong Hội Thánh. Nhiều giáo phái lớn trong các Giáo Hội Tin Lành và Công Giáo đã thành lập những ban nghiên cứu. Ngay cả, người ngoại đạo cũng thành lập các ban nghiên cứu về hiệu ứng tâm lý trong sự kiện chữa bệnh và nói tiếng lạ của các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần.

Nếu nhìn một cách khách quan thì có thể nói Ân Tứ với Ngũ Tuần chỉ là một. Ngũ Tuần như là gốc và thân chính của một cây với vài nhánh lớn, Ân Tứ như là những nhánh nhỏ phát sinh từ những nhánh lớn của Ngũ Tuần. Những hoa, lá, cành nhiều khi che lấp cả thân cây, vì thế, ngày nay thế giới biết nhiều đến Ân Tứ hơn là Ngũ Tuần.

Dấu hiệu đặc trưng của Phong Trào Ân Tứ là sự "đặt tay té ngã" và "nói tiếng lạ." Người Ân Tứ tin rằng, khi một người nhận được báp-tem bằng Thánh Linh thì phải biết "nói tiếng lạ" và khi một người được đầy dẫy Thánh Linh thì bị té ngã mà họ gọi là "bị giết trong Thánh Linh" (slain in the Spirit). Hiện tượng "té ngã" khi được đầy dẫy Thánh Linh là điều không hề được ghi lại trong Thánh Kinh. Tiếng lạ mà những người Ân Tứ và Ngũ Tuần nói không phải là ngôn ngữ có người hiểu được, như Thánh Kinh đã ghi lại trong Công Vụ Các Sứ Đồ chương hai, mà là một thứ âm thanh không có cấu trúc của ngôn ngữ và cũng không có ai hiểu.

Từ ngữ "nói các thứ tiếng khác" trong Công Vụ Các Sứ Đồ 2:4 được dịch sang tiếng Anh là “speak in other tongues.” Trong nguyên tác tiếng Hy-lạp (Greek) của Thánh Kinh là:

  • λαλειν, G2980, phiên âm quốc tế /laleō/, phiên âm tiếng Việt [la-lé-ồ], có nghĩa là: phát âm, nói.
  • ετεραις, G2087, phiên âm quốc tế /heteros/, phiên âm tiếng Việt [hé-tơ-ro-s], có nghĩa là: khác.
  • γλωσσαις,G1100, phiên âm quốc tế /glōssa/, phiên âm tiếng Việt [g-lố-xà], có nghĩa là: các ngôn ngữ.

Thánh Kinh không bao giờ nói đến một thứ “tiếng lạ.” Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống đã dịch không chuẩn khi dịch γλωσσαις(các ngôn ngữ) thành “tiếng lạ.”

Lược sử các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần

Các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần dấy lên trong lịch sử của Hội Thánh kể từ ngày đầu tiên của thế kỷ 20 và kéo dài cho đến nay đã tạo ra nhiều ảnh hưởng sâu đậm cả bên trong lẫn bên ngoài Hội Thánh. Sự tìm hiểu về các phong trào này thường khiến cho người ta đối diện với hai vấn đề:

1. Lẫn lộn giữa Phong Trào Ân Tứ và Phong Trào Ngũ Tuần.

2. Lẫn lộn giữa Phong Trào Ân Tứ, Phong Trào Ngũ Tuần, và các giáo phái Tin Lành truyền thống.

Để giảm thiểu những khó khăn dẫn đến sự rối trí trong khi theo dõi bài này, độc giả cần ghi nhớ các điểm quan trọng sau đây:

  • Danh từ Phong Trào Ngũ Tuần được dùng để gọi sự kiện "nói tiếng lạ" xuất hiện trong một cộng đồng Cơ-đốc nhân thuộc Giáo Hội Tin Lành, làm phát sinh ra một giáo phái mới trong Giáo Hội Tin Lành gọi là Giáo Phái Ngũ Tuần. Giáo Phái Ngũ Tuần theo thời gian phân nhánh ra thành nhiều tiểu giáo phái. Có thể ví Phong Trào Ngũ Tuần như một trong những cây con nảy ra từ gốc của cây mẹ (Giáo Hội Tin Lành), sau đó, từ gốc của cây con đó lại nảy ra nhiều cây con khác nữa.
  • Danh từ Phong Trào Ân Tứ được dùng để gọi sự kiện “đặt tay té ngã” và "nói tiếng lạ" xuất hiện trong tất cả các giáo hội và giáo phái của Cơ-đốc Giáo. Phong trào này thoạt đầu không tách rời khỏi các giáo phái như Phong Trào Ngũ Tuần, nhưng khi đã phát triển mạnh mẽ thì tự hình thành các giáo phái. Phong Trào Ân Tứ ví như những trái cây phát sinh ra trên khắp các nhánh của một thân cây (Cơ-đốc Giáo, bao gồm các giáo hội Chính Thống Giáo, Anh Giáo, Công Giáo, Tin Lành…) khi chín mùi thì rụng xuống và mọc lên thành những cây mới.
  • Danh từ Phong Trào Dấu Lạ được dùng để gọi sự kiện những dấu kỳ, phép lạ xuất hiện trong tất cả các giáo hội và giáo phái của Cơ-đốc Giáo mà không nhất thiết phải có hiện tượng “té ngã” và “nói tiếng lạ” kèm theo. Trên một phương diện, Phong Trào Dấu Lạ cũng chính là một Phong Trào Ân Tứ nhưng không chủ trương đề cao việc “đặt tay té ngã” và “nói tiếng lạ” cho bằng việc đề cao dấu kỳ, phép lạ xuất hiện trong khi giảng đạo.
  • Danh từ "trường phái" nói đến những khuynh hướng khác nhau trong cùng một phong trào. Thí dụ: Phong Trào Ngũ Tuần có mẫu số chung là "nói tiếng lạ" và tin rằng hiện tượng "nói tiếng lạ" là dấu hiệu của một người được báp-tem bằng Thánh Linh. Tuy nhiên, có ba khuynh hướng khác nhau về ý nghĩa của hiện tượng "nói tiếng lạ," khiến cho phân chia thành ba trường phái khác nhau. Có thể nói, phong trào là gốc cây chính, trường phái là các cây khác nảy ra từ gốc cây chính.
  • Danh từ "làn sóng" do Phong Trào Dấu Lạ đặt ra để tự phân biệt với các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần. Theo họ, từ đầu thế kỷ 20 đến nay, Đức Thánh Linh đã ba lần phục hưng Hội Thánh mà họ gọi là "những làn sóng phục hưng" (the revival waves). Họ xem Phong Trào Ngũ Tuần là làn sóng thứ nhất, Phong Trào Ân Tứ là làn sóng thứ hai, và họ là làn sóng thứ ba.

Nhìn theo quan điểm của những người Ân Tứ và Ngũ Tuần Tin Lành thì Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần được phân biệt như sau:

1. Làn sóng thứ nhất:Phong Trào Ngũ Tuần (The Pentecostal Movement) khởi động bởi Charles Fox Parham tại Topeka, Kansas, USA vào năm 1901 và phát triển bởi William Joseph Seymour tại Los Angeles, California, USA vào năm 1906.

2. Làn sóng thứ nhì:Phong Trào Ân Tứ (The Charismatic Movement) còn được gọi là Phong Trào Ân Tứ Phục Hưng (Charismatic Renewal Movement) khởi động bởi Dennis Bennett tại Van Nuys, California, USA vào năm 1960.

3. Làn sóng thứ ba:Phong Trào Dấu Lạ (The Signs and Wonders Movement) khởi động bởi John Wimber từ Trường Thần Học Fuller (Fuller Theological Seminary) tại Pasadena, California, USA vào năm 1981.

Nhìn khách quan về lịch sử của Cơ-đốc Giáo thì Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần phải được chia ra làm bốn làn sóng, bao gồm Phong Trào Công Giáo Ân Tứ Phục Hưng (The Catholic Charismatic Renewal Movement) khởi động giữa các sinh viên và nhân sự của Trường Đại Học DuQuesne tại Pittsburgh, Pennsylvania, USA vào năm 1967.

Phong Trào Ngũ Tuần (The Pentecostal Movement)

Còn được gọi là Phong Trào Ngũ Tuần Cổ Điển (The Classical Pentecostal Movement). Ngũ Tuần (Pentecostalism) phát xuất từ Giáo Hội Tin Lành như một phong trào nhấn mạnh đến kinh nghiệm cá nhân của một người với Đức Chúa Trời thông qua cái gọi là "báp-tem bằng Thánh Linh" (the baptism of the Holy Spirit). Có ba trường phái Ngũ Tuần chính:

Trường phái thứ nhất chiếm đa số, có tín lý tương tự như các giáo phái trong Giáo Hội Tin Lành, như tín lý về Thiên Chúa Ba Ngôi, tín lý về sự cứu rỗi, tín lý về thẩm quyền của Thánh Kinh. Điều khác biệt là họ tin rằng "nói tiếng lạ" là dấu hiệu phải có của một người đã được báp-tem bằng Thánh Linh. Hai trường phái còn lại (một làm lễ báp-tem chỉ trong danh của Đức Chúa Jesus Christ, một làm lễ báp-tem trong danh của Ba Ngôi Thiên Chúa) dùng Công Vụ Các Sứ Đồ 2:38 làm nền tảng cho tín lý: Một người cần phải ăn năn tội, nhận báp-tem trong danh Đức Chúa Jesus Christ, rồi nhận lãnh Đức Thánh Linh. Nhận lãnh Đức Thánh Linh là điều cần thiết cho sự cứu rỗi và (theo hai trường phái này) có nghĩa là phải biết "nói tiếng lạ." Như vậy, theo họ, nếu một người tin Chúa mà không biết "nói tiếng lạ" là chưa được báp-tem bằng Thánh Linh và có nghĩa là chưa được cứu rỗi. Hai trường phái này chia ra thành các giáo phái: "Jesus Name," "First," "United," và "Oneness." Từ trong bốn giáo phái chính này lại phát sinh ra nhiều tiểu giáo phái khác nữa.

Phong trào Ngũ Tuần phát sinh với George Fox (1624-1691, England), một tín đồ thuộc Giáo Phái Giám Lý (Methodist) và thành viên của phong trào Thánh Khiết (Holliness Movement), là một phong trào cũng bắt nguồn từ Giám Lý. Vào năm 19 tuổi, George Fox ly khai giáo hội vì không chịu nỗi sự hâm hẫm của nó. Chàng thanh niên trẻ khao khát một đời sống thuộc linh phong phú và nóng cháy. Tuy nhiên, thay vì dựa trên nền tảng muôn đời là Lời Chúa để sống đạo, chàng đã dựa trên cảm giác và kinh nghiệm. Chàng nghe một giọng nói phán với chàng, như sau: "Không phải Lời Thánh Kinh bên ngoài, không phải sự giảng dạy của giáo hội, không phải Đấng Christ bên ngoài có thể hướng dẫn con, nhưng là ánh sáng bên trong, là Đấng Christ nội tại." (Not the outward Word of Scripture, not the teaching of the church, not the outward Christ can lead you, but only the inner light, the inward Christ.)

Fox trở thành người sáng lập nhóm Con Cái của Sự Sáng (Children of Light) còn gọi là Xã Đoàn Thân Hữu (Society of Friends). Về sau, các đối thủ của ông gọi nhóm của ông là Quakers. (Quake = rung động, quakers = những người hay vật bị rung động. Có lẽ các đối thủ của Fox muốn chế nhạo sự kiện run rẩy trong khi xuất thần của những người thuộc nhóm ông. Tại Việt Nam, Quaker được gọi là Giáo Phái Anh Em). Danh xưng Quaker không bao giờ được Fox và những người theo ông chấp nhận nhưng vẫn được những người ngoài nhóm của ông sử dụng và vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Dù trong thuở ban đầu phái Quaker bị bách hại tàn bạo tại Anh nhưng đã phát triển đi khắp nơi, mạnh mẽ nhất là tại Hoa Kỳ và Đông Phi Châu. Điểm quan trọng cần chú ý trong quan điểm cực đoan của phái Quaker ngay từ nguyên thỉ, là: Họ xem ánh sáng nội tại (tâm thức, sự hiểu biết đến từ bên trong) và tiếng phán từ trên cao quan trọng hơn là Lời của Chúa trong Thánh Kinh. (Đối với Phong Trào Ân Tứ sau này thì dấu kỳ và phép lạ quan trọng hơn là Thánh Kinh). Điều đó là cánh cửa mở rộng cho đủ mọi thứ tà giáo xâm nhập. Ngay từ buổi sơ khai của phái Quaker đã có hiện tượng "nói tiếng lạ" xuất hiện trong nhiều nhóm.

Vào những năm 1800, phái Irvinggian được thành lập bởi Edward Irving (1792-1834), vốn là một pastor thuộc Giáo Hội Trưởng Lão (Presbyterian), với danh xưng là Giáo Hội Công Giáo Sứ Đồ (Catholic Apostolic Church) xứ Scotland. Phái này thực hành, giảng dạy sự "nói tiếng lạ" cùng những hình thức xuất thần và các hiện tượng chữa bệnh, khải tượng, nói tiên tri… nên thu hút rất đông tín đồ từ các giáo hội truyền thống vốn đã quá khô cạn sự sống thuộc linh vì sự tắc trách của những người chăn bầy. Phái Irvingian phát triển nhanh chóng sang Anh, Hòa Lan, Hoa Kỳ, và đặc biệt là Đức, với trung tâm chính tại Augsburg, và nơi có đông tín đồ nhất là Stuttgart.

Giữa những phong trào xuất thần có phái Mormon, còn được biết dưới danh xưng Latter Day Saints, do Joseph Smith (1805-1844) thành lập. Người Mormon cũng được biết đến qua những hiện tượng về khải tượng, mạc khải, "nói tiếng lạ," và chữa bệnh. Smith xưng rằng, ông nhận được khải tượng đến từ thiên sứ Moroni. Theo Smith, thiên sứ Moroni đã cho ông thấy những tấm bảng bằng vàng trên có viết chữ tại Mount Cumorah và ông đã nhận lãnh những bảng này vào năm 1827. Đối với những người Mormon, những chữ viết trên các tấm bảng vàng này có cùng một thẩm quyền như Thánh Kinh. Smith còn tuyên bố ông đã được phong chức tế lễ theo dòng A-rôn bởi Giăng Báp-tít. Về sau, ông tuyên bố rằng: các Sứ Đồ Phi-e-rơ, Gia-cơ, và Giăng đã phong chức tế lễ cho ông theo dòng Mên-chi-xê-đéc. Smith bị giết vào năm 1844.

Ngay cả vùng cực Bắc của Liên Xô cũ cũng có hiện tượng "nói tiếng lạ" trong một làng nhỏ tên là Kara Kala của dân tộc Armenian, vốn theo Chính Thống Giáo Nga. Vì bị giáo hội khủng bố, cho nên, vào năm 1900, những người Armenian "nói tiếng lạ" này lánh nạn sang Hoa Kỳ và định cư tại Los Angeles. Vài năm sau, nhóm này kết hợp với một nhóm "nói tiếng lạ" khác tại Azusa Street, Los Angeles.

Tại Hoa Kỳ, mặc dù hiện tượng "nói tiếng lạ" (không phải là một ngôn ngữ) đã xảy ra từ trước, nhưng đến năm 1901 mới thành phong trào dấy lên khi ân tứ “nói ngoại ngữ” phát sinh từ Trường Thánh Kinh Bethel ở Thủ Đô TopeKa của Tiểu Bang Kansas, do Charles Fox Parham (1873-1929) dẫn đầu. Parham xuất thân từ Giáo Phái Giám Lý (Methodist), là một người sốt sắng trong sự kêu gọi người theo Chúa phải sống thánh khiết. Ông phản đối lối tổ chức giáo quyền hàng dọc của Giám Lý, ly khai giáo hội này, tự lập ra một mục vụ riêng, độc lập với các giáo phái và thành lập Trường Thánh Kinh Bethel.

Vào đêm tất niên năm 1900, Parham đang giảng cho các sinh viên tại Trường Thánh Kinh Bethel, một nữ sinh viên tên là Agnes Ozman, đã dạn dĩ đứng lên yêu cầu ông đặt tay trên cô và cầu nguyện xin Chúa đổ Thánh Linh xuống trên cô. Parham đáp ứng lời yêu cầu này và lập tức Ozman bắt đầu nói tiếng Trung Hoa. Vài ngày sau, chính Parham cũng nói được một ngoại ngữ mà ông chưa hề biết. Rồi sau đó là các sinh viên khác. Ngày 1 tháng 1 năm 1901, ngày đầu tiên của thế kỷ 20, Parham thành lập Phong Trào Đức Tin Sứ Đồ (Apostolic Faith) và bắt đầu đi khắp nơi rao giảng về sự thánh khiết, sự chữa lành thiên thượng, sự chữa lành bởi đức tin, sự đặt tay cầu nguyện, sự thánh hóa bởi đức tin, và tuyên bố "speak in tongues" (nói ngoại ngữ) là dấu hiệu của sự được báp-tem bằng Thánh Linh và bằng lửa (?) [1]. Đến cuối năm 1901, hiện tượng "speak in tongues" trong Phong Trào Đức Tin Sứ Đồ được báo chí đưa tin, bàn thảo sôi nổi, xem như là dấu hiệu của Lễ Ngũ Tuần lần thứ hai. Điểm cần ghi nhớ: Đây là sự kiện các tín đồ bỗng nhiên nói thông thạo một ngoại ngữ, không phải là sự lấp ba lấp bấp một tràng âm thanh vô nghĩa như những người “nói tiếng lạ” ngày nay.

Năm 1905, Parham mở một Trường Thánh Kinh tại Houston, Texas và một người da đen tên là William Joseph Seymour được đào tạo tại đó. Trong suốt thời gian ở tại Houston, Seymour không biết "speak in tongues." Tháng 2 năm 1906, Seymour được mời giảng tại Los Angeles về đề tài "Phép Báp-tem Bằng Thánh Linh." Buổi giảng đầu của ông gây nên nhiều xáo trộn, là vì ông tuyên bố "speak in tongues" là dấu hiệu của sự đã được báp-tem bằng Thánh Linh, trong khi ông lại không biết "speak in tongues." Đến tháng 4 năm đó, một người nghe ông giảng tên là Edward Lee bỗng nhiên phát ra những tràng âm thanh vô nghĩa và sau đó vài ngày đến lượt Seymour. Họ xem như đó là ân tứ “speak in tongues” mặc dầu đó chỉ là những tràng âm thanh vô nghĩa.

Tháng 5 năm 1906, Seymour trở thành lãnh tụ của Phong Trào "Azusa Street Revival," một phong trào không phân biệt giáo phái, chủng tộc, hoặc giới tính. Thuở ấy, mỗi ngày từ 10 giờ sáng cho đến khoảng hai, ba giờ sáng hôm sau, vô số người từ các nơi kéo về tụ hội ca hát, la hét lớn tiếng, nhảy múa, co giật như bị động kinh, té xuống ngất đi, kêu khóc, tru, rống như thú vật, và "nói tiếng lạ." Các giới lãnh đạo tôn giáo vùng Los Angeles và những nơi khác lập tức lên tiếng phủ nhận hiện tượng đang xảy ra tại Black Holiness Church, 312 Azusa Street, Los Angeles. Họ không công nhận đó là công việc của Đức Thánh Linh, khuyến cáo các tín hữu của họ, rằng phong trào này chạy theo cảm xúc, thông linh, và có Sa-tan tính.

Vào tháng 10 năm 1906, khi Parham đến thăm Seymour và giảng tại Azusa Street, cũng đã sững sốt khi nhìn thấy các hiện tượng xảy ra tại đó. Theo Parham, những hiện tượng đó đến từ xác thịt, hoặc Ma Quỷ. Parham không công nhận phong trào "Azusa Street Revival." Parham đã phát biểu về phong trào này như sau: "God is sick at His stomach!" (Tạm dịch: Đức Chúa Trời đang buồn nôn!) Sau đó, Parham và Seymour đã chia tay nhau và không bao giờ kết hợp trở lại.

Tại đây, chúng ta cần chú ý đến chi tiết quan trọng này: Trong khi Parham và các sinh viên của ông được ơn nói lưu loát các ngoại ngữ mà trước đó họ không hề biết ,thì Seymour và những người theo ông chỉ phát ra những tràng âm thanh vô nghĩa, và có những biểu hiện cười, la, khóc, hú, vật vã thân hình không tự kiểm soát được như những người bị tà linh xâm nhập.

Phong trào "Azusa Street Revival" lắng xuống vào năm 1909 nhưng vẫn còn âm ỉ cho đến năm 1915. Từ phong trào này phát sinh ra nhiều giáo phái Ngũ Tuần khắp nơi trên thế giới. Người từ các nơi khác đến Los Angeles thăm viếng, khi trở về quê hương của họ đã mang theo các tín lý mới của Ngũ Tuần, gieo rắc trong cộng đồng của họ.

Phong Trào Ân Tứ (The Charismatic Movement)

Còn được gọi là Phong Trào Tân Ngũ Tuần (The Neo-Pentecostal Movement). Từ Phong Trào Ngũ Tuần phát sinh ra Phong Trào Ân Tứ. Phong Trào Ân Tứ nhấn mạnh đến các ân tứ của Đức Thánh Linh như: nói ngoại ngữ (nhưng đã bị hiểu lầm thành “nói tiếng lạ” – xin độc giả ghi nhớ, “nói tiếng lạ” tức là phát ra những âm thanh vô nghĩa), nói tiên tri, nói lời khôn ngoan, nói lời thông biết, chữa bệnh, đuổi quỷ, làm phép lạ… (I Cô-rinh-tô 12:8-10). Phong Trào Ân Tứ ảnh hưởng đến Hội Thánh mạnh mẽ hơn Phong Trào Ngũ Tuần. Ban đầu, Phong Trào Ân Tứ không chủ trương cho các thành viên tách rời khỏi các giáo hội, giáo phái như Phong Trào Ngũ Tuần, nhưng chủ trương cho các thành viên ở lại để Ân Tứ hóa toàn bộ giáo hội và giáo phái mà họ đang sinh hoạt với. Chỉ khi nào bị chính các giáo hội hay giáo phái khai trừ thì các thành viên của Phong Trào Ân Tứ mới đi ra lập thành nhóm khác. Về sau, với sự lớn mạnh của phong trào, các nhà lãnh đạo Ân Tứ muốn độc lập điều hành ngân quỹ do các thành viên đóng góp, cho nên, đã lập ra các giáo phái riêng.

Vào năm 1960, Dennis Bennett, linh mục của Saint Mark's Episcopal Church tại Van Nuys, California (thuộc Giáo Phái American Episcopal – Giám Nhiệm Hoa Kỳ) tuyên bố với hội chúng, rằng ông ta đã được báp-tem bằng Thánh Linh. Sau đó, Bennett dẫn thêm 100 tín hữu đến với kinh nghiệm nhận "báp-tem bằng Thánh Linh" và biết "nói tiếng lạ." Hiện tượng "nói tiếng lạ" bùng nổ tại Saint Mark's Episcopal Church khiến cho các tạp chí Times và Newsweek thời bấy giờ làm phóng sự đưa lên bìa báo (cover story). Giáo Phái Giám Nhiệm Hoa Kỳ không công nhận hiện tượng đó đến từ Đức Thánh Linh nên đã bãi nhiệm Bennett. Ông đến Vancouver, Canada thiết lập nhiều lớp huấn luyện, dạy về công vụ của Đức Thánh Linh, gây ảnh hưởng sâu đậm đến tín đồ Anh Giáo khắp nơi trên thế giới, và dẫn đến những cuộc gọi là "phục hưng" trong các hội chúng Giám Nhiệm, Anh Giáo, Lutheran, Công Giáo và Chính Thống Giáo. Đến tháng 10 năm 1962 Phong Trào Tân Ngũ Tuần xâm nhập vào các trường đại học tại Mỹ, sau đó lan vào trong các trường thần học. Chính Phong Trào Tân Ngũ Tuần đi vào Giáo Hội Công Giáo làm phát sinh ra Phong Trào Công Giáo Ân Tứ Phục Hưng. Tính đến năm 1990, phong trào này bao gồm trên 55 triệu tín đồ thuộc các giáo phái trong Giáo Hội Tin Lành.

Phong Trào Lời Đức Tin (Word of Faith Movement) được xem như sự nối dài của Phong Trào Ân Tứ. Ngoài những đặc điểm chung với Phong Trào Ân Tứ, Phong Trào Lời Đức Tin nhấn mạnh đến "quyền năng của đức tin." Những người thuộc phong trào này tin rằng họ có thể dùng lời nói để điều động "quyền năng của đức tin," và như vậy, họ có thể tạo ra những gì mà họ tin rằng Thánh Kinh đã hứa, như: sức khoẻ, sự giàu có… Theo họ, những định luật chi phối "quyền năng của đức tin" vận hành độc lập với ý chỉ siêu việt của Đức Chúa Trời và chính Đức Chúa Trời cũng bị chi phối bởi những định luật này (?) Ngoài ra, Phong Trào Lời Đức Tin còn đưa ra những tín lý như: Mỗi tín nhân là một Đức Chúa Trời Con vì Đức Chúa Trời dựng nên loài người cùng bản thể với Ngài. Tín đồ Đấng Christ phải được khoẻ mạnh và giàu có. Tín đồ Đấng Christ phải luôn có những lời tuyên xưng tích cực (positive confession). Vì Đức Chúa Trời đã dùng lời nói để sáng tạo nên tín nhân cũng có thể dùng những lời nói tích cực để thu đạt những kết quả tích cực. Đấng Christ chết phần thể xác, nhưng cũng chết phần tâm thần trong địa ngục, chịu Ma Quỷ hành hạ, và tâm thần của Ngài đã được tái sinh trong địa ngục…

Sáng lập viên và hiệu trưởng của trường Rhema Bible College tại Tulsa, Oklahoma, USA là Kenneth Hagin (1917-2003), được xem là bố già (Papa Hagin) của Phong Trào Lời Đức Tin. Những giáo sư nổi tiếng khác của phong trào này là: Benny Hinn, Bishop Eddie L. Long, Clarence McClendon, Creflo Dollar, Ed Young, Fred Price, Jesse Duplantis, John Bevere, Joel Osteen, Joyce Meyer, Juanita Bynum, Karl Strader, Kenneth Copeland, Kim Clement, Larry Huch, Marilyn Hickey, Markus Bishop, Mike Murdock, Morris Cerullo, Myles Munroe, Oral Roberts, Paul Crouch, Paula White, Peter Popoff, R.W. Shambach, Robert Schuller, Rod Parsley, Rodney Howard-Browne, Robert Tilton, Steve Munsey, T.D. Jakes…

Phong Trào Công Giáo Ân Tứ Phục Hưng (The Catholic Charismatic Renewal Movement)

Tháng 2 năm 1967, một số nhân viên và nhiều sinh viên của một trường đại học tư, Duquesne University, thuộc Giáo Hội Công Giáo tại Pittsburgh, Pennsylvania, USA trải qua một kinh nghiệm mà họ gọi là "được báp-tem bằng Thánh Linh." Những điều họ kinh nghiệm, là: "nói tiếng lạ," "thánh tiếu" (tiếng cười thánh – Holy laughter), xuất thần, khóc, la, gào, hú, tru như chó… không thể tự kềm chế. Liền sau đó, những hiện tượng này lan tràn sang một trường đại học tư khác, cũng thuộc Giáo Hội Công Giáo, University of Notre Dame, tại Indiana, USA. Notre Dame có nghĩa là "Đức Bà của chúng ta," (chỉ về bà Ma-ri). Đến năm 2003, Phong Trào Công Giáo Ân Tứ Phục Hưng lan rộng đến trên 230 quốc gia và bao gồm trên 119 triệu tín đồ Công Giáo.

Các Giáo Hoàng: Paul VI (nắm quyền: 1963-1978), John Paul II (nắm quyền: 1978-2005), và Benedict XVI (nắm quyền: 2005 – đến nay) đều chấp nhận Phong Trào Công Giáo Ân Tứ Phục Hưng. Giáo Hoàng John Paul II cho rằng, phong trào này thuộc vào sự phục hưng của toàn Giáo Hội Công Giáo. Giáo Hoàng Paul và Benedict khuyến cáo các thành viên của phong trào phải giữ gìn sự thông công giữa họ và Giáo Hội Công Giáo.

Tháng 3 năm 1992, Giáo Hoàng John Paul II đã phát biểu như sau: "Trong khoảnh khắc này của lịch sử giáo hội, sự Phục Hưng Ân Tứ có thể đóng một vai trò thiết yếu trong sự cổ vũ tính tự vệ rất cần thiết cho cuộc sống của người tín đồ Đấng Christ trong những xã hội mà thế tục và vật chất đã làm suy yếu khả năng đáp ứng Đức Thánh Linh và nhận thức tiếng gọi từ Đức Chúa Trời của nhiều người. Sự cống hiến của quý vị vào công cuộc tái phúc âm hóa xã hội sẽ được thực hiện trước hết qua lời chứng cá nhân về sự Đức Thánh Linh ngự trị bên trong và sự chiếu ra sự hiện diện của Ngài qua các công tác thánh khiết và hiệp một."

("At this moment in the Church's history, the Charismatic Renewal can play a significant role in promoting the much-needed defense of Christian life in societies where secularism and materialism have weakened many people's ability to respond to the Spirit and to discern God's loving call. Your contribution to the re-evangelization of society will be made in the first place by personal witness to the indwelling Spirit and by showing forth His presence through works of holiness and solidarity." – Address of Pope John Paul II to the ICCRO Council – March 14, 1992.)

Phần lớn người Công Giáo Ân Tứ tin rằng Phong Trào Công Giáo Ân Tứ Phục Hưng được phát sinh bởi lời cầu nguyện của Giáo Hoàng John XXIII trong Công Đồng Vatican II: "Lạy Đức Thánh Linh… xin tuôn tràn sự đầy dẫy các ân tứ của Ngài… Xin làm mới lại những sự lạ lùng của Ngài trong thời đại này như là một Lễ Ngũ Tuần mới." ("O Holy Spirit… pour forth the fullness of your gifts… Renew your wonders in this day as by a new Pentecost").

Điều đáng chú ý là Phong Trào Công Giáo Ân Tứ Phục Hưng không loại bỏ sự thờ lạy hình tượng của bà Ma-ri, sự lần chuỗi hạt Mân-côi, sự cầu nguyện với bà Ma-ri… cùng nhiều giáo lý phản Thánh Kinh khác của Giáo Hội Công Giáo. Nhiều nhóm Ân Tứ Công Giáo nhận được sự xuất thần và sự "nói tiếng lạ" trong khi kêu cầu bà Ma-ri (!)

Phong Trào Dấu Lạ (The Signs and Wonders Movement)

Phong Trào Dấu Lạ (The Signs and Wonders Movement) hoặc "Làn Sóng Thánh Linh Thứ Ba" (The Third Wave of the Holy Spirit) bắt đầu vào đầu thập niên 1980 và vẫn còn kéo dài cho đến ngày nay. Các phong trào như: Vineyard Christian Fellowship, Global Harvest, Toronto Blessing, Eternal Grace là biến dạng của Phong Trào Dấu Lạ. Những người thuộc Phong Trào Dấu Lạ không chấp nhận họ thuộc về Ngũ Tuần hoặc Ân Tứ.

Điểm khác biệt nổi bật của Phong Trào Dấu Lạ đối với Ân Tứ và Ngũ Tuần là Phong Trào Dấu Lạ có khuynh hướng không nhấn mạnh đến sự kiện "nói tiếng lạ" như là bằng chứng của một người đã được báp-tem bằng Thánh Linh. Nhiều nhà lãnh đạo trong phong trào này không hề có kinh nghiệm "nói tiếng lạ," trái lại, họ quan tâm đến khía cạnh dấu kỳ, phép lạ, các sự hiện thấy, sự nói tiên tri, cùng cái gọi là "lời nói thông biết" (the word of knowledge – được tận dụng trong chương trình truyền hình 700 Club của Pat Robertson trong sự tuyên bố các chi tiết về sự chữa lành xảy ra cho một số khán thính giả đang ngồi tại nhà riêng, xem chương trình 700 Club qua máy truyền hình). Phong Trào Dấu Lạ chấp nhận cả hai quan điểm về sự được báp-tem bằng Thánh Linh:

1. Một người được tái sinh và được báp-tem bằng Thánh Linh khi thật lòng ăn năn tội và tin nhận Đấng Christ, (quan điểm của Tin Lành truyền thống). Những người thuộc Giáo Phái Vineyard Christian Fellowship bảo vệ tích cực quan điểm này.

2. Một người được báp-tem bằng Thánh Linh nếu tìm cầu điều này sau khi tin nhận Chúa, (quan điểm của Ân Tứ và Ngũ Tuần). Báp-tem bằng Thánh Linh không liên quan đến sự cứu rỗi mà chỉ liên quan đến năng lực sống đạo và giảng đạo.

Peter Wagner (Global Havest Ministry) và John Wimber (Vineyard Christian Fellowship) được xem là những nhân vật tiên phong của Phong Trào Dấu Lạ. Vào năm 1977, Carol, vợ của Wimber, vốn xuất thân từ Công Giáo, nằm chiêm bao thấy mình được đầy dẫy Thánh Linh và khi bà thức dậy thì biết "nói tiếng lạ." Mười tháng sau, Wimber kinh nghiệm được một sự chữa lành trong chính thân thể của ông và bắt đầu tin rằng việc chữa bệnh, đuổi quỷ như Đức Chúa Jesus là khả thi. Nhờ quen biết với Peter Wagner, một giảng sư tại Fuller Theological Seminary School of World Missions mà Wimber được mời cùng dạy lớp "Dấu Lạ" (Signs and Wonders) tại Fuller Seminary với Wagner. Lớp học này dạy về sự chữa lành thiên thượng và trở thành lớp học nổi tiếng nhất tại Fuller cho đến khi bị đình chỉ vào năm 1985, vì các viên chức trong trường có những thắc mắc về tính thần học và kinh viện của môn học.

Bên cạnh hiện tượng "bị giết trong Thánh Linh" như trong các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần, có ba hiện tượng nổi bật trong Phong Trào Dấu Lạ được cho là sự thể hiện của Đức Thánh Linh, là: Tiếng Cười Thánh (The Holy Laughter – sự vui mừng khi được đầy dẫy Thánh Linh khiến một người trở thành "say Thánh Linh," không kềm hãm được tiếng cười biểu lộ niềm vui), Tiếng Gầm Tiên Tri (The Prophetic Roar – tiếng rống lớn phát ra từ cổ họng của những người được đầy dẫy Thánh Linh, được cho là dấu hiệu Đức Chúa Trời thông báo sự kiện Ngài bắt đầu chiếm lại quyền tể trị thế giới này từ Satan), và Âm Thanh Của Thú Vật (The Animal Noises – sự tru, hú, gầm gừ như các loài thú, kể cả cục tác như gà, rống như heo, và tru như chó… chưa được những người Ân Tứ định nghĩa) [2]. Gần đây, Wimber đã yêu cầu các hội chúng thuộc giáo phái Vineyard Christian Fellowship do ông sáng lập ngưng chấp nhận hiện tượng Tiếng Cười Thánh.

Các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần trong Hội Thánh Việt Nam

Tin Lành đến Việt Nam vào năm 1911 do các giáo sĩ của Hội Truyền Giáo Phúc Âm Liên Hiệp. Vào giữa thập niên 1960, các Giáo Phái Ngũ Tuần, và Giáo Phái Anh Em (Quaker) đem theo hiện tượng "nói tiếng lạ," theo chân những người lính viễn chinh Hoa Kỳ đến Việt Nam, và tạo ra vài nhóm nhỏ tại Saigon nhưng không gây ảnh hưởng nhiều đến Hội Thánh Việt Nam. Phong Trào Ân Tứ đến Việt Nam vào cuối thập niên 1960 và bắt đầu trong Giáo Hội Công Giáo trước, qua Phong Trào Công Giáo Về Nguồn (do những người Công Giáo chủ trương quay lại với lời Chúa, là Thánh Kinh, khởi xướng). Chính hiện tượng "nói tiếng lạ" trong Phong Trào Công Giáo Về Nguồn gây nhiều chú ý đến các mục sư và tín đồ thuộc Hội Thánh Tin Lành Việt Nam. Có một số sinh viên Tin Lành đã tham dự sinh hoạt với Phong Trào Công Giáo Về Nguồn và nhận được sự "nói tiếng lạ." Nhiều sinh viên Tin Lành khác bắt đầu nghiên cứu về các Giáo Phái Ngũ Tuần. Điều đáng nói là thuở ấy tài liệu biện giáo thì ít, hầu như là không có, trong khi các tài liệu cổ võ về Phong Trào Ngũ Tuần thì tràn ngập, cho nên, các sinh viên chỉ học biết một chiều về những điểm tích cực của Ngũ Tuần. Hội Thánh Việt Nam, vào thời đoạn đó, phần lớn là tín đồ thuộc Giáo Phái Phúc Âm Liên Hiệp (với danh xưng chính thức là: Hội Thánh Tin Lành Việt Nam) đã tích cực chống đối các hiện tượng “đặt tay té ngã” và "nói tiếng lạ." Ít lâu sau, một vài mục sư và tín đồ thuộc Hội Thánh Tin Lành Việt Nam nhận được sự "nói tiếng lạ" trong khi nhóm họp với các nhóm Công Giáo Về Nguồn, hoặc trong khi nhóm họp với các nhóm Anh Em (Quaker). Sau đó, một vài mục sư đã ly khai Hội Thánh Tin Lành Việt Nam, sáng lập các giáo phái Ngũ Tuần Việt Nam.

Năm 1972, tại Việt Nam có sự phục hưng phát sinh từ Thánh Kinh Thần Học Viện tại Nha Trang. Trong cuộc phục hưng đó, không có sự kiện té ngã, không có sự kiện "nói tiếng lạ" nhưng có sự tan vỡ cõi lòng, khóc lóc, ăn năn, xưng tội tập thể, đốt bỏ bùa chú, hình tượng, mọi người làm hòa với nhau, có sự chữa lành bệnh tật tức thì (không phải lành bệnh từ từ), có sự đuổi quỷ, có sự người chết được sống lại… nghĩa là có đầy đủ dấu hiệu Hội Thánh được đầy dẫy Thánh Linh như đã được ghi chép trong Thánh Kinh. (Xin xem "Phép Lạ Rừng Xanh," Bà Phạm Văn Năm; "Việc của Đức Giê-hô-va," Pastor Trương Văn Tốt; "Công Cuộc Truyền Giáo Tin Lành," Pastor Phạm Xuân Tín). Trước khi Hội Thánh Việt Nam bị Phong Trào Ân Tứ xâm nhập và bị cường quyền đàn áp thì Đức Chúa Trời đã thương xót, cho Hội Thánh được nếm trải sự tuôn tràn Thánh Linh, để dựa vào đó mà phân biệt với hiện tượng “nói tiếng lạ” đến từ tà linh.

Sau năm 1975, Phong Trào Ân Tứ bắt đầu lan tràn khắp Miền Nam Việt Nam trong các nhóm Tư Gia, (những nhóm nhỏ nhóm họp thờ phượng Chúa tại nhà riêng để tránh sự đàn áp của chính quyền), và phát triển mạnh mẽ vào cuối thập niên 1990 nhờ các tài liệu về Ân Tứ được dịch ra Việt Ngữ và phổ biến trong các nhóm Tư Gia; đồng thời, có nhiều giáo sĩ Ân Tứ người Việt cũng như người ngoại quốc, từ nước ngoài âm thầm xâm nhập Việt Nam qua hình thức thăm quê hương và du lịch để quảng bá cho Phong Trào Ân Tứ. Trong giai đoạn đó, Hội Thánh Tin Lành Việt Nam một mặt buộc phải hòa hoãn với chính quyền mới để được công nhận tư cách pháp nhân, một mặt các mục sư bị cán bộ và công an tôn giáo theo dõi chặt chẽ, cho nên, sinh hoạt của Hội Thánh dần dần bị giảm thiểu và khô cạn. Trong hoàn cảnh đó, những sứ giả của Ân Tứ và Ngũ Tuần càng nổ lực phát triển mô hình nhóm nhỏ, nhóm tại tư gia và tích cực trong công tác truyền giáo. Có thể nói, số người tuyên xưng đức tin trong Đấng Christ thuộc các Hội Thánh Tư Gia phần lớn là tín đồ mới chứ không phải tín đồ từ Hội Thánh Tin Lành Việt Nam chuyển sang.

Đến cuối thập niên 1990, với sự tiếp sức của các giáo phái Ân Tứ và Ngũ Tuần Nam Hàn, với áp lực của các doanh nhân Nam Hàn trên chính quy

Đọc Tiếp →

Trả Lời Một Số Lý Luận Bảo Vệ Việc Nói Tiếng Lạ

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?mvvinfzpx1twynd

Huỳnh Christian Timothy

Nội Dung Các Lý Luận

Saigon 08.12.2012

Hôm nay, em có gặp một người con cái Chúa, anh này có những đặc điểm là rất giống anh, ở chỗ anh ta không sinh hoạt ở bất kỳ giáo phái nào. Mà chỉ thờ phượng và giảng dạy lời Chúa theo Thánh Kinh, trung thành theo Thánh Kinh và anh cũng bỏ hết việc thế gian mà hầu việc Chúa cách nhiệt thành.

Em có đề cập đến vấn đề nói tiếng lạ ngày nay và ân tứ nói ngoại ngữ đến từ Chúa Thánh Linh. Sau đây là quan điểm hay cách hiểu của anh ấy về vấn đề này. Anh ấy chia sẻ rằng anh ấy là người chống lại vấn đề nói tiếng lạ được trên 20 năm, cho đến khi anh ấy trong một buổi cầu nguyện một mình, đau đớn khi cầu thay cho người bạn tội lỗi, mà nỗi đau đó không diễn tả đầy đủ được, thì đột nhiên âm thanh cầu nguyện của anh không còn là tiếng Việt nữa mà thật sự là bằng tiếng lạ. Sau đó, anh tha thiết xin Chúa Thánh Linh bày tỏ cho anh lẽ thật về vấn đề gây tranh cãi này. Chúa bày tỏ và sau đây là cách anh ấy diễn đạt lại với em. Trước khi đi vào nội dung chính thì anh ấy có nêu một số ý như sau:

  • Ma quỷ luôn gieo sự sợ hãi và nghi ngờ cho những người vận dụng ân tứ : Ví dụ “coi chừng cái này đến từ ma quỷ chứ không phải từ Thánh Linh để vô hiệu hóa hay ngăn cản việc sử dụng ân tứ do Chúa ban cho.”
  • Ma quỷ cũng tạo ra những tranh luận giữa vòng những người có ân tứ để lãng phí thời gian và làm suy yếu đi khả năng liên kết trên đất này của những người con cái Chúa.
  • Satan từng là tổng quản về ngợi khen và thờ phượng trên thiên đàng nên hiểu rất rõ về ân tứ.
  • Ân tứ thay vì là một tiền tố để Cơ Đốc Nhân phối hợp mạnh mẽ thì nay lại là nhân tố gây chia rẻ bậc nhất trong vòng Hội Thánh. Giống như một vị vua cha có 10 hoàng tử, và vua dạy cho mỗi người một thế võ, nhưng bài võ chỉ trọn vẹn khi 10 hoàng tử này biết phối hợp lại với nhau. (Chúa Thánh Linh ban cho ân tứ cho ai là tùy ý Ngài).

Trường hợp 1:Công vụ đoạn 2: Đây là tiếng lạ được hiểu như một ngoại ngữ xác định được với mục đích truyền giảng Tin Lành cho dân tộc khác. Đây phải dịch là tiếng ngoại quốc mới đúng.

Trường hợp 2:là trường hợp bị quở trách của Hội Thánh Cô-rinh-tô: là trường hợp giữa những người được ơn nói với hội chúng đã tin thì bắt buộc phải có sự thông giải. Trường hợp này có thể là tiếng ngoại quốc nhưng cũng có thể là tiếng lạ (tràng âm thanh không hiểu được).

Trường hợp 3:là trường hợp chắc chắn không phải là tiếng của loài người hay dân tộc ngoại quốc, tại sao lại có sự giải thích này là bởi vì: Đây là ngôn ngữ hoàn toàn riêng biệt để tương giao với Chúa trong thế giới linh. Loại tiếng này dùng để gây dựng chính phần linh của cá nhân nói tiếng đó, là một sự bày tỏ “kín nhiệm.”

Phao-lô vừa là người được ân tứ nói nhiều thứ ngoại ngữ và cũng là người được ân tứ nói nhiều “thứ tiếng lạ” này (âm thanh không hiểu được). Ông có sự tương giao với Chúa rất đặc biệt, bằng cớ là Phao-lô không trực tiếp dự Tiệc Thánh lúc Chúa Jesus lập ra, nhưng ông nhận được điều này từ Chúa về nghi thức Tiệc Thánh và viết ra để dạy trong thư Cô-rinh-tô. Ngày hôm nay, những lúc dự Tiệc Thánh thì Hội Thánh luôn đọc đoạn Kinh Thánh do Phao-lô viết dạy dỗ về nghi thức này.( I Cor 11 – Vả, tôi có nhận nơi Chúa…). Ông không hề dự Tiệc Thánh vào lúc Chúa Jesus lập, nhưng ông lại nói là ông nhận nơi Chúa vì ông có sự tương giao đặc biệt bằng linh với Thánh Linh (Nhận trong nơi kín nhiệm khi ông tương giao với Chúa). Vì ông là người nói tiếng lạ nhiều nhất nên ông cũng là người viết Tân Ước nhiều nhất sau khi Chúa Jesus thăng thiên.

Ông cũng nhắc nhở là “cầu nguyện bằng tâm linh nhưng cũng cầu nguyện bằng tâm trí nữa.”

Mục đích ông viết thư Cô-rinh-tô là để Hội Thánh được tổ chức tốt hơn, đặc biệt là trong lĩnh vực sử dụng ân tứ. Ông sắp xếp lại và hướng dẫn Hội Thánh cách vận hành ân tứ.

Tiếng lạ dùng để truyền giảng thì được hiểu là ngoại ngữ (speak other tongues), tiếng lạ dùng để gây dựng chính mình thì được hiểu là cơ quan phát âm (speak a tongue), mà loại âm thanh này không nhất thiết là loại ngôn ngữ thông thường của loài người. Ví dụ:

  • Đứa bé còn bú mẹ, khi nó “nói chuyện” với mẹ nó để xin bú thì nó sẽ không nói là “con muốn bú” mà nó chỉ có thể nói là “măm măm.” Đương nhiên, chữ “măm măm” này không phải là ngôn ngữ thông thường để diễn đạt “con muốn bú.” Việc tương giao với Cha Thiên Thượng cũng thế, có những điều “không nói bằng lời” được khi tâm linh được lớn lên. Nếu một người chưa nên thánh mà “báp tem Thánh Linh” sẽ bị hỏng chân, lúc đó thay vì được đầy dẫy Thánh Linh thì tà linh nhảy vào tương tác. Cho nên, anh ta đồng ý với anh rằng đầy dẫy Thánh Linh là phụ thuộc vào sự nên thánh khi sống đạo chứ không phải đặt tay cầu nguyện để đầy dẫy theo kiểu sai trật của các phong trào hiện nay.
  • Mối quan hệ của những cặp vợ chồng khắng khít, khi họ “gần gủi” nhau thì họ không nói những ngôn ngữ bình thường nhưng là “những âm thanh vô nghĩa” nhưng họ vẫn hiểu nhau. So sánh này hơi bình dân, nhưng dễ hiểu. Khi một con người thánh khiết, khao khát tương giao với Đức Chúa Trời thì Thánh Linh sẽ dẫn dắt để cầu nguyện tương giao với Đức Chúa Trời mà không nhất thiết âm thanh phát ra là loại ngôn ngữ thông thường, nó vẫn có khả năng là một tràng âm thanh vô nghĩa.

Anh ta cũng đồng ý trường hợp tiếng mới của Mác 16:17 Chúa Jesus dạy là ngoại lệ.

Tất cả các phân đoạn Kinh Thánh có nhắc đến vấn đề tiếng lạ ở nhiều ngữ cảnh khác nhau đều nên đổi lại cách dịch là tiếng ngoại quốc cho rõ nghĩa, ngoại trừ I Cor 14:2, 4, 14, 15, 18, 19, 23.

Kết luận:

  • Ân tứ nói ngoại ngữ được vận hành khi Chúa Thánh Linh cần ấn chứng hoặc giảng giải cách rõ ràng bằng một ngôn ngữ ngoại quốc được chuyển sang ngôn ngữ của những người nghe có thể hiểu được một cách siêu nhiên.
  • Ân tứ nói tiếng lạ (âm thanh không hiểu được) chỉ được ban cho những người có nếp sống đạo thánh khiết, khao khát tương giao với Chúa, dành nhiều thời gian cầu nguyện cho Chúa mỗi ngày, khao khát tương giao với Chúa, gầy dựng chính mình.
  • Thực trạng Satan lợi dụng “tiếng lạ” để xâm nhập vào Hội Thánh gây rối là có thật nhưng đó không phải là kết luận để nhận định một tràng âm thanh không hiểu được lúc nào cũng do tà linh gây ra.
  • Thực tế, con cái chân thật của Chúa, khao khát tương giao với Chúa, cầu xin Thánh Linh ban cho “cơ quan phát âm” của họ phát lên những âm thanh ngợi khen thờ phượng thì họ vẫn nhận lãnh. Vì “các ngươi là xấu xa còn biết cho con bánh, huống chi Cha lại không ban Thánh Linh cho những người cầu xin sao…” Vì những người khao khát, họ có tâm tình cầu nguyện nóng cháy với Chúa nên Chúa sẽ không cho phép tà linh nào nhảy vào áp chế khi con cái Chúa khao khát tương giao với Ngài. Điều này có thể nhận thấy những người “tự gầy dựng chính mình” bằng cách cầu nguyện tiếng lạ thì đều nhận được sự bình an chứ không phải bất an. (Điều này thì em có trải nghiệm trước đây).
  • Việc tà linh dùng tiếng lạ để gây rối hoàn toàn có thật, nhưng những âm thanh vô nghĩa lúc tương giao trong mối quan hệ ngọt ngào với Đức Chúa Cha cũng có thật, việc tương giao này được điều khiển bởi phần linh chứ không bị hạn chế bởi phần hồn (tâm trí có ý thức).

Nhận định của em:

  • Cảm giác bình an khi cầu nguyện một mình với Chúa bằng tiếng lạ là trải nghiệm có thật của em.
  • Em không tin rằng tại đa số Hội Thánh đang nói tiếng lạ là loại tiếng lạ được ban để tương giao, là “ tiếng thở than không nói nên lời.” mà chủ yếu họ dùng nhân linh của họ để “ra vẻ” spiritual hoặc rất nhiều trường hợp bị linh lừa dối.
  • Vì theo em nghĩ, một người phải thực sự nên thánh, không phạm tội, ao ước tương giao với Chúa nhưng ngôn ngữ không đủ diễn đạt thì trạng thái tiếng lạ tương giao đó vẫn có thể được ban cho. Ngay cả đối với người bình thường của mình, khi giao tiếp với nhau cũng đôi khi “nói” hay “ kêu” những âm thanh vô nghĩa.
  • Em hiểu liên quan đến vấn đề thờ phượng, đôi khi chúng ta “uu aa ơơ lala huhu hòhơ” đều không có nghĩa nhưng tâm thần chúng ta đang hướng về Chúa thì tà linh cũng không được phép bén mảng tới gần, và nó cũng có thể hiểu là âm thanh của sự thờ phượng, tương giao hay thở than, hoặc khi không thể diễn đạt đầy đủ.
  • Những âm thanh “uu aa ơơ lala huhu hòhơ” ở một cường độ, độ dài nhất định thì sẽ đến lúc nhận được sự thông giải sang ngôn ngữ loài người một cách rõ nghĩa hơn.
  • Đức Chúa Cha tìm kiếm những người thờ phượng bằng “tâm thần” thật sự để tương giao với Ngài.

Anh giúp em xem nội dung em vừa trình bày như thế nào nhé, vì đây là sự hiểu biết vẫn theo em trong mấy ngày qua, vì thực tế kể cả thời gian gần đây, đôi lúc em rất đau đớn khi cầu nguyện cho vấn đề hôn nhân của em, em dâng những tổn thương mà mối quan hệ này gây ra, đôi lúc nó quá đau đớn khi nói đến những chi tiết đó, thì lúc đó em lại diễn đạt bằng “tiếng lạ” để dâng lên cho Chúa, trạng thái thực sự tan vỡ. Sau đó, thì em lại rất bình an. Tuy nhiên, không chỉ lúc đau khổ mới dùng tiếng lạ cầu nguyện, ngay cả khi mừng vui cũng có thể phát lên những âm thanh vô nghĩa.

Nhưng cũng có khi sự cầu nguyện chưa sâu, mà em lại cố dùng “nhân linh” để phát ra tiếng lạ thì chắc chắn nó không đến từ Thánh Linh mà nó chỉ là sự gượng ép của cá nhân em mà thôi. Em tin rằng, Hội Thánh ngày nay có rất nhiều trường hợp như vậy.

 

Các Câu Trả Lời của Huỳnh Christian Timothy

 

Nguyên tắc đầu tiên mà chúng ta cần triệt để vâng theo, đó là: Bất cứ lý luận hay giáo lý nào không có Thánh Kinh hổ trợ thì nó đến từ Sa-tan. Thánh Kinh dạy: "Bất cứ việc gì tựa như điều ác, thì phải tránh đi" (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:22). Chứng cớ bảo vệ cho nguyên tắc nói trên là: Tất cả những lý luận hay giáo lý không có trong Thánh Kinh hổ trợ đó, nếu chúng ta không tin và không thực hành thì không thiệt hại gì cho nếp sống Đạo của chúng ta.

Nguyên tắc thứ hai là chúng ta xét người theo theo sự giảng dạy và làm theo Lời Chúa của người ấy. Một người giảng và thực hành bất cứ một giáo lý nào không có trong Thánh Kinh thì dù cho người đó có "đạo đức" như Phật Thích Ca, bỏ hết mọi sự để đi giảng đạo, thì người đó vẫn đang bị tà linh điều khiển.

Vợ chồng tôi từng bị tà linh áp chế phải cầu nguyện bằng tiếng lạ trong khi chúng tôi đang cầu nguyện đuổi quỷ, nhưng chúng tôi đã nhân danh Chúa để xua đuổi quyền lực khiến chúng tôi nói tiếng lạ ấy, nên nó không bắt phục được chúng tôi. Người bạn của anh thiếu hiểu biết nên đã bị tà linh khống chế.

Dưới đây (trong email của anh) là ý kiến của tôi và những điểm không đúng Thánh Kinh do người bạn của anh nêu ra. Tôi dùng chữ màu đỏ.

Hôm nay, em có gặp một người con cái Chúa, anh này có những đặc điểm là rất giống anh, ở chỗ anh ta không sinh hoạt ở bất kỳ giáo phái nào. Mà chỉ thờ phượng và giảng dạy lời Chúa theo Thánh Kinh, trung thành theo Thánh Kinh và anh cũng bỏ hết việc thế gian mà hầu việc Chúa cách nhiệt thành.

Em có đề cập đến vấn đề nói tiếng lạ ngày nay và ân tứ nói ngoại ngữ đến từ Chúa Thánh Linh. Sau đây là quan điểm hay cách hiểu của anh ấy về vấn đề này. Anh ấy chia sẻ rằng anh ấy là người chống lại vấn đề nói tiếng lạ được trên 20 năm, cho đến khi anh ấy trong một buổi cầu nguyện một mình, đau đớn khi cầu thay cho người bạn tội lỗi, mà nỗi đau đó không diễn tả đầy đủ được, thì đột nhiên âm thanh cầu nguyện của anh không còn là tiếng Việt nữa mà thật sự là bằng tiếng lạ.

Nội dung của ơn nói ngoại ngữ là để tôn vinh Thiên Chúa (Công Vụ Các Sứ Đồ 10:46) không phải để cầu thay cho nhau. Sứ Đồ Phao-lô nhắc nhở con dân Chúa cầu thay cho nhau và cầu thay cho ông rất nhiều nhưng không bao giờ ông bảo họ cầu thay bằng ân tứ nói ngoại ngữ. Mục đích của ơn nói ngoại ngữ là để tự gây dựng lấy mình (nhất là khi chưa có Thánh Kinh Tân Ước) không phải để cầu thay cho người khác (I Cô-rinh-tô 12:4). Thánh Kinh dạy rõ: Khi chúng ta có những nỗi niềm không thể thốt nên lời thì chính Đức Thánh Linh lấy những sự thở than không thể nói ra được mà cầu khẩn thay cho chúng ta: "Cũng một lẽ ấy, Đấng Thần Linh giúp cho sự yếu đuối chúng ta. Vì chúng ta chẳng biết sự mình phải xin đặng cầu nguyện cho xứng đáng; nhưng chính Đấng Thần Linh lấy sự thở than không thể nói ra được mà cầu khẩn thay cho chúng ta. Đấng dò xét lòng người hiểu biết ý tưởng của Đấng Thần Linh là thể nào, vì ấy là theo ý Thiên Chúa mà Ngài cầu thế cho các thánh đồ vậy" (Rô-ma 8:26-27).

Sự kiện người bạn của anh đang tha thiết cầu thay cho một người bạn có tội mà bỗng nhiên phát ra các âm thanh lạ, có thể do một trong hai nguyên nhân sau:

  1. Tương tự như lúc vợ chồng chúng tôi đang cầu nguyện đuổi quỷ thì tà linh thúc giục chúng tôi phát ra những âm thanh vô nghĩa theo kiểu nói tiếng lạ của những người Ân Tứ Ngũ Tuần, người bạn của anh có thể bị tấn công cùng một cách như vậy, nhưng anh ta đã không nắm vững lẽ thật của Chúa để chống trả nên bị mắc vào mưu kế của Sa-tan. Thánh Kinh dạy chúng ta phải lấy lẽ thật làm dây nịt lưng, dùng gươm của Thánh Linh là Lời Chúa để chống trả Ma Quỷ thì chúng ta mới thắng được mưu kế của nó (Ê-phê-sô 6:14-17). Chúng ta không thua sức Sa-tan vì Đấng ở trong chúng ta lớn hơn Sa-tan (I Giăng 4:4), nhưng nếu chúng ta không nắm vững Lời Chúa thì chúng ta sẽ thua mưu kế nó: “Hãy mang lấy mọi khí giới của Đức Chúa Trời, để được đứng vững mà địch cùng mưu kế của Ma Quỷ” (Ê-phê-sô 6:11).
  2. Có thể chính anh ta đang có một tội lỗi thầm kín nào đó, chưa chịu từ bỏ, mà lại cầu thay cho người khác, cho nên, tà linh có thể xâm nhập anh ta.

Sau đó, anh tha thiết xin Chúa Thánh Linh bày tỏ cho anh lẽ thật về vấn đề gây tranh cãi này. Chúa bày tỏ và sau đây là cách anh ấy diễn đạt lại với em. Trước khi đi vào nội dung chính thì anh ấy có nêu một số ý như sau:

Một khi đã để cho tà linh xâm nhập, xem trọng kinh nghiệm và cảm xúc xác thịt hơn lẽ thật của Lời Chúa, thì tà linh sẽ điều khiển và giả làm Chúa Thánh Linh để tiếp tục dẫn dắt người bị nó bắt phục đi sâu vào con đường sai lạc.

  • Ma quỷ luôn gieo sự sợ hãi và nghi ngờ cho những người vận dụng ân tứ : Ví dụ “coi chừng cái này đến từ ma quỷ chứ không phải từ Thánh Linh để vô hiệu hóa hay ngăn cản việc sử dụng ân tứ do Chúa ban cho.”

Câu này sai. Phải nói rằng: Đức Thánh Linh luôn cảnh cáo những người thật lòng tìm kiếm lẽ thật, rằng hiện tượng nói tiếng lạ là đến từ Ma Quỷ. Còn những người chạy theo dấu kỳ phép lạ hơn là lẽ thật của Lời Chúa thì Ma Quỷ đưa ra những lý lẽ bẻ cong Lời Chúa để giúp họ bảo vệ cho sự nói tiếng lạ của họ.

  • Ma quỷ cũng tạo ra những tranh luận giữa vòng những người có ân tứ để lãng phí thời gian và làm suy yếu đi khả năng liên kết trên đất này của những người con cái Chúa.

Câu này sai. Phải nói rằng: Đức Thánh Linh luôn vận hành giữa những người nói tiếng lạ, cáo trách họ, đưa họ đến với những tôi tớ chân thật của Đức Chúa Trời, là những người rao giảng chân thật về Lời Chúa, chỉ ra sự sai trái của hiện tượng nói tiếng lạ, để thức tỉnh những ai thật lòng tìm kiếm lẽ thật của Lời Chúa nhưng đang sa vào mưu kế của tà linh nói tiếng lạ. Đó là cách mà Đức Chúa Trời giải cứu và dạy dỗ những con chiên chân thật của Ngài nhưng còn non yếu về thuộc linh.

  • Satan từng là tổng quản về ngợi khen và thờ phượng trên thiên đàng nên hiểu rất rõ về ân tứ.

Câu này sai. Sa-tan thật có quyền phép của một thiên sứ trưởng nhưng Sa-tan không biết gì về các ân tứ Chúa ban cho Hội Thánh, bởi vì, Hội Thánh là một huyền nhiệm được giấu kín trong Đức Chúa Trời từ thời thượng cổ. Chỉ đến khi Đấng Christ phục sinh, Hội Thánh được thành lập, Sa-tan mới ý thức được sự mầu nhiệm về Hội Thánh và Sa-tan cũng phải học về Hội Thánh và các ân tứ Chúa ban cho Hội Thánh (qua sự rao giảng của các tôi tớ Chúa bởi quyền năng của Đức Thánh Linh) như chúng ta.

Ê-phê-sô 3:9 “và soi sáng cho mọi người biết sự phân phát lẽ mầu nhiệm, từ đời thượng cổ đã giấu kín trong Đức Chúa Trời là Đấng dựng nên muôn vật.”

Ê-phê-sô 5:32 “Sự mầu nhiệm ấy là lớn, tôi nói về Đấng Christ và Hội Thánh vậy.”

Dầu vậy, Sa-tan cũng không thể nào “hiểu rất rõ” về các ân tứ. Bởi vì, Sa-tan không hề nhận lãnh Thánh Linh từ Đức Chúa Trời để hiểu được các ân tứ mà Hội Thánh đã nhận lãnh. Thánh Kinh cho biết, phải dùng sự khôn ngoan do Đức Thánh Linh dạy thì mới có thể hiểu biết được các ân tứ của Ngài. Thật là vô lý nếu cho rằng sau khi Hội Thánh được thành lập và được ban cho các ân tứ của Đức Thánh Linh thì Đức Thánh Linh lại giảng dạy cho Sa-tan hiểu biết về các ân tứ mà Ngài đã ban cho Hội Thánh. “Về phần chúng ta, chúng ta chẳng nhận lấy thần thế gian, nhưng đã nhận lấy Thần từ Đức Chúa Trời đến, hầu cho được hiểu biết những ơn mà chúng ta nhận lãnh bởi Đức Chúa Trời; chúng ta nói về ơn đó, không cậy lời nói mà sự khôn ngoan của loài người đã dạy đâu, song cậy sự khôn ngoan mà Thánh Linh đã dạy, dùng tiếng thiêng liêng để giải bày sự thiêng liêng.” (I Cô-rinh-tô 2:12-13).

  • Ân tứ thay vì là một tiền tố để Cơ Đốc Nhân phối hợp mạnh mẽ thì nay lại là nhân tố gây chia rẻ bậc nhất trong vòng Hội Thánh. Giống như một vị vua cha có 10 hoàng tử, và vua dạy cho mỗi người một thế võ, nhưng bài võ chỉ trọn vẹn khi 10 hoàng tử này biết phối hợp lại với nhau. (Chúa Thánh Linh ban cho ân tứ cho ai là tùy ý Ngài).

Sự so sánh này khập khểnh. Trong khi mười người con phải tổng hợp 10 thế võ để môn võ được nên trọn vẹn thì mỗi một ân tứ của Đức Thánh Linh là một ơn ban toàn vẹn, không một ơn nào dựa trên một ơn nào. Mỗi ơn có mục đích và công dụng riêng, cho mỗi hoàn cảnh, trường hợp. Các ân tứ của Chúa vẫn hiện diện trong Hội Thánh ngày nay, kể cả ân tứ nói ngoại ngữ và thông giải ngoại ngữ (tôi là một trong những người được ơn thông giải ngoại ngữ); nhưng sự kiện nói tiếng lạ không phải là một trong các ân tứ của Đức Thánh Linh và hoàn toàn phản Thánh Kinh. Đó chỉ là một hình thức đọc thần chú của các ngoại giáo mà trong khoảng 100 năm qua, Sa-tan đã dấy lên để tấn công vào trong Hội Thánh Chúa trong những ngày cuối cùng này, dẫn đến sự bội Đạo lớn làm tiền đề cho sự Chúa trở lại: "Luận về sự đến của Đức Chúa Jesus Christ chúng ta, và về sự chúng ta hội hiệp cùng Ngài, thì, hỡi anh em, xin chớ vội bối rối và kinh hoàng hoặc bởi thần cảm giả mạo, hoặc bởi lời nói hay là bởi bức thơ nào tựa như chúng tôi đã gởi mà nói rằng ngày Chúa gần đến. Mặc ai dùng cách nào, cũng đừng để họ lừa dối mình. Vì phải có sự bỏ đạo đến trước, và có người tội ác, con của sự hư mất hiện ra" (II Tê-sa-lô-ni-ca 2:1-3).

Trong suốt lịch sử của Hội Thánh Chúa gần hai ngàn năm qua, chưa bao giờ sự bội đạo thể hiện đều khắp và rộng lớn cho bằng qua phong trào nói tiếng lạ và đặt tay té ngã. Cá nhân tôi xem sự tổng hợp của phong trào nói tiếng lạ, đặt tay té ngã cùng với phong trào chấp nhận đồng tính luyến ái trong Hội Thánh là sự bội Đạo lớn, làm dấu hiệu cho sự Chúa trở lại để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian.

Trường hợp 1: Công vụ đoạn 2: Đây là tiếng lạ được hiểu như một ngoại ngữ xác định được với mục đích truyền giảng Tin Lành cho dân tộc khác. Đây phải dịch là tiếng ngoại quốc mới đúng.

Câu này sai. Đây không phải là tiếng lạ, Thánh Kinh không bao giờ dùng từ ngữ "tiếng lạ," mà đây là các ngôn ngữ. Công Vụ Các Sứ Đồ 2 liệt kê ra ngôn ngữ của 15 dân tộc khác nhau và nhiều lần dùng các từ ngữ sau đây để chỉ định các ngôn ngữ mà Đức Thánh Linh đã ban cho các môn đồ nói ra: “các thứ tiếng khác,” “tiếng xứ mình,” “tiếng riêng của xứ chúng ta sanh đẻ,” “tiếng chúng ta” và nội dung của sự nói đó là “nói những sự cao trọng của Đức Chúa Trời!” (Công Vụ Các Sứ Đồ 2:4, 6, 8, 11).

Mục đích của sự các môn đồ Chúa được ban ơn nói các ngôn ngữ khác nhau của loài người là để chứng minh năng lực của Đức Thánh Linh bắt đầu vận hành trong Hội Thánh của Đức Chúa Trời để Tin Lành sẽ được Hội Thánh giảng ra cho mọi dân tộc, bằng mọi tiếng nói của loài người, báo hiệu thời điểm kết thúc lịch sử tội lỗi của nhân loại.

Trong trường hợp của gia đình Cọt-nây (Công Vụ Các Sứ Đồ 10:46) là để cho các tín đồ người Do-thái biết Đức Chúa Trời tiếp nhận dân ngoại vào trong Hội Thánh và báp-tem Thánh Linh cho họ như là dân Do-thái. Trước khi Đấng Christ phục sinh, Tin Lành chỉ được giảng cho người Do-thái. Sau khi Đấng Christ phục sinh, không có sự phân biệt giữa dân Do-thái và dân ngoại trong Hội Thánh của Chúa (Ga-la-ti 3:28).

Không bao giờ ân tứ nói ngoại ngữ được dùng để truyền giảng mà tất cả các nhà truyền giáo đều phải học ngôn ngữ của dân tộc mà họ muốn đến truyền giảng. Cuối cùng, ơn nói ngoại ngữ là dấu hiệu tỏ ra cho những người không tin để họ nhận biết quyền năng của Đức Thánh Linh đang vận hành trong Hội Thánh (I Cô-rinh-tô 12:22), còn hiện tượng nói tiếng lạ chỉ khiến cho người ngoại chê cười vì họ thấy những kẻ nói tiếng lạ giống những người lên đồng, lên bóng, bị quỷ nhập.

Trường hợp 2: là trường hợp bị quở trách của Hội Thánh Cô-rinh-tô: là trường hợp giữa những người được ơn nói với hội chúng đã tin thì bắt buộc phải có sự thông giải. Trường hợp này có thể là tiếng ngoại quốc nhưng cũng có thể là tiếng lạ (tràng âm thanh không hiểu được).

Chỗ nào trong Thánh Kinh dạy rằng có thể các tín đồ tại Cô-rinh-tô nói ra những tràng âm thanh vô nghĩa? Đây là Sa-tan cưỡng từ đoạt ý để ngụy biện.

Trường hợp 3: là trường hợp chắc chắn không phải là tiếng của loài người hay dân tộc ngoại quốc, tại sao lại có sự giải thích này là bởi vì: Đây là ngôn ngữ hoàn toàn riêng biệt để tương giao với Chúa trong thế giới linh. Loại tiếng này dùng để gây dựng chính phần linh của cá nhân nói tiếng đó, là một sự bày tỏ “kín nhiệm.”

Chỗ nào trong Thánh Kinh dạy như vậy? Sa-tan đã đưa ra một giáo lý không có trong Thánh Kinh.

Phao-lô vừa là người được ân tứ nói nhiều thứ ngoại ngữ và cũng là người được ân tứ nói nhiều “thứ tiếng lạ” này (âm thanh không hiểu được).

Chỗ nào trong Thánh Kinh dạy như vậy? Sa-tan đã đưa ra một giáo lý không có trong Thánh Kinh.

Ông có sự tương giao với Chúa rất đặc biệt, bằng cớ là Phao-lô không trực tiếp dự Tiệc Thánh lúc Chúa Jesus lập ra, nhưng ông nhận được điều này từ Chúa về nghi thức Tiệc Thánh và viết ra để dạy trong thư Cô-rinh-tô. Ngày hôm nay, những lúc dự Tiệc Thánh thì Hội Thánh luôn đọc đoạn Kinh Thánh do Phao-lô viết dạy dỗ về nghi thức này.( I Cor 11 – Vả, tôi có nhận nơi Chúa…). Ông không hề dự Tiệc Thánh vào lúc Chúa Jesus lập, nhưng ông lại nói là ông nhận nơi Chúa vì ông có sự tương giao đặc biệt bằng linh với Thánh Linh (Nhận trong nơi kín nhiệm khi ông tương giao với Chúa). Vì ông là người nói tiếng lạ nhiều nhất nên ông cũng là người viết Tân Ước nhiều nhất sau khi Chúa Jesus thăng thiên.

Đây là ngụy biện, dùng lý trí suy luận của loài người để tạo ra các giáo lý không có trong Thánh Kinh. Vua Đa-vít viết nhiều Thi Thiên nhất. Số câu Thánh Kinh Vua Đa-vít viết nhiều gấp hai lần số câu Phao-lô viết, vậy, có thể nào kết luận rằng Vua Đa-vít là người biết nói nhiều tiếng lạ nhất? Sự kiện Phao-lô được Chúa chọn làm sứ đồ và dạy dỗ ông cách trực tiếp không liên quan gì đến ân tứ nói ngoại ngữ và Phao-lô tuyệt đối không hề nói tiếng lạ, vì, không hề có ân tứ nói tiếng lạ mà chỉ có ân tứ nói ngoại ngữ.

Ông cũng nhắc nhở là “cầu nguyện bằng tâm linh nhưng cũng cầu nguyện bằng tâm trí nữa.”

Cầu nguyện là một hình thức thờ phượng Chúa cho nên phải bằng tâm thần và lẽ thật (Giăng 423-24). Sự cầu nguyện nào của chúng ta cũng phải xuất phát từ trong tâm thần bởi sự cảm động và dẫn dắt của Đức Thánh Linh rồi phát ra bằng ngôn ngữ qua môi miệng của xác thịt. Trong khi đó, linh hồn chúng ta am hiểu điều mình cầu xin. Riêng trường hợp cầu nguyện bằng ngoại ngữ mà chúng ta không hiểu để tự mình thông giải thì chúng ta cần có anh chị em khác đang hiện diện thông giải, nếu không, chúng ta chỉ được phép cầu nguyện bằng tiếng mẹ đẻ hoặc bằng thứ tiếng mà Hội Thánh có thể hiểu được. Dù chúng ta cầu nguyện bằng tiếng mẹ đẻ hay bằng ngoại ngữ thì chúng ta cũng cầu nguyện bằng tâm thần và theo lẽ thật của Lời Chúa. Lý luận cho rằng, cầu nguyện bằng ơn nói ngoại ngữ là cầu nguyện trong tâm thần còn cầu nguyện bằng tiếng mẹ đẻ là cầu nguyện bằng tâm trí là hoàn toàn phản Thánh Kinh.

Ý của Phao-lô là chúng ta phải tìm cầu sự cầu nguyện và tôn vinh mà chúng ta có thể hiểu được, còn nếu sự cầu nguyện và tôn vinh phát xuất từ tâm thần bởi ân tứ nói ngoại ngữ mà không có người thông giải hoặc tự chúng ta không hiểu điều chúng ta cầu nguyện hoặc tôn vinh thì chúng ta không nên thực hành. Trọn vẹn câu nói của Phao-lô là: “Bởi đó, kẻ nói ngoại ngữ, hãy cầu nguyện để được thông giải tiếng ấy. Vì nếu tôi cầu nguyện bằng ngoại ngữ, thì tâm thần tôi cầu nguyện, nhưng trí khôn tôi lơ lửng. Vậy thì tôi sẽ làm thể nào? Tôi sẽ cầu nguyện theo tâm thần, nhưng cũng cầu nguyện bằng trí khôn. Tôi sẽ hát theo tâm thần, nhưng cũng hát bằng trí khôn” (I Cô-rinh-tô 14:13-15).

Không thể có chuyện chỉ cầu nguyện hoặc tôn vinh bằng trí khôn mà không bằng tâm thần, vì mọi sự thờ phượng Chúa đều phải bằng tâm thần và lẽ thật. Cho nên, cầu nguyện và tôn vinh vừa bằng tâm thần vừa bằng trí khôn là ý rõ ràng trong câu nói của Phao-lô.

Sự giải kinh theo kiểu ngắt câu đoạn mạch đã sản xuất ra vô số tà giáo!

Mục đích ông viết thư Cô-rinh-tô là để Hội Thánh được tổ chức tốt hơn, đặc biệt là trong lĩnh vực sử dụng ân tứ. Ông sắp xếp lại và hướng dẫn Hội Thánh cách vận hành ân tứ.

Tiếng lạ dùng để truyền giảng thì được hiểu là ngoại ngữ (speak other tongues), tiếng lạ dùng để gây dựng chính mình thì được hiểu là cơ quan phát âm (speak a tongue), mà loại âm thanh này không nhất thiết là loại ngôn ngữ thông thường của loài người.

Lại thêm một sự ngụy biện của Sa-tan. "Speak a tongue" tức là nói một ngôn ngữ, không thể dịch là phát ra những âm thanh. Để nói đến sự kiện phát ra những âm thanh thì Thánh Kinh dùng: "giving sound" “Vậy, dẫu vật không có sự sống phát ra tiếng (giving sound), như ống tiêu, đờn cầm: nếu không có âm điệu phân biệt nhau, thể nào nhận biết được ống tiêu hay là đờn cầm thổi và khảy cái chi?” (I Cô-rinh-tô 14:7). Điều quan trọng là, Thánh Kinh không hề nói đến ân tứ “phát ra tiếng.”

Ví dụ:

  • Đứa bé còn bú mẹ, khi nó “nói chuyện” với mẹ nó để xin bú thì nó sẽ không nói là “con muốn bú” mà nó chỉ có thể nói là “măm măm.” Đương nhiên, chữ “măm măm” này không phải là ngôn ngữ thông thường để diễn đạt “con muốn bú.” Việc tương giao với Cha Thiên Thượng cũng thế, có những điều “không nói bằng lời” được khi tâm linh được lớn lên. Nếu một người chưa nên thánh mà “báp tem Thánh Linh” sẽ bị hỏng chân, lúc đó thay vì được đầy dẫy Thánh Linh thì tà linh nhảy vào tương tác. Cho nên, anh ta đồng ý với anh rằng đầy dẫy Thánh Linh là phụ thuộc vào sự nên thánh khi sống đạo chứ không phải đặt tay cầu nguyện để đầy dẫy theo kiểu sai trật của các phong trào hiện nay.

Chữ "măm măm" đương nhiên là ngôn ngữ để xin bú của trẻ con. Thánh Kinh khẳng định, con trẻ có ngôn ngữ của con trẻ. Ai quy định rằng "măm măm" không phải là ngôn ngữ của trẻ con để xin bú? Nếu không phải thì sao cả mẹ lẫn con đều hiểu rằng đó là đứa con muốn bú? Chẳng những con trẻ có ngôn ngữ của con trẻ mà còn có nhiều trình độ khác nhau trong sự vận dụng ngôn ngữ nữa. "Khi tôi còn trẻ, tôi nói như con trẻ, tư tưởng như con trẻ, suy xét như con trẻ; khi tôi đã thành nhơn bèn bỏ những điều thuộc về con trẻ" (I Cô-rinh-tô 13:11).

Nếu chưa nên thánh, sao lại được báp-tem bằng Thánh Linh? Nếu đã được báp-tem bằng Thánh Linh thì phải đầy dẫy Thánh Linh chứ sao tà linh lại nhảy vào? Vậy, quyền năng của Đức Thánh Linh ở đâu?

Một người thật lòng ăn năn tội, tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ thì lập tức được Đức Chúa Trời tha tội, được Đức Chúa Jesus Christ làm cho sạch tội và được Đức Thánh Linh tái sinh. Người đó lập tức được đổ đầy Thánh Linh của Chúa (báp-tem bằng Thánh Linh) để có năng lực của Thiên Chúa sống một đời sống mới theo điều răn và luật pháp mà Đức Thánh Linh đã ghi vào lương tâm mới của người ấy. Từ đó, người đã được tái sinh, nếu tiếp tục yêu mến Chúa, tìm kiếm lẽ thật của Lời Chúa để vâng theo thì tiếp tục đầy dẫy Thánh Linh, còn nếu hướng về thế gian yêu mến thế gian thì không còn đầy dẫy Thánh Linh.

Dấu chứng một người đầy dẫy Thánh Linh là sự kiện người ấy không phạm tội, dù chỉ trong tư tưởng, hoặc nếu tội lỗi vừa phát sinh trong tư tưởng thì người ấy lập tức ăn năn và xưng tội với Chúa. Khi tiếp xúc với thế giới bên ngoài, một người đầy dẫy Thánh Linh sẽ nói và hành động theo sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh. Dầu vậy, chính linh hồn người ấy quyết định là

Đọc Tiếp →

Có Phải Người Đã Được Cứu Rỗi Thì Không Bao Giờ Bị Hư Mất?

Huỳnh Christian Timothy

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?58g7swnm8mxwm95

Bấm vào nối mạng dới đây để nghe và tải xuống MP3 bài giảng này:
 

Xin đọc bài “Đức Tin Thể Hiện Qua Việc Làm” trước khi đọc bài này.
Đọc trên mạng: http://thanhoc.timhieutinlanh.net/node/295
Tải xuống: http://www.mediafire.com/view/?b5257uv6j575w3b

Dẫn Nhập

Giáo lý “Tin Chúa Một Lần Được Cứu Vĩnh Viễn” [1] với ý nghĩa “người đã được cứu rỗi thì không bao giờ bị hư mất” là một tà giáo. Gọi là tà giáo bởi vì giáo lý này không đúng với Thánh Kinh. Chúng ta có thể tra tìm khắp trong Thánh Kinh mà không bao giờ gặp câu nào nói rằng, một người đã được cứu rỗi thì không bao giờ bị hư mất. Trái lại, Thánh Kinh cho biết, người nào đã được cứu rỗi mà trở về sống trong tội lỗi thì sẽ bị hư mất và bị hình phạt nặng hơn người không bao giờ tin nhận Chúa.

Sự Trọn Vẹn của Đức Chúa Cha

Thiên Chúa nói chung và Đức Chúa Cha nói riêng là trọn vẹn trong sự yêu thương, thánh khiết, và công chính. Ngài yêu thương trọn vẹn nên hy sinh Con Một của Ngài để cứu chuộc nhân loại. Ngài thánh khiết trọn vẹn nên không thể chấp nhận một chút tội lỗi nào. Ngài công chính trọn vẹn nên mọi tội lỗi phải bị hình phạt cách nghiêm khắc. Như vậy, làm sao chúng ta có thể nói rằng một Đức Chúa Trời trọn vẹn có thể bỏ qua nếp sống tội lỗi của những kẻ xưng mình là con dân của Ngài?

Thánh Kinh thường dùng hình ảnh quan hệ vợ chồng để nói đến quan hệ giữa Chúa và con dân của Ngài. Chúng ta hãy suy nghĩ về trường hợp sau đây:

Một người vợ ưa thích tà dâm, lén lút ngoại tình, rồi bị tình nhân gạt bán vào ổ điếm. Người chồng đi tìm vợ và bỏ tiền ra chuộc vợ về, tha thứ và phục hồi địa vị làm vợ cho người vợ bất trung đó. Nay, có thể nào người vợ nói rằng, vì chồng tôi yêu tôi, tha thứ cho tôi, tìm chuộc tôi về và tôi tin nhận tình yêu, sự tha thứ và sự cứu chuộc của chồng tôi, cho nên, từ nay, dầu tôi có thỉnh thoảng ngoại tình theo sự ưa thích tà dâm của tôi thì tôi cũng sẽ không mất địa vị làm vợ?

Thánh Kinh luôn luôn răn đe việc một người đã tin Chúa mà bội đạo, không trung tín sống theo Lời Chúa, thì sẽ bị hư mất đời đời. Được cứu rỗi là được Đức Chúa Trời ban cho địa vị công bình và năng lực từ Đức Thánh Linh để chọn lựa sống và làm theo Lời Chúa hoặc sống và làm theo xác thịt. Sống và làm theo Lời Chúa thì sẽ nhận được sự sống đời đời cùng với các phần thưởng ban cho, tùy theo các việc lành đã làm. Sống và làm theo xác thịt thì sẽ bị hư mất đời đời và bị hình phạt, tùy theo mỗi việc tội lỗi đã làm. Không hề có chuyện một người đã được cứu rỗi, nếu sống trong tội mà không ăn năn thì bị mất phần thưởng nhưng vẫn được hưởng sự sống đời đời. Không một chỗ nào trong Thánh Kinh nói rằng một người không ăn năn tội mà được sự sống đời đời.

Lẽ Thật của Lời Chúa

Thánh Kinh không dùng một vài câu mà dành ra nhiều phân đoạn để dạy rõ rằng: Một người đã tin Chúa, đã nếm biết quyền phép của đời sau (tức là đã được tái sinh và ban cho Thánh Linh), mà trở về sống trong tội thì sẽ bị hư mất đời đời. Dưới đây là những phân đoạn Thánh Kinh đó:

Ga-la-ti 5:19-21

Vả, các việc làm của xác thịt là rõ ràng lắm: ấy là gian dâm, ô uế, luông tuồng, thờ hình tượng, phù phép, thù oán, tranh đấu, ghen ghét, buồn giận, cãi lẫy, bất bình, bè đảng, ganh gổ, say sưa, mê ăn uống, cùng các sự khác giống như vậy. Tôi nói trước cho anh em, như tôi đã nói rồi: hễ ai phạm những việc thể ấy thì không được hưởng vương quyền của Thiên Chúa.

Ê-phê-sô 5:3-7

Phàm những sự gian dâm, hoặc sự ô uế, hoặc sự tham lam, cũng chớ nên nói đến giữa anh em, theo như cách xứng đáng cho các thánh đồ. Chớ nói lời tục tỉu, chớ giễu cợt, chớ giả ngộ tầm phào, là những điều không đáng, nhưng thà cảm tạ ơn Chúa thì hơn. Vì anh em phải biết rõ rằng kẻ gian dâm, ô uế, tham lam, tức là kẻ thờ hình tượng, không một kẻ nào được dự phần kế nghiệp vương quốc của Đấng Christ là Thiên Chúa. Đừng để cho ai lấy lời giả trá phỉnh dổ anh em; vì ấy là nhơn những điều đó mà cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời giáng trên các con bạn nghịch. Vậy, chớ có thông đồng điều chi với họ hết.”

Phi-líp 3:17-19

Hỡi anh em, hãy bắt chước tôi, lại xem những kẻ ăn ở theo mẫu mực mà anh em thấy trong chúng tôi. Vì tôi đã thường nói điều nầy cho anh em, nay tôi lại khóc mà nói nữa: lắm người có cách ăn ở như là kẻ thù nghịch thập tự giá của Đấng Christ. Sự cuối cùng của họ là hư mất; họ lấy sự xấu hổ của mình làm vinh quang, chỉ tư tưởng về các việc thế gian mà thôi.”

Hê-bơ-rơ 6:4-8

Vì chưng những kẻ đã được soi sáng một lần, đã nếm sự ban cho từ trên trời, dự phần về Thánh Linh, Lời lành của Thiên Chúa, và năng lực của đời sau, nếu lại vấp ngã, thì không thể khiến họ lại ăn năn nữa, vì họ đóng đinh Con Đức Chúa Trời trên thập tự giá cho mình một lần nữa, làm cho Ngài sỉ nhục tỏ tường. Vả, một đám đất nhờ mưa đượm nhuần mà sanh cây cỏ có ích cho người cày cấy, thì đất đó hưởng phần phước lành của Đức Chúa Trời. Nhưng đất nào chỉ sanh ra những cỏ rạ, gai gốc, thì bị bỏ, và hầu bị rủa, cuối cùng phải bị đốt.”

Hê-bơ-rơ 10:26-31

Vì nếu chúng ta đã nhận biết lẽ thật rồi, mà lại cố ý phạm tội, thì không còn có tế lễ chuộc tội nữa, nhưng chỉ có sự đợi chờ kinh khiếp về sự phán xét, và lửa hừng sẽ đốt cháy kẻ bội nghịch mà thôi.Ai đã phạm luật pháp Môi-se, nếu có hai ba người làm chứng, thì chết đi không thương xót, huống chi kẻ giày đạp Con Đức Chúa Trời, coi máu của giao ước, tức là máu mà mình nhờ nên thánh, là ô uế, lại khinh lờn Đấng Thần Linh của ân điển, thì anh em há chẳng tưởng rằng người ấy đáng bị hình rất nghiêm đoán phạt hay sao? Vì chúng ta biết Đấng đã phán rằng: Sự trả thù thuộc về Ta; Ta sẽ báo ứng, ấy là lời Chúa phán. Lại rằng: Chúa sẽ xét đoán dân mình. Sa vào tay Thiên Chúa Hằng Sống là sự đáng kinh khiếp thay!”

II Phi-e-rơ 2

Dầu vậy, trong dân chúng cũng đã có tiên tri giả, và cũng sẽ có giáo sư giả trong anh em; họ sẽ truyền những đạo dối làm hại, chối Chúa đã chuộc mình, tự mình chuốc lấy sự hủy phá thình lình. Có nhiều kẻ sẽ theo họ trong những sự buông tuồng, và Đạo thật vì cớ họ sẽ bị gièm pha.

Họ sẽ bởi lòng tham mình, lấy lời dối trá khoét anh em; nhưng sự kêu án nghịch cùng họ đã nghị định từ lâu nay, và sự hư mất của họ chẳng ngủ. Vả, nếu Đức Chúa Trời chẳng tiếc các thiên sứ đã phạm tội, nhưng quăng vào trong vực sâu, tại đó họ bị trói buộc bằng xiềng nơi tối tăm để chờ sự phán xét; nếu Ngài chẳng tiếc thế gian xưa, trong khi sai nước lụt phạt đời gian ác nầy, chỉ gìn giữ Nô-ê là thầy giảng đạo công bình, với bảy người khác mà thôi; nếu Ngài đã đoán phạt thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ, hủy phá đi khiến hóa ra tro, để làm gương cho người gian ác về sau; nếu Ngài đã giải cứu người công bình là Lót, tức là kẻ quá lo vì cách ăn ở luông tuồng của bọn gian tà kia, (vì người công bình nầy ở giữa họ, mỗi ngày nghe thấy việc trái phép của họ bèn cảm biết đau xót trong lòng công bình mình), thì Chúa biết cứu chữa những người tôn kính khỏi cơn cám dỗ, và hành phạt kẻ không công bình, cầm chúng nó lại để chờ ngày phán xét, nhứt là những kẻ theo lòng tư dục ô uế mình mà ham mê sự sung sướng xác thịt, khinh dể quyền phép rất cao. Bọn đó cả gan, tự đắc, nói hỗn đến các bậc tôn trọng mà không sợ, dẫu các thiên sứ, là đấng có sức mạnh quyền phép hơn chúng nó, còn không hề lấy lời nguyền rủa mà xử đoán các bậc đó trước mặt Chúa.

Nhưng chúng nó cũng như con vật không biết chi, sanh ra chỉ làm thú vật để bị bắt mà làm thịt, hay chê bai điều mình không biết, rồi chết đi như con vật, dường ấy chúng nó lãnh lấy tiền công về tội ác mình. Chúng nó lấy sự chơi bời giữa ban ngày làm sung sướng, là người xấu xa ô uế, ưa thích sự dối trá mình đang khi ăn tiệc với anh em; cặp mắt chúng nó đầy sự gian dâm, chúng nó phạm tội không bao giờ chán, dỗ dành những người không vững lòng, chúng nó có lòng quen thói tham dục: ấy là những con cái đáng rủa sả. Chúng nó đã bỏ đường thẳng mà đi sai lạc theo đường của Ba-la-am, con trai Bô-sô, là kẻ tham tiền công của tội ác; nhưng người bị trách về sự phạm tội của mình, bởi có một con vật câm nói tiếng người ta, mà ngăn cấm sự điên cuồng của người tiên tri đó.

Ấy là những suối không nước, những đám mây bị luồng gió mạnh đưa đi và sự tối tăm mờ mịt đã để dành cho chúng nó. Chúng nó dùng những lời văn hoa hư đản, đem những điều ham muốn của xác thịt và điều gian dâm mà dỗ dành những kẻ mới vừa tránh khỏi các người theo đường lầm lạc; chúng nó hứa sự tự do cho người, mà chính mình thì làm tôi mọi sự hư nát; vì có sự chi đã thắng hơn người, thì người là tôi mọi sự đó.

Vả, chúng nó bởi sự nhận biết Chúa và Đấng Giải Cứu chúng ta là Đức Chúa Jesus Christ, mà đã thoát khỏi sự ô uế của thế gian, rồi lại mắc phải và suy phục những sự đó, thì số phận sau cùng của chúng nó trở xấu hơn lúc đầu. Chúng nó đã biết đường công bình, rồi lại lui đi về lời răn thánh đã truyền cho mình, thế thì thà rằng không biết là hơn. Đã xảy đến cho chúng nó như lời tục ngữ rằng: Chó liếm lại đồ nó đã mửa, heo đã rửa sạch rồi, lại lăn lóc trong vũng bùn.”

Ngoài ra, chính Đức Chúa Jesus Christ là Đấng chịu chết để chuộc tội cho nhân loại, cũng đã nhiều lần cảnh cáo các môn đồ qua những lời phán dạy và các ngụ ngôn:

Ngụ Ngôn về Muối

Các ngươi là muối của đất; song nếu mất mặn đi, thì sẽ lấy giống chi mà làm cho mặn lại? Muối ấy không dùng chi được nữa, chỉ phải quăng ra ngoài và bị người ta đạp dưới chơn” (Ma-thi-ơ 5:13).

Số Phận Những Kẻ Nhân Danh Chúa Làm Nhiều Phép Lạ Nhưng Không Làm Theo Lời Chúa

Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng Ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì đều được vào Vương Quốc Trời đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha Ta ở trên trời mà thôi. Ngày đó, sẽ có nhiều người thưa cùng Ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng tôi chẳng từng nhơn danh Chúa mà nói tiên tri sao? nhơn danh Chúa mà trừ quỷ sao? và lại nhơn danh Chúa mà làm nhiều phép lạ sao? Khi ấy, Ta sẽ phán rõ ràng cùng họ rằng: Hỡi những kẻ làm gian ác, Ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi Ta” (Ma-thi-ơ 7:21-23)!

Ngụ Ngôn về Đầy Tớ Không Thương Xót

Nếu mỗi người trong các ngươi không hết lòng tha lỗi cho anh em mình, thì Cha Ta ở trên trời cũng sẽ xử với các ngươi như vậy"  (Ma-thi-ơ 18:35).

Ngụ Ngôn về Tiệc Cưới

Vua vào xem khách dự tiệc, chợt thấy một người không mặc áo lễ, thì phán cùng người rằng: Hỡi bạn, sao ngươi vào đây mà không mặc áo lễ? Người đó làm thinh. Vua bèn truyền cho đầy tớ rằng: Hãy trói tay chơn nó lại, và quăng ra ngoài nơi tối tăm, là nơi sẽ có khóc lóc và nghiến răng. Bởi vì có nhiều kẻ được gọi, mà ít người được chọn(Ma-thi-ơ 22:11-14).

Ngụ Ngôn về Đầy Tớ Bất Trung

Ai là đầy tớ trung tín và khôn ngoan, mà người chủ đặt cai trị đầy tớ mình, đặng cho đồ ăn đúng giờ? Phước cho đầy tớ đó, khi chủ đến thấy làm như vậy! Quả thật, ta nói cùng các ngươi, chủ sẽ đặt kẻ ấy coi sóc cả gia tài mình. Nếu, trái lại, là một đầy tớ xấu, nó nghĩ thầm rằng: Chủ ta đến chậm, bèn đánh kẻ cùng làm việc với mình, và ăn uống với phường say rượu, thì chủ nó sẽ đến trong ngày nó không ngờ và giờ nó không biết. Chủ sẽ đánh xé xương và định phần nó đồng với kẻ giả hình. Đó là nơi sẽ có khóc lóc và nghiến răng (Ma-thi-ơ 24:45-51).

Ngụ Ngôn về Các Nữ Đồng Trinh

Chặp lâu, những người nữ đồng trinh khác cũng đến và xin rằng: Hỡi Chúa, hỡi Chúa, xin mở cho chúng tôi! Nhưng người đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, ta không biết các ngươi đâu” (Ma-thi-ơ 25:11-12).

Ngụ Ngôn về Các Ta-lâng

Còn tên đầy tớ vô ích đó, hãy quăng nó ra ngoài là chỗ tối tăm, ở đó sẽ có khóc lóc và nghiến răng(Ma-thi-ơ 25:30).

Số Phận Những Kẻ Không Có Lòng Thương Xót

Kế đó, Ngài sẽ phán cùng những người ở bên tả rằng: Hỡi kẻ bị rủa, hãy lui ra khỏi Ta; đi vào lửa đời đời đã sắm sẵn cho ma quỷ và những quỷ sứ nó. Vì Ta đã đói, các ngươi không cho ăn; Ta khát, các ngươi không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi không mặc cho Ta; Ta đau và bị tù, các ngươi không thăm viếng. Đến phiên các ngươi nầy bèn thưa lại rằng: Lạy Chúa, khi nào chúng tôi đã thấy Chúa, hoặc đói, hoặc khát, hoặc làm khách lạ, hoặc trần truồng, hoặc đau ốm, hoặc bị tù mà không hầu việc Ngài ư? Ngài sẽ đáp lại rằng: Quả thật, Ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi không làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy, ấy là các ngươi cũng không làm cho Ta nữa. Rồi những kẻ nầy sẽ vào hình phạt đời đời, còn những người công bình sẽ vào sự sống đời đời” (Ma-thi-ơ 25:41-46).

Ngụ Ngôn về Gốc Nho và Các Nhánh Nho

Ta là gốc nho thật; và Cha Ta là người trồng nho. Mỗi nhánh trong Ta mà không kết quả, thì chính Ngài chặt bỏ nó; và Ngài tỉa sửa từng nhánh nào kết quả, để nó được sai trái hơn… Nếu ai chẳng cứ ở trong Ta, thì bị ném ra ngoài, như một nhánh và bị khô đi; và người ta gom chúng lại, ném vào trong lửa, thì nó cháy” (Giăng 15:1-2, 6).

Lời Kêu Gọi và Cảnh Cáo Các Hội Thánh

Vậy, hãy nhớ lại ngươi đã sa sút từ đâu. Hãy cải hối và làm những việc ban đầu; nếu không, Ta sẽ mau chóng đến với ngươi và sẽ cất chân đèn ngươi khỏi chỗ nó, trừ khi ngươi cải hối” (Khải Huyền 2:5).

Ta đã cho nó thời gian để cải hối sự tà dâm nó mà nó chẳng chịu cải hối. Này, Ta sẽ quăng nó trên giường đau đớn và quăng những kẻ phạm tà dâm với nó vào cơn hoạn nạn lớn, trừ khi chúng cải hối những việc làm của chúng. Ta sẽ diệt con cái nó bằng sự chết và tất cả các Hội Thánh sẽ biết rằng: Ta là Đấng dò xét tâm can và sẽ báo cho mỗi các ngươi tùy theo những việc làm của các ngươi” (Khải Huyền 2:21-23).

Ta biết những việc làm ngươi. Ngươi không lạnh cũng không nóng. Ước gì các ngươi lạnh hoặc nóng! Vì ngươi hâm hẫm, không lạnh cũng không nóng, Ta sẽ mửa ngươi ra khỏi miệng Ta” (Khải Huyền 3:15-16).

Sự Dối Trá của Sa-tan

Các giáo sư giả, giảng dạy tà giáo “Người đã được cứu rỗi thì không bao giờ bị hư mất” bẻ cong ý nghĩa của một số câu Thánh Kinh để phục vụ cho mục đích gạt người của họ. Dưới đây là một số câu điển hình:

Giăng 10:28-29

Giăng 10:28-29 chép: “Ta ban cho chúng sự sống đời đời; chúng chẳng hư mất đời đời; và chẳng ai giựt chúng khỏi tay Ta. Cha Ta là Đấng lớn hơn hết đã ban chúng cho Ta, và chẳng ai có thể giựt chúng khỏi tay Cha Ta.” Khi đặt câu nói này của Chúa trong văn mạch thì chúng ta thấy chữ “chúng” trong hai câu này thay thế cho chữ “các chiên Ta” trong câu 27 trước đó: “Các chiên Ta nghe tiếng Ta, Ta biết chúng, và chúng theo Ta.”

Thế nào là “chiên của Chúa?” Chiên của Chúa nghe tiếng Chúa, tức là vâng theo mọi lời phán của Chúa như con cái nghe theo cha mẹ là con cái vâng theo mọi lời dạy của cha mẹ. Chiên của Chúa được Chúa biết đến chứ không phải như những kẻ không làm theo Lời Chúa nhưng cứ nhân danh Chúa nói tiên tri, trừ quỷ, và làm nhiều phép lạ mà Chúa phán với họ rằng: “Ta không biết các ngươi bao giờ” (Ma-thi-ơ 7:21-23). Chiên của Chúa theo Chúa, tức là sống theo Ngài, làm theo như Ngài đã làm, là vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời (I Giăng 2:3-6), là từ bỏ chính mình, vác thập tự giá mình mà theo Chúa mỗi ngày (Lu-ca 9:23).

Trong câu 26 Chúa phán: “Nhưng các ngươi không tin Ta, vì các ngươi chẳng phải là chiên của Ta,” đã cho chúng ta thấy rõ, chỉ những ai có đức tin nơi Chúa mới là chiên của Chúa, và được Chúa ban cho sự sống đời đời, chẳng hư mất bao giờ. Có đức tin nơi Chúa tức là “hiểu biết, công nhận và làm theo mọi lời Chúa phán.”

Để được làm chiên của Chúa, trở nên con cái của Đức Chúa Trời và ở lại trong địa vị con cái của Đức Chúa Trời thì một người phải vâng lời Chúa mà ra khỏi nếp sống tội lỗi. II Cô-rinh-tô 6:17-18 chép:

Bởi vậy Chúa phán rằng: Hãy ra khỏi giữa chúng nó, hãy phân rẽ ra khỏi chúng nó, đừng đá động đến đồ ô uế, Thì Ta sẽ tiếp nhận các ngươi: Ta sẽ làm Chúa các ngươi, các ngươi làm con trai con gái Ta, Chúa Toàn năng phán như vậy.”

Chính sự kiện đã ra khỏi nếp sống tội hay vẫn còn ở trong nếp sống tội là bông trái và ấn chứng rằng một người có hay không có sự cứu rỗi.

I Cô-rinh-tô 3:14-15

I Cô-rinh-tô 3:14-15 chép: “Ví bằng công việc của ai xây trên nền được còn lại, thì thợ đó sẽ lãnh phần thưởng mình. Nếu công việc họ bị thiêu hủy, thì mất phần thưởng. Còn về phần người đó, sẽ được cứu, song dường như qua lửa vậy.” Trước hết, chúng ta cần đặt hai câu Thánh Kinh này vào trong văn mạch của nó, bắt đầu từ câu 9 và chấm dứt ở câu 15.

9 Vả, chúng tôi là bạn cùng làm việc với Thiên Chúa; anh em là ruộng Thiên Chúa cày, nhà Thiên Chúa xây.
10 Theo ơn Đức Chúa Trời ban cho tôi, tôi đã lập nên như một tay thợ khéo, mà có kẻ khác cất lên trên; nhưng ai nấy phải cẩn thận về sự mình xây trên nền đó.
11 Vì, chẳng ai có thể lập một nền khác ngoài nền đã lập, là Đức Chúa Jesus Christ.
12 Nếu có kẻ lấy vàng, bạc, bửu thạch, gỗ, cỏ khô, rơm rạ mà xây trên nền ấy,
13 thì công việc của mỗi người sẽ bày tỏ ra. Ngày đến sẽ tỏ tường công việc đó; nó sẽ trình ra trong lửa, và công việc của mỗi người đáng giá nào, lửa sẽ chỉ ra.
14 Ví bằng công việc của ai xây trên nền được còn lại, thì thợ đó sẽ lãnh phần thưởng mình.
15 Nếu công việc họ bị thiêu hủy, thì mất phần thưởng. Còn về phần người đó, sẽ được cứu, song dường như qua lửa vậy.

Đoạn Thánh Kinh này nói đến nếp sống Đạo của một người đã tin nhận Chúa trong công tác xây dựng Hội Thánh của Chúa. Câu 9 nói đến “anh em là nhà của Đức Chúa Trời xây” là nói đến Hội Thánh vì Thánh Kinh gọi Hội Thánh là nhà của Đức Chúa Trời (I Ti-mô-thê 3:15). Câu 10 nói đến sự Sứ Đồ Phao-lô thành lập nền tảng cơ bản của Hội Thánh tại Cô-rinh-tô và các tín đồ tại Cô-rinh-tô có bổn phận tiếp tục xây dựng Hội Thánh trên nền tảng đó. Câu 11 nhấn mạnh nền tảng của Hội Thánh là Đấng Christ. Câu 12 so sánh việc xây dựng Hội Thánh của các tín đồ với các vật liệu khác nhau, từ các vật liệu quý như vàng, bạc, bửu thạch đến các vật liệu tầm thường như gỗ, cỏ khô, rơm rạ. Tất cả đều là những vật liệu có thể dùng trong sự xây cất nhưng sự tốt đẹp và mức độ bền vững khác nhau. Câu 13 cho biết sẽ có một ngày giá trị các vật liệu dùng để xây dựng Hội Thánh bị thử nghiệm. Sự thử nghiệm đó là công bình và nghiêm khắc. Công bình vì mỗi vật liệu đều được thử nghiệm cùng một cách là đưa qua lửa. Lửa tiêu biểu cho sự thánh khiết của Thiên Chúa và tiêu biểu cho sự thử nghiệm nghiêm khắc. Lửa thiêu đốt các tạp chất, nếu có, lẫn lộn trong các vật liệu quý và thiêu hủy các vật liệu rẽ tiền. Câu 14 nói đến phần thưởng dành cho những người đã dùng các vật liệu quý mà xây dựng Hội Thánh, vì việc làm của họ còn lại cho đến đời đời. Câu 15 nói đến những người xây dựng Hội Thánh bằng các vật liệu tầm thường sẽ không có phần thưởng, vì việc làm của họ không còn lại, dầu vậy, họ vẫn được cứu vì họ thật lòng từ bỏ tội và tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ. Phân đoạn Thánh Kinh này không hề dạy rằng những người dùng vật liệu tầm thường để xây dựng Hội Thánh là những người sống trong tội.

Lấy Lu-ca 21:1-4 để làm thí dụ về việc dâng hiến tiền bạc trong công việc xây dựng Hội Thánh, chúng ta sẽ thấy hai đồng tiền của một người đàn bà góa nghèo chính là “vàng, bạc, bửu thạch” còn vô số tiền dâng hiến của những người giàu có chỉ là “gỗ, cỏ khô, rơm rạ.” Một bên “đã dâng hết của mình có để nuôi mình,” còn một bên “lấy của dư mình mà làm của dâng.” Người đời chúng ta còn biết nói: “Cách cho hơn của cho,” Vậy thì, việc Đức Chúa Trời ban thưởng cho người đàn bà góa đã dâng hết của nuôi mình lên Ngài và không ban thưởng gì cho những người giàu có dâng của dư lên Ngài là điều công bình vậy. I Cô-rinh-tô 3:14-15 tuyệt đối không hề dạy rằng: “Người đã được cứu rỗi thì không bao giờ bị hư mất.”

I Cô-rinh-tô 5:5

I Cô-rinh-tô 5:5 chép: “rằng, một người như thế phải phó cho quỷ Sa-tan, để hủy hoại phần xác thịt, hầu cho linh hồn được cứu trong ngày Đức Chúa Jesus.” Các giáo sư giả dạy rằng, người đã tin Chúa rồi, nếu có tội mà không ăn năn, nghĩa là cứ tiếp tục sống trong tội, thì dù cho có bị cắt đứt ra khỏi Hội Thánh, bị Sa-tan hủy hoại thân xác trong đời này, nhưng khi Chúa đến thì người ấy vẫn được cứu. Nếu đúng như vậy thì Đức Chúa Jesus Christ không cần phải đến thế gian để chết chuộc tội cho loài người; vì một người có thể được cứu nếu thân xác bị Sa-tan hủy hoại! Như vậy, dưới trời ngoài danh của Đức Chúa Jesus Christ ra còn có danh Sa-tan để khiến cho một người được cứu!

Ý nghĩa của I Cô-rinh-tô 5:5 là: mục đích sự cắt đứt một người ra khỏi Hội Thánh và để mặc cho Sa-tan hủy hoại thân xác của người ấy, là để dẫn người ấy đến sự ăn năn như Thánh Kinh đã nói rõ trong Rô-ma 2:4. Nếu người ấy không ăn năn thì người ấy vẫn bị hư mất. Mục đích sự chết của Đức Chúa Jesus Christ là để những ai ăn năn tội thì được cứu, nhưng những ai không ăn năn tội thì đương nhiên vẫn bị hư mất đời đời. Chúng ta không thể nói rằng, Đức Chúa Jesus nhập thế làm người, chịu chết thay cho nhân loại tội lỗi, hầu cho nhân loại tội lỗi được cứu khỏi sự hư mất trong ngày phán xét, thì có nghĩa là: dù cho có ai không ăn năn tội, người ấy vẫn được cứu.

I Cô-rinh-tô 11:32

I Cô-rinh-tô 11:32 chép “Song khi chúng ta bị Chúa xét đoán, thì bị Ngài sửa phạt, hầu cho khỏi bị án làm một với người thế gian” là nói đến sự sửa phạt dẫn đến sự ăn năn. Nghĩa là: Chúa sửa phạt con dân Chúa để họ ăn năn tội, để họ được Ngài tha thứ và làm cho họ sạch mọi điều gian ác, nhờ đó, họ thoát khỏi bản án hư mất đời đời trong hồ lửa như người không tin Chúa. Câu này hoàn toàn không có nghĩa, một người phạm tội, sau khi bị Chúa sửa phạt mà vẫn không ăn năn, thì cũng không bị hư mất. Rô-ma 2:4-12 giải thích rõ ràng thái độ của Đức Chúa Trời đối với những kẻ không chịu ăn năn tội, dầu họ biết hay không biết Lời Chúa:

Hay là: ngươi xem thường chính sự giàu có của lòng nhân từ, chịu đựng, và nhẫn nại của Ngài, mà không nhận biết lòng nhân từ của Đức Chúa Trời dẫn ngươi đến sự cải hối?Nhưng, theo như sự cứng cỏi và lòng không cải hối của ngươi, ngươi dồn chứa cho chính mình sự thịnh nộ trong ngày thịnh nộ và phơi bày sự phán xét công chính của Đức Chúa Trời, Đấng sẽ trả cho mỗi người tùy theo những việc làm của họ. Thật vậy, những ai bởi sự bền lòng làm lành, tìm kiếm sự vinh quang, sự tôn trọng, và sự chẳng hề chết, thì được sự sống đời đời. Nhưng cơn giận và sự thịnh nộ thật dành cho những ai bởi lòng toan tính và không vâng phục lẽ thật mà vâng phục sự không công bình. Sự hoạn nạn và khốn khổ trên mỗi linh hồn của người làm việc dữ, thuộc về dân Do-thái trước và thuộc về cả dân Hy-lạp. Nhưng sự vinh quang, sự tôn trọng, và sự bình an cho mỗi người làm việc lành, cho dân Do-thái trước và cho cả dân Hy-lạp. Vì trước Đức Chúa Trời, Ngài không thiên vị. Vì hễ ai không luật pháp mà phạm tội, thì họ sẽ không luật pháp mà hư mất. Hễ ai trong luật pháp mà phạm tội, thì họ sẽ bị phán xét bởi luật pháp.”

Vì sự sửa phạt của Chúa nhằm dẫn kẻ có tội đến sự ăn năn để khỏi bị án làm một với người thế gian, cho nên, nếu kẻ bị sửa phạt mà không chịu ăn năn thì vẫn sẽ bị hư mất như người thế gian.Lời phán của Chúa trong Ma-thi-ơ 18:17 dạy cho Hội Thánh cách đối xử với kẻ có tội mà không chịu ăn năn như sau: “Nếu người không chịu nghe các người đó, thì hăy cáo cùng Hội Thánh, lại nếu người không chịu nghe Hội Thánh, thì hăy coi người như kẻ ngoại và kẻ thâu thuế vậy.” Đó là biện pháp sửa phạt cuối cùng để cho kẻ có tội vì sự đau khổ bị dứt ra khỏi Hội Thánh mà chịu ăn năn tội.

Trong I Cô-rinh-tô 11:30 liệt kê ra các mức độ khác nhau trong sự Chúa sửa phạt kẻ có tội: “Ấy vì cớ đó mà trong anh em có nhiều kẻ tật nguyền, đau ốm, và có lắm kẻ ngủ.” Chúng ta có thể tin rằng, khi một người tin Chúa phạm tội, Chúa sẽ dùng tật nguyền hoặc đau ốm để sửa phạt, hầu cho người ấy ăn năn tội. Nếu người ấy vẫn không chịu ăn năn tội thì Chúa sẽ cất đi mạng sống của người ấy, và người ấy chỉ còn chờ ngày sống lại để chịu chung án phạt với người thế gian.

Tất cả những ai xưng mình là môn đồ của Chúa, là con dân của Chúa mà vẫn sống trong tội và tin rằng: “Một người đã được cứu rỗi thì không bao giờ bị hư mất,” là đã để cho Ma Quỷ, các giáo sư giả lường gạt mình và tự mình cũng gạt lấy chính mình. Lời phán sau đây của Chúa dành cho họ: “Sao các ngươi gọi Ta: Chúa, Chúa, mà không làm theo lời Ta phán” (Lu-ca 6:46)? Lời phán của Chúa dành cho tất cả những ai tin nhận sự cứu rỗi của Ngài là: “Hãy đi, đừng phạm tội nữa” (Giăng 8:10)!

Lời của Chúa được ghi lại trong Khải Huyền 3:5: “Kẻ nào thắng, kẻ ấy sẽ được mặc áo trắng và Ta sẽ không xóa tên người khỏi Sách Sự Sống nhưng sẽ xưng tên người trước Cha Ta và trước các thiên sứ của Ngài,” hàm ý kẻ nào không thắng sẽ bị chính Đức Chúa Jesus Christ xóa tên khỏi Sách Sự Sống!

Tôi kêu gọi những người tin vào tà giáo “Một người đã được cứu rỗi thì không bao giờ bị hư mất,” hãy suy ngẫm lời phán sau đây của Đức Thánh Linh:

Chớ hề dối mình; Đức Chúa Trời không chịu khinh dể đâu; vì ai gieo giống chi, lại gặt giống ấy. Kẻ gieo cho xác thịt, sẽ bởi xác thịt mà gặt sự hư nát; song kẻ gieo cho Đấng Thần Linh, sẽ bởi Đấng Thần Linh mà gặt sự sống đời đời” (Ga-la-ti 6:7-8).

Kết Luận

Những kẻ đưa ra tà thuyết “Tin Chúa Một Lần Được Cứu Vĩnh Viễn” và những kẻ tin vào tà thuyết này là những người không thật lòng tin Chúa. Họ chỉ muốn sống trong tội lỗi, làm trọn những điều ưa muốn của xác thịt mà không muốn bị hình phạt. Vì thế, họ cho rằng Đức Chúa Jesus Christ đến thế gian chịu hình phạt thay cho họ để họ có thể tha hồ phạm tội mà không bị hư mất, chỉ cần họ mở miệng ra nói rằng họ tin nhận sự cứu rỗi của Ngài. Họ quên rằng, Đức Chúa Jesus Christ chịu chết để cứu họ ra khỏi tội chứ không phải để cho họ cứ ở trong tội. Họ cũng quên rằng, điều kiện để được cứu rỗi là phải ăn năn tội, tức là chịu từ bỏ tội.

Đức Thánh Linh chỉ được ban cho những ai vâng lời Chúa:

Còn chúng ta đây là kẻ làm chứng mọi việc đó, cũng như Đức Thánh Linh mà Đức Chúa Trời đã ban cho kẻ vâng lời Ngài vậy” (Công Vụ Các Sứ Đồ 5:32).

Sự cứu rỗi đời đời chỉ dành cho những ai vâng lời Chúa:

Dầu Ngài là Con, cũng đã học tập vâng lờibởi những sự khốn khổ mình đã chịu, và sau khi đã được làm nên trọn vẹn rồi, thì trở nên cội rễ của sự cứu rỗi đời đời cho kẻ vâng lời Ngài(Hê-bơ-rơ 5:8-9).

Sự an ninh đời đời trong ơn cứu rỗi chỉ dành cho những ai thật lòng ăn năn tội, từ bỏ tội, nghe theo Chúa, sống theo Chúa, chứ không phải cho những kẻ ngoài miệng thì nói tin Chúa nhưng trong lòng thì cứ chú về tội lỗi và sống một nếp sống không vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời.

Những kẻ mà trong lòng chỉ nghĩ đến những việc tội lỗi và tìm cách để phạm tội thì ngay cả lời cầu nguyện Chúa cũng không nghe, làm gì có chuyện những kẻ ấy được cứu rỗi, được sống đời đời?

Nếu lòng tôi có chú về tội ác, ắt Chúa chẳng nghe tôi” (Thi Thiên 66:18).

Số phận của những người tin Chúa mà vẫn sống trong tội là:

  • không thể khiến họ lại ăn năn nữa”
  • không còn có tế lễ chuộc tội nữa, nhưng chỉ có sự đợi chờ kinh khiếp về sự phán xét, và lửa hừng sẽ đốt cháy kẻ bội nghịch”
  • đáng bị hình rất nghiêm đoán phạt”
  • số phận sau cùng của chúng nó trở xấu hơn lúc đầu”

Nguyện mỗi con dân Chúa chỉ nương cậy vào lẽ thật rõ ràng của Lời Chúa thay vì tin vào các tư tưởng thần học nghịch Thánh Kinh. Nguyện Đức Thánh Linh dẫn dắt mỗi con dân Chúa vào trong lẽ thật của Lời Chúa, hầu cho, họ không bị Ma Quỷ mạo làm thiên sứ sáng láng và các tôi tớ của nó lường gạt mà bị diệt vong (II Cô-rinh-tô 11:14-15). A-men!

Huỳnh Christian Timothy
29.09.2012

Ghi Chú

[1] Trong tiếng Anh là “Once Saved Always Saved.”


Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry.
Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép,

Đọc Tiếp →

Nhận Định về Lời Chứng “Hãy Chuẩn Bị Gặp Chúa của Bạn” của Angelica Elizabeth Zambrano Mora

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2011 Vietnamese Christian Mission Ministry Church, Inc. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Huỳnh Christian Timothy

Bấm vào đây để download bài viết này
Bấm vào đây để download bài viết này cho Kindle

Bấm vào đây để nghe âm thanh – phần 1
Bấm vào đây để nghe âm thanh – phần 2

Dẫn Nhập

Thánh Kinh xác định: "Đức Chúa Trời phán: Trong những ngày sau rốt, Ta sẽ đổ Thần Ta khắp trên mọi xác thịt; con trai và con gái các ngươi đều sẽ nói lời tiên tri, bọn trai trẻ sẽ thấy điềm lạ, và các người già cả sẽ có chiêm bao. Phải, trong những ngày đó, Ta sẽ đổ Thần Ta khắp trên các đầy tớ trai và gái Ta, chúng nó đều nói lời tiên tri" (Công Vụ Các Sứ Đồ 2:17, 18; Giô-ên 2:28, 29).

"Những ngày sau rốt" khởi đầu từ khi Đức Thánh Linh được ban cho Hội Thánh, rồi sẽ kết thúc khi Đấng Christ tái lâm để phán xét thế gian và thiết lập vương quốc ngàn năm của Ngài trên đất. Vì thế, sự kiện con dân Chúa sẽ được thần cảm để thấy điềm lạ hoặc có chiêm bao để nói lời tiên tri là điều đương nhiên. Tuy nhiên, Thánh Kinh cũng cho biết có thần cảm giả mạo (II Tê-sa-lô-ni-ca 2:2) và Sa-tan giả làm thiên sứ sáng láng (II Cô-rinh-tô 11:14). Chính Đức Chúa Jesus Christ đã cảnh giác con dân của Ngài: "Vì nhiều christ giả và tiên tri giả sẽ dấy lên, làm những dấu lớn, phép lạ, nếu có thể được thì họ cũng đến dỗ dành chính những người được chọn. Nầy, Ta đã bảo trước cho các ngươi." (Ma-thi-ơ 24:24, 25).

Thánh Kinh đã dạy cho chúng ta biết là chớ tin cậy mọi thần, nhưng phải thử các thần: "Hỡi kẻ rất yêu dấu, chớ tin cậy mọi thần, nhưng hãy thử cho biết các thần có phải đến bởi Đức Chúa Trời chăng; vì có nhiều tiên tri giả đã hiện ra trong thiên hạ" (I Giăng 4:1). Phương cách để thử các thần là cầu xin Đức Thánh Linh dùng chính Thánh Kinh để chỉ ra cho chúng ta những gì không thuộc về lẽ thật.

Sa-tan và các tà linh của nó có thể hiện ra như một thiên sứ sáng láng của Đức Chúa Trời, thậm chí, hiện ra giả làm Đấng Christ và mạo danh Chúa để "phán truyền, ban mạc khải," và làm ra đủ các thứ dấu kỳ, phép lạ, đến nổi có thể gọi lửa từ trời rơi xuống đất (Khải Huyền 13:13). Vì thế, nếu chúng ta chỉ dựa vào hình thể sáng láng, dựa vào các dấu kỳ, phép lạ, và những lời nói mang danh Chúa, thì chúng ta sẽ bị gạt một cách dễ dàng.

Nguyên tắc duy nhất để xác định một người, một thần, một sự việc có phải đến từ Chúa hay không, là đối chiếu chúng với Thánh Kinh. Chỉ cần có một chi tiết không đúng với Thánh Kinh, thì toàn bộ là sản phẩm giả mạo của loài người hoặc Sa-tan.

Trong bài này, người viết sẽ dùng Lời Chúa để chỉ ra những chi tiết không đúng với Thánh Kinh trong lời làm chứng: "Hãy Chuẩn Bị Gặp Chúa của Bạn" của Angelica Elizabeth Zambrano Mora.

Angelica Elizabeth Zambrano Mora là một thiếu nữ người Ecuador, Nam Mỹ, cô đã làm chứng rằng: Vào ngày 7 tháng 11 năm 2009, Chúa đã làm cho cô chết trong 23 tiếng đồng hồ. Sau đó, Chúa đã dẫn cô vào hỏa ngục và thiên đàng để cô xem thấy những điều đang xảy ra tại hai nơi đó. Rồi, Chúa cho cô sống lại và sai cô thuật những điều đã thấy cho thế gian. Lời làm chứng của cô: "Hãy Chuẩn Bị Gặp Chúa của Bạn," đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, phát hành đi khắp nơi trên thế giới, và cho đến năm 2011 thì cô trở thành nhà truyền giáo nổi tiếng.

Bản dịch Việt ngữ có thể download tại đây: http://www.divinerevelations.info/Documents/Prepare_to_meet_your_God/Vietnamese_Prepare_to_meet_your_God.pdf

Bản dịch Anh ngữ có thể download tại đây: http://www.divinerevelations.info/Documents/Prepare_to_meet_your_God/English_Prepare_to_meet_your_God.pdf

Những câu trích dẫn Anh ngữ dưới đây được trích dẫn từ trang mạng nêu trên và được người viết bài này dịch sang tiếng Việt.

Ba Mươi Điều Không Đúng với Thánh Kinh Trong Lời Chứng của Angelica

Điều 1:Những việc "lớn và khó" được đề cập trong Giê-rê-mi 33:3 không phải là thiên đàng và hỏa ngục.

Angelica:

Tôi đã xin một dấu hiệu rằng, Ngài ở với tôi, và Chúa đã cho tôi Giê-rê-mi 33:3: "Hãy kêu cầu Ta, Ta sẽ trả lời cho; Ta sẽ tỏ cho ngươi những việc lớn và khó, là những việc ngươi chưa từng biết." Tôi nói: "Lạy Chúa, có phải Ngài vừa phán với con?" Vì tôi nghe rõ tiếng nói của Ngài và có sự nhìn thấy những chữ đã được viết trong Giê-rê-mi 33:3.

Tôi hỏi: "Lạy Chúa, có phải đó là cho con?" Tôi giữ điều ấy cho chính mình, trong khi mọi người khác đang làm chứng những gì Chúa đã cho họ và những gì họ đã thấy. Tôi giữ bí mật điều đó và nghĩ rằng, những chữ "Kêu cầu Ta," có nghĩa là cầu nguyện, nhưng "những việc lớn và khó," có nghĩa gì? Tôi nghĩ: "Điều này chỉ có nghĩa là thiên đàng và hỏa ngục." Vậy nên, tôi nói: "Lạy Chúa, con chỉ muốn Ngài cho con thấy thiên đàng chứ không là hỏa ngục, bởi vì, con từng nghe rằng, đó là nơi khủng khiếp!" Nhưng rồi tôi hết lòng cầu nguyện: "Lạy Chúa, nếu ý Ngài là cho con thấy những gì Ngài phải cho thấy, thì xin hãy làm như vậy, nhưng xin thay đổi con trước. Con muốn Ngài làm ra một sự khác biệt trong con; con muốn được trở nên khác biệt."

I asked for a sign that He was with me, and the Lord gave me Jeremiah 33:3, "Call to Me and I will answer you and tell you great and unsearchable things you do not know." I said, "Lord, did You just talk to me?” Because I heard His audible voice and had a vision of the words written in Jeremiah 33:3.

I said, "Lord, is that for me?" I kept it to myself, while everyone else was testifying what the Lord had given them and what they had seen. But I kept it secret and would only meditate on the words: "Call unto Me" means to pray, but what did"great and mighty things" mean? I thought, "This can only mean heaven and hell." So I said, "Lord, I only want You to show me heaven, but not hell, because I've heard that it is a horrible place." But I then prayed with all my heart, "Lord if it is Your will to show me what You must, then do so, but change me first. I want You to make a difference in me; I want to be different.”

Nếu "những việc lớn và khó" trong Giê-rê-mi 33:3 là thiên đàng và hỏa ngục, thì ý nghĩa của câu Thánh Kinh đó sẽ là: Hễ Giê-rê-mi kêu cầu Chúa, thì Ngài sẽ cho ông thấy thiên đàng và hỏa ngục! Nên nhớ, đây là lời Chúa phán trực tiếp đến Tiên Tri Giê-rê-mi, lúc ông đang bị giam trong hành lang của cung điện Vua Sê-đê-kia, nước Giu Đa (Giê-rê-mi 32:2; 33:1), trong khi quân lính Ba-by-lôn đang bao vây thành Giê-ru-sa-lem, để phá thành và bắt dân Giu-đa đi lưu đày 70 năm. Sự cứng lòng của dân Giu-đa dẫn đến sự sửa phạt nặng nề của Thiên Chúa trên vương quốc Giu-đa, đang xảy ra trước mắt Giê-rê-mi; nhưng Chúa bảo ông hãy kêu cầu Chúa, thì Chúa sẽ tỏ cho ông những việc lớn và khó, mà Ngài sẽ làm cho dân của Ngài.

Nghĩa đen của Giê-rê-mi 33:3, hiểu theo văn cảnh của toàn đoạn 33 và toàn sách Giê-rê-mi, có nghĩa là: Nếu Giê-rê-mi kêu cầu Chúa thì Chúa sẽ tỏ cho ông về sự Thiên Chúa sẽ tha thứ, giải cứu, và phục hồi hai vương quốc I-sơ-ra-ên và Giu-đa: "Nầy, Ta sẽ ban sức mạnh cho nó, và chữa lành; Ta sẽ chữa lành chúng nó, sẽ tỏ cho chúng nó thấy dư dật sự bình an và lẽ thật. Ta sẽ khiến những phu tù Giu-đa và phu tù I-sơ-ra-ên trở về; gây dựng lại chúng nó như hồi trước. Ta sẽ làm cho sạch mọi sự gian ác chúng nó đã phạm nghịch cùng Ta; Ta sẽ tha mọi sự gian ác chúng nó đã phạm nghịch cùng Ta, và đã phạm pháp nghịch cùng Ta" (Giê-rê-mi 33:6-8).

Nghĩa ứng dụng thuộc linh của Giê-rê-mi 33:3 là: Hễ ai kêu cầu Chúa thì Ngài sẽ đáp lời họ, tỏ cho họ năng lực và sự mầu nhiệm của Tin Lành về sự Thiên Chúa sẽ tha thứ, giải cứu, và phục hồi những ai thật lòng ăn năn, từ bỏ tội, và tin nhận Đấng Christ.

Điều 2: Đức Chúa Trời không hề giải thích Thánh Kinh theo ý loài người.

Angelica:

Tôi đã cầu nguyện suốt cả tháng 8 và rồi trong tháng 11, một tôi tớ của Chúa đã đến nhà chúng tôi và nói: "Nguyện Chúa ban phước cho cô." Tôi đáp lời: "A-men!" Ông bèn nói: "Tôi đến đây để mang cho cô một sứ điệp từ Đức Chúa Trời… cô phải chuẩn bị chính mình, vì Chúa sẽ tỏ cho cô những việc lớn và khó mà cô chưa từng biết. Ngài sẽ tỏ cho cô thiên đàng và hỏa ngục, bởi vì cô đã cầu xin theo Giê-rê-mi 33:3." Tôi hỏi: "Vâng, làm sao ông biết được? Tôi chưa hề nói điều đó với ai cả." Ông ta trả lời: "Chính Đức Chúa Trời mà cô hầu việc và tôn vinh, chính Đức Chúa Trời đó mà tôi cũng tôn vinh đã nói cho tôi mọi sự."

I prayed during all of August and then in November, a servant of the Lord came to our house and said, "May the Lord bless you." I replied, "Amen." He then said, "I am here to bring you a message from God…you must prepare yourself, because the Lord will show you great and mighty things which you do not know. He is going to show you Heaven and Hell because you have been asking, from Jeremiah 33:3." I asked, "Yes, how did you know? I haven't told that to anyone." He responded, "The same God that you serve and praise, that very same God I also praise told me everything."

Mọi lời tiên tri trong Thánh Kinh đều không thể giải thích theo ý riêng: "Trước hết, phải biết rõ rằng chẳng có lời tiên tri nào trong Thánh Kinh lấy ý riêng giải nghĩa được. Vì chẳng hề có lời tiên tri nào từng bởi ý một người nào, nhưng những người thánh của Thiên Chúa đã cảm động bởi Thánh Linh mà nói ra" (II Phi-e-rơ 1:20, 21). Thế nhưng, trong lời làm chứng trên đây của Angelica, chúng ta thấy cô đã tự ý giải thích: "những việc lớn và khó" là "thiên đàng và hỏa ngục." Tiếp theo, Angelica nói một "tôi tớ Chúa" đã đến nhà của cô và nói với cô rằng, Chúa sẽ cho cô thấy thiên đàng và hỏa ngục như lời cô đã cầu nguyện theo Giê-rê-mi 33:3. Và như vậy, theo cô, điều đó có nghĩa là sự hiểu của cô về "những việc lớn và khó" trong Giê-rê-mi 33:3 đã được một "tôi tớ Chúa" ấn chứng là đến từ "Chúa."

Một khi Lời Chúa bị giải thích sai trật thì dù cho có bao nhiêu người "xác chứng" cũng không thể biến những sai trật đó thành lẽ thật. Chính sự kiện một người rao giảng Lời Chúa đúng với Thánh Kinh tỏ cho biết người ấy là tôi tớ Chúa; còn một người dù có địa vị và bằng cấp cao trọng trong các giáo hội, nhưng giảng sai Lời Chúa, thì không thể là tôi tớ Chúa mà chỉ là giáo sư giả và tiên tri giả, mạo làm kẻ giúp việc công bình (II Cô-rinh-tô1:15). Họ cũng có thể nhân danh Chúa để nói tiên tri, trừ quỷ, và làm nhiều phép lạ, nhưng Chúa không hề biết họ (Ma-thi-ơ 7:21, 22). Họ và những kẻ nghe theo họ sẽ bị hư mất đời đời.

"Đức Chúa Trời" mà một người hầu việc và tôn vinh không hẳn là Đức Chúa Trời của Thánh Kinh. Phải chăng Sa-tan đã ranh mãnh chơi chữ với những người bị rơi vào trong sự dối gạt của nó?

Điều 3: Thánh Kinh không hề nói các thiên sứ của Chúa được sai đến tiếp xúc với loài người có cánh.

Angelica:

Họ cao và đẹp với những bộ cánh xinh đẹp. Họ to lớn và chiếu sáng, dường như trong suốt và rực rỡ như vàng. Họ mang những giầy bằng thủy tinh và mặc những trang phục thánh. "Tại sao các ngươi ở đây?" Họ mĩm cười và đáp: "Chúng tôi ở đây vì chúng tôi có nhiệm vụ phải thi hành… Chúng tôi ở đây vì cô phải viếng thăm thiên đàng và hỏa ngục; và chúng tôi sẽ chẳng rời khỏi cho đến khi mọi việc này được hoàn tất." Tôi đáp lời: "Tốt lắm, nhưng tôi chỉ muốn viếng thiên đàng mà không viếng hỏa ngục." Họ mĩm cười và cứ ở đó, nhưng họ không nói gì thêm. Sau khi chúng tôi chấm dứt buổi cầu nguyện, tôi vẫn có thể nhìn thấy họ ở đó.

They were tall and beautiful; with beautiful wings. They were large and shining, and seemed transparent, brilliant as gold. They wore crystal sandals and had on holy garments. "Why are you here?" They smiled and said, "We are here because we have a task to carry out…We are here because you must visit Heaven and Hell and we will not leave until all of this comes to pass." I responded, “very well, but I only want to visit heaven, not hell." They smiled, and stayed there, but did not say anything more. After we finished prayer, I could still see them there.

Thánh Kinh chỉ nói đến các Chê-ru-bin và Sê-ra-phin là có cánh. Họ là những sinh vật kề bên ngai Chúa. Các Chê-ru-bin và Sê-ra-phin không phải là hàng thiên sứ được Chúa sai đến, tiếp xúc với loài người. Chê-ru-bin ở phía dưới ngai còn Sê-ra-phin thì bao phủ ở phía trên ngai của Thiên Chúa. Thánh Kinh không dùng từ ngữ "thiên sứ" để gọi các sinh vật này mà chỉ dùng từ ngữ "các sinh vật."

Ngoài ra, Xa-cha-ri 5:9 nói đến khải tượng về hai tà linh có hình dáng người đàn bà và có cánh như cánh cò (chim cò thuộc loài vật ô uế), được Thiên Chúa dùng làm công cụ để sửa phạt vương quốc Giu-đa. Hai người đàn bà có cánh này tiêu biểu cho tà linh cầm quyền trên dân Canh-đê và dân Ba-by-lôn, là hai giống dân thuộc đế quốc Ba-by-lôn, được Chúa dùng để sửa phạt dân Giu-đa.

Khái niệm cho rằng các thiên sứ có cánh và các thánh đồ trong Thánh Kinh có vòng hào quang bao chung quanh đầu ra từ những tranh tượng của các Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống.

Sự hiện thấy của Angelica về hai "thiên sứ" có cánh đến xác chứng với cô rằng, "những việc lớn và khó" là việc Chúa sẽ cho cô viếng thăm "thiên đàng và hỏa ngục," một lần nữa, cho chúng ta thấy Sa-tan chuẩn bị thật kỷ từng chi tiết, để khiến người ta tin vào sự dối trá của nó.

Điều 4: Thánh Kinh không hề ghi lại sự kiện một người có thể nhìn thấy Đức Thánh Linh như cách nhìn thấy thiên sứ.

Angelica:

Tôi cũng bắt đầu nhìn thấy Đức Thánh Linh. Ngài là bạn tốt nhất của tôi. Ngài là thánh, Ngài biết hết mọi sự, Ngài ở khắp mọi nơi. Tôi có thể nhìn thấy Ngài, vừa trong suốt vừa rực rỡ, với một dung mạo chói sáng. Tôi có thể nhìn thấy nụ cười của Ngài và cái nhìn yêu thương của Ngài. Tôi khó mà diễn tả Ngài, vì Ngài xinh đẹp hơn các thiên sứ nhiều.

I also started to see the Holy Spirit; He is my best friend; He is Holy, He is omniscient; He is omnipresent! I could see Him, transparent and brilliant at the same time; with a brilliant countenance, I could see His smile and His loving gaze! I can hardly describe Him, because He is more beautiful than angels.

Loài người có thể nhìn thấy các thiên sứ của Chúa hoặc nhìn thấy các tà linh lấy hình loài người hiện ra, và chỉ có thể nhìn thấy Thiên Chúa trong hình thể của loài người qua Đức Chúa Jesus, vì Đức Chúa Jesus đã có một thân thể xác thịt như loài người. Sau khi Đức Chúa Jesus phục sinh từ cõi chết, loài người cũng có thể nhìn thấy Ngài và sờ chạm Ngài. Trong khải tượng được ghi lại trong sách Khải Huyền, Sứ Đồ Giăng cũng nhìn thấy Đức Chúa Jesus trong hình thể của loài người. Tuy nhiên, Thánh Kinh không hề ghi lại sự kiện một người có thể nhìn thấy Đức Chúa Cha hoặc Đức Thánh Linh trong hình thể của loài người. Vì thế, lời chứng trên đây của Angelica không có một hậu thuẩn nào từ Thánh Kinh. Nếu chúng ta tin vào tất cả những gì  không được ấn chứng của Thánh Kinh, thì chúng ta sẽ không còn tiêu chẩn để phân biệt thật giả.

Điều 5: Công Vụ của Đức Thánh Linh trên đất, giữa Hội Thánh, trong lòng người tin Chúa không phải để chơi với tín đồ và hiện ra cho tín đồ nhìn thấy hoặc làm theo lời sai khiến của tín đồ.

Angelica:

Tôi có thể nhìn thấy, chơi với, và ngay cả trò chuyện với Đức Thánh Linh. Nhưng các thiên sứ thì không trò chuyện với tôi, mà họ chỉ tôn vinh Chúa. Tôi có thể nói: "Đức Thánh Linh, xin hãy đến với con và làm điều này hay làm điều kia," thì Ngài liền ở đó. Tôi có thể nhìn thấy Ngài, cảm nhận Ngài. Tôi nhìn thấy Ngài khi Ngài đứng dậy, đến nổi tôi dọn một chỗ cho Ngài ngồi. Mặc dù nhiều người không thể nhìn thấy Ngài, Ngài vẫn ở đây.

I could see; play with, and even talk to the Holy Spirit. But the angels would not talk to me, but they would praise the Lord. I would say, "Holy Spirit come along with me to do this or that" and He would be there. I could feel and see Him. I saw Him when He would rise to His feet, and would even prepare a seat for Him. Although many can't see Him, He is here!

Lời chứng trên đây của Angelica cũng tương tự như lời chứng vừa nêu trên trong điều 4, hoàn toàn không có sự hậu thuẩn của Thánh Kinh. Chúng ta có thể nói: Angelica đang thấy tà linh và chơi với tà linh.

Điều 6: Thánh Kinh không hề ghi lại sự kiện: khi một người nhìn thấy khải tượng từ Chúa thì bị đau đớn trong thân thể.

Angelica:

Trong khi cầu nguyện, tôi cảm thấy hụt hơi, tôi không thể thở được. Tôi cảm thấy đau đớn trong bụng và trong tim. Tôi cảm thấy máu của tôi sắp ngưng tuần hoàn và một cơn đau đớn khủng khiếp lan khắp thân thể tôi. Tôi chỉ có thể nói: "Lạy Chúa, xin thêm sức cho con, xin thêm sức cho con," vì tôi cảm thấy tôi không còn chịu nổi nữa. Tôi không còn sức lực, nó đã lìa khỏi tôi. Khi tôi nhìn lên trời, trong cõi thuộc linh, không phải với đôi mắt vật lý của tôi, tôi đã nhìn thấy thiên đàng mở ra. Tôi nhìn thấy các thiên sứ, không phải hai hay mười, nhưng hàng triệu vị đang nhóm họp với nhau. Giữa hàng triệu thiên sứ, tôi nhìn thấy một ánh sáng, sáng chói gấp 10,000 lần mặt trời. Và tôi nói: "Lạy Chúa, đó chính là Ngài, Đấng đang đến!"

During prayer, I felt shortness of breath; I couldn't breathe. I felt a pain in my abdomen and in my heart. I felt my blood going dormant, and tremendous pain all over my body. All I could say was, "Lord, give me strength, give me strength!" because I felt I couldn't go on. I had no strength, it was leaving me! When I looked up to heaven, in the spiritual realm, not with my physical eyes, I saw heaven opening up. I saw angels, not two nor ten, but millions of them gathering together. In the midst of the millions of angels, I saw a Light, 10,000 times brighter than the sun. And I said, "Lord that is You who is coming!"

Điều 7: Thánh Kinh không hề ghi lại rằng Đức Chúa Jesus tự xưng danh Ngài là Giê-hô-va.

Angelica:

Vào giây phút đó, tôi nghe tiếng của Chúa, một giọng nói yêu thương như sấm vang: "Đừng sợ! Hỡi con gái! Vì Ta là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của con. Ta phải đến đây để tỏ cho con điều mà Ta đã hứa với con. Hãy chổi dậy, vì Ta là Giê-hô-va, Đấng nắm giữ con bởi tay phải con và phán với con rằng, đừng sợ, vì Ta sẽ giúp con!"

At that moment I hear the Lord's voice, a beautiful voice with thunder and love, "Fear not, Daughter, for I am Jehovah, Your God, and I have come here to show you what I have promised you. Arise, for I am Jehovah, who holds you by your right hand and tells you, Fear not, I will help you."

Mặc dù chúng ta biết Giê-hô-va là tên riêng của Thiên Chúa Ba Ngôi, nghĩa là: Đức Chúa Cha là Giê-hô-va, Đức Chúa Con là Giê-hô-va, và Đức Thánh Linh là Giê-hô va. Ê-sai 6:1-5 ghi lại sự kiện Tiên Tri Ê-sai nhìn thấy Đức Giê-hô-va ngồi trên ngôi cao sang, và Giăng 12:41 cho biết là Ê-sai đã thấy Đức Chúa Con. Thế nhưng Thánh Kinh không hề ghi lại rằng, Đức Chúa Jesus tự xưng danh Giê-hô-va khi phán với loài người. Ngay trong Khải Huyền là cuốn sách ghi lại những mạc khải cuối cùng của Thiên Chúa ban cho loài người, Đức Chúa Jesus cũng chỉ xưng: "Ta là Jesus" (Khải Huyền 22:16)!

Vì thế, lời chứng trên đây của Angelica cũng không có sự hậu thuẩn của Thánh Kinh. Càng nhiều chi tiết "ly kỳ," khác thường nhưng không có trong Thánh Kinh bao nhiêu, chỉ càng giúp cho con dân chân thật của Chúa, là "những người đã được chọn," càng dễ nhìn ra sự dối trá của Sa-tan.

Điều 8: Khải Huyền 1:14 ghi rằng đầu và tóc của Chúa trắng như lông chiên, không phải tóc Ngài là vàng chói sáng.

Angelica:

Khi tôi bắt đầu bước đi thì các thiên sứ mở ra một lối đi. Có một ánh sáng mạnh mẽ chiếu ra và tôi nhìn vào đó, tôi cảm thấy bình an. Khi tôi nhìn, tôi thấy một người đàn ông xinh đẹp, cao, thanh lịch, vạm vỡ; ánh sáng phát ra từ Ngài. Có quá nhiều ánh sáng nên tôi không thấy mặt Ngài, nhưng tôi có thể thấy mái tóc xinh đẹp bằng vàng chói sáng của Ngài và một trang phục trắng với thắt lưng vàng ngang ngực; trên đó có hàng chữ: Vua muôn vua và Chúa muôn chúa!

As I started walking, the angels began to open a path. There was a strong light shining, and as I gazed at it, I felt peace. As I looked, I saw a beautiful, tall, elegant, muscular man. Light was projecting from Him. There was too much light for me to see His face! But I could see His beautiful hair of brilliant gold and a white garment with a wide golden girdle that crossed His chest. It read, "KING OF KINGS AND LORD OF LORDS."

Điều 9: Đức Chúa Jesus khẳng định với Đức Chúa Cha, Ngài đã ban sự vinh quang của Ngài cho những ai thuộc về Ngài: "Con đã ban cho họ sự vinh quang mà Ngài đã ban cho con, để họ trở nên một cũng như chúng ta là một" (Giăng 17:22 – Bản Dịch Ngôi Lời).

Vì thế, hễ những ai thuộc về Ngài thì có vinh quang của Ngài và nhận biết Ngài là thật, nhận biết vinh quang của Ngài là thật. Vậy, tại sao gần hai ngàn năm sau, Chúa lại phải tỏ cho Angelica thấy vinh quang của Ngài và nhờ cô bảo với con dân Ngài, rằng: Ngài là thật và vinh quang của Ngài là thật? Nếu một người không tin Ngài là thật thì làm sao trở thành con dân của Ngài? Nếu một người đã là con dân Ngài mà không nhận biết sự vinh quang của Ngài, (tức là: tình yêu, sự công chính, và sự thánh khiết của Ngài), là thật thì làm sao có thể chiếu sáng vinh quang của Ngài qua thân thể và đời sống của người đó (I Cô-rinh-tô 6:20)?

Angelica:

Và, Ta cũng sẽ tỏ cho con sự vinh quang của Ta, để con nói với dân Ta hãy chuẩn bị, vì sự vinh quang của Ta là thật và Ta là thật!"

And also, My glory will I show you, for you to tell My people to be prepared, for My glory is real and I am real."

Điều 10: Thánh Kinh không hề diễn tả hỏa ngục với những màn tra tấn, hành hạ khủng khiếp bởi quỷ dữ để người ta sợ.

Angelica:

Ngài phán: "Hỡi con gái, Ta sẽ ở với con. Ta sẽ chẳng lìa con trong nơi đó và Ta sẽ tỏ cho con nơi đó, bởi vì, có nhiều người biết hỏa ngục có thật nhưng họ không sợ. Họ tin nó là một trò chơi, rằng hỏa ngục là chuyện đùa, và nhiều người không biết về nó. Đó là lý do Ta sẽ tỏ cho con nơi ấy, bởi vì, có nhiều người hư mất hơn là vào trong sự vinh quang của Ta."

He said, "Daughter, I will be with you. I will not leave you in that place and I am going to show you that place because there are many who know that hell exists, but they have no fear. They believe it's a game, that hell is a joke, and many don't know about it. That is why I am going to show you that place, because there are more that perish than those that are entering My glory."

Thánh Kinh đã nói đến sự có thật của hỏa ngục và số phận hư mất đời đời của những ai không tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jesus Christ. Chỉ Tin Lành của Đức Chúa Trời mới có năng quyền để cứu tất cả những ai tin nhận Tin Lành ấy (Rô-ma 1:16), chứ không phải sự thật khủng khiếp về hỏa ngục mới khiến người ta được cứu rỗi. Rao giảng về sự khủng khiếp của hỏa ngục với mục đích muốn cho người ta tin Chúa tức là rao giảng một thứ "tin lành khác," không có trong Thánh Kinh (II Cô-rinh-tô 11:4; Ga-la-ti 1:6, 7).

Điều 11: Thánh Kinh không hề dạy mỗi con quỷ ở trong hỏa ngục được ban cho tên của một người và một phi tiêu, để chúng lên mặt đất dùng phi tiêu hủy diệt người đó và mang người đó vào hỏa ngục.

Điều 12: Thánh Kinh chép: "Nhưng mỗi người bị cám dỗ khi mắc tư dục xui giục mình. Đoạn, lòng tư dục cưu mang, sanh ra tội ác; tội ác đã trọn, sanh ra sự chết" (Gia-cơ 1:14, 15). Nếu quả thật, mỗi tà linh được ban cho quyền hủy diệt nhân loại để đem họ vào hỏa ngục, thì nhân loại không có trách nhiệm về sự hư mất của họ.

Điều 13: Thánh Kinh dạy rằng: Sa-tan là thần của đời này (II Cô-rinh-tô 4:4) và các thần dữ của nó đang hành động trong chốn không trung (Ê-phê-sô 2:2; 6:12), còn các thiên sứ phạm tội khác bị xiềng lại trong vực sâu để chờ ngày bị phán xét (II Phi-e-rơ 2:4). Thánh Kinh không dạy ma quỷ từ hỏa ngục có thể tiến lên mặt đất để tấn công loài người, ngoại trừ một lần duy nhất trong thời đại nạn, chúng sẽ được thả ra từ vực sâu không đáy, lên trên mặt đất để hành hại những người theo Anti-Christ (Khải Huyền 9).

Điều 14: Thánh Kinh không hề dạy ma quỷ đem linh hồn của tội nhân vào hỏa ngục. Chính Chúa nhốt các thiên sứ phạm tội vào vực sâu, chính Chúa sẽ ném Anti-Christ và tiên tri giả của nó vào hỏa ngục, và chính Chúa cũng sẽ ném Sa-tan vào hỏa ngục. Sau khi Sa-tan bị ném vào hỏa ngục thì Chúa mới xét xử những người không có sự cứu rỗi, rồi mới ném họ xuống hỏa ngục (Khải Huyền 2011-15). Thánh Kinh cho biết các thiên sứ làm nhiệm vụ thu thập những kẻ ác ra khỏi vương quốc của Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 13:39, 41, 49).

Điều 15: Thánh Kinh không hề dạy Chúa khóc vì những linh hồn bị hư mất trong hỏa ngục. Nếu Chúa khóc vì những linh hồn bị hư mất trong hỏa ngục thì Ngài sẽ khóc đến đời đời.

Angelica:

Tôi nhìn thấy những con quỷ kinh khiếp, đủ loại, cả lớn lẫn nhỏ. Chúng nó chạy thật nhanh và cầm vật chi đó trong tay chúng. "Lạy Chúa, tại sao chúng chạy như vậy và chúng cầm vật gì trong tay?" Ngài đáp: "Hỡi con gái, chúng chạy vì chúng biết thời giờ của chúng sắp hết, vì không còn bao nhiêu thời gian để hủy diệt nhân loại, đặc biệt là dân Ta. Những vật chúng cầm trong tay chúng là những phi tiêu dùng để hủy diệt nhân loại, bởi vì mỗi con quỷ được ban cho một tên người và tùy theo tên người đã ban cho nó, nó có một phi tiêu để hủy diệt người đó và đem người đến nơi này. Mục đích của nó là hủy diệt người đó và đem người vào hỏa ngục." Và tôi có thể thấy những con quỷ chạy ra, hướng về địa cầu; và Ngài phán với tôi: "Chúng nó đến địa cầu để mang và ném nhân loại vào trong chốn này!" Trong khi phán lời này, Ngài đã khóc. Ngài khóc rất nhiều. Ngài khóc suốt buổi và tôi cũng khóc nữa.

I saw horrible demons, of all types, both large and small. They were running so fast, and carrying something in their hands. "Lord, why are they running like that and what are they carrying?" He answered, “Daughter, they run that way because they know their time is running out, because time is so short to destroy humanity and especially My people. That which they carry in their hands are darts to destroy humanity, because each demon is given a name and according to the name that is given to them, they have a dart to destroy that person and bring them to this place; their goal is to destroy that person and bring them to hell." And I would see the demons running and exiting toward Earth and He told me. "They are going to Earth to bring and throw humanity into this place." As He said this He would weep, He would weep so very much. He was weeping all the time and I would cry too.

Điều 16: Số 666 của con thú trong Khải Huyền 13 là dấu hiệu mà một người thờ lạy nó, tình nguyện chịu mang lấy trên trán hoặc trên tay phải. Việc đó sẽ xảy ra trong thời đại nạn, sau khi Chúa đã đem Hội Thánh ra khỏi thế gian. Hiện nay, không ai có thể nhận con dấu của con thú vì con thú chưa xuất hiện.

Điều số 17: Thánh Kinh dạy rất rõ, là sau khi Sa-tan bị ném vào hỏa ngục, những người không tin nhận Chúa sẽ bị phán xét tùy theo mỗi việc họ đã làm, rồi mới bị ném vào hỏa ngục (Khải Huyền 20:11-15). Vậy, tại sao hiện nay người thanh niên trong lời chứng của Angelica đã chịu hình phạt ở trong hỏa ngục? Trớ trêu là ngay trong lời nói của tà linh mà Angelica gọi là "Chúa Jesus," cũng khẳng định rõ sự phán xét chỉ xảy ra trong ngày cuối cùng, không phải trong hiện tại.

Angelica:

Chúa phán với tôi: "Con đã sẵn sàng để xem điều mà Ta sẽ tỏ ra cho con chăng?" Tôi đáp: "Vâng, thưa Chúa!" Ngài đem tôi đến một phòng giam mà tôi có thể nhìn thấy một thanh niên đang bị khổ giữa lửa. Tôi để ý thấy phòng giam được đánh số, mặc dầu tôi không thể hiểu những con số, hình như chúng được viết ngược. Có một tấm bảng lớn trong phòng giam đó và người thanh niên có số "666" trên trán anh ta. Anh ta cũng có một tấm bảng lớn bằng kim loại được khảm vào da của anh ta. Những con sâu đang ăn anh ta nhưng không thể làm hư tấm bảng; lửa cũng không cháy nó. Anh ta kêu la: "Lạy Chúa, xin thương xót con. Xin đem con ra khỏi chốn này. Xin tha thứ con, Chúa ơi!" Nhưng Đức Chúa Jesus đáp: "Trể rồi! đã quá trể! Ta đã ban cho ngươi nhiều cơ hội mà ngươi đã không ăn năn." Tôi hỏi Đức Chúa Jesus: "Lạy Chúa, tại sao anh ta ở đây?" Rồi, tôi nhận ra anh ta. Trên đất, người thanh niên này biết Lời Chúa, nhưng bỗng nhiên anh ta rời xa Chúa, chọn rượu, ma túy, và đi vào con đường sai trái. Anh ta đã không muốn đi theo con đường của Chúa. Đức Chúa Jesus đã cảnh cáo anh nhiều lần về việc điều gì sẽ xảy đến cho anh. Đức Chúa Jesus phán: "Hỡi con gái, anh ta ở trong chỗ này bởi vì bất kỳ ai chối bỏ Lời Ta thì đã có một thẩm phán. Lời mà Ta đã phán sẽ phán xét anh ta trong ngày cuối cùng."

The Lord said to me, "Are you ready to see what I am going to show you?" "Yes, Lord," I said. He took me to a cell where I could see a young man being tormented among the flames. I noticed that the cell was enumerated, though I couldn't understand the numbers, they seemed to be backward. There was a huge plaque in that cell, and the young man had the number "666" on his forehead. He also had a big metallic plate that was encrusted into his skin. The worms that were eating him, were unable to damage that plate; neither did the flames burn it. He screamed, "Lord, have mercy on me. Take me out of this place. Forgive me, Lord!" But Jesus would respond, "It's late, too late: I gave you opportunities and you would not repent." I asked Jesus, "Lord, why is he here?" Then I recognized him. On Earth, this young man knew the Word of God, but abruptly he walked away from the Lord, preferring alcohol, drugs and walking on the wrong path. He did not want to follow the way of the Lord. Jesus warned him many times on what could happen to him. Jesus said, "Daughter, he is in this place because anyone who rejects My Word already has a judge: The Word that I have spoken will judge him in that last day,"

Điều 18: Hỏa ngục là nơi Chúa dựng nên để hình phạt ma quỷ (Ma-thi-ơ 25:41), không phải là nơi để ma quỷ hành hạ những người bị hư mất. Hiện nay chưa có ai trong hỏa ngục vì chưa đến kỳ phán xét.

Angelica:

Tôi không bao giờ tưởng tượng sẽ nhìn thấy một người thân của mình trong phòng giam đó. Tôi nhìn thấy một người đàn bà đang bị hành hạ. Bà có những con sâu ăn hết khuôn mặt của bà và những con quỷ phóng một thứ như cây giáo vào thân thể của bà. Bà ta kêu la: "Không! Lạy Chúa, xin thương xót con, xin tha thứ con, xinđem con ra khỏi nơi này chỉ một phút mà thôi!"

I never could have imagined seeing a relative of mine in that cell. I saw this woman being tormented, she had worms that would eat her face off, and demons would plunge a type of spear into her body. She would scream, "No, Lord, have mercy on me, forgive me, please, take me out of this place for one minute!"

So về mức độ phạm tội thì ma quỷ phạm tội trầm trọng hơn và nhiều hơn loài người, vì ma quỷ được tận mắt nhìn thấy sự vinh quang của thi

Đọc Tiếp →

Giáo Hội Công Giáo Có Quyền Tha Thứ Tội?

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2011 Vietnamese Christian Mission Ministry, Inc.  –  Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry  –  Xin quý bạn đọc vui lòng tiếp tay phổ biến bài viết nầy dưới mọi hình thức, nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Đặng Vũ Thanh Nguyên
Bấm vào đây để download bài viết này

[507]

Giáo Hội Công Giáo dạy rằng họ có thẩm quyền để tha thứ cho tội lỗi của những người theo Công Giáo. Xin dẫn chứng một số phân đoạn trích từ sách Giáo Lý Công Giáo (GLCG) có sự đối chiếu giữa bản tiếng Việt và tiếng Ý. Sở dĩ tôi chọn bản tiếng Ý vì là bản gốc dễ hiểu hơn bản tiếng La-tinh:

Điều 982 trong GLCG, bản Việt ngữ chép rằng:"Không có tội nào nặng đến nỗi Hội Thánh không thể tha thứ được. "Dù có ai gian ác và xấu xa đến đâu… vẫn có thể tin chắc được tha thứ, miễn là chân thành sám hối" (x. Giáo lý Rô-ma 1, 11, 5). Ðức Ki-tô, Ðấng đã chết cho mọi người, muốn rằng: mọi cánh cửa tha thứ trong Hội Thánh luôn rộng mở cho bất cứ ai ăn năn trở lại" (x. Mt 18, 21-22).

Đối chiếu với điều 982, trang 258 trong bản tiếng Ý:"Non c'è nessuna colpa, per grave che sia, che non possa essere perdonata dalla santa Chiesa. « Non si può ammettere che ci sia un uomo, per quanto infame e scellerato, che non possa avere con il pentimento la certezza del perdono ». (550) Cristo, che è morto per tutti gli uomini, vuole che, nella sua Chiesa, le porte del perdono siano sempre aperte a chiunque si allontani dal peccato (551)."

Trong nguyên bản tiếng Ý chúng ta lưu ý câu: "Non c'è nessuna colpa, per grave che sia, che non possa essere perdonata dalla santa Chiesa" nếu dịch cho thật sát nghĩa sẽ là "không có một tội lỗi nào dù nặng nề, xấu xa đến đâu đi chăng nữa mà Giáo Hội không thể không tha thứ được."

Nguy hiểm hơn nữa là câu "Ðức Ki-tô, Ðấng đã chết cho mọi người, muốn rằng: mọi cánh cửa tha thứ trong Hội Thánh luôn rộng mở cho bất cứ ai ăn năn trở lại" (bản Việt ngữ). Chúng ta nhận thấy có điểm khác biệt giữa sự dẫn chứng của hai bản văn.

Bản Việt ngữ dẫn chứng câu Kinh Thánh trong sách Mathieu 18:21-22 và Rô-ma 1, 11, 5. Vậy Ma-Thi-ơ 18:21-22 nói gì?

"Phi-e-rơ bèn đến gần Đức Chúa Jêsus mà hỏi rằng: Thưa Chúa, nếu anh em tôi phạm tội cùng tôi, thì sẽ tha cho họ mấy lần? Có phải đến bảy lần chăng? Ngài đáp rằng: Ta không nói cùng ngươi rằng: đến bảy lần đâu, nhưng đến bảy mươi lần bảy"(Ma-thi-ơ 18:20-22).

Không hề có một câu nào có ý nghĩa Giáo Hội Công Giáo có quyền phép tha thứ mọi tội lỗi.

Bản tiếng Ý dùng điều 550 và 551 của GLCG để dẫn chứng quyền phép tha thứ của Giáo Hội Công Giáo. Vậy chúng ta hãy tra điều 550 và 551 trong bản Việt ngữ.

Điều 550:"Nước Thiên Chúa đến làm cho nước Xa-tan sụp đổ (x. Mt l2, 26) "Nếu tôi nhờ Thánh Thần Thiên Chúa mà trừ quỷ, thì quả là Nước Thiên Chúa đã đến giữa các ông" (Mt l2, 28). Ðức Giê-su trừ quỷ là giải phóng con người khỏi vòng cương tỏa của ma quỷ (x. Lc 8, 26-39). Qua đó, Người thể hiện trước Người sẽ toàn thắng "thủ lĩnh thế gian này" (Ga l2, 3l). Chính nhờ Thánh Giá Ðức Ki-tô mà Nước Thiên Chúa sẽ được thiết lập vĩnh viễn : "Trên ngai Thập Giá, Thiên Chúa thống trị muôn loài" (x. Thánh ca "Vexilla Regis").

Điều 551: "Ngay khi bắt đầu đời sống công khai, Ðức Giê-su chọn Nhóm Mười Hai để các ông cùng ở với Người và chia sẻ sứ mạng với Người (x. Mc 3, l3-l9). Người ban cho họ dự phần vào uy quyền của Người và "sai họ đi loan báo Nước Thiên Chúa và chữa lành bệnh nhân" (Lc 9, 2). Họ sẽ vĩnh viễn liên kết với Nước Ðức Ki-tô, bởi vì Người sẽ nhờ họ mà điều hành Hội Thánh."

"Thầy sẽ ban quyền cai trị cho anh em; như Cha Thầy đã ban cho Thầy, anh em được đồng bàn ăn uống với Thầy trên vương quốc của Thầy, và ngự trên tòa xét xử l2 chi tộc Ít-ra-en"(Lc 22, 29-30).

Trong phần dẫn chứng, chúng ta thấy chẳng hề có sự liên quan giữa hai văn bản của Giáo Hội Công Giáo Việt-Ý-Pháp! Qua những sự so sánh ở trên, chúng ta thấy rõ ràng GLCG hoàn toàn là truyền thống của loài người, không phải lời Chúa trong Kinh Thánh. Nếu đem đối chiếu với bản Pháp ngữ thì thực trạng cũng không khá hơn. Bản Việt ngữ dịch thuật không đúng với bản GLCG bản tiếng Ý và tiếng Pháp. Bản Việt ngữ dẫn chứng bằng những câu Kinh Thánh nhưng thực chất những câu dẫn chứng đó không hề liên quan gì đến sự ghi chép trong GLCG của Vatican. Các bản tiếng Ý và tiếng Pháp lại chú giải bằng chính các điều khoản đã dẫn trong GLCG. Ngoài ra để khẳng định quyền năng tha thứ tội lỗi của mình Giáo Hội Công Giáo còn đưa ra nhưng dẫn chứng khác trong GLCG:

Điều 986, bản Việt ngữ: "Do ý muốn của Ðức Ki-tô, Hội Thánh có quyền tha tội cho những người đã được rửa tội. Thông thường Hội Thánh thi hành quyền này trong bí tích Giải Tội qua các giám mục và linh mục."

Điều 986, bản tiếng Ý:"Secondo la volontà di Cristo, la Chiesa possiede il potere di perdonare i peccati dei battezzati e lo esercita per mezzo dei Vescovi e dei sacerdoti normalmente nel. sacramento della Penitenza."

Điều 986, bản Pháp ngữ,(tôi chỉ trích câu, đoạn cần thiết): "De par la volonté du christ, l'église possède le pouvoir de pardonner les péchés des baptisés…"

Khủng khiếp hơn là những gì mà Giáo Hội ghi trong điều 1448, trang 378:

Điều 1448, bản Việt ngữ:"Qua những thay đổi về qui định và nghi thức theo dòng thời gian, chúng ta nhận ra một cấu trúc nền tảng với hai yếu tố chính. Một mặt là những hành vi của những con người hoán cải dưới tác động của Chúa Thánh Thần : ăn năn, thú tội và đền tội. Mặt khác là tác động của Thiên Chúa qua thừa tác vụ của Hội Thánh. Nhờ giám mục và linh mục, Hội Thánh tha tội nhân danh Ðức Ki-tô, ấn định việc đền tội, cầu nguyện cho hối nhân và cùng làm việc thống hối với họ. Nhờ đó, tội nhân được chữa lành và hiệp thông lại với Hội Thánh."

Điều 1448, bản tiếng Ý:"Attraverso i cambiamenti che la disciplina e la celebrazione di questo sacramento hanno conosciuto nel corso dei secoli, si discerne la medesima struttura fondamentale. Essa comporta due elementi ugualmente essenziali: da una parte, gli atti dell'uomo che si converte sotto l'azione dello Spirito Santo: cioè la contrizione, la confessione e la soddisfazione; dall'altra parte, l'azione di Dio attraverso l'intervento della Chiesa. La Chiesa che, mediante il Vescovo e i suoi presbiteri, concede nel nome di Gesù Cristo il perdono dei peccati e stabilisce la modalità della soddisfazione, prega anche per il peccatore e fa penitenza con lui. Così il peccatore viene guarito e ristabilito nella comunione ecclesiale."

Qua điều 1448, rõ ràng là GLCG khẳng định là Chúa đã phải nhờ đến các Linh mục, Giám mục thay thế ngài làm việc tha thứ cho tội nhân! Vậy Giáo Hội Công Giáo có quyền tha tội không? Xin mời các anh chị em cùng tôi đi tìm sự thật qua lời Chúa trong Kinh Thánh:

"Hãy ở với nhau cách nhân từ, đầy dẫy lòng thương xót, tha thứ nhau như Đức Chúa Trời đã tha thứ anh em trong Đấng Christ vậy"(Ê-phê-sô 4:32).

Theo Kinh Thánh Đức Chúa Trời muốn con cái của Ngài trực tiếp đến đối diện với Ngài, cầu nguyện Ngài chứ không phải qua trung gian của bất kỳ một ai. Hãy suy ngẫm câu Kinh Thánh Hê-bơ-rơ 4:16:

"Vậy, chúng ta hãy vững lòng đến gần ngôi ơn phước, hầu cho được thương xót và tìm được ơn để giúp chúng ta trong thì giờ có cần dùng."

Ngôi ơn phước ngụ ý nói về Ngai của Đức Chúa Trời. Vậy câu Kinh Thánh này nói rõ ràng sự tha thứ tội lỗi là đến từ Đức Chúa Trời chứ không phải là Linh mục, Giám mục, Giáo Hội hay bất kỳ một ai khác. Thế nhưng Giáo Hội Công Giáo đã dạy những tín lý sai trái như sau:

Điều 1461, bản Việt Ngữ:"Vì Ðức Ki-tô đã trao cho các tông đồ thừa tác vụ giao hòa (x. Ga 20,23; 2Cr 5,18), nên các giám mục kế nhiệm các ngài và các linh mục là những cộng sự viên của các giám mục, tiếp tục thi hành thừa tác vụ này. Nhờ bí tích Truyền Chức, các giám mục và linh mục có quyền tha tội "nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần."

Điều 1461, bản tiếng Ý:"Poiché Cristo ha affidato ai suoi Apostoli il ministero della riconciliazione, (63) i Vescovi, loro successori, e i presbiteri, collaboratori dei Vescovi, continuano ad esercitare questo ministero. Infatti sono i Vescovi e i presbiteri che hanno, in virtù del sacramento dell'Ordine, il potere di perdonare tutti i peccati « nel nome del Padre e del Figlio e dello Spirito Santo »."

Điều 1461, bản Pháp Ngữ:""En effet, ce sont les évêques et les presbytres, qui ont, en vertu du sacrement de l'Ordre, le pouvoir de pardonner les péchés"

Điều 979, bản Việt Ngữ:"Trong cuộc chiến chống xu hướng xấu, không ai đủ nghị lực và cảnh giác để tránh mọi tội lỗi, "vì thế, Hội Thánh cần có quyền tha tội. Bí tích Thánh Tẩy không phải là phương thế duy nhất để Hội Thánh sử dụng chìa khóa Nước Trời đã lãnh nhận từ Ðức Giê-su Ki-tô; Hội Thánh phải có khả năng tha tội cho tất cả các hối nhân phạm tội sau khi lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy", cho dù họ có còn phạm tội cho đến hơi thở cuối cùng." (Giáo Lý Rô-ma 1, 11, 4).

Điều 979, bản tiếng Ý:"In tale combattimento contro l'inclinazione al male, chi potrebbe resistere con tanta energia e con tanta vigilanza da riuscire ad evitare ogni ferita del peccato? « Fu quindi necessario che nella Chiesa vi fosse la potestà di rimettere i peccati anche in modo diverso dal sacramento del Battesimo. Per questa ragione Cristo consegnò alla Chiesa le chiavi del regno dei cieli, in virtù delle quali potesse perdonare a qualsiasi peccatore pentito i peccati commessi dopo il Battesimo, fino all'ultimo giorno della vita » (546)."

Điều 979, bản Pháp Ngữ:"il fallait qu'elle [ý chỉ Hội Thánh trong bản Việt ngữ] fût capable de pardonner leurs fautes à tous les pénitents, quand même ils auraient péché jusqu'au dernier moment de leur vie."

Tín điều do Giáo Hội Công Giáo tạo dựng đã đi ngược hoàn toàn với Kinh Thánh, họ tự ban cho mình cái thẩm quyền thay mặt Đức Chúa Trời tha thứ tội lỗi cho mọi người. Trong khi đó, Kinh Thánh đã nói rõ ràng, những ai biết ăn năn, muốn xin tha tội thì phải đến khẩn cầu nơi Đức Chúa Trời. Tác giả Thi-Thiên nói:

"Tôi đã thú tội cùng Chúa, không giấu gian ác tôi; Tôi nói: Tôi sẽ xưng các sự vi phạm tôi cùng Đức Giê-hô-va; Còn Chúa tha tội ác của tôi"(Thi-thiên 32:5).

Vua David đã trực tiếp nói chuyện với Đức Chúa Trời trong Thi-Thiên 25:16-20, Thi-Thiên 51:2-4 để xin Chúa tha thứ cho tội lỗi của ông:

"Cầu xin Chúa hãy đoái xem tôi và thương xót tôi, Vì tôi một mình và khốn khổ. Sự bối rối nơi lòng tôi đã thêm nhiều; Xin Chúa cứu tôi khỏi sự hoạn nạn. Khá xem xét sự khốn khổ và sự cực nhọc tôi, Và tha các tội lỗi tôi. Hãy xem xét kẻ thù nghịch tôi, vì chúng nó nhiều; Chúng nó ghét tôi cách hung bạo. Xin Chúa hãy giữ linh hồn tôi, và giải cứu tôi; Chớ để tôi bị hổ thẹn, Vì tôi nương náu mình nơi Chúa" (Thi-thiên 25:16-20).

"Xin hãy rửa tôi cho sạch hết mọi gian ác, Và làm tôi được thanh khiết về tội lỗi tôi. Vì tôi nhận biết các sự vi phạm tôi, Tội lỗi tôi hằng ở trước mặt tôi. Tôi đã phạm tội cùng Chúa, chỉ cùng một mình Chúa thôi, Và làm điều ác trước mặt Chúa; Hầu cho Chúa được xưng công bình khi Chúa phán, Và được thanh sạch khi Chúa xét đoán"(Thi-thiên 51:2-4).

Vua Sa-lô-môn cũng biết rằng chính ông cũng như các con dân Do Thái đều có thể trực tiếp cầu xin Đức Chúa Trời để được Ngài tha thứ, làm cho họ được thanh sạch:

"…Phàm điều gì tôi tớ Chúa và dân Y-sơ-ra-ên của Chúa sẽ cầu khẩn trong khi hướng về nơi này, xin Chúa hãy đủ nghe; phải, ở nơi ngự của Chúa tại trên các từng trời, xin Chúa đủ nghe, nhậm lời, và tha thứ cho"(II Sử-ký 6:21).

Chính Đức Chúa Trời cũng phán rằng những ai biết ăn năn mà tìm đến Ngài thì sẽ nhận được tha thứ:

"…và nhược bằng dân sự ta, là dân gọi bằng danh ta, hạ mình xuống, cầu nguyện, tìm kiếm mặt ta, và trở lại, bỏ con đường tà, thì ta ở trên trời sẽ nghe, tha thứ tội chúng nó, và cứu xứ họ khỏi tai vạ"(II Sử-ký 7:14).

Đức Chúa Trời không hề nói con, cái của Ngài phải tìm đến một kẻ trung gian, một nhà thờ, Hội thánh để cầu xin sự tha thứ. Chúa của chúng ta là công bình, là Cha nhân ái, tại sao Ngài lại phải xử dụng kẻ trung gian để thay thế Ngài chăm sóc cho con cái của Ngài? Thật là vô lý khi GLCG tự ban cho mình cái quyền đó. Thi-Thiên 86:5 đã nói rõ ràng tấm lòng nhân từ của Đức Chúa Trời với các con cái của Ngài:

"…Chúa ôi! Chúa là thiện, sẵn tha thứ cho, Ban sự nhân từ dư dật cho những người kêu cầu cùng Chúa" (Thi-thiên 86:5).

Đứng trước sự ăn năn chân thành của con cái Ngài, tấm lòng nhân ái của Chúa thật bao la.

"…nếu một người trong anh em có sự gì phàn nàn với kẻ khác thì hãy nhường nhịn nhau và tha thứ nhau: như Chúa đã tha thứ anh em thể nào, thì anh em cũng phải tha thứ thể ấy"(Cô-lô-se 3:13).

Thế thì tại sao ta lại phải cầu xin Linh mục, Giám mục, Giáo Hội Công Giáo? Tại sao tín ký của Giáo Hội lại đi nghịch lại lời Chúa trong Kinh Thánh? Mục đích của họ là gì khi họ dẫn dắt các tín đồ đi ra ngoài lời Chúa khiến cho tín đồ phải trật phần ân điển?

Theo như tín điều 983 trong Giáo Lý Công Giáo (GLCG), họ đã tự nhận họ dược đầy dẫy quyền năng của Đức Chúa Trời. Họ cũng khẳng định uy quyền của họ. Nhưng có một điều mà chúng ta phải ghi nhận là khi họ tự ban cho mình quyên năng vô biên đó, là chính họ đã đứng giữa các tín đồ và Đức Chúa Trời. Điều này có nghĩa là họ tách rời Chúa ra khỏi con cái của Ngài.

Điều 983, bản Việt ngữ:"Huấn giáo phải cố gắng khơi dậy và nuôi dưỡng nơi các tín hữu niềm tin vào hồng ân vô song Ðức Ki-tô Phục Sinh đã ban cho Hội Thánh là sứ mạng và quyền tha tội nhờ thừa tác vụ của các tông đồ và những người kế nhiệm: "Chúa muốn các môn đệ của Người có một quyền năng vô biên: Người muốn các tôi tớ thấp hèn của Người nhân danh Người mà thực hiện tất cả những gì Người đã làm khi còn tại thế" (x. T. Am-rô-siô bàn về phép giải tội 1, 34). Các linh mục đã nhận được một quyền năng mà Thiên Chúa đã không ban cho các thiên thần hoặc các tổng lãnh thiên thần… Từ trời cao, Thiên Chúa phê chuẩn tất cả những gì các linh mục làm dưới đất (x. T. Gio-an Kim Khẩu, chức linh mục 3, 5). Nếu Hội Thánh không có quyền tha tội, thì chúng ta không còn hy vọng nào, không còn hy vọng được sống đời đời và được ơn giải thoát vĩnh cửu. Chúng ta hãy tạ ơn Thiên Chúa vì đã ban cho Hội Thánh một hồng ân như vậy (x. T. Âu-tinh bài giảng 213, 8)!"

Điều 983, bản Ý ngữ:"La catechesi si sforzerà di risvegliare e coltivare nei fedeli la fede nella incomparabile grandezza del dono che Cristo risorto ha fatto alla sua Chiesa: la missione e il potere di perdonare veramente i peccati, mediante il ministero degli Apostoli e dei loro successori. « Il Signore vuole che i suoi discepoli abbiano i più ampi poteri; vuole che i suoi servi facciano in suo nome ciò che faceva egli stesso, quando era sulla terra » (552). I sacerdoti « hanno ricevuto un potere che Dio non ha concesso né agli angeli né agli arcangeli. […] Quello che i sacerdoti compiono quaggiù, Dio lo conferma lassù » (553). Se nella Chiesa non ci fosse la remissione dei peccati, « non ci sarebbe nessuna speranza: nessuna speranza di una vita eterna e di una liberazione eterna. Rendiamo grazie a Dio che ha fatto alla sua Chiesa un tale dono » (554).

Điều 983, bản Pháp ngữ:"….Si dans l'église il n'y avait pas la rémission des péchés, nul espoir n'existerait, nulle espérance d'une vie éternelle et d'une libération éternelle. Rendons grâce à Dieu qui a donné à son Eglise un tel don.

Thay vì đi với Chúa Giêsu để được tha tội và sự sống đời đời. Thay vì cúi đầu ăn năn cầu xin Đức Chúa Trời tẩy sạch tội lỗi. Người Công Giáo được dạy rằng tội lỗi của họ chỉ có thể được tha thứ thông qua các Linh mục, Giám mục, nhà thờ Công Giáo! Sự kinh khủng tín lý này là Giáo Hội bẻ cong lời Chúa trong Kinh Thánh và qua đó Giáo Hội đã bủa cái lưới nhện của họ để giam cầm tín đồ Công Giáo trong vòng kiềm chế của Giáo Hội.

Kết luận:

Một lần nữa Giáo Lý Công Giáo của Giáo Hội Công Giáo đã đối nghịch lại với lời Chúa trong Kinh Thánh.  Kinh thánh xác định Đức Chúa Trời là vị Cha nhân từ, Đấng yêu thương. Nếu như con cái của Ngài hư hỏng thì các con phải đến ăn năn cùng Cha và chỉ có Ngài, vị Cha đầy tình yêu, công bằng mới có thẩm quyền tha thứ cho con cái của Ngài. Vậy mà GLCG đã dám tước đi vai trò của Đức Chúa Trời, ngăn cách con cái của Ngài với Ngài.

Là một Cơ-đốc Nhân (tôi xử dụng từ Cơ-đốc Nhân trong ý rộng rãi, bao gồm tất cả những ai tin theo Chúa, không phân biệt Công Giáo, Tin Lành), chúng ta phải khẳng định con đường chúng ta đi là con đường thánh khiết mà Đức Chúa Trời mong muốn con cái của Ngài đi theo. Con đường đó đã ghi chép rõ ràng trong Kinh Thánh. Bất kỳ con đường nào khác ngoài Kinh Thánh, chúng ta phải gạt bỏ nói đi.

Trước khi kết thúc, tôi xin các bạn hãy suy ngẫm câu Kinh Thánh sau:

"Hỡi linh hồn ta, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va, Chớ quên các ân huệ của Ngài. Ấy là Ngài tha thứ các tội ác ngươi, Chữa lành mọi bịnh tật ngươi"(Thi-thiên 103:2-3).

Cầu mong các bạn, các anh chị em luôn được bình an trong tình yêu thương vô biên của Đức Chúa Trời, Cha nhân ái của chúng ta. Trong danh Đức Chúa Jesus Christ. A-men.

Đặng Vũ Thanh Nguyên

Đọc Tiếp →

Lễ Ban Thánh Thể của Công Giáo

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2011 Vietnamese Christian Mission Ministry, Inc.  –  Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry  –  Xin quý bạn đọc vui lòng tiếp tay phổ biến bài viết nầy dưới mọi hình thức, nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Đặng Vũ Thanh Nguyên
Bấm vào đây để download bài viết này

[443]

Đạo Công Giáo nói: Thánh lễ giúp cho người chết. Chia sẻ Thánh lễ giúp cho người Công giáo còn sống có cơ hội để giúp cho người thân đã chết:

"Thánh lễ cũng được dâng lên để cầu cho các tín hữu đã qua đời, những người đã chết trong Ðức Ki-tô và chưa được thanh luyện trọn vẹn, để họ được vào hưởng ánh sáng và bình an của Ðức Ki-tô" (Điều 1371 Giáo lý Công giáo. Bản Việt ngữ).

"Le sacrifice eucharistique est aussi offert pour les fidèles défunts, pour qu'ils puissent entrer dans la lumière et la paix du christ" (Điều 1371, trang 358. Bản Pháp ngữ).

"Eucharistique" mà người Công giáo dịch là Thánh lễ. Nhưng "Thánh lễ" thật ra không có ý nghĩa gì cả! Vì Eucharistique thật ra nó có nghĩa là lễ ban thánh thể. Bản dịch Việt ngữ đã dịch không sát nghĩa với bản Pháp ngữ bởi họ đã bỏ qua câu "Le sacrifice" có nghĩa là "lễ hiến sinh."

Vậy câu dịch đúng sẽ là: "Lễ hiến sinh ban thánh thể cũng là để dâng hiến cho các tín hữu đã qua đời để họ được vào trong ánh sáng và sự bình an của Đức Ki-Tô."

Trong điều 1689, giáo lý Công Giáo nói tiếp:

Phụng vụ Thánh Thể khi lễ nghi an táng cử hành trong nhà thờ, bí tích Thánh Thể là tâm điểm của thực tại Vượt Qua nơi cái chết của Ki-tô hữu(x. Sách Lễ Nghi An Táng 1). Trong thánh lễ, Hội Thánh bày tỏ sự hiệp thông hữu hiệu của mình với người quá cố: khi dâng lên Chúa Cha, trong Chúa Thánh Thần, hy tế cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Ðức Ki-tô, Hội Thánh cầu xin Cha cho người con của mình được thanh luyện khỏi mọi tội lỗi, được tha mọi hình phạt, và được nhận vào bàn tiệc trong nước Chúa (x. Sách Lễ Nghi An Táng 57). Nhờ bí tích Thánh Thể, cộng đoàn tín hữu, nhất là gia đình người quá cố, học sống hiệp thông với người "đã an nghỉ trong Chúa," bằng cách rước Mình Thánh Chúa mà người đó đang là một chi thể sống động, để rồi cầu nguyện cho và cùng với người đó. (Điều 1689, giáo lý Công Giáo. Bản Việt ngữ).

"L'Eucharistie est le coeur de la réalité pascale de la mort chrétienne. C'est alors que l'église exprime sa communion efficace avec le défunt … " (Điều 1689, trang 435. Bản Pháp Ngữ).

Thật đáng kinh ngạc khi giáo lý Công Giáo La-mã dạy tín hữu phải tham gia lễ rước Thánh Thể thường xuyên với người thân đã chết sẽ giúp cho họ được lên thiên đường nhanh hơn. Là một Cơ-đốc nhân, nếu như học thuyết này đến từ Đức Chúa Trời thì chúng ta phải tuân hành. Nhưng nếu đến từ truyền thống của loài người, để kềm chế tín đồ dưới sự kiểm soát của tôn giáo thì đó là một điều cực kỳ dã man, độc ác. Đã là một Cơ đốc nhân, chúng ta phải và chỉ tuân theo lời Chúa dạy dỗ chúng ta trong Kinh Thánh, vậy chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện Chúa ban cho chúng ta sự thông sáng để đi tìm hiểu lời Chúa dạy chúng ta trong Kinh Thánh như thế nào.

Từ sách Cựu ước đến sách Tân ước câu "Thánh Lễ" hoặc "Lễ Ban Thánh Thể" không bao giờ được đề cập trong Kinh Thánh.

Các anh chị em có thể lật từng trang Kinh Thánh, đọc kỹ lưỡng từng câu, từng chữ, chúng ta không thể nào tìm ra được Bí Tích Thánh Thể. Và cũng không có một đoạn, một câu nào trong Kinh Thánh nói rằng Bí Tích Thánh Thể cứu giúp người chết. Thậm chí, không có một nhân vật nào trong Kinh Thánh nhận Bí Tích Thánh Thể để giúp đỡ người thân yêu của họ đã qua đời.

Vậy, giáo lý Công giáo không những "vắng" lời Chúa mà lại còn cố tình vi phạm lời Chúa. Trong Kinh Thánh đã dạy rõ ràng mỗi cá nhân chúng ta phải chịu trách nhiệm về sự hiện hữu của mình trong đời này trước Đức Chúa Trời như đã ghi trong Rô-Ma 14:12: "Như vậy, mỗi người trong chúng ta sẽ khai trình việc mình với Đức Chúa Trời."

Khi Đức Chúa Cứu Thế giáng trần, Ngài đã hoàn thành mọi công việc để mở cho chúng ta một con đường bước vào thiên đường trên cây thập tự giá. Sự cứu rỗi mà chúng ta được hưởng là món quà của Đức Chúa Trời ban cho. Ân điển đó không phải là sự giành, mua bởi đức tính truyền thống của loài người hoặc bằng đạo đức của người thân yêu của chúng ta. Kinh Thánh đã nói rõ ràng, sau khi chết mọi người đều phải đối diện với Đức Chúa Trời để chịu sự xét xử và không có sự lựa chọn nào khác:"Theo như đã định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét" (Hê-bơ-rơ 9:27).

Vậy theo như lời Chúa trong Kinh Thánh, mọi việc rất rõ ràng: những ai không đặt đức tin nơi Đức Chúa Jesus Christ khi còn sống trên đời này, người đó sẽ bị phân tách ra khỏi Chúa và nước thiên đàng: "Ai tin Ngài thì chẳng bị đoán xét đâu; ai không tin thì đã bị đoán xét rồi, vì không tin đến danh Con một Đức Chúa Trời" (Giăng 3:18). "Ai tin Con, thì được sự sống đời đời; ai không chịu tin Con, thì chẳng thấy sự sống đâu, nhưng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người đó" (Giăng 3:36).

Kinh Thánh không hề nói Đức Chúa Trời sẽ tha thứ cho người chết vì thân nhân của họ khi còn sống đã chịu bí tích thánh thể. Cách duy nhất để tránh sự xét xử của Đức Chúa Trời, được Ngài tha thứ là phải đặt đức tin nơi Đức Chúa Jesus Christ và dâng hiến cả cuộc đời minh lên cho Ngài: "Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai nghe lời ta mà tin Đấng đã sai ta, thì được sự sống đời đời, và không đến sự phán xét, song vượt khỏi sự chết mà đến sự sống" (Giăng 5:24).

Tóm lại, chúng ta có thể tự đặt ra một số câu hỏi như sau:

·         Tại sao truyền thống của giáo hội Công Giáo lại có thể có những tín lý như vậy? Tín lý hoàn toàn đối lập với lời Chúa trong Kinh Thánh?

·         Tại sao tín điều Công giáo lại yêu cầu các tín hữu phải thực hiện các nghi lễ dành cho các thân nhân đã chết trong khi Kinh Thánh đã khẳng định đó là một điều vô ích?

·         Phải chăng đây là một trong những hành động để trói chân tín đồ? Để đặt tín đồ dưới sự kiểm soát của Giáo hội?

·         Sau cùng, nếu một Cơ-đốc nhân tin theo tín lý này, thì Cơ-đốc nhân đó đương nhiên chối bỏ lời Chúa trong Kinh Thánh và phủ nhận sự hy sinh của Đức Chúa Jesus Christ để cứu chuộc chúng ta! Các bạn, các anh chị em có chắc chắn muốn làm điều này không?

Kinh Thánh nói:"Hãy giữ chừng, kẻo có ai lấy triết học và lời hư không, theo lời truyền khẩu của loài người, sơ học của thế gian, không theo Đấng Christ, mà bắt anh em phục chăng" (Cô-lô-se 2:8).

Mến chúc các bạn, các anh, chị, em luôn sống trong tình yêu thương của Đức Chúa Trời yêu kính của chúng ta. Và cùng học, cùng suy ngẫm lời Ngài để mãi mãi làm đẹp lòng Ngài. A-men.

Đặng Vũ Thanh Nguyên

Đọc Tiếp →

Những Bức Tâm Thư của Cựu Linh Mục Bùi Đức Hạnh

Bấm vào đây để download bài viết này

[690]

BỨC TÂM THƯ I

Kính gởi: các linh mục Công Giáo

Về chức linh mục Công Giáo

‘Tu es sacerdos in Eternum secumdum Ordinem Melchisedech’ (Con là thầy cả tế lễ đời đời theo ban Mên-chi-xa-đéc’) Hê-bơ-rơ 7:17 TL.110.4

     Câu kinh thánh trên đây được tất cả linh mục Công Giáo tâm niệm để giữ mình trong một đời sống xứng đáng.

     Theo giáo lý Công Giáo được thụ phong do phép bí tích Chúa Jê-sus đã lập và được in dấu thiêng liêng bất diệt và linh mục là thầy tế lễ đời đời theo Mên-chi-xa-đéc.

      Thầy tế lễ, chức linh mục Công Giáo có quyền cao cả, người cầm trong tay Mình Thánh Đức Chúa Jê-sus  khi người hành lễ đọc lời truyền ‘Hoc est corpucmeum! Này là mình Ta’, linh mục dâng tế lễ cho Đức Chúa Trời để đền tội. Linh mục cầm trong tay ấn quyền giải tội để tha thứ, và cầm buộc tội nhân. Linh mục là Người của Đức Chúa Trời là Ki-Tô khác (Alter Christus). Phẩm chức cao trọng và quyền bính cao cả ấy ngang hàng với Đức Chúa Trời, đã tìm thấy trong chức linh mục Công Giáo.

     Vậy, phẩm chức cao trọng và quyền bính cao cả ấy bởi đâu? Bởi chính Đức Chúa Trời ban cho hay bởi loài người tự tạo lấy cho mình. Để hiểu rõ điều đó, chúng ta hãy tra cứu Kinh Thánh và chỉ có Kinh Thánh là lời Chúa mới giải tỏ được. Xin tra cứu sách Hê-bơ-rơ trong Tân Ước, xuất Ai-Cập ký và sách Lê-vi trong Cựu Ước.

     Trong Cựu Ước, Đức Chúa Trời thiết lập A-rôn làm thầy tế lễ cho Ngài: ‘Trong vòng dân Y-sơ-ra-ên, người hãy chọn Arôn anh người cùng các con trai người là Na-đáp, Abihu, Eleasa và Jthama lập lên chức tế lễ trước mặt Ta. ‘Đức Chúa Trời lại trang sức cho A-rôn, mũ đội trên đầu, bảng đeo trước ngực, áo khoác trong và ngoài. Lại phong chức trong 7 ngày’ (Xuất 29:35).

     ‘Nhưng ấy là hình bóng chỉ về đời bấy giờ’ hê-bơ-rơ 10:1.

Sách Hê-bơ-rơ đoạn 1 nói về Chúa Jê- sus cao trọng hơn thiên sứ, đoạn 3: Chúa Jê-sus cao trọng hơn Môi-se; đoạn 7&8: Đức Chúa Jê-sus là thầy tế lễ thượng phẩm theo ban Mên-chi-xa-đéc.(tr 1). Vậy chúng ta có thể ứng dụng mọi điều cho chức linh mục Công Giáo được không? Có phải Đức Chúa Trời thiết lập chức linh mục Công Giáo theo như Lời Ngài trong Kinh Thánh chăng?

Để trả lời câu hỏi trên, ta hãy tra cứu Kinh Thánh về các vấn đề:

1. Ơn thiên triệu     2.Chức tế lễ     3.Của tế lễ     4. Mục đích tế lễ     5. Quyền tha tội của linh mục Công Giáo.

1. Ơn Thiên Triệu

     Linh mục Công Giáo nói rằng: Mình có ơn Thiên Triệu, ơn Đức Chúa Trời kêu gọi. Thật đáng sợ khi kẻ làm việc tế lễ cho Đức Chúa Trời mà không có ơn Ngài gọi. Trong Cựu Ước, sách Sử Ký 26:16-21 kể chuyện vua Ô-xia làm điều ác, phạm tội cùng Đức Chúa Trời vì người vào trong đền thờ Đức Giê-hô-va xông hương trên bàn thờ xông hương. Các thầy tế lễ đã cản vua vì đó là phần việc các thầy tế lễ con cháu A-rôn. Song vua cứ xông hương thì Đức Chúa Trời hình phạt người và người bị tật phong.

     ‘Vì vậy không ai được chiếm lấy chức trọng đó cho mình, phải được Đức Chúa Trời kêu gọi như A-rôn ngày xưa, Nec qisquam sumit honoren, sed qui vocatur a Deo tanquam A-rôn’ Hê-bơ-rơ 5:4.

     Ơn kêu gọi A-rôn làm thầy tế lễ, chỉ để dâng của lễ chiên bò … của lễ theo luật pháp, không thể cất tội lỗi đi được (Hê-bơ-rơ 10:4) mà Đức Chúa Trời còn cặn kẽ phán dậy. Kinh Thánh từng nói bao nhiêu lần trong các đoạn sách Xuất Ê-díp-tô ký từ đoạn 28-40. Sách Lê-vi ký từ đoạn 1-10. Chẳng những đối với chức tế lễ của A-rôn. Đức Chúa Trời còn nói về nghi thức hành sự và lễ phục của người nữa. Vi phạm những điều ấy thì Đức Chúa Trời đã trừng trị cách nghiêm thẳng. Hai con trai A-rôn là Na-đáp và Abihu, mặc dầu đã được Môi-se xức dầu làm thầy tế lễ, nhưng vì xem thường việc lấy lửa bỏ vào bình hương mà bị Đức Chúa Trời phạt chết thiêu. Kinh Thánh nói: ‘Hai con trai A-rôn là Na-đáp và Abihu, mỗi người đều cầm lư hương mình để lửa vào, bỏ hương lên và dâng một thứ lửa lạ trước mặt Đức Giê-hô-va, ấy là điều Ngài không phán dặn. Một ngọn lửa từ nơi Đức Giê-hô-va lòe ra, nuốt tiêu họ và họ chết trước mặt Đức Giê-hô-va.’ Le-vi 10:01.   

     Kinh Thánh còn chứng minh, dù chính Chúa Jê-sus là Con Đức Chúa Trời cất tội lỗi thiên hạ cũng phải có ơn Đức Chúa Trời gọi. Đức Ki-Tô không tự tôn mình làm thầy tế lễ thượng phẩm, nhưng tại Đấng đã phán cùng Ngài rằng : Người là con Ta, Ta đã sinh ra ngươi ngày nay. Lại nơi khác cũng đã phán cùng Ngài rằng Người làm thầy tế lễ đời đời theo ban Mên-chi-xa-đéc. Sic et christus non semetipsum clarificavit ut pontifex fieret; sed qui locutus est ad Eum: Filius meus es Tân Ước ego hodie genuita. Quemadmodum et in alio loco dicit : Tu es sarcedos in Aternum secumdum ordinem Melchisedech. (Hê-bơ-rơ 5:6-7) (tr 2)

     Kinh Thánh chứng minh trong Cựu Ước Đức Chúa Trời kêu gọi A-rôn làm thầy tế lễ, khi A-rôn gần chết, A-rôn phải từ bỏ chức đó mà truyền cho con ‘Hãy đưa A-rôn và Ê-lê-a-sa con trai người, biểu đi lên núi Hô-rơ, đoạn hãy lột áo xống A-rôn mặc cho Ê-lê-a-sa con trai người’ Dân Số ký 20:25-26. Chức tế lễ thượng phẩm được giao cha truyền con nối thuộc dòng họ Lê-vi suốt trong thời Cựu Ước.

     Thời Tân Ước, Đức Chúa Trời kêu gọi Con Ngài làm thầy tế lễ thượng phẩm, thầy tế lễ cả, ngoài ra Kinh Thánh không thấy nói Đức Chúa Trời kêu gọi ai làm thầy tế lễ dù Phê-rô, hay Phao-lồ cũng khong có ơn kêu gọi đó.

     Giáo hội Công Giáo dựa vào câu nói của Chúa Jê-sus khi ăn bữa tối ‘Này là thân thể Ta, đã vì các người mà phán cho; hãy làm sự này để nhớ đến Ta’ Lu-ca 22:19. Thật là lạ lùng khi cắt nghĩa câu kinh Thánh ‘Hãy làm sự này để nhớ đến Ta’ là phong chức linh mục! Vậy ai được làm linh mục là người được ăn bánh uống chén?

     ‘Hãy lấy ăn đi. Hết thảy hãy uống đi’ Ma-thi-ơ 26:27. Nếu tất cả mọi giáo hữu đều dược ăn là chịu Bánh Thánh được quyền làm việc nhớ đến Chúa thì đều là thầy tế lễ sao?

     ‘Thánh Phê-rô cũng nói cho tất cả các tín hữu là ‘Giòng giống được lựa chọn là chức tế lễ nhà vua, là dân thánh, là dân thuộc về Đức Chúa Trời hầu cho anh em rao giảng nhân đức của Đấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm.’ I Phi-e-rơ 2:9. Chức tế lễ nhà vua là rao gảing nhân dwsc của Đáng đã gọi anh em, lại trong thư Hê-bơ-rơ nói dâng lễ bằng lời ngợi khen (Hê-bơ-rơ 13:15) chứ không phải chức tế lễ nhà vua dâng Chiên con Đức Chúa Trời, chỉ một mình Chúa Jê-sus là thầy thượng cả thượng phẩm và dâng chính thân thể Ngài làm của lễ cho Đức chúa Trời để cất tội lỗi dân Ngài.

     Bởi vậy khi Chúa Jê-sus chưa chịu đóng đanh trên thập giá thì Ngài chưa dâng thân thể làm của tế lễ. Ngài chưa thi hành nhiệm vụ thầy cả thượng phẩm và Ngài cũng không phong cho ai làm thầy tế lễ dâng thân thể Ngài. Các tông đồ không có lời nào về việc phong chức và không một ai làm thầy tế lễ dâng thân thể Chúa Jê-sus cho Đức Chúa Cha.

2. Chức Tế Lễ

     Linh mục Công Giáo nói mình có chức tế lễ theo Tân Ước, nghĩa là không dâng chiên, bò dê đực và bồ câu … theo như Cựu Ước, mà dâng Chiên con Đức Chúa Trời, là dâng chính Chúa Ki-Tô chuộc tội thay cho loài người. Vậy chức này bởi đau mà đến ? Bởi Đức Chúa Trời chăng? Không! Vì Đức (tr 3) Chúa Trời chỉ lập Con Ngài mà thôi. ‘Ngày nay ta sinh ra Con, Con là thầy tế lễ dời đời theo ban Mên-chi-xa-đéc. Filius mous es Tân Ước, ego hodic genui te. Tu es sacerdos in Oternum secundum ordinem Melchisedech’ Hê-bơ-rơ 5:5-6.

     Bởi Chúa Jê-sus chăng? Không! Vì Chúa Thánh Thần là Thần lẽ thật nói : ‘Số thầy tế lễ theo Cựu Ước rất nhiều vì phải chết nên không giữ luôn chức vụ mình được. Nhưng Đấng Ki-Tô vì hằng có đời đời nên giữ chức vụ đó không thay đổi’ Không thế vị, không nhường ngôi cho ai ‘Hic autem eo quod naneat in Eternum, sempiternum habet sacerdotium’ Hê-bơ-rơ 7:23-24.

     Như vậy, theo Tân Ước chỉ có một thầy tế lễ thượng phẩm là Đấng Ki-Tô. Ngài là Đấng trung bảo của giao ước mới, vì Đức Chúa Trời đã bỏ ước thứ nhất và lập ước thứ hai tức là Tân Ước, mà chúng ta được nên thánh nhờ sự dâng thân thể của Đức Chúa Jê-sus Ki-Tô một lần đủ cả. In qua voluntate sanctificati sumus per Oblatinem Corporis Jesus Christi semel. Hê-bơ-rơ 10:10.

     Theo Cựu Ước, thầy tế lễ mỗi ngày đứng hầu việc mà dâng các lễ đồng một thứ là của lễ không bao giờ cất tội lỗi đi được. Còn như Đấng Ki-Tô đã vì tội lỗi dâng chỉ một của lễ rồi đời đời ngồi bên hữu Đức Chúa Trời. Vì nhờ dâng chỉ một của lễ, Ngài làm cho những kẻ nên thánh được trọn vẹn đời đời. ‘Hic autem unam pro peceatis offerens hostiam … Una enim oboatione con summavit in sempiternem sanctificatos’ Hê-bơ-rơ 10:12-14.

     Vậy, chúng ta chỉ có một thầy tế lễ là Chúa Jê-sus Ki-Tô và Ngài chỉ dâng một lần đặng cất tội lỗi đi. (Hê-bơ-rơ 9:28a) Ngài chỉ dâng một của lễ (Hê-bơ-rơ 10:12) Chúa Thánh Linh lại phỉ bác việc ‘Chúa Jê-sus dâng mình nhiều lần’ mà chỉ một lần mà thôi. ‘Neque ut Sepe offerat semetipsum … Christus semel oblatus est’ Hê-bơ-rơ 9:25-28. Chúa còn nhấn mạnh ‘Đấng Ki-Tô chỉ dâng thân thể mình một lần cũng như đã dịnh cho loài người phải chết một lần … ‘ Luật định cho loài người phải chết một lần thật rõ ràng không ai chối cãi được.

     Kinh Thánh đã minh chứng có một thầy tế lễ là Chúa Jê-sus Ki-Tô. Ngài hằng sống nên giữ chức tế lễ không thay đổi. Ngài dâng mình chỉ một lần và chỉ một của lễ là chính thân thể Ngài.

     Những câu Kinh Thánh trên thật rõ ràng và xác định như 2 2  = 4. Thế mà giáo hội Công Giáo đặt từng trăm vạn người làm thầy tế lễ, hằng ngày dâng từng trăm vạn của lễ và từng trăm vạn lần (tr 4)

3. Về Của Tế Lễ

     Theo giáo lý Công Giáo, các linh mục hằng ngày dâng của lễ trên khắp hoàn cầu cũng chẳng khác gì dân Y-sơ-ra-ên xưa Nhưng dân Y-sơ-ra-ên theo Cựu Ước, còn Giáo hội Công giáo theo Tân Ước, theo Cựu Ước Đức Chúa Trời đã phán dặn Môi-se về mọi của lễ và nghi thức dâng lễ. Song những thứ đó chẳng qua là hình và bóng chỉ về đời bấy giờ để tỏ rằng các lễ vật hy sinh dâng đó, không thể làm cho kẻ thờ phượng được trọn lành về lương tâm (Hê-bơ-rơ 9,19-10). Vậy ‘Các điều răn trước kia vì không quyền, không ích nên đã bị bỏ’ (Hê-bơ-rơ 7:18) ‘Đức Chúa Trời đã lận con người bằng lời thề, bởi Đấng đã phán cùng Ngài rằng: Chúa đã thề rồi và không hồi lời thề ấy đâu: Con làm thầy tế lễ đời đời – Juravit dominus et non P. Enitebit eum; Tân Ước es sacerdos in Eternum’ (Hê-bơ-rơ 7:21) Vì thế Đức Chúa Jê-sus đã trở nên Đấng bảo lãnh cho giao ước mới.

     Theo Tân Ước, chỉ có một của lễ là thân thể của Đấng Ki-Tô. Song Đấng Ki-Tô chỉ dâng chính mình một lần thì đủ cả. (Hê-bơ-rơ 7:27) và Ngài chỉ dâng một của lễ rồi đời đời ngồi bên hữu Đức Chúa Trời (Hê-bơ-rơ 10:12)

     Như vậy Kinh Thánh đã minh định trong Tân Ước chỉ có:

     -Một thầy tế lễ là Chúa Jê-sus Ki-Tô

     -Một của lễ là Thân thể của Chúa Jê-sus Ki-Tô.

     -Một lần dâng của lễ khi Chúa Jê-sus Ki-Tô chịu treo mình trên thập giá.

      Không thể hiểu được Giáo hội Công Giáo dựa vào giáo lý nào mà lập nên nhiều thầy tế lễ, dâng lễ từng trăm vạn lần trong một ngày?!

     Như vậy giáo lý Công Giáo không phải là giáo lý Kinh Thánh, chân lý của Đức Chúa Trời mà giáo lý là của kẻ thù địch Chúa Jê-sus Ki-Tô, là giáo lý của kẻ thù cỏ lùng gieo vào lúa mì (Ma-thi-ơ 13:28).

     Giáo hội Công giáo đã pha trộn Cựu Ước vào Tân Ước. Tổng hợp lễ nghi, phẩm phục của đời Môi-se với chức tế lễ của Chúa Jê-sus. Trộn lẫn sự thật của Đức Chúa Trời với sự giả trá của Ma Quỉ.

Thật là một giáo lý tai hại

giết chết linh hồn người ta.

4. Mục Đích Dâng Của Lễ

    ‘Luật pháp Cựu Ước chỉ là bóng của sự tốt lành ngày sau, nên không bao giờ nhờ của tế lễ mỗi năm hằng dâng như vậy mà khiến cho kẻ đến gần Đức Chúa Trời trở nên trọn lành đựợc … vì huyếtcủa bò đực và dê đực không thể cất tội lỗi đi được’ (Hê-bơ-rơ 10: 1, 4).

     Đức Chúa Jê-sus đến theo ý chỉ của Đức Chúa Trời, dâng thân thể mình làm sinh tế được Đức Chúa Trời nhậm. Bởi vậy, Đấng Ki-Tô vào thế gian phán rằng: ‘Chúa chẳng muốn hy sinh, cũng chẳng muốn lễ vật nhưng Chúa đã sắm sẵn một thân thể cho Con’ (Hê-bơ-rơ 10:5-7) (tr 5). Chúa Jê-sus dâng thân thể mình để cất tội lỗi đi ‘Chiên Con của Đức Chúa Trời là Đấng cất tội lỗi đi’ (Giăng 1:29). Nhờ huyết Chúa Jê-sus đổ ra mà có sự tha thứ, vì ‘Không đổ huyết thì không có sự tha thứ’ (Hê-bơ-rơ 9:22). Nhưng ‘Khi có sự tha thứ rồi thì không cần phải dâng của tế lễ vì tội lỗi nữa’ (Hê-bơ-rơ 10:18).

     Như vậy Kinh Thánh nói : Chúa Jê-sus dâng mình làm của lễ cất tội lỗi đi, nhờ sự đổ Huyết của Ngài trên thập giá mà có sự tha thứ, nên Không cần dâng tế lễ vì tội lỗi nữa.

     Giáo hội Công Giáo phong chức từng trăm vạn người làm thầy tế lễ, hằng dâng đi dâng lại từng trăm vạn lần mỗi ngày… Linh mục Công giáo dâng lễ Misa là một điều phạm thượng, trái nghịch Kinh Thánh. Như vậy, lễ Misa đâu còn là việc Thánh tha thứ tội nhân, đền bù tội lỗi, cứu vớt các linh hồn… mà trái lại chính là tội lỗi, là một việc làm gớm ghiếc trước mặt Đức Chúa Trời.

5. Quyền Tha Tội

     Linh mục Công giáo ngồi tòa giải tội, thay quyền Đức Chúa rời mà tha thứ hay cầm buộc tội nhân. Cái quyền đó khi chính Chúa Jê-sus là Con Đức Chúa Trời thi hành còn làm cho dân Y-sơ-ra-ên căm phẫn. ‘Thầy thông giáo và người Pha-ri-si bèn nghị luận rằng: người này là ai mà nói phạm thượng vậy! Ngoài Đức Chúa Trời há có ai tha tội được sao? (Lu-ca 5:21).

     Giáo hội Công Giáo dựa vào câu Chúa phán cùng các tông đồ: ‘Bình an cho các con. Cha đã sai ta thế nào, Ta cũng sai các con thể ấy. Khi Ngài phán điều đó rồi thì hà hơi trên các môn đồ mà rằng : Hãy nhận lãnh Đức Thánh linh, kẻ nào mà các con tha tội cho thì tội sẽ được tha, còn kẻ nào các con cầm tội lại thì tội sẽ bị cầm cho kẻ đó’ (Giăng 20:221-23).

     Có nhiều nhà thờ Công Giáo đã viết câu : ‘Kẻ nào mà các con tha tội cho thì tội sẽ được tha, còn kẻ nào các con cầm tội lại thì tội sẽ bị cầm cho kẻ đó’ lên tòa giải tội để chỉ rõ linh mục Công Giáo có quyền tha thứ hay cầm buộc tội nhân.

     Giáo hội Công giáo ngày nay, nếu trong nhà thờ dẹp bỏ tòa giải tội thì sự phụng vụ mất hẳn ý nghĩa vì kẻ tham dự phụng vụ sẽ không còn một ai, vì giáo hữu không chịu phép giải tội đâu còn giám đi chịu lễ, dám chịu các phép bí tích. Vì các phép bí tích (trừ ra phép rửa tội và giải tội) chỉ cho kẻ có ơn nghĩa Thánh. Một mối quan hệ cho phụng vụ Công Giáo, một điều kiện tối cần không có không được như vậy mà các tông đồ không ghi một nét trong các bức thư Tân Ước!? (tr 6). Trái lại, trong Tân Ước Chúa Thánh Linh truyền chép lại :’Phê-rô ở thành Gióp-bê nhiều ngày trong nhà người thợ thuộc da tên là Si-môn’ (Công vụ các sứ đồ 9:43). Chính Thiên sứ của Đức Chúa Tròi hiện ra cùng với Cọt-nây cũng bảo: ‘Hãy sai người đến thành Gióp-bê, mời Si-môn cũng gọi là Phê-rô. Người hiện ở trọ nơi nhà Si-môn thợ thuộc da ở gần biển’ (công vụ các sứ đồ 10:5,8).

     Còn về sứ đồ Phao-lồ thì Chúa Thánh linh dạy chép ‘Vì đồng nghề nên Phao-lồ ở nhà hai người làm việc chung nhau, và nghề các người đó là may trại. Hễ đến ngày Sabát thì Phaolồ giảng trong nhà hội, khuyên dỗ người Giu-đa và người Gờ-réc’ (Công vụ các sứ đồ 18:3-4) Phao-lồ còn nêu gương mình cho các trưởng lão thành Ê-phê-sô.

     Còn việc tha thứ cầm buộc thì sau khi các sứ đồ đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh ‘Hết thảy khởi sự nói các thứ tiếng khác theo như Đức Thánh Linh cho mình nói’ (Công vụ các sứ đồ 2:4) Phê-rô cũng trong sự đầy dẫy Đức Thánh Linh đã truyền dạy :’Hãy hối cải, ai nấy phải nhan danh Chúa Jê-sus chịu phép báptêm  để được tha tội mình rồi sẽ được lãnh sự ban cho của Thánh Linh’ (Công vụ các sứ đồ 2:38).

     Các sứ đồ cũng trong ơn đầy dẫy Thánh Linh đã tháo cởi & cầm buộc như sau : ‘Ây là Đức Thánh Linh và chúng ta đã ưng rằng chẳng gán gánh nặng nào khác cho anh em ngoài những điều cần dùng, tức là anh em phải kiêng của cúng thần tượng, huyết, thú vật chết ngộp và chớ tà dâm.’

          Trong đoạn cuối cùng Tân Ước sứ đồ Gioan cũng trong sự đầy dẫy Đức Thánh Linh mà tháo cởi và câm buộc cho những kẻ thêm hoặc bớt điều gì trong những lời của sách Tiên Tri là Đức Chúa Trời sẽ cất lấy phần họ về cây sự sống và Thành Thánh (Khải huyền 18-19).

Như vậy Thánh Kinh đã dậy rõ cho chúng ta là các sứ đồ đã được đầy dẫy Thánh linh để tháo cởi và cầm buộc cách đầy đủ như đã ghi trong Kinh Thánh, chứ không phải là quyền uỷ thác cho loài người ngày nay muốn đóng, muốn mở tuỳ ý. Giáo hội Công Giáo sử dụng Thiên Chúa như một tên đầy tớ như một tên đầy tớ như vậy thật là phạm thượng.

***

     Kính thưa quí vị linh mục Công giáo, đến đây quí vị đã thấy rõ (tr 7) Đức Chúa Trời không kêu gọi quí vị làm thầy tế lễ dâng Đức Chúa Con cho Đức Chúa Cha. Thánh Linh cũng không phán dậy quí vị làm việc phụng sự như thế. Như vậy, tôi thành tâm tha thiết xin nài quí vị hãy suy gẫm lời Đức Chúa Trời, xin Đức Chúa Thánh linh là Thần Lẽ Thật dẫn dắt quí vị khỏi con đường lầm lạc kẻo một ngày kia quí vị đến trước Đức Chúa Trời quí vị sẽ bị Lời Đức Chúa Trời phán xét quí vị’

     ‘Lời ta rao giảng, chính lời đó sẽ phán xét họ nơi ngày sau cùng. Bởi ta chẳng nói theo ý riêng Ta; nhưng Cha ta sai Ta đến, đã truyền lịnh cho Ta phải nói điều chi và phải nói thế nào.’ (Gioan 12:48-49)

     ‘Này Ta đến mau chóng và đem phần thưởng theo với Ta để trả cho mỗi người tùy theo công việc họ làm.’(Khải huyền 20:12)

Saigon, ngày 30 tháng 03 năm 1973

Kính chào thân ái

Bùi Đức Hạnh

Cựu Linh Mục (tr 8)

*****

Bức Tâm Thư 2

Kính gởi : Quí Vị Tín Hữu Công Giáo

Việc Tôn Sùng Bà Maria

Kinh thưa Quí Vị,

     Rảo qua lịch sử tôn giáo, chưa có một vị thần nào được tôn sùng, khen ngợi bằng bà Maria bên Công Giáo.

     Bà Maria được khen tặng trên 200      huy hiệu.

     Ba Maria được sùng bái nhiều thể cách.

     Bà Maria được nhiều đoàn thể mang danh hiệu.

     Bà Maria được nhiều nhà thờ cung hiến vì hầu hết không một nhà thờ lớn nhỏ nào trong Công Giáo mà không có bàn thờ đặc biệt kính Bà.

     Bà Maria được giáo hội Công Giáo tôn phong là:

     Đồng Công Cứu Chuộc

     Mẹ Thông ơn Thiên Chúa

     Đáng Trung bảo giữa Thien Chúa và loài người.

     Bà Maria thậm chí còn được giáo hội tôn phong lên cao hơn Đức Chúa Trời, là Mẹ Đức Chúa Trời.

     Một vị thánh Công Giáo Bonaventura đã khen tặng Bà Maria:

     ‘Nếu dưới gầm trời này không một vật sống nào chẳng nhờ ánh sáng mặt trời, thì trong thế giới thiêng liêng cũng không một linh hồn nào không phải nhờ Đức Bà Maria, kể cả Đức Chúa Trời.’

     Lòng tôn sùng Bà Maria bao trùm hết mọi việc phụng vụ. Công giáo và đã thành mục tiêu trong đời sống giáo hữu. Người Công Giáo đã sùng kính và tin tưởng sắt đá câu châm ngôn :

‘DEVOSTUS MARIA, NUMQUAM PERIBIT’

‘Người tôn sùng Đức Bà Maria, không hề hư mất’

Chính phần tôi, trong quãng đời 30 năm trước cũng đã miệt mài trong việc tôn sung Bà Maria, đến nỗi những người chung quanh đã dùng biệt hiệu gọi tôi là: (tr 9)

Công Giáo Ba Kinh Kính Mừng

Linh mục Mẫu Tâm

Danh hiệu Giuse Maria

     Tôi hầu như đã dâng hiến cuộc đời trước đây để tôn vinh Bà Maria, đã tổ chức nhiều đoàn thể nhiều cuộc cung nghinh kính bà. Tôi cũng đưa ra nhiều người làm con cái bà hay hơn thế nữa là làm nô lệ cho Đức Bà Maria!. Theo Thánh Ghi-nhông đơ-mông-pho.

     Vì quá trình cuộc đời tôi đã gây ảnh hưởng  cho nhiều người nên tôi phải viết lên bài này, nài xin với tất cả những người đã nghe tôi trước đây, hãy bừng tỉnh đón nhận lấy ánh sáng của Chúa Thánh linh cầu thay cho mọi người chúng ta.

     ‘Kính lạy Chúa Thánh linh là thần Lẽ Thật. Xin Chúa ngự đến thăm viếng linh hồn chúng con, dạy chúng con mọi lẽ thật trong đường tôn kính Thiên Chúa. Con cầu nguyện cho hết thẩy mọi người đã lắng nghe con trước đây nay đang lầm lạc, được nhận lấy ánh sáng thật, Lời của Đức Chúa Trời. Con cầu xin mọi ngừoi tìm theo lẽ thật và con gửiđến mọi người lời nài xin HÃY BƯỚC ĐI THEO THÁNH LINH (Ga-la-ti 5:16) để con được sạch máu những người này, con dâng lời cầu nguyện tha thiết trước mặt Chúa, vì vinh hiển Chúa Jê-sus Ki-Tô.’ AMEN

     Kính thưa quí vị,

     Giờ đây chúng ta hãy nhờ Chúa Thánh thần dẫn dắt mà tra cứu Kinh Thánh nói gì về bà Maria và địa vị đích thật của Bà.

Bà Maria đồng trinh khi sanh Đức Chúa Jê-sus

    Kinh Thánh nói : Bà Mari đồng trinh sanh Đức Chúa Jê-sus’ 500 năm trước khi Chúa Jê-sus sanh ra, tiên tri Isaia đã nói về Chúa:

‘Này một nữ đồng trinh sẽ sinh một con trai, đặt tên là Emmauel, nghĩa là ĐứcChúa Trời ở cùng.’ (Isaia 7:14)

     Kinh Thánh cũng khen bà là đáng chào khen, là người được Đức Chúa Trời ở cùng. Thiên thần đã vào nơi người nữ mà chào khen bà :’Chào bà được ơn, Đức Chúa Trời ở cùng bà’ (Lu-ca 1:28)

     Bà Isave đầy dẫy Thánh linh tặng khen bà là người có phước trong các người nữ, cũng được gọi là mẹ Chúa: MATER DOMINI.   

‘Bởi đâu tôi được phước này ra Mẹ Chúađến thăm viếng tôi’ (Lu-ca 1:43)

Môn đồ Gioan cũng viết :

Bên thập tự giá Chúa Jê-sus cũng có Mẹ Ngài’ (Gioan 19:25) (tr 10)

Đáp lại những lời ngợi khen đó, bà Maria với sự hiểu biết phận mình chỉ là tạo vật, là con cháu của 2 nguyên tố Adong Evà nên đã xưng mình là tôi tớ Chúa, quy vinh hiển cho Đức Chúa Trời. (Lu-ca 1:38)

     ‘Đây, tôi là tôi tớ Chúa, xin xẩy đến cho tôi như lời Thiên Thần’.

     Bà Maria ngợi khen Chúa ‘Chúa đã đoái thương sự hèn hạ của tôi tớ Chúa. Linh hồn tôi vui mừng trong Đấng Cứu Chuộc tôi’ (Lu-ca 1:47-48)

     Dẫu vậy, bà Maria cũng chỉ nhận biết đúng địa vị của mình sau khi dược Chúa Jê-sus nghiêm nghị trả lời cho bà đôi lần.

Lần thứ nhất:Khi Chúa Jê-sus 12 tuổi đi dự lễ thành Giê-ru-sa-lem. Ngài ở lại đền thờ Nhưng hai ông bà Giu-se & Maria không hay biết. Khi tìm gặp lại Chúa trong đền thờ, bà Maria đã cất tiếng phiền trách Chúa rằng :’Hỡi con, sao con làm cho hai ta thế này? Này cha mẹ đã khó nhọc lắm mà tìm con! ‘Ngài thưa rằng : ‘Cha mẹ kiếm tôi làm chi? Há chẳng biết tôi phải lo việc cha tôi sao? (Lu-ca 2:48-49)    

Lần Thứ Hai:Trong đám cưới thành Cana, bà Maria muốn xen vào việc làm phép lạ. Khi thấy đám cưới hết rượu, bà đã nói với Chúa Jê-sus :’Nhà này không còn rượu nữa.’ Chúa Jê-sus đã nghiêm nghị trả lời bà : ‘Hỡi đàn bà kia, Ta với bà có việc gì chăng? Giờ Ta chưa đến.’ (Gioan 2: 4)

     Trong lần thứ nhất bà Maria không hiểu lời Chúa Jê-sus đáp nên Kinh Thánh chép ‘Hai ông bà không hiểu lời Ngài nói chi hết.’ Tuy nhiên ‘Mẹ Ngài ghi nhớ các lời ấy vào lòng’ (Lu-ca 2:50-51)

     Nhưng trong lần thứ hai, bà Maria đã hiểu và lui về đúng vị trí của mình nên bà nói với mọi người :’Người bảo chi hãy vâng theo cả.’ (Gioan 2:5) Đó là lời duy nhất bà Maria nói với người khác liên quan đến Chúa Jê-sus đã được ghi trong Kinh Thánh. Từ đó trở đi, Kinh Thánh không ghi một lời nào của bà nữa dù chỉ là một lời nói về Chúa Jê-sus bên thập tự giá lúc Ngài đang hấp hối, hay là lời bà nói với người khác khi cùng các môn đồ hiệp nguyện chờ đều Đức Chúa Cha hứa ban Thánh linh (Công vụ các sứ đồ 1:14) và kể cả lúc Chúa Thánh linh đổ xuống cách đầy dẫy trên bà và mọi người (Công vụ các sứ đồ 2:4).

     Địa vị, hành động và lời nói của bà Maria đã được Chúa Thánh linh truyền ghi vào Kinh Thánh. Tất cả mọi tín điều, nghị quyết về quyền năng, địa vị hay lời tuyên phán nào mạo nhận của bà Maria lúc sinh thời hay sau khi qua đời trái với những điều đã ghi trong Kinh Thánh đều là giả trá, trái ý của bà, và nghịch với Đức Chúa Trời.

     Loài người không thể quyết nghị một điều gì nghịch với Thánh Kinh.(tr 11) Nếu Thiên thần, Giáo hoàng, đoàn thể hàng giáo phẩm hay cả nhân loại quyết nghị điều gì trái nghịch với Kinh Thánh thì đều bị rủa sả. Thánh Phao-lô cẩn thận khuyên dạy rằng :

     ‘Nếu có ai (Giáo hoàng, hàng giáo phẩm hay toàn thể nhân loại) hoặc chính chúng tôi (Phao-lô và các sứ đồ) hoặc Thiên thần trên trời truyền cho anh em một Phúc Âm khác với Phúc Âm chúng tôi đã truyền thì người ấy đáng bị rủa sả – Licet nos, aut Angelus de caelo evangelized vobis praeterquam quod evangelizavius vobis anathema sit, tội lỗi quisvobis evangelizaverit praeter’ (Ga-li-ti :1: 7-8)

Bà Maria không trọn đời đồng trinh

     Có lời tiên tri Isaia báo từ 500 năm trước ‘Này người nữ đồng trinh sẽ chịu thai và sanh con trai’ (Isaia 7:14) Kinh Thánh còn ghi rõ lời thiên thần phán truyền :

‘Đức Thánh linh sẽ đến trên bà, và quyền phép đấng rất cao sẽ che phủ bà dưới bóng mình, cho nên con Thánh sinh ra phải xưng là Con Đức Chúa Trời’(Lu-ca 1:35)

     Hai sự kiện trên (1.Bà Maria đồng trinh sinh Chúa Jê-sus. 2. Bà Maria chịu thai bởi quyền phép của Chúa Thánh linh) không một ai tin Chúa mà dám phủ nhận, bởi vì không tin hai sự kiện này tức là chối bỏ lời Đức Chúa Trời, chối bỏ Kinh Thánh, phủ nhận quyền năng của Đấng Tạo Hóa.

     Nhưng! Bà Maria chỉ đồng trinh khi sanh Chúa Jê-sus mà thôi, vì Kinh Thánh đã xác nhận Bà Maria và Ông Giu-se là vợ chồng những không ăn ở với nhau cho đến khi Chúa Jê-sus được sinh ra.

     ‘Thiên sứ hiện đến cùng Giu-se, nói cùng người rằng :Ngươi chớ ngại lấy Maria làm vợ, vì Con mà người chịu thai đó là bởi Đức Thánh Linh’ (Ma-thi-ơ1:20) ‘Giu-se đã theo lời thiên sứ mà đem vợ về ở với mình, nhưng không ăn ở với nhau cho đến khi người sinh con trai đặt tên là Jê-sus’. (Ma-thi-ơ 1:25)

     Giả như nếu Giu-se không nghĩ đến chuyện vợ chồng thì việc gì ông phải bối rối và lẽ gì Thiên sứ lại bảo Giu-se lấy Maria làm vợ?

     Giả như Maria trọn đời đồng trinh thì sao bằng lòng làm vợ của Giu-se và phải nhắc đến việc ‘ăn ở với nhau’? Vâng, họ chỉ đã không ăn ở với nhau cho đến khi sanh chúa Cứu Thế Jê-sus…’

     Kinh thánh lại còn xác nhận :’Người sanh con trai đầu lòng’ (Lu-ca 2:7) (Thánh Lu-ca ghi chép điều này khoảng 60 năm sau chúa Giáng sinh, lúc ấy nhiều người quen biết với gia đình Ông Giu-se Maria còn sống (tr 12). Nếu quả thật bà Maria trọn đời đồng trinh, chác chắn Lu-Ca phải viết là ‘người sanh con trai duy nhất’). Đã có con đầu lòng thì phải là còn có con khác, bà Maria đã không khấn hứa trọn đời đồng trinh vì bà đã hứa hôn với ông Giuse trước khi thiên sứ truyền

Đọc Tiếp →

Một Sự Lừa Dối Lớn Trong Lịch Sử Phấn Hưng của Hội Thánh

Bấm vào đây để download bài viết này

[730]

Một Sự Lừa Dối Lớn Trong Lịch Sử Phấn Hưng của Hội Thánh

Các anh chị em trong Chúa Cứu Thế Giê-xu thân mến, 

Tôi viết nên việc nầy để cho mọi người tỉnh thức và đề phòng. Vì sự việc đã diễn ra trong hội thánh mà tôi đang sinh hoạt tại Tampa, FL. Tôi xin được phép không nêu tên của hội thánh và những người mà tôi sẽ đề cập.  

Hội Thánh chúng tôi đã cầu nguyện hơn một năm nay là xin Chúa phấn hưng vùng đất Tampa nầy để nhiều người (nhất là người Việt) được cứu. Lòng ao ước nóng cháy của mọi anh chị em đã gom lại cầu nguyện mõi tối thứ 6 từ 9:00 tối cho đến 11 giờ tối rồi sau nầy chuyển sang tối thứ 7 và kéo dài có khi đến 2 giờ sáng.  

Tôi và những anh chị em khác cũng giống nhau một điểm là những người khao khát Đức Thánh Linh và mong cho được điều mình muốn là được báptem ĐTL để hầu việc Chúa có hiệu quả. Có 3 chị em được nhận báptem ĐTL, tôi sẽ kể chi tiết hơn.  

Tôi đi dự Đại Hội Phục Hưng vừa rồi tại Texas, trên đường về tôi có cảm nhận một việc gì đó sẽ xẫy ra cho chúng tôi khi về lại Tampa. Cô Th., cô L. , và chị S.là những người được báptem ĐTL mạnh mẽ trước khi đi đại hội vài tháng. Sự việc xẫy ra trong một buổi tối thứ 7 cách đây 3 tuần lễ, như thường lệ chúng tôi gòm những anh chị em trong ca đoàn tập hát cho buổi thờ phượng sáng CN hôm sau. Cô Th. là người coi như được báp tem ĐTL mạnh mẽ đã đến nói với tôi là một lát nữa đây anh sẽ thấy việc lạ thường thì đừng ngại nhiên…cô cho biết là quyền lực bóng tối đã tấn công cô và cô đã thắng.  Khi chúng tôi bắt đầu tập hát bài Thánh Thay (Holy holy) thì cô Th. đã cầu nguyện lớn tiếng và hát rất to vài rõ và cô bắt đầu nói “Chúa đến đây các con hãy nghe ta”…và cô cứ tiếp tục hát lớn đến nỗi không ai tập hát được…Tôi cảm nhận trong lòng là đây là sự phá rối chớ Chúa gì kỳ vậy. Tôi bèn bỏ đi ra phía sau nhà để uống nước và hỏi rằng “lại Chúa, có phải là Ngài không?” Khi tôi trở ra thì ông và bà mục sư (là người hướng dẫn về Thánh Linh cho chúng tôi) dẫn cô Th. ra phía sau đễ cầu nguyện hay là làm gì đó thì tôi không rõ.  Chúng tôi tập hát xong là vào phần buổi nhóm cầu nguyện phấn hưng…sau khi tôn vinh Chúa vài bài thì cô Th. bắt đầu nói tiên tri (thông thường thì bà mục sư hay nói tiên tri), nói to và lớn cho những người đứng xung quanh “Jp., con hãy êm lặng nghe ta nói đây: con là sự vinh hiển của ta, ta thương con vì con sốt sắng với ta” “L. con, sao con cứ buồn hoài vậy con, con có biết là ta rất buồn khi thấy con buồn không con” “con (người phụ nữ mới đến Mỹ thăm con gái của bà) muốn ở lại Mỹ phải không, được ta cho con điều lòng mình ao ước” “M. à, con là con gái cưng của ta, ta thương con lắm vì con thật là hiền, con là đứa con duy nhất của ta, đừng có ai đụng đến nó”  

Cô Th. chỉ đi ngang qua tôi và tiến đến những người vừa kể trên để nói tiên tri. Tôi cảm thấy không ổn có gì đó không đúng. Ông bà mục sư thì ngồi yên tôi không biết ông bà cầu nguyện hay là làm gì tôi không biết (vì tôi không nghe ông bà nói gì hết).  Tôi bỏ đi và một chỗ kín để cầu nguyện “Lạy Chúa, con không hiểu chuyện gì đây, con không biết đâu là thật đâu là giả, xin Ngài bày tỏ…” Tôi đang tiếp tục cầu nguyện mà vẫn còn cô Th. nói lớn tiếng “ta rất giận thế gian nầy, vì nó đầy dẫy tội lỗi, ta ghét S.T (chúa kẽ lừa dối)” Tôi không muốn viết thẳng ra cái tên của nó thì anh em chị đọc phải hiểu chúa kẻ lừa dối là ai.  Không phải tôi sợ cái tên đó nhưng tôi không muốn môi miệng của tôi xưng tên nó, vì nó không đáng “Khi các ngươi vào đất hứa thì môi miệng của các ngươi chớ xưng danh thần của chúng nó”

Cô Th. tiếp tục “vì thì giờ ta chưa đến, ta sẽ tiêu diệt S.T” cô Th. nói với âm thanh lớn cộng thêm tiếng khóc bi thương.

Vài phút sau khi tôi cầu nguyện thì cô Stp. (người Mỹ) từ trên lầu đi xuống nói lớn tiếng lại với cô Th. là “spirit of God is spirit of love not spirit of yelling” cô Th. chỉ cô Stp.  nói nó đó là S.T. Cô Stp. nói lại một tràn tiếng lạ rồi tuyên bố “In the name of Jesus Chirst, you (cô Th.) sit down and quiet!”

Cô Th. nói “ta rất giận các con vì các con không tin ta, thôi ta đi đây, bye”. Cô Th. ngồi yên. Tôi vẫn còn nghe ông mục sư nói Chúa đang rèn tập con (cô Th.) để nói tiên tri nhưng mà con không biết điều khiển nhân linh của mình vì Thánh Linh làm việc rất mạnh trên con…ông mục sư tiếp “Chúa phán rất êm diệu, con phải cầu xin Chúa cho con biết điều khiển nhân linh của mình”.  Cô Th. liền nguyện lớn tiếng “lạy Chúa xin cho con biết điều khiển nhân linh của con để con nói lời êm diệu…” cô Th. tiếp tục nói trong khi cầu nguyện “…ừ đúng rồi con, con hãy nghe lời đầy tớ ta nó nói đúng”  

Tôi trở lại ngồi chung bàn với mọi người…thật sự tôi cũng chưa hiểu rỏ sự việc nầy là như thế nào…rồi trên đường về nhà tôi suy nghĩ…có lẽ nên đuổi quỉ thì đúng hơn chớ sao ông mục sư lại đồng tình với nó? Tôi băng khoăn trong lòng vô cùng vì ông bà mục sư là người gây dựng anh em chúng tôi tăng trưởng thuộc linh nhiều lắm. Đặc biệt là về ĐTL.

Khi buổi thờ phượng Chúa ngày CN vừa xong (4 giờ chiều) thì bà mục sư chạy lại hỏi tôi là tôi có thể nán ở lại một chút để cầu nguyện được không. “Chuyện gì vậy bà mục sư” tôi hỏi. “con Th. bị S.T ám hôm nay nó xưng ta là Đức Giêhôva và gọi ông bà mục sư bằng con”.  Tôi để ý cô Th. ngay lúc bắt đầu giờ thờ phượng vì cô chẳng hề bước lên hát chung với ca đoàn bao giờ, hôm nay thật là mạnh mẽ. Tuy nhiên, tôi nhìn con mắt của cô thì con mắt ấy đã đỏ ngầu rồi không còn thần sắc của con người nữa.  

Tôi nhờ người chỡ vợ con của tôi về rồi quay vào nhà thờ thì ông bà mục sư và một số anh chị em đã đang cầu nguyện rồi. Cô Th. vẫn tiếp tục gọi tên và nói tiên tri. Ông bà mục sư vạch trần bộ mặt của nó và nhân Chúa Giê-xu để trục đuổi S.T ra khỏi cô Th…không có chuyện gì thay đổi “hãy cầu nguyện cho con Th. đi con” cô Th. nói với bà mục sư. Ông mục sư kêu mọi người hát thánh ca. Tôi bắt đầu với bài “quyền trong huyết”. Nó cũng hát theo y như mọi người mà còn giơ cao tay lên để thờ phượng Chúa và miệng luôn nói halêlugia…cô Th. quỳ xuống và giơ tay lên “lạy Chúa của cả trời đất con thờ phượng Ngài con tôn vinh Ngài là Chúa của 9 tần trời…” tôi thấy không có gì thay đổi…thật là một sự ngạc nhiên lớn cho tôi vì những con người đang cầu nguyện đuổi quỉ cho cô Th. là những được báp tem ĐTL và ông bà mục sư là người hướng dẫn chúng tôi về ĐTL (chị S., cô L., người anh em J.p, và tôi là những người đã đi dự đại hội phục hưng vừa rồi…mọi người ai nấy được đầy dãy lữa ĐTL!) tôi cảm thấy có cái gì đó không đúng trong việc đuổi quỉ nầy và đây cũng là lần đầu tiên trong cuộc theo Chúa của tôi chứng kiến cảnh nầy. Chúng tôi không đối diện với những loại tà linh nhỏ mà là chúa của kẻ lừa dối S.T thứ thiệt…nó gạt hết tất cả mọi người từ ông bà mục sư cho đến một tín đồ bình thường như tôi…và nó chẳng ngán một ai. Tôi cảm thấy khó chịu và bỏ đi về nhà. Lúc đó thì cô Th. muốn nói chuyện riêng với ông bà mục sư, chị S. cũng ở lại để theo dõi tiếp.  

Suốt một tuần lễ sau buổi CN đó tôi liên tục kêu cầu với Chúa cho cô Th. vì lòng tôi cảm thương cho gia đình cô vì con trai của cô mới 4 tuổi, chồng cô Th. rất là bàn hoàn. Chiều thứ 6 sau khi đi làm về, tôi gọi hỏi thăm vợ chồng cô Th. thì người chồng vui vẽ cho biết là cô Th. được giải cứu, anh ta đưa điện thoại cho cô Th. để nói chuyện với tôi. “anh T. em được Chúa đến để giải cứu em. Tuy nhiên, em rất là bất mản ông bà mục sư lắm.” “ủa, sao vậy cô Th.” tôi hỏi. “những gì ông bà mục sư chứng kiến ra sao mà bây giờ lại nói ngược lại về em hết…ông bà hoàn toàn không biết được nó ám vào em cho đến chiều ngày CN. Vì buổi sáng CN hôm đó em cảm thấy sợ quá không biết phân biệt Chúa hay tà linh em mau mau gọi cho ông mục sư để giúp đỡ thì nó đến và khống chế em” “ em hoàn toàn nói theo sự điều khiển của nó.” “Dg. con (tên của mục sư) con có muốn hội thánh phát triển không?” cô Th. hỏi. “dạ có Chúa” ông mục sư trả lời. “con phải đuổi S.T ra khỏi hội thánh con thì mới phát triển được…” cô Th. tiếp tục. “anh T. biết không, ông mục sư dạ thưa Chúa liên hồi vậy mà bây giờ ông bà nói tại con Th. không có lời Chúa nhiều!” Thứ Hai hôm sau ông bà đến thăm cô Th. để cầu nguyện giải cứu. “nó không đi anh T. ơi! Ông bà mục đi về rồi em sợ quá vì nó nói là nó sẽ giết em” nó nói “mầy đừng tưởng mầy được ơn trước mặt Chúa”.  

CN trước đó, chị S. đến với tôi là nhờ tôi cầu nguyện phụ với chị vì chị bị đau đầu quá. Tôi cầu nguyện cho chị S. trong tuần đó và gọi hỏi thăm thử chị S. ra sao thì chị cho biết là cô Th. cầu nguyện cho chị được lành rồi. Cô Th. cầu nguyện bằng tiếng lạ lớn tiếng lắm.  

Bây giờ cô Th. được hoàn toàn giãi cứu và tỉnh táo. Cô kể lại nhiều sự việc cho tôi nghe. S.T nó làm cho chị S. đau đầu rồi dùng cô Th. cầu bằng tiếng lạ rồi cũng chính nó làm cho chị hết đau. “nó chỉ cho em câu kinh thánh nào để đọc nữa kìa” cô Th. kể. “CN hôm đó, em hoàn toàn bị nó điều khiển đi lê ban ca đoàn ngay cả cánh tay của em cũng bị đưa lên”. Một người chưa hề gặp những trường hợp như thế thì cho là người ấy (cô Th.) đầy dãy ĐTL. Chị S. nghi ngờ là làm bộ tiếp tục hỏi về mình ra làm sao ngay khi về nhà CN hôm đó. Chị S. tiếp tục gọi cho cô Th. và hỏi “chúa” về mình thì nó trả lời sai hết và bị chị S. chỉ ra “mầy là S.T”. Nó trả lời “đúng tao là S.T”…cho đến lúc nó đòi giết cô Th. thì cô sợ quá kêu cầu cùng Chúa và Chúa Giê-xu đã đến để đuổi nó đi.  

Phần Bình luận:  

Tôi được dạy rằng khi mình hát tôn vinh Chúa thì quyền của sự tối tăm không dám đến! Tôi không biết phải giãi thích như thế nào đây vì chính nó là chúa kẻ lừa dối là S.T cũng ca hát tôn vinh Chúa, cảm tạ Chúa, halêlugia. Nó có ngán ai đâu!?  

Tôi được dạy rằng mình cầu nguyện bằng tiếng ĐTL (tiếng lạ) thì quyền sự tối tăm sợ bỏ chạy! Chính nó là S.T cũng cầu nguyện bằng tiếng lạ của nó ngay trong buổi nhóm phấn hưng gồm những con người được báp têm ĐTL. Nó có sợ ai đâu?  

Tôi được dạy rằng dấu chỉ (khẳng định) được báp tem ĐTL là phải nói tiếng lạ. Tôi hỏi lại một người đang được Chúa dùng mạnh mẽ ở Texas là điều tôi được dạy như vậy có đúng không thì người ấy trả lời rằng tôi được báp tem ĐTL mạnh mẽ và làm những việc rất tốt cho Chúa mà đâu có nói tiếng lạ. Không phải lúc nào được báp tem ĐTL là nói tiếng lạ hết đâu.  

Tôi để ý là cô Th. trong lúc ấy không hề nhắc đến tên Chúa Giê-xu mà chỉ nói chúa chúa…hoặc là ta đây các con, Đức Giêhôva. “cái tên Đức Chúa Giê-xu Christ người Nazarét” quả thật tên để cho chúng ta đánh bại kẻ thù địch gớm ghiếc đó.

Học lời của Chúa kỹ lưỡng sẽ giúp chúng ta khôn ngoan. Tôi quả là một tên ngốc nghe lời dạy mà không tra xét kinh thánh lại cho kỹ càng. Tôi cần phải giống như con vật ăn cỏ rồi nhơi lại. “Chớ vội tin tuyên bố vật nầy thánh rồi sau khi cầu nguyện thì không phải”  

Cách đây 4 năm, tôi có thấy trong một giấc mơ là một người đàn ông đến với tôi xưng là thiên sứ Mi-ca-ên muốn nói chuyện với tôi. “xin lỗi thiên sứ, tôi được dạy là phải thử mọi việc ngay cả thiên sứ, vậy thì xin thiên sứ đọc thi thiên 90 cho tôi nghe đi” tôi hỏi. Tôi thấy người ấy bối rối tìm KT (không được) rồi đọc cho tôi nghe mấy câu đầu thì đúng nhưng rồi những câu sau sai hết. “Tôi không tin ông là thiên sứ Mi-ca-ên” tôi đáp lại và rồi thấy người ấy bỏ đi.  

Anh chị em thân mến, lời tiên tri nghe bùi tai thì coi chừng đó. Có ai đó đến nói tiên tri cho người nầy hay cho người kia thì anh chị em phải thử cho biết thần của Chúa Giê-xu hay là thần giả mạo hoặc là nhân linh của người đó. Vì chỉ có ĐCT toàn năng mới biết chúng ta đang suy nghĩ gì và sẽ nghĩ gì, ngoài ra thì không có quyền nào biết được. Vậy hãy nghĩ trong tư tưởng mình một đoạn hay câu KT nào đó rồi đến thử người nói tiên tri thì sẽ được tỏ từơng. Thí dụ tôi chọn thi thiên23 và câu cuối cùng  tôi sẽ nói ra trước rồi đến gặp người được mọi người nói là người ấy là tiên tri của Chúa. “xin lổi ông; bà nếu quả thật thần của Chúa ở cùng ông;bà thì sẽ biết tôi đang suy nghĩ đoạn nào trong KT và câu nào tôi sẽ nói ra trước” Đó chỉ là thí dụ điển hình mà thôi. Xin đừng dùng đoạn KT và câu KT tôi thí dụ mà thử thì không có hiệu quả đâu, vì nó-tên lừa đảo đã biết tôi đang viết câu nầy rồi.  

Có những người nói tiên tri làm cho lòng người nghe khoái chí và người ấy cứ mơ mộng về điều đó. Xin anh chị em đừng nằm mộng về việc người đó nói mà hãy mở kinh thánh ra xem xét kỹ lưỡng lời của ĐCT. Khi nào ai đó nói tiên tri cho anh chị em hoặc cho hội thánh thì nên mạnh dạng hỏi lại là việc ông/bà vừa nói đó có thật là ông/bà đã nghe chính Chúa Giê-xu đã phán dạy? Câu hỏi nầy luôn bị cho là người hỏi không có đức tin nhưng là một việc rún động tâm linh cho người nói tiên tri nếu không phải đã nghe Chúa nói vì tự người đó đã biết mình dùng cái bụng đoán mò của mình mà tiên tri.

Hoặc có ai đó nói “Chúa nói như vầy như thế kia” thì phải mạnh dạng hỏi lại cho kỹ để xem thử giả hay thật.  

Phải suy xét cho kỹ những lời tiếng lạ có phải được ban cho từ ĐTL không hay là giã bộ nói (hãy nhớ rằng tên lường gạt đó cũng nói tiếng lạ nữa).  Cái gì đến từ ĐTL thì phải có trái được kết quả đi kèm. Có người tự cho hay được nói tiên tri cho biết thì trái Thánh Linh chỉ là trái giả không đậu bao giờ. Có bao giờ anh chị em và tôi hôm nay trồng một loại cây ăn trái rồi ngày hôm sau ra hái trái liền được không?  

Nếu nói là Chúa ở giữa sự ngợi khen của dân sự Ngài và chính Chúa Giê-xu nói khi có đôi ba người nhân danh Ta mà nhóm lại thì Ta ở giữa họ. Vậy thì trong buổi nhóm của chúng tôi thật là không có Chúa thật ngự đến mà là tên lường gạt đó nó giả Chúa nói tiên tri cho người nầy cho người kia bắt đầu từ người lãnh đạo thuộc linh (vì vậy mà tôi đã tin trọn gói-đúng là ngốc thật). Chúa là sự sáng trong Ngài không hề có sự tối tăm nào! Chúa không ở trong buổi nhóm chúng tôi vì tôi nghĩ ngay cả chính tôi hoặc có nhiều người sống không ngay thật trước mặt Chúa hoặc là có người đã thuộc về nó mà tôi không biết.  

Tôi được dạy bảo rằng nơi nào có Chúa thì quyền tối tăm sẽ lộ diện và được bảo là S.T ở kế bên Chúa Giê-xu qua Phierơ bảo Chúa đừng vào thành Giêrusalem! Trong thời đại bây giờ, khi có sự hiện diện của Chúa Giê-xu thì tôi tin chắc là tên lường gạt kia không dám đến gần. Tôi tin rằng khi Chúa Giê-xu được vinh hiển trong sự sống lại của Ngài thì tên lừa đão kia làm sao ở kế bên được? Có lẽ nào sự sáng của Chúa có bóng tối trong đó? Không bao giờ có chuyện đó. Vì khi còn trên đất Chúa Giê-xu cũng là nhân cho nên S.T nó mới ám vào Phierơ để nói sạo.  

Tôi được dạy là âm nhạc của chúng ta đang thờ phượng Chúa ngày nay là đến từ S.T (Luciphe) bây giờ con cái Chúa dành lại để tôn vinh Chúa. Quí vị là những người rành về âm nhạc hoặc đang thờ phượng Chúa thì trả lời xem thử, chớ tôi chẳng có thể nào tin cho được! Luciphe được Chúa dựng nên làm nghề ống tiêu thổi sáo hướng dẫn thiên binh thờ phượng Chúa thì không có nghĩa là nó sáng tạo được âm nhạc! Vì chỉ có ĐCT là Đấng Sáng Tạo mới tạo ra âm nhạc. Âm nghĩa là âm thanh là phần tử không khí được run động ra những sóng âm…Luciphe làm được phân tử không khí à? Nhạc là chuỗi âm thanh kết hợp đúng thời điểm. Nếu Chúa không ban sự khôn ngoan cho Luciphe thì nó tự biết gom lại những chuỗi âm thanh thành âm nhạc được sao?  

Cũng cách đây 4 năm có một người tên là Loan chồng là Terry (tôi không dấu tên hai người nầy vì họ đã không còn sinh họat trong hội thánh lâu rồi). Cô Loan nói đã được báptem ĐTL và luôn cầu nguyện bằng tiếng lạ cho nên vợ tôi là D. rất là ngưỡng mộ và thích vì cô Loan luôn miệng nói về Chúa và những công việc Chúa. Vợ tôi là người non nớt trong Chúa nên tin những gì cô Loan nầy nói. Ngay cả tôi cũng cảm động thật vì thấy hoàn cảnh của cô đáng thương là sắp sanh nỡ mà chồng lại thất nghiệp đã lâu, cô Loan cũng không có việc làm. Cô Loan hỏi mượn chúng tôi $700.00 để cho chồng xuống Miami để làm việc gì đó…rồi hai vợ chồng nầy biến mất không biết tôn tích…đối với tôi $700.00 thì không sao cho một người hoạn nạn cũng được thôi. Tuy nhiên, vợ tôi bảo là cô Loan nói tiếng lạ sạo để dựt $700. và không đời nào tin ai nói tiếng lạ nữa.  

Không phải ca hát thánh ca hay cầu nguyện kêu cầu với Chúa Giê-xu như vũ bão mà tên lường gạt đó sợ anh chị em hay tôi đâu mà nó thật sự run sợ khi chúng ta sống ngay thật trước mặt Chúa, khiêm nhường và hạ mình luôn luôn thì lúc ấy chỉ cần lời cầu nguyện đơn sơ thôi thì nó phải rút lui.  

Tôi bắt chước Samuên, Chúa gọi đến lần thứ ba thì ông mới thưa lại. Hoặc là Ghi-đi-ôn thử sương móc và đất khô. Hay là nói như Nathanaêm là đặc ngón tay vào hông Chúa Giê-xu.  

Qua sự việc trên, tôi mong rằng chính tôi và mọi con dân Chúa dè chừng trong mọi việc vì những điều dối trá lừa đão chẳng bao giờ hết cho đến khi chúng ta được gặp chính Chúa Giê-xu.  

Thân ái trong Chúa Cứu Thế Giê-xu.

Xin hãy phổ biến việc tôi nói đây để chúng ta không bị lừa gạt nữa.   

T.D

Đọc Tiếp →

Những Tín Lý và Quan Điểm Thần Học Nghịch Thánh Kinh Của Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2011 Vietnamese Christian Mission Ministry, Inc.  –  Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry  –  Xin quý bạn đọc vui lòng tiếp tay phổ biến bài viết nầy dưới mọi hình thức, nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Huỳnh Christian Timothy
Bấm vào đây để download bài viết này
Bấm vào đây để nghe và download phần audio

[189]

Dẫn Nhập

Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật còn được gọi cách vắn tắt là Cơ-đốc Phục Lâm [1]. Toàn bộ danh xưng này là tiếng Hán Việt: Cơ-đốc là Đấng Christ, Phục là trở lại, Lâm là đến, An là yên nghỉ, Thất là bảy, Nhật là ngày. Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật là một tổ chức tôn giáo tin rằng Đấng Christ sẽ tái lâm (phục lâm) một cách bất kỳ và tin rằng tín đồ của Đấng Christ phải thờ phượng Đức Chúa Trời vào ngày Sa-bát, tức ngày thứ bảy. Phần lớn những người ngoài Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật chỉ biết đến điểm nổi bật của giáo phái này trong sự giữ ngày Sa-bát, nhưng ít khi biết rõ các tín lý của Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật. Tín đồ Đấng Christ sinh hoạt trong các giáo hội, giáo phái Tin Lành thường được nghe các mục sư, truyền đạo nói rằng Cơ-đốc Phục Lâm là tà giáo nhưng sự thật thì ít khi được giải thích cho biết là "tà giáo" như thế nào. Từ đó, nảy sinh ra một ngộ nhận trong các giáo hội, giáo phái Tin Lành khiến cho những ai giữ ngày Sa-bát thì đều bị xếp loại là "Tà Giáo Cơ-đốc Phục Lâm."

Trong bài viết này, tác giả sẽ trình bày những tín lý và quan điểm thần học nghịch Thánh Kinh của Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật.

Tưởng cũng cần nhắc đến các quan điểm sau đây của tác giả: (1) Các giáo hội, giáo phái, hệ phái chỉ là các tổ chức tôn giáo mang danh Chúa do loài người lập ra (I Cô-rinh-tô 3:3-4); con dân Chúa có mặt và sinh hoạt trong các giáo hội, giáo phái, hệ phái nhưng các tổ chức đó không phải là Hội Thánh của Chúa. Hội Thánh của Chúa là tất cả những người "đã được nên thánh trong Đức Chúa Jesus Christ" (I Cô-rinh-tô 1:1-2) tức là những người thật lòng ăn năn, từ bỏ tội, tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ, và vui lòng sống theo sự dạy dỗ của Thánh Kinh; họ được gọi là thân thể của Chúa, do chính Chúa cai trị. (2) Thánh Kinh là Lời của Đức Chúa Trời, hoàn toàn và chân thật, là tiêu chuẩn và thẩm quyền tuyệt đối của Đức Chúa Trời cho nếp sống đạo của Hội Thánh. Bất cứ sự dạy dỗ hoặc tổ chức nào trong các giáo hội, giáo phái, hệ phái mà không có trong Thánh Kinh, thì đều là ý riêng của loài người.

Lược Sử Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật

William Miller (15.02.1782 – 20.12.1849), một người Mỹ thuộc giáo Hội Báp-tít, là người khởi xướng phong trào "trông chờ Chúa tái lâm" vào giữa thế kỷ thứ 19. Miller dốc lòng tìm kiếm lẽ thật trong Thánh Kinh bằng cách bắt đầu đọc Thánh Kinh từ Sáng Thế Ký cho đến Khải Huyền. Trong khi đọc, ông suy gẫm cho đến khi tin rằng mình đã hiểu câu đang đọc thì mới đọc sang câu kế tiếp. Khi Miller đọc đến Đa-ni-ên 8 thì ông cho rằng thời khoảng "hai ngàn ba trăm buổi chiều và buổi mai" được nói đến trong câu 14 là thời khoảng từ khi có chiếu chỉ xây dựng lại Giê-ru-sa-lem (457 TCN) cho đến khi Đấng Christ tái lâm. Miller dùng nguyên tắc "ngày=năm" trong Dân Số Ký 14:34 và Ê-xê-chi-ên 4:5-6 để tính rằng: hai ngàn ba trăm buổi chiều và buổi mai = 2300 ngày = 2300 năm. Như vậy, theo Miller, Chúa sẽ tái lâm vào khoảng năm 1843 – 1844. Miller đưa ra lời tuyên bố về sự tính toán của ông vào năm 1818 và tiếp tục nghiên cứu thêm cho đến tháng 9 năm 1822 thì ông chính thức khẳng định sự tính toán của mình.

Đến năm 1831, Miller bắt đầu rao giảng lý thuyết và tính toán của ông về ngày Chúa tái lâm. Người tin theo Miller được gọi là "Cơ-đốc Phục Lâm." Dầu vậy, những tiên đoán của ông về việc Chúa sẽ tái lâm vào tháng 10 năm 1843, hay mùa xuân năm 1844 đều không ứng nghiệm. Sau đó, một trong những người ủng hộ lý thuyết của Miller, là Samuel Snow, đã đưa ra tính toán mới là vào ngày 22 tháng 10 năm 1844 Đấng Christ sẽ tái lâm. Tuy nhiên, năm 1844 đã qua đi mà Đấng Christ vẫn chưa tái lâm, đem lại một sự thất vọng lớn cho trên 100,000 người tin theo Miller và Snow. Ông Miller đã chính thức nhận rằng mình sai, xin lỗi Hội Thánh, và rút lui ra khỏi sinh hoạt của Phong Trào Cơ-đốc Phục Lâm, rồi qua đời vào tháng 12 năm 1849. Nhiều người hoàn toàn từ bỏ lý thuyết của Miller nhưng cũng có những người tìm cách kiện toàn phương pháp tính toán và giải kinh của Miller để đưa ra những thời điểm mới về sự kiện Đấng Christ tái lâm.

Ban đầu, những người Cơ-đốc Phục Lâm chỉ nghiêng về sự kiện Chúa Tái Lâm và chưa chấp nhận tín lý giữ ngày Sa-bát. Vào khoảng đầu năm 1844, một thiếu nữ thuộc Giáo Phái Báp-tít Ngày Thứ Bảy (Seventh Day Baptist) tên là Rachel Oakes Preston đã giới thiệu tín lý giữ ngày Sa-bát cho những người Cơ-đốc Phục Lâm. Sau đó, tín lý giữ ngày Sa-bát trở thành một trong những tín lý quan trọng của những người Cơ-đốc Phục Lâm và đến năm 1860 thì họ chính thức dùng danh xưng Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật (Seventh Day Adventist).

Một trong những người tiếp tục triển khai lý thuyết của Miller và góp phần trong việc khai sinh ra Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật là bà Ellen White (26.11.1827 – 16.07.1915), xuất thân từ Giáo Hội Giám Lý (Methodist). Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật được chính thức thành lập vào ngày 21 tháng 5 năm 1863. Bà White cho biết bà được đem lên thiên đàng, nhận lãnh chỉ thị và khải tượng từ Chúa để thành lập Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật. Bà White tự xem mình là nữ tiên tri của Đức Chúa Trời và tín đồ Cơ-đốc Phục Lâm chấp nhận vai trò nữ tiên tri của bà. Thực tế, họ xem các sách do bà viết ra có thẩm quyền đứng hàng thứ nhì sau Thánh Kinh cho đức tin và nếp sống đạo của tín đồ Đấng Christ. Có thể nói, toàn thể hệ thống thần học của Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật dựa trên các tác phẩm của bà White. Tác phẩm chính là cuốn "The Great Controversy" (Cuộc Đối Nghịch Vĩ Đại) trình bày sự phản loạn của Satan chống nghịch lại Đức Chúa Trời và loài người là bãi chiến trường cho cuộc chiến giữa Đấng Christ và Satan. Bà White tin và dạy rằng lý thuyết của Miller  và sự tính toán của Snow là đúng nhưng ngày 22 tháng 10 năm 1844 là ngày Đấng Christ từ nơi thánh bước vào nơi chí thánh trên thiên đàng để khởi sự cuộc phán xét những kẻ sống và kẻ chết trên đất.

Theo thống kê năm 2010 [2], Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm có trên 16 triệu 600 ngàn tín đồ (không kể trẻ em), là một tổ chức tôn giáo lớn, đứng hàng thứ 12 trên thế giới, còn xét về ảnh hưởng quốc tế thì đứng hàng thứ sáu. Riêng tại Việt Nam, từ năm 1915 đến 1927, Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm vào Việt nam truyền giáo tại các thành phố Hải Phòng, Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Lạng Sơn, Sàigòn, Chợ Lớn… và "Hội Thánh Cơ-đốc Phục Lâm" đầu tiên tại Sàigòn được thành lập vào đầu tháng 12 năm 1929. 

Những Tín Lý Nghịch Thánh Kinh của Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật

Theo dòng lịch sử, tín lý của Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật có nhiều thay đổi. Từ năm 2005 cho đến nay, Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật có 28 Niềm Tin Căn Bản (28 Fundamentals) [3]. Trong 28 niềm tin căn bản đó, phần lớn phù hợp với sự dạy dỗ của Thánh Kinh nhưng có những điều được liệt kê dưới đây nghịch lại với sự dạy dỗ của Thánh Kinh:

1. Tín lý thứ 7 cho rằng mỗi người là một liên kết không thể phân chia bao gồm thể xác, trí tuệ, và tâm thần (body, mind, spirit).

Thánh Kinh dạy người là một thực thể bao gồm thể xác, linh hồn, và tâm thần (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23). Lời của Chúa có thể phân chia linh hồn, tâm thần, và thể xác (Hê-bơ-rơ 4:12). Linh hồn và tâm thần có thể rời khỏi thể xác khi sự chết thứ nhất xảy ra hoặc khi được thần cảm (Lu-ca 16:22-23; II Cô-rinh-tô 5:9; 12:1-5).

2. Tín lý thứ 13 cho rằng trong những ngày cuối cùng, giữa sự bội đạo lớn, một phần còn sót lại của Hội Thánh được gọi ra khỏi các tổ chức tôn giáo mang danh Chúa để vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và đức tin trong Đấng Christ. Nhiệm vụ của phần còn sót lại là rao truyền sự phán xét sắp đến, công bố sự cứu rỗi trong Đức Chúa Jesus Christ, và loan báo sự tái lâm của Ngài. Nhiệm vụ này được tiêu biểu bởi ba thiên sứ trong Khải Huyền 14 và xảy ra đồng thời với sự phán xét trên thiên đàng, đem đến sự ăn năn và thay đổi trên đất.

Từ ngữ "sự phán xét trên thiên đàng" đề cập đến tín lý thứ 24 liên quan đến khải tượng của bà White về việc ngày 22 tháng 10 năm 1844 Đấng Christ thay vì tái lâm trên đất thì đã từ nơi thánh bước vào nơi chí thánh trên thiên đàng để phán xét kẻ sống và kẻ chết.  Thánh Kinh không hề nói đến sự kiện Đấng Christ phán xét kẻ sống và kẻ chết trong nơi chí thánh trong thiên đàng. Sách Khải Huyền từ đoạn 6 cho đến đoạn 19 là lời tiên tri về sự phán xét của Đức Chúa Trời trên thế gian sau khi Hội Thánh đã được đem ra khỏi thế gian.

3. Tín lý thứ 16 cho rằng Đấng Christ hiện diện trong sự dự Tiệc Thánh để gặp gở và thêm sức cho các tín đồ.

Thánh Kinh không hề dạy Đấng Christ hiện diện mỗi khi tín đồ dự Tiệc Thánh để gặp gở và thêm sức cho họ. Thánh Kinh dạy Đức Chúa Jesus ở cùng tín đồ cho đến khi tận thế (Ma-thi-ơ 28:20); Đức Cha và Đức Con ở trong những ai yêu mến Đấng Christ và vâng giữ lời Ngài (Giăng 14:23); Đức Thánh Linh ngự trong thân thể tín đồ và thân thể tín đồ trở thành đền thờ của Đức Chúa Trời (I Cô-rinh-tô 3:16; 6:19). Nói cách khác, Ba Ngôi Đức Chúa Trời ở trong những ai thuộc về Đấng Christ chứ không phải chỉ mỗi lần tín đồ dự Tiệc Thánh thì Đấng Christ mới hiện diện với họ. Chính Đấng Christ dạy rằng Tiệc Thánh là việc tín đồ làm để nhớ đến Chúa "Hãy làm điều này để nhớ đến Ta!" chứ không phải là việc làm để Chúa hiện diện và thêm sức cho tín đồ (I Cô-rinh-tô 11:24-25).

4. Tín lý thứ 18 cho rằng ân tứ nói tiên tri được thể hiện và ban cho bà Ellen White cùng với khoảng 2000 khải tượng và giấc mơ; các tác phẩm của bà có thẩm quyền và là nguồn lẽ thật tiếp tục nuôi dưỡng, dạy dỗ, dẫn dắt, bẻ trách và sửa trị Hội Thánh.

Trong thực tế, nhiều lời tiên tri của bà White đã không ứng nghiệm, (sẽ trình bày trong một bài viết khác khi có dịp). Mặt khác, cho dù 100% những ý tưởng được trình bày trong các tác phẩm của bà White phù hợp với sự dạy dỗ của Thánh Kinh thì cũng không vì đó mà các tác phẩm của bà trở thành thẩm quyền và nguồn lẽ thật cho Hội Thánh, huống chi, có những sự sai lạc với lời dạy của Thánh Kinh trong các tác phẩm của bà. Dưới đây là một vài thí dụ điển hình:

Ellen White viết:"Những người tiếp nhận Cứu Chúa, dù thật lòng đến đâu, cũng không nên dạy cho họ nói hay cảm nhận rằng họ đã được cứu." (Nguyên văn: "Those who accept the Saviour, however sincere their conversion, should never be taught to say or feel that they are saved." Christ's Object Lessons, trang 155).

Thánh Kinh dạy:"Ta đã viết những điều nầy cho các con, hầu cho các con biết mình có sự sống đời đời, là kẻ nào tin đến danh Con Đức Chúa Trời" (I Giăng 5:13).

Ellen White viết:"Đừng một người hầu việc Chúa nào trong chúng ta làm ra gương ác bằng cách ăn thịt. Họ và gia đình của họ phải sống đúng theo sự soi dẫn của sự cải biến sức khỏe. Đừng để cho những người hầu việc Chúa trong chúng ta thú vật hóa bản tính tự nhiên của họ và con cháu họ." (Nguyên văn:"Let not any of our ministers set an evil example in the eating of flesh-meat. Let them and their families live up to the light of health reform. Let not our ministers animalize their own nature and the nature of their children." Spalding and Magan, trang 211).

Thánh Kinh dạy:"Phàm vật chi hành động và có sự sống thì dùng làm đồ ăn cho các ngươi. Ta cho mọi vật đó như ta đã cho thứ cỏ xanh" (Sáng Thế Ký 9:3).

Ellen White viết:"Bị bệnh là phạm tội; vì tất cả các thứ bệnh đều là kết quả của sự phạm pháp." (Nguyên văn: "It is a sin to be sick; for all sickness is the result of transgression." Health Reformer, 01.08.1866).

Thánh Kinh dạy:"Sa-tan bèn lui ra trước mặt Đức Giê-hô-va, hành hại Gióp một bịnh ung độc, từ bàn chơn cho đến chót đầu" (Gióp 2:7).

5. Tín lý thứ 24 cho rằng vào năm 1844 Đấng Christ đã từ nơi thánh bước vào nơi chí thánh trên thiên đàng để hoàn tất công việc chuộc tội cho nhân loại bằng cách dùng huyết Ngài tẩy sạch đền thánh trên trời và phán xét kẻ sống và kẻ chết. Khi công tác này hoàn thành thì Đấng Christ sẽ tái lâm trên đất. Sự phán xét kẻ sống có nghĩa là phán xét những người đang sống trên đất từ khi Đấng Christ vào nơi chí thánh cho đến khi Ngài tái lâm; còn sự phán xét kẻ chết là phán xét những người tin Chúa đã chết trước thời điểm đó. Theo bà Ellen White thì ngày 22 tháng 10 năm 1844 là ngày Đấng Christ khởi sự thi hành sự phán xét.

Thánh Kinh cho biết Đấng Christ đã làm xong công tác chuộc tội cho nhân loại. Công tác đó hoàn thành khi Đấng Christ chết trên thập tự giá. Chính Ngài tuyên phán: "Xong" (Giăng 19:30)! Hê-bơ-rơ 9:12 chép rõ "Ngài đã vào nơi rất thánh một lần thì đủ hết, không dùng huyết của dê đực và của bò con, nhưng dùng chính huyết mình, mà được sự chuộc tội đời đời." Động từ "vào" trong nguyên tác Hy-lạp của câu này thuộc thời quá khứ bất định để chỉ một việc đã hoàn thành trong thời quá khứ, nghĩa là trước khi thư Hê-bơ-rơ được viết. Như vậy, làm sao có chuyện đến năm 1844 thì Đức Chúa Jesus Christ mới vào nơi chí thánh? Thánh Kinh cũng không hề nói đến chuyện Đấng Christ thi hành sự phán xét kẻ sống và kẻ chết trong nơi chí thánh trên trời hoặc trước khi Ngài tái lâm trên đất. Thức tế, Thánh Kinh cho biết sau khi Hội Thánh được cất ra khỏi thế gian thì Đức Chúa Trời phán xét thế gian trong một thời kỳ bảy năm và sau khi trời cũ đất cũ qua đi thì Đấng Christ sẽ gọi những kẻ chết không thuộc về Chúa sống lại và phán xét mỗi người tùy theo công việc họ làm.

6. Tín lý thứ 26 cho rằng người chết thì không còn ý thức gì cả.

Đấng Christ phán rằng người chết vẫn có ý thức, có cảm giác và có trí nhớ. Câu chuyện về người nhà giàu tội lỗi và người ăn mày tên La-xa-rơ được chép lại trong Lu-ca 16:19-31 chứng minh điều đó. Ngoài ra, những thánh đồ tử đạo thời đại nạn vẫn có ý thức và biết kêu cầu xin Chúa báo trả những kẻ ác (Khải Huyền 6:9-10).

7. Tín lý thứ 27 cho rằng vương quốc ngàn năm bình an là ở trên trời, còn trái đất lúc đó bị bỏ hoang, không có người ở, chỉ có Satan và các quỷ sứ của nó. Cuối ngàn năm bình an thì thành thánh sẽ từ trời giáng xuống trên đất. Khi đó những kẻ ác sẽ sống lại, hợp với Sa-tan và các quỷ sứ của nó bao vây thành thánh nhưng lửa từ Đức Chúa Trời sẽ thiêu hủy họ và thanh tẩy trái đất. Từ đó, vũ trụ sẽ không còn tội nhân và tội lỗi nữa.

Thánh Kinh cho biết vương quốc ngàn năm là ở trên đất. Sa-tan bị giam trong vực sâu suốt một ngàn năm. Không có chuyện những kẻ ác sẽ sống lại vào cuối ngàn năm bình an để hợp sức với Sa-tan bao vây thành thánh từ trời giáng xuống. Thành thánh chỉ từ trời giáng xuống đất sau khi đã có trời mới đất mới, là lúc Sa-tan và những thiên sứ phạm tội cùng những người không thuộc về Chúa đã bị ném vào hồ lửa đời đời (Khải Huyền 20-22). 

Ngoài 28 Niềm Tin Căn Bản, Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật còn có những quan điểm thần học không đúng với sự dạy dỗ của Thánh Kinh như sau:

8. Chỉ những ai biểu lộ kết quả xứng đáng của sự ăn năn (Ma-thi-ơ 3:8) [4] và công nhận Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm là phần sót lại của Hội Thánh thật của Chúa [5] mới được làm báp-tem.

Hai điều kiện này hoàn toàn không có trong Thánh Kinh.

9. Tín đồ không được ăn thịt các loài vật không tinh sạch [6].

Thánh Kinh cho biết, thời Tân Ước Đức Chúa Trời đã làm tinh sạch mọi thức ăn không tinh sạch (Công Vụ Các Sứ Đồ 10:15; Rô-ma 14:14; I Ti-mô-thê 4:4).

10. Những ai chỉ thờ phượng Chúa vào chủ nhật, không thờ phượng Chúa vào ngày thứ bảy, là mang dấu ấn của con thú được mô tả trong Khải Huyền 13 [6].

Dấu ấn của con thú chỉ xuất hiện khi con thú lên ngôi (thời đại nạn, Hội Thánh đã được cất lên trước đó) và dấu ấn đó sẽ ở trên tay hoặc trên trán của người đón nhận nó để người đó có quyền mua bán chứ không phải sự nhóm họp thờ phượng Chúa vào chủ nhật là dấu ấn của con thú. Con dân của Chúa có thể nhóm họp thờ phượng Chúa vào bất kỳ lúc nào.

11. Chỉ những ai giữ ngày Sa-bát mới nhận được dấu ấn của Đức Chúa Trời và được cứu [7].

Dấu ấn của Đức Chúa Trời là Đức Thánh Linh ở trong chúng ta, do chính Đức Chúa Trời ban cho chúng ta khi chúng ta thật lòng ăn năn, từ bỏ tội, tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ và vui lòng sống theo Lời Chúa (Ê-phê-sô 4:30).

Kết Luận

Trên cơ bản đức tin Cơ-đốc về Ba Ngôi Đức Chúa Trời, về Thánh Kinh là Lời của Đức Chúa Trời, về tội lỗi, về sự cứu rỗi, về sự thánh hóa, và về sự sống đời đời thì người Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật tin đúng những gì Thánh Kinh dạy. Những tín lý và quan điểm thần học nghịch lại Thánh Kinh của Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật chẳng qua là hậu quả tất nhiên của sự hiểu sai một số Lời Chúa (II Phi-e-rơ 3:16) và sự dựa vào những điều gọi là "chiêm bao, khải tượng, thần cảm" hơn là dựa vào Lời Chúa. Tất cả các chiêm bao, khải tượng, thần cảm cần phải được đối chiếu với lẽ thật của Lời Chúa vì từ ngàn xưa đã có những sự chiêm bao, khải tượng (hiện thấy), và thần cảm không đến từ Đức Chúa Trời (Phục Truyền Luật Lệ Ký 13:1-5; Truyền Đạo 5:7; Giê-rê-mi 14:14; 23:25-32; Xa-cha-ri 10:2; II Tê-sa-lô-ni-ca 2:2).

Tất cả những sự dạy dỗ không có trong Thánh Kinh hoặc nghịch lại Thánh Kinh đều là "tà giáo" nghĩa là những sự dạy dỗ không đúng với lẽ thật (tà là không ngay thẳng, không chính đáng; giáo là sự dạy dỗ). Tuy nhiên, các giáo hội khác không có tư cách để gọi Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm là "tà giáo" vì chính trong các giáo hội đó cũng có những sự dạy dỗ không đúng với hoặc là không có trong Thánh Kinh. Thậm chí, "tà giáo" trong một số giáo hội tự cho là truyền thống, theo sát Thánh Kinh, lại có mức độ nguy hiểm trầm trọng đến nổi khiến cho tín đồ tin theo những sự dạy dỗ đó có thể bị mất sự cứu rỗi, như tà thuyết: "Tin Chúa một lần, được cứu vĩnh viễn," dạy rằng, một người chỉ cần thật lòng tin nhận sự cứu rỗi của Đấng Christ là được cứu, cho dù sau đó đời sống của người ấy vẫn chưa từ bỏ tội lỗi.

Công bình mà nói, một người tin và sống theo những sự dạy dỗ của Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm An Thất Nhật có nếp sống đạo chân thành và thánh khiết đúng với Lời Chúa hơn là một người tin vào tà thuyết "Tin Chúa một lần, được cứu vĩnh viễn."

Là con dân Chúa, chúng ta có bổn phận "nhìn trái biết cây" để nhận diện các tiên tri giả và giáo sư giả (Ma-thi-ơ 7:15-23); chúng ta có bổn phận đối chiếu lời giảng dạy của bất cứ người nào với Thánh Kinh để xem lời giảng dạy ấy có đúng với Thánh Kinh hay không (Công Vụ Các Sứ Đồ 17:11). Là con dân Chúa chúng ta có bổn phận vâng giữ các điều răn của Chúa và sống như Đấng Christ đã sống, làm theo những gì Đấng Christ đã làm (I Giăng 2:3-6). Là con dân Chúa, chúng ta thuộc về Hội Thánh của Đức Chúa Trời, do Đấng Christ dùng huyết Ngài để lập nên (I Cô-rinh-tô 1:2; I Phi-e-rơ 2:9; Khải Huyền 1:6) chứ chúng ta không thuộc về một tổ chức tôn giáo nào, cho dù là những tổ chức mang danh Chúa, do loài người lập ra. Thẩm quyền tuyệt đối trên đời sống của con dân Chúa là Thánh Kinh, Lời Hằng Sống của Đức Chúa Trời (II Ti-mô-thê 3:16-17), chứ không phải giáo lý hay thẩm quyền của bất cứ một người nào hay một giáo hội nào. Để có sự khôn ngoan, hiểu biết đúng Lời Chúa, trước hết con dân Chúa cần có tấm lòng thuận phục, sẵn sàng vâng theo Lời Chúa (Giô-suê 1:8), kế tiếp, lấy đức tin cầu xin Chúa ban cho mình sự khôn ngoan, thông sáng (Gia-cơ 1:5).

 

Huỳnh Christian Timothy
14.05.2011

 

Chú Thích & Tham Khảo

[1] Danh xưng "Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm An Thất Nhật"được dịch từtiếng Anh: "Seventh Day Adventist Church," trong đó, từ ngữ Adventist có nghĩa là người mong chờ sự tái lâm (của Đấng Christ).

[2] http://news.adventist.org/2010/10/-about-2900-people-j.html

[3] http://www.adventist.org/beliefs/fundamental/index.html

[4] "Seventh-day Adventists Believe. A Biblical Exposition of 27 Fundamental Doctrines," trang 180

[5] http://www.bible.ca/cr-SDA.htm – Official Seventh-day Adventist Baptismal Vows, #8 and #13.   

[6] "Seventh-day Adventists Believe. A Biblical Exposition of 27 Fundamental Doctrines," trang 285

[7] "The Great Controversy," trang 605

http://www.saintaquinas.com/Seventh_day.html

http://www.adventist.org/

http://www.religionfacts.com/christianity/denominations/seventh_day_adventist.htm

http://en.wikipedia.org/wiki/Ellen_G._White

http://en.wikipedia.org/wiki/Seventh-day_Adventist_Church

http://en.wikipedia.org/wiki/History_of_the_Seventh-day_Adventist_Church

Đọc Tiếp →

Phê Bình Tác Phẩm “The Purpose Driven Life” – Bài Năm: Những sai lầm trong ngày thứ nhì

Phê Bình Tác Phẩm "The Purpose Driven Life"

Bài Năm: Những Sai Lầm Trong Ngày Thứ Nhì

Copyright Notice:Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry – All Rights Reserved © 2006 Vietnamese Christian Mission Ministry, Inc. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức với điều kiện giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Mục Tử
Bấm vào đây để download bài viết này

[1447]

Những ý tưởng được Rick Warren trình bày trong "Ngày 2: Bạn không phải là một sự tình cờ" có nhiều chi tiết đi ngược lại lẽ thật về Đức Chúa Trời, có hại cho người đọc và tạo ra một quan điểm thần học sai lầm rằng: nguồn gốc, thân phận, hoàn cảnh của mỗi người được sinh ra trên thế gian này là do Đức Chúa Trời muốn như vậy. Qua sự trình bày của Rick Warren, chúng ta nhận thấy ông không nắm vững hiểu biết về mối quan hệ giữa sự tể trị tuyệt đối của Đức Chúa Trời và ý chí của loài người. Chúng ta hãy duyệt qua những điểm sai lầm nguy hiểm trong bài viết "Ngày 2" trong loạt bài 40 ngày sống theo đúng mục đích.

Ngày Thứ Nhì

"Đức Chúa Trời đã vẽ nên từng chi tiết nhỏ trên thân thể của bạn. Ngài cũng đã rất thận trọng khi lựa chọn chủng tộc, màu da, màu tóc và mọi đặc tính khác của bạn. Ngài đã tạo dựng thân thể bạn cách thật đặc biệt theo điều Ngài muốn. Ngài cũng quyết định những tài năng bẩm sinh mà bạn có cũng như những nét đặc trưng trong cá tính của bạn" [1].

"Đáng ngạc nhiên hơn cả là việc Đức Chúa Trời quyết định bạn sẽ được sinh ra như thế nào. Bất luận bạn ra đời trong hoàn cảnh nào, hoặc cha mẹ của bạn là ai, thì Đức Chúa Trời vẫn có một kế hoạch khi tạo dựng bạn. Bất luận cha mẹ của bạn là ngưòi tốt, xấu, hay bình thường. Đức Chúa Trời biết rõ hai người đó có đúngcấu tạo di truyền cần thiết để tạo nên "bạn" theo ý muốn của Ngài. Họ có chuỗi DNA mà Đức Chúa Trời muốn dùng để tạo nên bạn. Dù có những người cha, người mẹ, không hợp pháp, nhưng không hề có những đứa con không hợp pháp. Nhiều đứa trẻ ra đời ngoài dự định của cha mẹ chúng, nhưng điều đó không có nghĩa là Đức Chúa Trời không có kế hoạch cho chúng. Mục đích của Đức Chúa Trời có thể được thành tựu bất chấp sai lầm và thậm chí tội lỗi của con người."[2]

Đọc xong hai đoạn văn trên đây bạn có cảm tưởng gì? Xin bạn chịu khó đọc lại một lần nửa, đọc chậm rãi từng chữ một và để cho ý nghĩa của toàn đoạn văn thấm vào trí bạn. Bạn có cảm nhận được một sự bất an đang dấy lên trong lòng mình? Bạn có nhận thấy lẽ thật về Đức Chúa Trời của Thánh Kinh đã bị hai đoạn văn trên đây làm cho biến dạng? Một người chưa từng đọc Thánh Kinh, chưa từng được nghe qua về Đức Chúa Trời của Thánh Kinh, khi đọc xong hai đoạn văn trên đây của Rick Warren sẽ có một khái niệm như thế nào về Đức Chúa Trời?

Mối tương quan giữa sự tể trị tuyệt đối của Đức Chúa Trời và ý chí của loài người là một đề tài thần học không đơn giản. Cả hai phạm trù và sự tương quan của chúng cần phải được xem xét kỷ lưỡng dưới ánh sáng của Thánh Kinh. Ý chí của loài người không thể vượt khỏi sự tể trị của Đức Chúa Trời nhưng sự tể trị của Đức Chúa Trời cũng không tước đoạt ý chí mà Ngài đã ban cho nhân loại.

Vì Đức Chúa Trời cầm quyền tể trị tuyệt đối cho nên không một sự gì chẳng ở dưới sự tể trị của Ngài, không một việc gì mà Ngài không biết trước, không một việc gì có thể ngăn cản được ý chỉ của Ngài. Ý chỉ của Ngài được thiết lập từ trước vô cùng và vững chắc mãi mãi về sau, cho nên Ngài là Đấng không thay đổi!

Trong ý chỉ đời đời của Đức Chúa Trời, Ngài đã định rằng loài người được dựng nên, mang lấy hình ảnh của Ngài và làm con của Ngài. Vì loài người được dựng nên để làm con của Đức Chúa Trời cho nên loài người được kế tự sự vinh hiển của Ngài và đồng trị với Đức Chúa Con. Được dựng nên theo hình ảnh của Đức Chúa Trời là được dựng nên giống như Ngài trong sự vinh hiển của Ngài: thánh khiết, công chính, và yêu thương; được dựng nên theo hình ảnh của Đức Chúa Trời còn là được dựng nên giống như Ngài trong năng lực của Ngài: khả năng sáng tạo, ngôn ngữ, tình cảm, và ý chí.

Ý chí là điều vô cùng quan trọng trong mối quan hệ giữa Đức Chúa Trời và loài người. Nếu loài người được dựng nên không có ý chí thì không thể gọi là giống như hình ảnh Đức Chúa Trời. Ý chí còn được gọi là sự tự do chọn lựa.

·         Đức Chúa Trời chọn lựa dựng nên loài người để làm con của Ngài mặc dù biết trước rằng loài người sẽ sa ngã, phạm tội, chống nghịch lại Ngài, phá hủy thế gian mà Ngài sẽ sáng tạo. Sự chọn lựa đó là ý chí của Đức Chúa Trời.

·         Đức Chúa Trời ban cho loài người ý chí để loài người có quyền chọn lựa yêu kính, tôn thờ, và đầu phục Ngài hoặc đi theo ý riêng, chống nghịch Ngài. Dù Ngài là Đấng tạo hóa nhưng Ngài không ép buộc loài thọ tạo phải đầu phục Ngài. Sự đầu phục phải phát xuất từ lòng biết ơn và tình yêu. Sự ban cho đó cũng là ý chí của Đức Chúa Trời

Ý chí của Đức Chúa Trời luôn luôn được thể hiện vì Ngài có quyền tể trị tuyệt đối. Trước khi loài người phạm tội và tội lỗi của loài người trở thành chướng ngại, ngăn cản ý định đời đời của Đức Chúa Trời dành cho nhân loại, thì Ngài đã dự trù phương pháp để ý định của Ngài vẫn được thành toàn. Phương pháp đó là công trình cứu rỗi nhân loại đã được chuẩn bị từ trước khi sáng thế. Không ai, không sự gì có thể khiến cho ý định của Đức Chúa Trời không thể hoàn thành. Công trình cứu rỗi đó thể hiện sự tể trị tuyệt đối của Đức Chúa Trời.

Loài người được Đức Chúa Trời ban cho quyền tự do chọn lựa để chọn tin cậy, yêu kính, thờ phượng, và vâng phục Ngài hoặc chọn sống theo ý riêng, bất chấp, và chống nghịch ý định của Ngài. Quyền tự do lựa chọn đó tức là ý chí. Khi ý chí của loài người không phản ánh ý chí của Đức Chúa Trời, tội lỗi phát sinh. Đức Chúa Trời là thiện, cho nên ý chí của Ngài là thiện. Chống nghịch lại ý chí của Đức Chúa Trời là tội lỗi, là ác. Đức Chúa Trời là sự sống, cho nên ý chí của Ngài là sự sống, lời nói của Ngài là sự sống. Chống nghịch lại lời nói, ý chí của Đức Chúa Trời là chống nghịch chính bản thể Đức Chúa Trời, là tội lỗi, là sự chết.

Đức Chúa Trời không tạo ra tội lỗi cũng như hậu quả của tội lỗi là đau khổ, bất công, bệnh tật, và sự chết, vì Ngài là thiện, mọi công trình sáng tạo của Ngài là tốt lành.

Khi loài người tự do chọn sống đời sống phạm tội chống nghịch Chúa thì hậu quả của tội lỗi là đau khổ, bệnh tật, và bất công xuất hiện. Tuyệt điểm của hậu quả tội lỗi là sự chết! Chính ý chí của loài người tạo ra tội lỗi và các hậu quả của nó. Chính ý chí loài người tạo ra sự chết! Đức Chúa Trời cho phép loài người có ý chí, và khi loài người dùng ý chi để chống nghịch lại sự thiện thì sự ác phải phát sinh, chống nghịch lại sự sống, thì sự chết phải phát sinh. Đức Chúa Trời cho phép sự ác và sự chết xảy nhưng Ngài không tạo ra sự ác và sự chết.

Thế giới chúng ta sống ngày hôm nay, không phải là một thế giới tốt lành. Tất cả những đau khổ, bệnh tật, bất công, và chết chóc là hậu quả trực tiếp từ ý chí tự do phạm tội của loài người và Satan. Đức Chúa Trời cho phép những điều này xảy ra vì nếu những điều này không xảy ra thì sự tự do chọn lựa trở thành vô nghĩa. Khi chúng ta đứng trước một cái máy bán nước ngọt, chúng ta có tự do chọn lựa bỏ tiền vào máy để mua nước hoặc không bỏ tiền vào máy để mua nước. Nếu chúng ta chọn không bỏ tiền vào máy để mua nước thì chúng ta sẽ không nhận được lon nước ngọt từ máy. Nhưng nếu chúng ta chọn bỏ tiền vào máy để mua nước mà khi bấm nút không có lon nước ngọt nào rơi ra, thì rõ ràng là sự tự do chọn lựa của chúng ta trở thành vô nghĩa. Nếu chúng ta chọn không vâng phục Đức Chúa Trời mà không nhận lấy hậu quả là tội lỗi và sự chết thì sự tự do chọn lựa của chúng ta sẽ trở thành vô nghĩa.

Dù thế giới ngày hôm nay quằn quại trong hậu quả của tội lỗi nhưng Đức Chúa Trời vẫn nắm quyền tể trị tuyệt đối và Ngài vẫn tôn trọng ý chí của loài người. Mọi chương trình của Đức Chúa Trời đều được thành toàn theo thời điểm Ngài đã định trước. Trong lịch sử loài người, Đức Chúa Trời luôn luôn dùng loài người để hoàn thành các chương trình của Ngài giữa nhân loại. Một người tin cậy, yêu kính tôn thờ Chúa thì được Ngài dùng vào những việc xứng hiệp với ý chí tốt lành của người ấy, như người thợ gốm dùng một số bình vào việc sang trọng. Một người chọn chống nghịch Chúa thì Ngài cũng dùng họ vào những việc xứng hiệp với ý chí phản nghịch của họ, như người thợ gốm dùng một số bình vào những việc hèn hạ. Trong mọi sự, Đức Chúa Trời luôn nắm quyền tể trị tuyệt đối và hoàn thành ý chí của Ngài. Trong mọi sự, Đức Chúa Trời cũng không vi phạm quyền tự do chọn lựa của bất cứ một người nào.

Vì thế, Thánh Kinh ghi lại sự kiện Đức Chúa Trời sắm sẵn những người từ trong bụng mẹ để trở thành con dân của Ngài và hầu việc Ngài. Ngài chọn lựa một người không phải là Ngài tước đoạt đi ý chí của người ấy, nhưng trong sự toàn năng của Ngài, Ngài biết trước người đó sẽ tự do chọn lựa trở thành con cái của Ngài, nếu được Ngài ban cho cơ hội.

Mặt khác, có những người được sinh ra ngoài ý chí của Đức Chúa Trời. Có những người được sinh ra là vì ý chí tội lỗi của loài người. Đức Chúa Trời không muốn những người đó được sinh ra nhưng Ngài cho phép họ được sinh ra vì đó là hậu quả ắt có của tội lỗi. Thánh Kinh ghi lại trường hợp điển hình đứa con của vua Đa-vít và vợ của U-ri đã bị Đức Chúa Trời đánh chết vì là kết quả của một hành động ngoại tình dẫn đến giết người (II Sa-mu-ên 12:14). Theo luật pháp của Đức Chúa Trời, ngoại tình là tội chết (Lê-vi Ký 20:10) và "Con ngoại tình không được phép vào hội của Đức Giê-hô-va, dầu đến đời thứ mười cũng chẳng vào được" (Phục Truyền Luật lệ Ký 23:2). Như vậy, Thánh Kinh khẳng định, không phải sự sinh ra của bất kỳ người nào cũng được Chúa vui lòng.

Dựa vào Thánh Kinh, chúng ta thấy hai đoạn văn trích ra trên đây từ trong bài viết "Ngày 2: Bạn không phải là một sự tình cờ" từ quyển "Sống theo đúng mục đích" của Rick Warren (bản dịch Việt ngữ) rõ ràng đã mô tả một cách sai lệch về Đức Chúa Trời.

·         "Đức Chúa Trời đã vẽ nên từng chi tiết nhỏ trên thân thể của bạn." Rick Warren viết "Sống theo đúng mục đích" cho mọi người hay chỉ cho những trai thanh, nữ tú, những người được sinh ra với một thân thể xinh đẹp không khuyết tật? Nếu Đức Chúa Trời đã vẽ nên từng chi tiết nhỏ trên thân thể của tôi thì tôi sẽ hiểu làm sao khi môi của tôi bị sứt, khi tôi ra đời bị thiếu tay, hoặc chân, khi bộ phận sinh dục của tôi bán nam, bán nữ và tôi không thể nào thi hành mệnh lệnh của Đức Chúa Trời là hãy sinh sản ra nhiều, làm cho đầy dẫy đất? Rõ ràng có sự sai lầm trong việc cấu tạo nên thân thể của tôi, nhưng điều đó không phải đến từ Đức Chúa Trời. Điều đó đến từ hậu quả của tội lỗi, và Đức Chúa Trời đã chọn không can thiệp vào tiến trình thân thể tôi được hình thành trong lòng mẹ. Nếu tôi được ra đời và được sống, được hưởng ơn cứu rỗi của Chúa, được làm con Đức Chúa Trời thì đó là do sự thương xót của Chúa.

·         "Ngài cũng đã rất thận trọng khi lựa chọn chủng tộc, màu da, màu tóc và mọi đặc tính khác của bạn." Rick Warren sẽ trả lời ra sao khi đối diện với những người được sinh ra vì là hậu quả của những sự hãm hiếp trong chiến tranh giữa các dân tộc với nhau? Đức Chúa Trời thánh khiết, Đức Chúa Trời là thiện, lại dùng chiến tranh và hãm hiếp để lựa chọn cho tôi một chủng tộc, một mầu da, một mầu tóc mà có lẽ suốt đời tôi sẽ hổ thẹn và đau khổ vì chúng hay sao? Thánh Kinh cho biết: "Lòng người ta là dối trá hơn mọi vật, và rất là xấu xa. Ai có thể dò biết được" (Giê-rê-mi 17:9)? Vậy, trong đó có đặc tính nào mà Đức Chúa Trời đã chọn lựa cho tôi hay không?

·         "Ngài đã tạo dựng thân thể bạn cách thật đặc biệt theo điều Ngài muốn." Nếu thật vậy thì cái môi sứt của tôi hoặc tình trạng bán nam, bán nữ của tôi từ khi sinh là một sự tạo dựng đặc biệt của Đức Chúa Trời, và nếu tôi đi giải phẩu chỉnh hình thì tôi phạm tội đã làm ngược lại "điều đặc biệt Ngài muốn."

·         "Đáng ngạc nhiên hơn cả là việc Đức Chúa Trời quyết định bạn sẽ được sinh ra như thế nào. Bất luận bạn ra đời trong hoàn cảnh nào, hoặc cha mẹ của bạn là ai, thì Đức Chúa Trời vẫn có một kế hoạch khi tạo dựng bạn. Bất luận cha mẹ của bạn là ngưòi tốt, xấu, hay bình thường." Nếu Rick Warren sống cùng thời với vua Đa-vít thì những lời trên đây của ông hẵn đã an ủi Đa-vít nhiều lắm. Bởi vì, theo Rick Warren, Đức Chúa Trời đã quyết định cho đứa con trai của Đa-vít và vợ U-ri được sinh ra như vậy. Trong hoàn cảnh đó, với sự ngoại tình của Đa-vít và Bết-sê-ba thì Đức Chúa Trời vẫn có một kế hoạch cho đứa trẻ mà nếu Ngài không giết nó sau khi nó được sinh ra, thì nó và con cháu đời thứ mười của nó cũng không được vào Hội của Đức Chúa Trời! Không ai có thể tin rằng Đức Chúa Trời đã vẽ nên từng chi tiết nhỏ trên thân thể của đứa bé. Ngài cũng đã rất thận trọng khi lựa chọn chủng tộc, màu da, màu tóc và mọi đặc tính khác của nó qua sự ngoại tình của Đa-vít và Bết-sê-ba. Ngài đã tạo dựng thân thể nó cách thật đặc biệt theo điều Ngài muốn;để rồi sau khi nó sinh ra được bảy ngày thì Ngài đánh chết nó, vì đó là mục đích của Ngài cho sự sinh ra của nó.

·         "Đức Chúa Trời biết rõ hai người đó có đúngcấu tạo di truyền cần thiết để tạo nên "bạn" theo ý muốn của Ngài. Họ có chuỗi DNA mà Đức Chúa Trời muốn dùng để tạo nên bạn. Dù có những người cha, người mẹ, không hợp pháp, nhưng không hề có những đứa con không hợp pháp. Nhiều đứa trẻ ra đời ngoài dự định của cha mẹ chúng, nhưng điều đó không có nghĩa là Đức Chúa Trời không có kế hoạch cho chúng." Rick Warren sẽ trả lời ra sao trước những người được sinh ra vì là kết quả của những sự hãm hiếp, loạn luân, hoặc buôn hương, bán phấn? Cứ theo ý trên đây của Rick Warren thì những kẻ hiếp dâm, những kẻ loạn luân, những người mua dâm và bán dâm không có tội lỗi gì, vì họ "có đúngcấu tạo di truyền cần thiết để tạo nên "bạn" theo ý muốn của Ngài. Họ có chuỗi DNA mà Đức Chúa Trời muốn dùng để tạo nên bạn" cho nên được Chúa chọn, kết hợp họ với nhau cho sinh ra những "bạn" "hợp pháp" mà chính Đức Chúa Trời cũng không muốn họ gia nhập vào hội của Ngài, dẫu cho đến đời thứ mười! Rick Warren sẽ giải thích như thế nào với những đứa con được sinh ra do những sự cấu hiệp trái phép như đã ghi trong Thánh Kinh, Lê-vi Ký 18?

1 Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:
2 Hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi.
3 Các ngươi chớ làm theo những điều người ta làm hoặc tại xứ Ê-díp-tô, là nơi các ngươi đã kiều ngụ, hoặc tại xứ Ca-na-an, là xứ ta dẫn các ngươi đi đến: chớ đi theo thói tục họ.
4 Các ngươi hãy tuân mạng lịnh ta, gìn giữ luật pháp ta đặng noi theo: Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi.
5 Vậy, hãy giữ luật pháp và mạng lịnh ta, người nào làm theo, thì sẽ nhờ nó mà được sống: Ta là Đức Giê-hô-va.
6 Chớ một ai trong vòng các ngươi đến gần cùng người nữ bà con mình đặng cấu hiệp: Ta là Đức Giê-hô-va.
7 Chớ cấu hiệp cùng mẹ mình; bằng cấu hiệp, tất làm nhục cho cha mẹ.
8 Chớ cấu hiệp cùng kế mẫu, bằng cấu hiệp, ấy làm nhục cho cha mình.
9 Chớ cấu hiệp cùng chị em mình, hoặc một cha khác mẹ, hoặc một mẹ khác cha, hoặc sanh tại trong nhà, hoặc sanh ở ngoài.
10 Chớ cấu hiệp cùng cháu gái, hoặc cháu gái nội, hoặc cháu gái ngoại; bằng cấu hiệp, ấy là gây nhục cho mình. 11 Chớ cấu hiệp cùng con gái của kế mẫu bởi cha mình sanh ra, vì là em gái ngươi.
12 Chớ cấu hiệp cùng chị em của cha ngươi; vì là cốt nhục của cha ngươi.
13 Chớ cấu hiệp cùng chị em của mẹ ngươi; vì là cốt nhục của mẹ ngươi.
14 Chớ cấu hiệp cùng bác gái hay thím ngươi; bằng cấu hiệp, ấy là gây nhục cho anh em của cha ngươi.
15 Chớ cấu hiệp cùng dâu ngươi; vì là vợ của con trai mình.
16 Chớ cấu hiệp cùng chị dâu hay em dâu ngươi; nếu cấu hiệp, ấy làm nhục cho anh em ngươi vậy.
17 Chớ cấu hiệp cùng một người đàn bà luôn với con gái của người đàn bà nữa. Chớ lấy cháu gái nội ngươi, hoặc cháu gái ngoại ngươi đặng cấu hiệp cùng họ; chúng nó đều là cốt nhục gần; làm vậy, ấy là một việc ác dục.
18 Chớ lấy vợ luôn với chị em người mà cấu hiệp cùng nó gần bên vợ chánh mình đương khi người còn sống, e khi sanh ghen tương.
19 Trong lúc người nữ có kinh nguyệt, chớ đến gần mà cấu hiệp.
20 Chớ nằm cùng vợ người lân cận mình, mà gây cho mình bị ô uế với người.
21 Chớ bắt con cái mình đặng dâng cho thần Mo-lóc, chớ làm ô danh Đức Chúa Trời ngươi: Ta là Đức Giê-hô-va.
22 Chớ nằm cùng một người nam như người ta nằm cùng một người nữ; ấy là một sự quái gớm.
23 Chớ nằm cùng một con thú nào, mà gây cho mình bị ô uế với nó; một người đàn bà chớ nằm cùng thú vật nào; ấy là một sự quái gớm.
24 Các ngươi chớ làm một trong mấy việc đó mà tự gây cho mình ô uế; bởi dân mà ta sẽ đuổi khỏi trước mặt các ngươi đã thành ô uế vì cớ làm các việc đó.
25 Đất vì chúng nó mà bị ô uế; ta sẽ phạt tội ác họ; đất sẽ mửa dân nó ra vậy.
26 Còn các ngươi, hoặc dân bổn xứ, hoặc kẻ khách kiều ngụ giữa các ngươi, phải giữ luật pháp và mạng lịnh ta, đừng làm một trong những điều quái gớm nầy.
27 Vì những điều quái gớm ấy, những người ở tại xứ trước các ngươi đã làm; và đất vì cớ đó phải thành ô uế.
28 Vậy, chớ làm đất thành ô uế, e khi đất mửa các ngươi ra, như đã mửa dân cư trú tại xứ trước các ngươi chăng;
29 vì phàm ai làm một trong những điều quái gớm ấy sẽ bị truất khỏi dân sự mình.
30 Thế thì, các ngươi phải giữ điều ta phán dặn, để đừng làm theo một trong các thói tục gớm ghiếc nào đã làm trước các ngươi, và các ngươi chớ vì các thói tục đó mà gây cho mình ô uế. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi.

Rick Warren lẫn lộn giữa sự Đức Chúa Trời lựa chọn, sắm sẵn một số người từ trong lòng mẹ với sự Đức Chúa Trời cho phép tội lỗi và hậu quả của tội lỗi là đau khổ, bất công, bệnh tật xuất hiện trong cuộc đời của nhiều người ngay từ trong bụng mẹ.

Sự tể trị tuyệt đối của Đức Chúa Trời đan kết với ý chí của loài người một cách tinh xảo lạ lùng để sự tự do lựa chọn của loài người không bị vi phạm mà ý chí của Đức Chúa Trời vẫn luôn thành toàn. Đức Chúa Trời cho phép một số điều xảy ra không có nghĩa Ngài là Đấng tạo ra những điều ấy. Đức Chúa Trời làm một số điều đặc biệt cho người nào đó, không có nghĩa là Ngài làm như vậy với tất cả mọi người. Ân điển của Đức Chúa Trời đi đôi với ý chí tiếp nhận của loài người. Những người không có ý chí tiếp nhận ân điển của Đức Chúa Trời không thể hưởng được ân điển của Ngài. Đức Chúa Trời biết trước những ai tiếp nhận, những ai không tiếp nhận đặc ân của Ngài và Ngài tể trị mỗi người tùy theo ý chí của họ.

Trong cái nhìn của Rick Warren, mọi sự giao cấu tình dục của loài người, đem lại kết quả sinh con là do Đức Chúa Trời sắp đặt, và mọi ngưòi được sinh ra trong thế gian này tuyệt hảo giống như A-đam và Ê-va được tạo dựng trong vườn địa đàng: hoàn toàn thánh thiện, sẵn sàng để sống theo mục đích mà Đức Chúa Trời đã đặt sẵn cho họ. Và, công việc của Rick Warren là chỉ cho mọi người nhận biết cái mục đích ấy qua "Sống theo đúng mục đích." Tiếc thay, sự giảng dạy của Rick Warren chỉ làm cho những người tin theo ông ngày càng cách xa lẽ thật!

Lẽ thật là, mỗi một chúng ta được sinh ra cuộc đời này trong sự bất hạnh, vì chúng ta được hoài thai và sinh ra trong tội lỗi:

"Kìa, tôi sanh ra trong sự gian ác, Mẹ tôi đã hoài thai tôi trong tội lỗi."(Thi Thiên 51:5)
"như có chép rằng: Chẳng có một người công bình nào hết, dẫu một người cũng không." (Rô-ma 3:10)
"vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời." (Rô-ma 3:23)

Lẽ thật là, chỉ vì sự nhơn từ, thương xót đời đời của Đức Chúa Trời, bởi quyền tể trị tuyệt đối của Ngài mà chúng ta được ban cho cơ hội thứ hai để sử dụng ý chí của mình: tiếp tục sống theo ý riêng, đi vào sự hư mất đời đời hay chọn lựa phục hòa với Đức Chúa Trời qua sự chuộc tội của Đấng Christ:

"Và họ nhờ ân điển Ngài mà được xưng công bình nhưng không, bởi sự chuộc tội đã làm trọn trong Đức Chúa Jêsus Christ, là Đấng Đức Chúa Trời đã lập làm của lễ chuộc tội, bởi đức tin trong huyết Đấng ấy. Ngài đã bày tỏ sự công bình mình như vậy, vì đã bỏ qua các tội phạm trước kia."(Rô-ma 3:24-25)

Nguyện Đức Chúa Trời thương xót các độc giả của "Sống theo đúng mục đích," mở mắt họ để họ nhìn thấy những sai lầm trong cuốn sách tai hại này. Nguyện Đức Thánh Linh cáo trách mạnh mẽ những ai đang ra sức tuyên truyền, cổ động, quãng bá cuốn sách và phong trào "Sống theo đúng mục đích". Nguyện Đấng Christ cất đi những kẻ đang rao giảng "Sống theo đúng mục đích" trong các Hội Thánh của Ngài. A-men!

Mục Tử
18/10/2006


Tham Khảo

[1] Sống theo đúng mục đích, Rick Warren; bản dịch Việt Ngữ không đề tên nhà xuất bản và năm phát hành, trang 20.

[2] Sống theo đúng mục đích, Rick Warren; bản dịch Việt Ngữ không đề tên nhà xuất bản và năm phát hành, trang 21.

Đọc Tiếp →

Phê Bình Tác Phẩm “The Purpose Driven Life – Bài Bốn: Những Sai Lầm Trong Ngày Thứ Nhất

Phê Bình Tác Phẩm "The Purpose Driven Life"

Bài Bốn: Những Sai Lầm Trong Ngày Thứ Nhất

Copyright Notice:Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry – All Rights Reserved © 2006 Vietnamese Christian Mission Ministry, Inc. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức với điều kiện giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Mục Tử
Bấm vào đây để download bài viết này

[1320]

Trong khi đọc bản dịch Việt ngữ của "The Purpose Driven Life" (Sống Theo Đúng Mục Đích – STĐMĐ) bạn đọc sẽ thấy tiếp liền theo sau nhiều câu gọi là "Thánh Kinh,"được trích dẫn để hổ trợ cho tư tưởng của Rick Warren, có một ghi chú trong ngoặc như sau: (MSG – ND). MSG là viết tắt của "The Message," tên của một bản diễn ý Thánh Kinh Anh ngữ do Eugene H. Peterson, một pastor và giáo sư thần học biên soạn. ND là viết tắt của chữ "người dịch." Với sự chú thích này, chúng ta thấy người dịch cuốn sách của Rick Warren sang tiếng Việt đã dịch những câu Rick Warren trích dẫn từ bản "The Message" để giữ đúng tinh thần của sứ điệp trong cuốn sách.

Giá trị của bản diễn ý "The Message" như thế nào, tin rằng sẽ được thẩm định chính xác bởi bạn đọc sau khi đối chiếu những câu diễn ý "The Message" với các bản dịch Thánh Kinh tiêu chuẩn. Xin tham khảo thêm tại đây: http://www.bible-researcher.com/themessage.html.

Có thể nói, "The Purpose Driven Life" của Rick Warren gần như hoàn toàn dựa trên "The Message" –  một tác phẩm bẻ cong Lời Chúa –  thay vì dựa vào Thánh Kinh! Trong suốt các bài nhận định về 40 chương sách "The Purpose Driven Life," chúng ta thử tìm hiểu "mục đích" của Rick Warren khi ông dùng "The Message" – gọi đó là Thánh Kinh –  để hổ trợ những điều ông rao giảng; bên cạnh đó, khi xuất hiện những điểm Rick Warren dạy sai lạc với sự dạy dỗ của Thánh Kinh, chúng ta sẽ phân tích và dựa vào Lời Chúa mà sửa những điểm sai đó. Mời bạn đọc bước vào…

Ngày thứ nhất

Phần lớn trong chương đầu tiên này, Rick Warren dùng để nói về mục đích của cuốn sách là giúp cho độc giả tìm biết mục đích của đời sống họ. Sau phần giới thiệu đó, ông viết:

"Bạn có thể đạt được mọi mục đích cá nhân của mình, trở nên thành công vang dội theo tiêu chuẩn của thế gian, và vẫn cứ đánh mất những mục đích mà Đức Chúa Trời đã tạo dựng ra bạn. Kinh Thánh chép,"Tự nổ lực không giúp ích được gì. Tự hy sinh mới chính là con đường, con đường của ta, để tìm thấy chính các ngươi, con người thật của các ngươi." – Ma-thi-ơ 16:25 (bản MSG – ND)"[1].

Bản diễn ý Message (MSG):

"Self-help is no help at all. Self-sacrifice is the way, my way, to finding yourself, your true self."

Bản dịch Anh ngữ King James với số đối chiếu Strong's (KJV):

"For1063 whosoever3739, 302 will2309 save4982 his848 life5590 shall lose622 it:846 and1161 whosoever3739, 302 will lose622 his848 life5590 for my sake1752, 1700 shall find2147 it.846 "

Bản dịch Việt ngữ truyền thống:

"Vì ai muốn cứu sự sống mình thì sẽ mất, còn ai vì cớ Ta mà mất sự sống mình thì sẽ được lại."

Ngay chương đầu tiên, viết cho ngày đầu tiên của "cuộc hành trình tâm linh" cách sử dụng bản văn "The Message" của Eugene H. Peterson mà Rick Warren gọi là Thánh Kinh, là Lời của Đức Chúa Trời, đã gieo nhiều nghi vấn! Càng về sau, những nghi vấn đó càng dày đặc…

Điểm quan trọng trong lời phán của Đức Chúa Jesus: "còn ai vì cớ Ta mà mất sự sống mình thì sẽ được lại" đã hoàn toàn bị cắt khỏi trong bản diễn ý "The Message!" Ý nghĩa câu văn: "Self-sacrifice is the way, my way, to finding yourself, your true self. – Tự hy sinh mới chính là con đường, con đường của ta, để tìm thấy chính các ngươi, con người thật của các ngươi;" hoàn toàn khác hẳn với"whosoever will lose his life for my sake shall find it. – còn ai vì cớ Ta mà mất sự sống mình thì sẽ được lại."

Một đàng là: nếu ngươi muốn tìm gặp con người thật của mình, ngươi hãy tự hy sinh (không nói rõ là hy sinh như thế nào, hy sinh cho ai?) còn một đàng là: nếu ngươi sẵn lòng vì Ta mà mất sự sống mình, thì ngươi sẽ được lại. Một đàng là: Ngươi hãy vì ngươi mà tự hy sinh thì sẽ gặp được chính ngươi; còn một đàng là: nếu ngươi sẵn lòng vì Chúa mà mất điều quý nhất của mình thì ngươi sẽ được lại điều đó. Ý nghĩa thật là khác xa nhau biết bao nhiêu! Người chịu mất sự sống của mình vì Chúa là người đã tìm thấy con người thật của mình trong Đấng Christ.

Tuyệt đối, trong Ma-thi-ơ 16:25 Chúa Jesus không dạy chúng ta hãy"tự hy sinh để tìm gặp con người thật của chính mình," lại còn nhấn mạnh đó là "my way," ý của Ta! Chúng ta thấy, Eugene H. Peterson –  tác giả "The Message" –  đã ngụy tạo Lời Chúa, gán cho Chúa những điều Chúa không phán. Chúng ta thấy, giữa bao nhiêu bản dịch Thánh Kinh hiện đại, Rick Warren đã không chọn một bản nào hết mà chọn "The Message" – không phải là một bản dịch Thánh Kinh – để trích dẫn Ma-thi-ơ 16:25, có phải là vì chính Rick Warren cũng muốn rao giảng sứ điệp: "Self-sacrifice is the way to finding your true self. Tự hy sinh là con đường dẫn đến tìm gặp con người thật của bạn?"

Trong chương mở đầu, Rick Warren viết:"It's not about you" (bản Việt ngữ dịch là"Không phải nói về bạn") [2], cách sau đó chỉ một trang sách ông lại mâu thuẫn và bẻ cong Lời Chúa để rao giảng về cái "tôi:""Self-sacrifice is the way to finding your true self. Tự hy sinh là con đường dẫn đến tìm gặp con người thật của bạn." Cả Thánh Kinh không một chỗ nào giảng dạy một người "tự hy sinh để tìm gặp con người thật," thế nhưng Rick Warren khẳng định"Kinh Thánh chép." Kinh Thánh mà Rick Warren nói đến ở đây là Kinh Thánh Lời của Đức Chúa Trời hay "Kinh Thánh lời của Eugene H. Peterson?"

Thánh Kinh dạy"vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời," "tiền công của tội lỗi là sự chết," nhưng "Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết" (Rô-ma 3:23; 6:23; 5:8)! Con người thật của chúng ta (our true selves) trước khi tiếp nhận sự cứu rỗi của Chúa là "lầm lạc và chết mất trong tội lỗi mình." Sau khi tiếp nhận sự cứu rỗi của Chúa thì chúng ta nhờ sự chết và sự sống lại của Chúa mà được tha tội, được tái sinh, được trở thành một con người mới với sự sống đời đời của Đức Chúa Trời trong chúng ta.

Self-sacrifice –  tự hy sinh có thể là "the way to finding your true sinful self – con đường tìm gặp con ngưòi thật tội lỗi của bạn" như trường hợp self-sacrifice của Giuđa Ích-ca-ri-ốt, người môn đệ phản Chúa! I Cô-rinh-tô 13:3 nêu lên một hành động điển hình về self-sacrifice –  tự hy sinh, và cho biết điều đó chẳng ích chi nếu người ấy không nhận biết Chúa. Bởi vì:"Ai chẳng yêu thì không nhìn biết Đức Chúa Trời, vì Đức Chúa Trời là sự yêu thương" (1 Giăng 4:8).

Chúng tôi không biết các độc giả của Rick Warren, sau khi đọc xong chương thứ nhất của "The Purpose Driven Life" sẽ "tự hy sinh" như thế nào để tìm gặp con người thật của mình! Với những người chưa được cứu, họ không cần hy sinh gì hết, mà mỗi ngày họ vẫn đối diện với "con người thật" của chính mình:"dối trá hơn mọi vật và rất là xấu xa" (Giê-rê-mi 17:9). Với những người đã được cứu, cũng chẳng cần hy sinh gì hết, mỗi ngày họ sống trong sự ấn chứng của Đức Thánh Linh: "Ðấng yêu thương chúng ta, đã lấy huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta, và làm cho chúng ta nên nước Ngài, nên thầy tế lễ của Ðức Chúa Trời và Cha Ngài, đáng được sự vinh hiển và quyền năng đời đời vô cùng! A-men" (Khải Huyền 1:9). Không có sự hy sinh nào khác hơn để một người tìm gặp con người thật của mình trong chương trình tốt đẹp đời đời của Đức Chúa Trời, ngoại trừ sự hy sinh của Đấng Christ trên thập tự giá; Đấng được Đức Chúa Trời xức dầu để làm sự hy sinh đó!

Rick Warren viết tiếp:

"Đức Chúa Trời không hề để chúng ta ở trong bóng tối của nghi ngờ và phỏng đoán. Ngài đã bày tỏ rõ ràng năm mục đích cho cuộc đời chúng ta thông qua Kinh Thánh… Kinh Thánh chép:"Sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời… thể hiện trong các mục đích của Ngài… Đó không phải là sứ điệp mới nhất, bèn là điều đã có từ rất lâu – điều Đức Chúa Trời đã chọn để khiến chúng ta nên trọn vẹn." – I Cô-rinh-tô 2:7 (bản MSG – ND)"[3].

Bản diễn ý Message (MSG):

"God's wisdom is something mysterious that goes deep into the interior of his purposes. You don't find it lying around on the surface. It's not the latest message, but more like the oldest–what God determined as the way to bring out his best in us, long before we ever arrived on the scene."

Bản dịch Anh ngữ King James với số đối chiếu Strong's (KJV):

"But235 we speak2980 the wisdom4678 of God2316 in1722 a mystery,3466 even the3588 hidden613 wisdom, which3739 God2316 ordained4309 before4253 the3588 world165 unto1519 our2257 glory:1391 "

Bản dịch Việt ngữ truyền thống:

"Chúng tôi giảng sự khôn ngoan của Ðức Chúa Trời, là sự mầu nhiệm kín giấu, mà từ trước các đời, Ðức Chúa Trời đã định sẵn cho sự vinh hiển chúng ta."

Bản dịch Việt ngữ STĐMĐ đã dịch "God's wisdom is something mysterious that goes deep into the interior of his purposes;" thành"Sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời… thể hiện trong các mục đích của Ngài…". Ở đây, chúng ta thấy:

1. Eugene H. Peterson đã "thêm" vào Lời Chúa:"goes deep into the interior of his purposes" và đã "bớt" đi Lời Chúa: "the hidden".

2. Người dịch, khi dịch sang tiếng Việt làm cho câu văn chẳng những khác với ý của Thánh Kinh "hidden – kín giấu" mà cũng khác luôn với ý của Eugene H. Peterson "goes deep into the interior of his purpose – thấm sâu vào tận trong nội tại của mục đích Ngài" khi dịch là "…thể hiện trong các mục đích của Ngài."

Với sự thêm thắt rườm rà của Eugene H. Peterson vào Lời Chúa, hoặc xén bỏ hoàn toàn sự dạy dỗ của Ngài, chúng ta nhận thấy Rick Warren chọn trích dẫn "The Message" và phong cho "The Message" thẩm quyền của Thánh Kinh để hổ trợ những điều giảng dạy của ông là một điều không thể chấp nhận! Nói như thế không có nghĩa là những điều giảng dạy của Rick Warren hoàn toàn sai trái với Thánh Kinh (kể cả khi ông khẳng định một cách chủ quan: "Ngài đã bày tỏ rõ ràng năm mục đích cho cuộc đời chúng ta thông qua Kinh Thánh" –  Chắc chắn, Đức Chúa Trời chỉ có một mục đích cho cuộc đời của mỗi người, nếu "mục đích" có nghĩa là điểm đến cuối cùng (Hêbơrơ 12:2). Trên bước đường đi đến mục đích đó, có nhiều mục tiêu được đặt ra cho chúng ta!)

Phần lớn những gì Rick Warren trình bày trong tác phẩm "The Purpose Driven Life" là phù hợp với sự dạy dỗ của Thánh Kinh. Tuy nhiên, ông không nương dựa vào Lời chân thật của Chúa để hổ trợ cho sự dạy dỗ của mình mà cậy trông vào một tác phẩm xuyên tạc Lời Chúa. Điều đó khiến cho những sự dạy dỗ của Rick Warren trở thành nguy hiểm như những viên thuốc độc bọc đường!

Phải chăng, Rick Warren, vô tình hay hữu ý, đang dẫn dụ hàng triệu người nghe và làm theo những gì Eugene H. Peterson diễn giảng về Lời Chúa hơn là nghe và làm theo Lời Chúa khi ông công khai trích dẫn và gọi những lời của Eugene H. Peterson là "Thánh Kinh?" Phải chăng, vì đọc "The Message" thay vì đọc Lời Chúa, mà Rick Warren đã có ý tưởng để viết nên "The Purpose Driven Church" và "The Purpose Driven Life?" Phải chăng, vì đọc Ma-thi-ơ 5:48 từ bản "The Message:" "In a word, what I'm saying is, Grow up. You're kingdom subjects. Now live like it. Live out your God-created identity. Live generously and graciously toward others, the way God lives toward you;" thay vì đọc từ bản dịch tiêu chuẩn KJV: "Be2071 ye5210 therefore3767 perfect,5046 even as5618 your5216 Father3962 which3588 is in1722 heaven3772 is2076 perfect5046;" ("Thế thì, các ngươi hãy nên trọn vẹn, như Cha các ngươi trên trời là trọn vẹn") mà Rick Warren đã ngang nhiên viết:"Đức Chúa Trời không mong rằng bạn sẽ trở nên toàn hảo, nhưng Ngài có đòi hỏi sự thành thật hoàn toàn" [5]? Nếu Đức Chúa Trời không đòi hỏi chúng ta trở nên toàn hảo, thì mạng lệnh:"Hãy nên Thánh, vì Ta là Thánh" phải được hiểu ra sao? Một người có thể rất thành thật hoàn toàn nhưng đời sống của người ấy không toàn hảo cho đến khi người ấy chịu đầu phục Chúa và nương cậy vào quyền năng của Đức Thánh Linh để được Ngài thánh hóa và khiến mình trở nên toàn hảo. Chúng ta cần phải thành thật hoàn toàn và chúng ta cũng cần trở nên toàn hảo! I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23-24 khẳng định Đức Chúa Trời muốn chúng ta trở nên toàn hảo và chính Ngài sẽ làm thành điều đó:"Nguyền xin chính Ðức Chúa Trời bình an khiến anh em nên thánh trọn vẹn, và nguyền xin tâm thần, linh hồn, và thân thể của anh em đều được giữ vẹn, không chỗ trách được, khi Ðức Chúa Jêsus Christ chúng ta đến! Ðấng đã gọi anh em là thành tín, chính Ngài sẽ làm việc đó." Ha-lê-lu-gia! Cảm tạ Chúa!

Mặc khác, Rick Warren gián tiếp thú nhận ông đã không còn lòng tin vào quyền năng của Lời Chúa và Đức Thánh Linh. Ông gián tiếp cho rằng Lời Chúa cần phải được thay đổi, biến chế để thế gian chịu tiếp nhận. Ông gián tiếp cho rằng, khi dịch Thánh Kinh không cần nghiên cứu chuyên sâu. Ông quên rằng, chính Chúa dạy Giô-suê khi đọc Lời Chúa thì phải suy gẫm ngày và đêm (nghiên cứu chuyên sâu) để có thể cẩn thận làm theo (Giô-suê 1:8). Ông quan niệm một cách vô lý rằng, nếu không nghiên cứu chuyên sâu Lời Chúa thì mới "nắm bắt" được tinh thần của lời Chúa! Nói tóm lại, ông đã để cho tâm lý học của thế gian làm chủ sự suy nghĩ của ông; ông không còn tin vào quyền năng của Thánh Linh có thể giúp cho một người thật lòng tìm kiếm Chúa sẽ hiểu được Lời Ngài. Chẳng có gì lạ khi các pastor học theo Rick Warren "không cần nghiên cứu chuyên sâu Lời Chúa" để giảng cho Hội Thánh vì cho rằng nhờ vậy mà "nắm bắt được tinh thần của Lời Chúa!" Hay nói cách khác, từ nay, các pastor chỉ cần mở "The Message" ra và đọc cho Hội Thánh nghe, vì "tinh thần" của Lời Chúa đã được Eugene H. Peterson "nắm bắt" trong đó hết rồi. Rick Warren đã thực sự làm như vậy. Thi Thiên 119 đã trở thành lỗi thời đối với Rick Warren và những người tin theo ông! Rick Warren viết:

"Một lý do quan trọng khác để dùng nhiều bản dịch và diễn ý là chúng ta thường không nắm bắt được mọi phương diện ý nghĩa của một câu Kinh Thánh quen thuộc,không phải vì dịch dỡ, nhưng vì chúng quá quen thuộc! Chúng tanghĩ rằng mình biết câu Kinh Thánh đó nói gì vì đã đọc hoặc nghe nó nhiều lần. Rồi khi thấy nó được trích dẫn trong một cuốn sách, chúng ta đọc lướt qua và đánh mất ý nghĩa trọn vẹn của nó.

Tôi cố tình dùng các bản diễn ý để giúp bạn thấy được lẽ thật của Đức Chúa Trời theo những cáchtươi mới. Do không có chủ ý để nghiên cứu chuyên sâu, nên các bản diễn ý thường nắm bắt được tinh thần của một câu."[5]

Sự chủ quan (vì nghĩ rằng ai cũng giống như mình) và ngụy biện của Rick Warren thật là đáng thương! Cho dù một người có quen thuộc với một câu Thánh Kinh đến nổi, khi đọc thấy nó được trích dẫn trong một cuốn sách, người ấy chỉ đọc lướt qua câu Thánh Kinh ấy, không có nghĩa là người ấy "đánh mất ý nghĩa trọn vẹn của nó." Người ấy đọc lướt qua là bởi vì câu Thánh Kinh đó đã dầm thấm vào trong tâm linh của người ấy cho nên không cần phải nhìn vào chữ, đọc thành tiếng. Người ấy đã "biết" điều Chúa phán dạy, phần còn lại là đọc xem những gì tác giả viết trong cuốn sách có đúng với Lời của Chúa hay không. Chính bản văn "The Message" mà Rick Warren mạnh dạn công bố là "Thánh Kinh" và trích dẫn rộng rãi trong tác phẩm của mình, đã cướp đi "ý nghĩa trọn vẹn" của Lời Chúa!

Nếu một người chưa bao giờ đọc Thánh Kinh, chưa bao giờ nghe ai khác giảng về Chúa, mở cuốn "The Purpose Driven Life" ra đọc và khi đọc câu trích dẫn Ma-thi-ơ 26:25 từ "The Message": "Tự nổ lực không giúp ích được gì. Tự hy sinh mới chính là con đường, con đường của ta, để tìm thấy chính các ngươi, con người thật của các ngươi." Người ấy sẽ không thể biết, Chúa muốn dạy cho người ấy biết rằng:"Vì ai muốn cứu sự sống mình thì sẽ mất, còn ai vì cớ Ta mà mất sự sống mình thì sẽ được lại." Chúng ta cũng không dám nghĩ là Đức Thánh Linh sẽ dắt người ấy đi vào lẽ thật qua câu ngụy Thánh Kinh nói trên. Có một thị trường to lớn sẵn sàng đón tiếp tư tưởng: "Tự nổ lực không giúp ích được gì. Tự hy sinh mới chính là con đường, con đường của ta, để tìm thấy chính các ngươi, con người thật của các ngươi." Đó là thị trường huấn luyện những cảm tử quân khủng bố Hồi Giáo!

Chắc chắn, phương cách để giúp một người "thấy được lẽ thật của Đức Chúa Trời theo những cáchtươi mới" không phải là bẻ cong, hoặc thêm, bớt Lời Chúa mà là trung thực trình bày Lời Chúa (I Phierơ 4:11) và để cho Đức Thánh Linh làm công việc dẫn người ấy vào mọi lẽ thật (Giăng 16:13).

Rick Warren viết tiếp (gọi "The Message" là Kinh Thánh):

Kinh Thánh nói rằng:"Chính trong Đấng Christ mà chúng ta tìm ra được chính mình và cả mục đích cuộc sống của chúng ta. Từ rất lâu trước khi chúng ta lần đầu tiên nghe được tiếng gọi của Đấng Christ và hy vọng, thì Ngài đã để mắt đến chúng ta, đã chuẩn bị chúng ta cho một đời sống vinh hiển, một phần trong toàn bộ mục đích mà Ngài đang thực hiện trong đời sống mỗi con người." – Ê-phê-sô 1:11 (bản MGE – ND)[6].

Bản diễn ý Message (MSG):

"It's in Christ that we find out who we are and what we are living for. Long before we first heard of Christ and got our hopes up, he had his eye on us, had designs on us for glorious living"

Bản dịch Anh ngữ King James với số đối chiếu Strong's (KJV):

"In1722 whom3739 also2532 we have obtained an inheritance,2820 being predestinated4309 according2596 to the purpose4286 of him who worketh1754 all things3956 after2596 the3588 counsel1012 of his own848 will:2307"

Bản dịch Việt ngữ truyền thống:

"Ấy cũng là trong Ngài mà chúng ta đã nên kẻ dự phần kế nghiệp, như đã định trước cho chúng ta được điều đó, theo mạng của Ðấng làm mọi sự hiệp với ý quyết đoán"

Thêm một lần nữa, chúng ta thấy "The Message" không phải là Thánh Kinh mà hoàn toàn là sự suy diễn riêng tư của Eugene H. Peterson. Sự kiện một người được hưởng quyền kế tự khác xa với sự kiện người ấy "tìm ra được chính mình và cả mục đích cuộc sống". Chúng ta có thể "tìm ra được chính mình và cả mục đích cuộc sống" mà chẳng hề hưởng được quyền kế tự nào cả! Lời Chúa khẳng định: Trong Đấng Christ "chúng ta đã nên kẻ dự phần kế nghiệp, như đã định trước cho chúng ta được điều đó". Rick Warren qua Eugene H. Peterson đã cắt bỏ chân lý ấy ra khỏi Lời Chúa!

Cuối cùng của chương thứ nhất, Rick Warren trích dẫn Côlôse 1:16b qua bản "The Message" như sau:

"Câu Gốc: "Mọi vật khởi đầu trong Ngài và tìm được mục đích của chính mình trong Ngài" Cô-lô-se 1:16b (MSG – ND) [7].

Bản diễn ý Message (MSG):

"For everything, absolutely everything, above and below, visible and invisible, rank after rank after rank of angels–everything got started in him and finds its purpose in him."

Bản dịch Anh ngữ King James với số đối chiếu Strong's (KJV):

"For3754 by1722 him846 were all things3956 created,2936 that3588 are in1722 heaven,3772 and2532 that3588 are in1909 earth,1093 visible3707 and2532 invisible,517 whether1535 they be thrones,2362 or1535 dominions,2963 or1535 principalities,746 or1535 powers:1849 all things3956 were created2936 by1223 him,846 and2532 for1519 him:846"

Bản dịch Việt ngữ truyền thống:

"Vì muôn vật đã được dựng nên trong Ngài, bất luận trên trời, dưới đất, vật thấy được, vật không thấy được, hoặc ngôi vua, hoặc quyền cai trị, hoặc chấp chánh, hoặc cầm quyền, đều là bởi Ngài và vì Ngài mà được dựng nên cả."

Eugene H. Peterson dùng nhóm chữ "got started in him – khởi phát trong Ngài" thay thế cho "created by him – được dựng nên bởi Ngài." Ngôn ngữ được dùng để chuyển đạt tư tưởng, cho dù không trọn vẹn trong sự diễn đạt, mỗi từ ngữ vẫn có một ý nghĩa nhất định không thể lầm lẫn. Thánh Kinh được sự hà hơi của Đức Chúa Trời cho nên không ai có thể thay đổi từ ngữ mà Chúa đã chọn dùng. (Nhiều Cơđốc nhân ngày nay tuyên xưng Thánh Kinh là Lời Hằng Sống của Đức Chúa Trời, không có sự sai lầm trong Thánh Kinh, nhưng vẫn cậy sự khôn ngoan của mình để thay đổi Lời Chúa, điển hình là sự thay đổi chữ "đàn bà" thành chữ "mẹ" trong Giăng 2:4 và 19:26, bởi vì họ dám cho rằng Đức Chúa Trời đã không biết lịch sự, lễ phép! Họ không hiểu được rằng Tin Lành Giăng bày tỏ thần tính của Đức Chúa Jesus Christ chứ không phải bày tỏ nhân tính của Ngài. Họ không hiểu được rằng "The Son of God –  Con của Đức Chúa Trời" đang phán với bà Ma-ri chứ không phải "The Son of Man – Con của loài người" đang thưa chuyện với mẹ!) Khi thay thế "created by him" bằng "got started in him" Eugene H. Peterson đã vô tình hay hữu ý đưa tư tưởng"mọi vật là Đức Chúa Trời" của Ấn Giáo và New Age vào trong Thánh Kinh:

"created by him" nói lên muôn vật được dựng nên bởi Chúa và khác với Chúa.

"got started in Him" nói lên muôn vật khởi sự trong Chúa nên cùng một bản thể với Ngài = muôn vật cũng là Đức Chúa Trời.

Thánh Kinh dạy rõ, chỉ những ai tin nhận Tin Lành của Đức Chúa Trời mới được báp-tem vào trong Đấng Christ. Nhờ được báp-tem vào trong Đấng Christ nên chúng ta được "dự phần" bản thể của Ngài (I Phierơ 1:4). Dầu vậy, "dự phần" bản thể của Đức Chúa Trời không có nghĩa chúng ta "cùng một bản thể" với Đức Chúa Trời, không có nghĩa chúng ta cũng là Đức Chúa Trời! Điều ấy chỉ có nghĩa là chúng ta được Chúa ban cho vinh hiển của chính Ngài (Giăng 17:22), được nhận lấy "sự hằng hữu" vào trong chúng ta, chứ không phải chúng ta biến thành "tự hữu, hằng hữu."

Trong bản dịch Việt ngữ của "The Purpose Driven Life," câu Rô-ma 8:6 trưng dẫn ở trang 16 đã không được dịch theo "The Message" như trích dẫn trong bản Anh ngữ: "Obsession with self in these matters is a dead end; attention to God leads us out into the open, into a spacious, free life."

Bản dịch Anh ngữ King James với số đối chiếu Strong's (KJV):

"For1063 to be carnally4561 minded5427 is death;2288 but1161 to be spiritually4151 minded5427 is life2222 and2532 peace.1515"

Bản dịch Việt ngữ truyền thống:

"Vả, chăm về xác thịt sanh ra sự chết, còn chăm về Thánh Linh sanh ra sự sống và bình an."

"Dead end – Ngã cụt" hoàn toàn khác biệt với "Death – Chết." Đứng trước "ngã cụt" một người có thể quay lại, nhưng nếu đã "chết" một người không thể làm gì được nữa!

Hãy xem một người từng sống trong quyền lực của New Age nói gì về Cô-lô-se 1:16 của "The Message" (bạn đọc nào có khả năng và thì giờ, xin giúp chúng tôi phiên dịch đoạn Anh ngữ dưới đây):

 

Warren Smith, "Deceived on Purpose" – From Chapter 3:

It wasn’t Peterson’s use of the phrase “got started” instead of “created,” or even the word “purpose,” that jumped out at me, as much as his use of the phrase “above and below” instead of “heaven and earth.” When I was in the New Age, it was well understood that the words “above and below” had metaphysical/New Age connotations and were routinely substituted for “heaven and earth.” In fact, the term “as above, so below” was a commonly accepted New Age phrase.

In reading through The Message, I discovered that Peterson had actually inserted the entire phrase “as above, so below” into his paraphrase of the Lord’s Prayer. I compared Peterson’s version of the Lord’s Prayer with the King James Version of that same prayer.

The Message:"Our Father in heaven, Reveal who you are. Set the world right; Do what’s best—as above, so below. Keep us alive with three square meals. Keep us forgiven with you and forgiving others. Keep us safe from ourselves and the Devil. You’re in charge! You can do anything you want! You’re ablaze in beauty! Yes. Yes. Yes."3 [Emphasis added]

Peterson had deliberately substituted “as above, so below” in place of “in earth, as it is in heaven.”

In Colossians 1:16, Peterson again chose to use the terms “above” and “below” instead of the commonly accepted “heaven” and “earth” found in most Bible translations. The “above” and “below” in Colossians 1:16 is an obvious derivative form of the “as above, so below” he had used previously in his paraphrase of the Lord’s Prayer. This derivative form of the more complete phrase “as above, so below” is also common to the New Age. The fact that this whole “above” and “below” issue was presenting itself on the first page of the first chapter of Rick Warren’s book was unsettling. Was I reading too much into this? Was there some other reasonable explanation for Eugene Peterson’s use of the term “as above, so below” in the Lord’s Prayer and its derivative form in Colossians 1:16?

King James Bible: "Our Father which art in heaven, Hallowed be thy name. Thy kingdom come. Thy will be done in earth, as it is in heaven. Give us this day our daily bread. And forgive us our debts, as we forgive our debtors. And lead us not into temptation, but deliver us from evil: For thine is the kingdom, and the power, and the glory, for ever. Amen." [Emphasis added]

Ancient Egypt and Oneness

Right about the time I was looking into Eugene Peterson’s use of the term “as above, so below,” I was at a book sale at our local library. Almost lost amongst some cookbooks and business manuals was a book written and published by the editors of the New Age Journal. It was entitled As Above, So Below. I picked it up and began reading it. In the introduction the chief editor of the book, Ronald S. Miller, had written:

"Thousands of years ago in ancient Egypt, the great master alchemist Hermes Trismegistus, believed to be a contemporary of the Hebrew prophet Abraham, proclaimed this fundamental truth about the universe: “As above, so below; as below, so above.” This maxim implies that the transcendent God beyond the physical universe and the immanent God within ourselves are one. Heaven and Earth, spirit and matter, the invisible and the visible worlds form a unity to which we are intimately linked."4

He continued his explanation by quoting Sufi scholar Reshad Field.

…“‘As above, so below’ means that the two worlds are instantaneously seen to be one when we realize our essential unity with God…. The One and the many, time and eternity, are all One.”5
The New Age Journal editor went on to state that old forms of religion no longer serve people, and that the term “as above, so below” describes the “emerging spirituality” that is quickly moving onto the world’s scene. He concluded his introduction to As Above, So Below by writing: "The breadth of this exploration suggests that we are living in an age of spiritual reinvention, a transitional age that leaves the safety and security of the known to seek out the new, the untested, the possible."6

Moving from the library book sale to the Internet, I put “as above, so below” into the Google search engine to see what would come up. There were countless references. The very first reference listed by Google for “as above, so below” read:

"This phrase comes from the beginning of The Emerald Tablet and embraces the entire system of traditional and modern magic which was inscribed upon the tablet in cryptic wording by Hermes Trismegistus. The significance of this phrase is that it is believed to hold the key to all mysteries. All systems of magic are claimed to function by this formula. ‘That which is above is the same as that which is below’…. The universe is the same as God, God is the same as man…”7

As I checked out the most popular websites for “as above, so below” each one described the term as having the same mystical, eastern, New Age, esoteric and magical sources. One site stated:
This ancient phrase, “As above, so below” describes the Oneness of All That Is.8

The phrase “as above, so below” headlined a page from the Theosophical Society’s website containing the “esoteric” teachings of New Age matriarch Alice A. Bailey. A derivative form of the term—similar to Peterson’s abbreviated use of “above and below” in Colossians 1:16—appeared on the website in a quote from Theosophy founder Helena Blavatsky’s pioneering New Age work, The Secret Doctrine:

"Above, the Son is the whole KOSMOS; below, he is MANKIND." 9

To see if there was any other explanation for Peterson’s use of this mystical New Age phrase, I put the term “as above, so below,” along with the term “Christianity,” into the search engine of the computer I was using. There were only seven references. None of them had anything to do with biblical Christianity. The first reference was entitled “Mystical Christianity” and said:

"…to help the seeker of an inner spiritual path find resources to aid their spiritual journey towards a mystical and magickal Christianity."10

In all of my searching I could find no good reason for Peterson’s using “as above, so below” in his paraphrase of the Lord’s Prayer. Nor could I find any good reason for his use of the obvious “above and below” derivative, that appears in his Colossians 1:16 paraphrase, that Rick Warren used at the very beginning of his book to initiate his readers into The Purpose-Driven Life.

So what?

I guess if Rick Warren or anyone else says, “So what?” I would say, “So how come?” How come Eugene Peterson inserted a universally accepted, mystical New Age term right into the middle of the Lord’s Prayer? And why does a derivative of the saying show up in his paraphrase of Colossians 1:16?

Even if you thought there was some “good” reason for using the term “as above, so below,” why would you? Why would you choose a term that so clearly has its origins in the magic of ancient Egypt, and is so heavily identified today with the New Age and the New Spirituality?

“As above, so below” agrees with the “immanent” New Age view that God is not only outside of creation, but also within creation. It means that God is “in” everyone and everything. It perfectly denotes the New Age concept of “Oneness” and provides apparent support for the New Age contention that “We are all One.”

Seeker friendly?

I tried to imagine what it would be like for a confused New Ager today coming into a Purpose-Driven Church that uses The Message, and finding this popular New Age phrase right in the middle of the Lord’s Prayer. Or what it would be like for that person to be handed a copy of Rick Warren’s book, only to find an abbreviated form of this same New Age phrase as part of the lead-off Scripture introducing them to The Purpose-Driven Life. This hardly seemed to be the way to introduce the Gospel of Jesus Christ to an unbelieving New Ager.

Rick Warren’s reintroduction of The Message into my life only reinforced the concerns I had originally voiced on the radio when Peterson’s book first came out. Why was Rick Warren so drawn to The Message? The Message not only obscured prophetic Scriptures like Matthew 24:3–5, it also introduced paraphrased material like “as above, so below,” that made it appear that some of the teachings of the Bible were “at One” with the teachings of the New Age. In Reinventing Jesus Christ: The New Gospel, I had observed:

"And it is, indeed, very disturbing to see many Christian leaders today using many of the same words and expressions commonly used by their [New Age, ed.] 'new gospel' counterparts."11
Unfortunately, undiscerning Christian leaders have not adequately exposed these [New Age, ed.] “new gospel” teachings and, as a result, the spirit behind the “new gospel” has entered the Church.12

3. Eugene H, Peterson, The Message, p. 21–22.
4. Ronald S. Miller and the Editors of New Age Journal, As Above, So
Below, p. xi.
5. Ibid.
6. Ibid., p. xiv.
7.
http://www.themystica.com/mystica/articles/a/below_above.html
8. http://www.mothermaryspeaks.com/as_above_so_below.htm, p. 1.
9. Helena Blavatsky, The Secret Doctrine. p. i 60, quoted on
http://theosophy.org/tlodocs/AsAboveSoBelow.htm
10.http://www.esotericchristian.com/home.html
11. Warren Smith, Reinventing Jesus Christ: The New Gospel, p. 68.
12. Ibid., p. 6.

 

Với lời nhận định như trên của một cựu New Ager, chúng ta có thể thấy quyền lực nào đang nằm đàng sau "The Message" và phong trào "Purpose Driven!" Điều đáng ngạc nhiên là hàng trăm ngàn pastor, hàng triệu Cơ-đốc nhân đã tiếp nhận, học tập, và phổ biến bộ ba "The Message," "The Purpose Driven Church," và "The Purpose Driven Life." Hàng tri

Đọc Tiếp →

Phê Bình Tác Phẩm “The Purpose Driven Life” – Bài Ba: Những Sai Lầm Trong Lời Giới Thiệu

Phê Bình Tác Phẩm "The Purpose Driven Life"

Bài Ba:  Những Sai Lầm Trong Lời Giới Thiệu

Copyright Notice:Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry – All Rights Reserved © 2006 Vietnamese Christian Mission Ministry, Inc. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức với điều kiện giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Mục Tử
Bấm vào đây để download bài viết này

[1161]

Tác phẩm "The Purpose Driven Life," cũng như bao nhiêu tác phẩm Cơ-đốc khác, chứa nhiều lẽ thật thực dụng của Thánh Kinh. Một người có thể thu thập nhiều ích lợi thuộc linh trong khi suy gẫm và áp dụng những lẽ thật Thánh Kinh được trình bày trong tác phẩm này. Tuy nhiên, bên cạnh đó, lại có vô số những điều sai lầm vô tình hoặc hữu ý khiến cho độc giả chưa có sự sâu nhiệm trong Lời Chúa dễ dàng bị dẫn dắt sai lạc, tin vào những điều hoàn toàn ngược lại với sự dạy dỗ của Thánh Kinh; đặc biệt là khi những điều này được tác giả trình bày và dùng những câu Thánh Kinh từ một bản dịch diễn ý (mà lại diễn dịch sai lạc ý nghĩa thật của Thánh Kinh) để hổ trợ cho ý tưởng của mình.

Một tác phẩm trộn lẫn lẽ thật của Thánh Kinh với những ý tưởng triết học, tâm lý, niềm tin của New Age… là điều mà những Cơ-đốc nhân chân chính cần phải cảnh giác. Kể từ bài viết này, người viết sẽ trình bày những điểm sai lầm trong "The Purpose Driven Life" đã được dịch sang Việt ngữ là "Sống Theo Đúng Mục Đích." Những sai lầm đó, xuất hiện ngay từ những trang đầu của cuốn sách, ngay trong phần "Lời Giới Thiệu."

"Purpose Driven Life" nghịch lại "Holy Spirit Driven Life?"

"The Purpose Driven Life" nếu dịch sang Việt ngữ cho sát nghĩa thì sẽ là "Đời Sống Được Điều Khiển Bởi Mục Đích." "Purpose Driven" nghĩa là "được hay bị điều khiển, thúc đẩy, lèo lái, tác động, định hướng… bởi mục đích."

Một đời sống được điều khiển bởi mục đích không hẳn là một đời sống đúng với tiêu chuẩn của Thánh Kinh. Nhiều cá nhân trong lịch sử đã chứng tỏ họ hoàn toàn sống một đời sống được điều khiển bởi mục đích nhưng cuộc đời "sống theo đúng mục đích" của họ chỉ đem lại bất hạnh cho chính họ và những người ở trong tầm ảnh hưởng của họ. Lịch sử nhân loại cho thấy: Tần Thủy Hoàng, Stalin, Hitller, Mao Trạch Đông là những cá nhân đã sống chết với mục đích trong cuộc đời của họ. Trong thế giới thuộc linh, tưởng không có ai sống một đời sống "purpose driven" hơn là Sa-tan!

Với một chủ đề (theme) "purpose driven" – "điều khiển bởi mục đích," Pastor Rick Warren đã dựng nên một phong trào "Purpose Driven Church" và "Purpose Driven Life," thu hút và ảnh hưởng đến hàng triệu người. Chỉ đọc lên chủ đề "purpose driven" một tín đồ bình tâm cũng nhận thức được có điều gì không ổn. Thánh đồ và Hội Thánh của Đấng Christ không thể và không bao giờ chấp nhận cho ai hay điều gì khác điều khiển (drives) mình hơn là quyền năng của Đức Thánh Linh:

"Ấy chẳng phải là bởi quyền thế, cũng chẳng phải là bởi năng lực, bèn là bởi Thần Ta, Đức Giêhôva vạn quân phán vậy." (Xa-cha-ri 4:6)

"Nếu chúng ta nhờ Thánh Linh mà sống, thì cũng hãy bước theo Thánh Linh vậy." (Ga-la-ti 5:25)

Một đời sống đẹp ý Chúa, phù hợp với Thánh Kinh phải là một đời sống hoàn toàn tin cậy và đầu phục Chúa, chịu sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh qua Lời Hằng Sống của Ngài là Thánh Kinh, và nhờ vào năng lực của Đức Thánh Linh mà đạt đến mục đích Đức Chúa Trời đã đặt ra trong đời sống của tín nhân.

Lịch sử của Hội Thánh, đã ghi lại biết bao tấm gương tiêu cực của những cá nhân và tổ chức hăng say chạy theo tiếng gọi của "mục đích hầu việc Chúa" mà không đầu phục và vâng theo sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh đến nỗi bất chấp thủ đoạn, phương tiện miễn sao đạt được mục đích. Họ đã dùng "mục đích" để biện minh cho phương tiện: từ sự dung túng và hội nhập tà giáo vào trong Hội Thánh để hoàn thành "mục đích Cơ-đốc hóa toàn cõi đế quốc La-mã" vào cuối thế kỷ thứ ba mà di hại vẫn còn tới nay, đến những cuộc Thập Tự Chinh (Crusades) kéo dài hơn 200 năm với "mục đích quét sạch Hồi Giáo ra khỏi Giêrusalem" nhưng thực chất lại là cướp phá thánh địa và tàn sát dân Do Thái (1095-1303), đến Tôn Giáo Pháp Đình (Inquisition) với "mục đích tiêu diệt tà giáo" đã nhân danh Đấng Christ để đốt bỏ Thánh Kinh và giết chết hàng triệu thánh đồ của Đấng Christ là những người quyết tâm chối bỏ thẩm quyền của giáo hoàng và chối bỏ những giảng dạy của giáo hội Công Giáo sai lạc với Thánh Kinh (1233-1478)!

Rõ ràng, đời sống theo đúng mục đích hay đời sống được điều khiển bởi mục đích KHÔNG PHẢI và KHÔNG THỂ là TIÊU CHUẨN SỐNG của thánh đồ Đấng Christ, mà phải là một đời sống bước đi theo Đức Thánh Linh, được điều khiển bởi Đức Thánh Linh, một"Đời Sống Đầy Dẫy Thánh Linh" (Ê-phê-sô 5:18).

Câu hỏi quan trọng nhất của cuộc sống

Pastor Rick Warren mở đầu "The Purpose Driven Life" bằng những lời giới thiệu với tiểu đề: "Một Hành Trình Có Mục Đích." Ông viết:

"Đây không chỉ đơn thuần là một cuốn sách; nó là một loạt bài học cho hành trình tâm linh trong 40 ngày nhằm giúp bạn khám phá lời đáp cho câu hỏi quan trọng nhất của cuộc sống: Tôi có mặt trên trần gian để làm gì? Đến cuối cuộc hành trình này, bạn sẽ biết được mục đích của Đức Chúa Trời cho cuộc đời bạn và sẽ hiểu được bức tranh lớn — mọi mảng nhỏ trong cuộc đời bạn ráp lại với nhau như thế nào. Cách nhìn này sẽ giúp bạn bớt căng thẳng, đơn giản hóa các quyết định của bạn, khiến bạn thỏa lòng hơn, và, điều quan trọng nhất là chuẩn bị bạn cho cõi đời đời" [1].

Từ tựa đề cho đến lời mở đầu của cuốn sách, chúng ta có thể thấy mùi của tâm lý học đâu đây nhưng lại được khoác cho cái áo thuộc linh. Tác giả xác quyết rằng, tác phẩm của ông không chỉ là một cuốn sách, mà là một loạt "bài học tâm linh." Lời xác quyết này, kèm theo danh tiếng của Pastor Rick Warren, dễ dàng khiến cho độc giả bỏ quên sự cảnh giác thuộc linh, để sẵn sàng chấp nhận hết những gì được trình bày trong sách là "bài học tâm linh," phù hợp với sự dạy dỗ của Thánh Kinh, đặc biệt là khi được hổ trợ bằng những câu được gọi là "Thánh Kinh" do tác giả trích dẫn. Sự nguy hiểm nằm ở đó!

Ngay trong lời mở đầu nói trên, tác giả đã nhẹ nhàng đánh lạc hướng người đọc khi quyết chắc rằng: "Tôi có mặt trên trần gian để làm gì?" là câu hỏi quan trọng nhất của cuộc sống! Bất kỳ một tín đồ Đấng Christ nào cũng biết câu hỏi quan trọng nhất của cuộc sống đối với một người chưa được cứu là: "Bạn đã được cứu chưa?" và đối với người đã được cứu là: "Bạn có được đầy dẫy Thánh Linh chưa?" Cuộc đời của một người, nếu không thể trả lời hai câu hỏi này một cách xác định và dứt khoát thì cuộc sống của người ấy hoàn toàn vô nghĩa, cho dù họ có đặt ra và theo đuổi bao nhiêu mục đích trong đời mình.

Bài học tâm linh?

Theo bố cục của sách thì tác giả dùng phần đầu tiên (khoảng 1/6 sách) "Tôi có mặt trên trần gian này để làm gì?" [2] trình bày cho độc giả biết những điều sau đây:

– Mọi sự bắt đầu với Đức Chúa Trời
– Bạn không phải là một sự tình cờ
– Điều gì lèo lái (drives) cuộc đời bạn?
– Được tạo dựng cho cõi đời đời
– Nhìn cuộc đời tù cái nhìn của Đức Chúa Trời
– Cuộc sống chỉ là tạm bợ
– Nguyên nhân của mọi sự

Và, ở cuối chương thứ bảy "Nguyên nhân của mọi sự," Rick Warren đã kết luận"hãy tin rằng Đức Chúa Trời yêu thương bạn" và kêu gọi độc giả "hãy tiếp nhận Chúa Giê-su vào cuộc đời bạn" [3].

Căn cứ vào bố cục và nội dung của sách, chúng ta có thể nhận thấy tác giả của "The Purpose Driven Life" muốn trình bày một loạt bài học tâm linh cho cả hai thành phần độc giả:

– Bảy chương đầu của phần thứ nhất viết cho những người chưa tin nhận Chúa, tác giả trình bày cho họ biết Đức Chúa Trời yêu thương mọi người và có mục đích cho cuộc đời của mỗi người; sau đó ông khuyên họ hãy tin rằng Đức Chúa Trời yêu thương họ và kêu gọi họ tin nhận Chúa.
– Ba mươi ba chương còn lại của sáu phần sau viết cho những người đã tin nhận Chúa, hướng dẫn họ sống theo đúng mục đích mà Đức Chúa Trời đã đặt để cho họ.

Tác giả xác quyết rằng, tác phẩm của ông là một loạt "bài học tâm linh," thế nhưng trong phần bài học tâm linh dành cho người chưa tin nhận Chúa, ông không hề trình bày lẽ đạo về "sự ăn năn tội" "sự cứu rỗi" của Thánh Kinh, rằng:

"Các ngươi hãy ăn năn, vì nước thiên đàng đã đến gần." (Ma-thi-ơ 4:17)
"Mọi người đều đã phạm tội" và "Tiền công của tội lỗi là sự chết" (Rô-ma 3:23, 6:23)
"Ai tin Con thì được sự sống đời đời, ai không chịu tin Con thì chẳng thấy sự sống đâu, nhưng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người đó." (Giăng 3:36)
"Chẳng có sự cứu rỗi trong Đấng nào khác, vì ở dưới trời chẳng có danh nào khác ban cho loài người để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu." (Công Vụ Các Sứ Đồ 4:12)

Và, trong phần bài học tâm linh dành cho người đã tin nhận Chúa, ông không hề trình bày điều căn bản và quan trọng hàng đầu của một tín đồ Đấng Christ là "hoàn toàn đầu phục Chúa" để có thể "sống một nếp sống thánh khiết:"

"Nếu ai muốn theo Ta, phải tự bỏ mình đi, mỗi ngày vác thập tự giá mình mà theo Ta. Như vậy, nếu ai trong các ngươi không bỏ mọi sự mình có, thì không được làm môn đồ Ta." (Lu-ca 9:23, 14:33)
"Vậy anh em cũng hãy coi mình như chết về tội lỗi và như sống cho Ðức Chúa Trời trong Ðức Chúa Jêsus Christ. Vậy, chớ để tội lỗi cai trị trong xác hay chết của anh em, và chớ chiều theo tư dục nó. Chớ nộp chi thể mình cho tội lỗi, như là đồ dùng gian ác, nhưng hãy phó chính mình anh em cho Ðức Chúa Trời, dường như đã chết mà nay trở nên sống, và dâng chi thể mình cho Ðức Chúa Trời như là đồ dùng về sự công bình." (Rô-ma 6:11-13)
"Vả, chẳng có người nào trong chúng ta vì chính mình mà sống, cũng chẳng có người nào trong chúng ta vì chính mình mà chết; vì nếu chúng ta sống, là sống cho Chúa, và nếu chúng ta chết, là chết cho Chúa. Vậy nên chúng ta hoặc sống hoặc chết, đều thuộc về Chúa cả." (Rô-ma 14:7-8)
"Nếu chúng ta nhờ Thánh Linh mà sống, thì cũng hãy bước theo Thánh Linh vậy." (Ga-la-ti 5:25)
"Nhưng, như Đấng đã gọi anh em là thánh, thì anh em cũng phải thánh trong mọi cách ăn ở mình; bởi có chép rằng: Hãy nên thánh, vì Ta là Thánh!" (I Phi-e-rơ 1:15-16)

Thậm chí, Rick Warren còn phát biểu ngược lại lời phán dạy của Đức Chúa Jesus. Chúa dạy: "Thế thì các ngươi hãy nên trọn vẹn như Cha các ngươi ở trên trời là trọn vẹn" (Mathiơ 5:48). Rick Warren viết:"Đức Chúa Trời không mong rằng bạn sẽ trở nên toàn hảo, nhưng Ngài có đòi hỏi sự thành thật hoàn toàn" [5]. Dựa trên nền tảng nào của Lời Chúa mà Rick Warren dạy cho hàng triệu người rằng: "Đức Chúa Trời KHÔNG MONG rằng bạn sẽ trở nên toàn hảo?"

"Nên thánh,"tức là"trở nên trọn vẹn như Cha các ngươi trên trời là trọn vẹn" là MỤC ĐíCH tối hậu của mỗi một người được sinh ra trên trần gian này.

Bốn mươi chương sách của "The Purpose Driven Life" hoàn toàn thiếu vắng những lẽ đạo quan trọng như đã nêu trên nhưng lại đầy dẫy những ảnh hưởng của tâm lý học, và giáo lý tà vạy của New Age cho nên lời xác quyết "Đây không chỉ đơn thuần là một cuốn sách; nó là một loạt bài học cho hành trình tâm linh…" là một sự sai lầm nghiêm trọng!

Huyền nhiệm của "40 ngày?"

Cũng trong lời mở đầu của "The Purpose Driven Life," Rick Warren viết:"Kinh Thánh nói rõ rằng Đức Chúa Trời xem 40 ngày là một khoảng thời gian rất có ý nghĩa trên phương diện tâm linh. Bất cứ khi nào Đức Chúa Trời muốn chuẩn bị một ai đó để thực hiện các mục đích của Ngài, Ngài dành ra 40 ngày" [4]. Liền theo đó, tác giả dẫn chứng Nô-ê, Môi-se, Các thám tử do Môi-se sai đi do thám đất hứa, Đa-vít, Ê-li, cả thành Ni-ni-ve, Chúa Jesus, Các môn đồ sau khi Chúa phục sinh, và hứa hẹn với độc giả là 40 ngày sắp tới sẽ biến đổi cuộc đời của họ!

Thánh Kinh quả thật có nhắc đến những giai đoạn 40 ngày nhưng không chỗ nào trong Thánh Kinh"nói rõ rằng Đức Chúa Trời xem 40 ngày là một khoảng thời gian có ý nghĩa trên phương diện tâm linh. Bất cứ khi nào Đức Chúa Trời muốn chuẩn bị một ai đó để thực hiện các mục đích của Ngài, Ngài dành ra 40 ngày." như lời khẳng định của Rick Warren.

Ít ra, Thánh Kinh không nói rằng Đức Chúa Trời đã dành ra 40 ngày để chuẩn bị:

– A-đam và Ê-va cho sự cai trị đất và muôn vật trên đất.
– Áp-ram cho sự kết ước với ông, khiến ông trở thành Cha của nhiều dân tộc.
– Giô-sép trước khi trao quyền tể tướng Ai-cập vào tay ông.
– Môi-se trước khi sai ông đi giải phóng dân tộc I-sơ-ra-ên.
– A-rôn trưóc khi lãnh nhiệm vụ thầy tế lễ.
– Giô-suê trước khi trao quyền lãnh đạo dân I-sơ-ra-ên tiến chiếm đất hứa.
– Các quan xét trước khi dùng họ giải cứu và cai trị dân I-sơ-ra-ên.
– Các Vua của I-sơ-ra-ên, bao gồm Đa-vít trước khi họ nắm quyền cai trị.
– Các tiên tri trước khi họ thi hành chức vụ, bao gồm cả Sa-mu-ên, Giăng Báp-tít.
– Sứ đồ Phao-lô trước khi ông đi ra thi hành sứ mạng truyền giáo.

Nếu dựa vào lời khẳng định trên đây của Rick Warren thì biết bao nhiêu danh nhân trong lịch sử Hội Thánh đã làm ra những việc lớn và lạ lùng ắt hẳn đều phải được Đức Chúa Trời dành ra 40 ngày để chuẩn bị họ!

Căn cứ vào một số sự kiện có thật trong Thánh Kinh để đi đến một kết luận, biến đó thành công thức làm việc của Đức Chúa Trời là một việc làm hàm hồ, nguy hiểm, và dẫn đến sự phạm thượng… quy cho Đức Chúa Trời những điều Ngài không dạy và không làm!

Chúng ta hãy thử xét xem bối cảnh lịch sử "40 ngày" của những cá nhân được Rick Warren cho rằng Đức Chúa Trời đã dành ra 40 ngày để chuẩn bị họ:

·         Nô-ê: Thánh Kinh chép:"Ðức Giê-hô-va phán cùng Nô-ê rằng: Ngươi và cả nhà ngươi hãy vào tàu, vì về đời nầy ta thấy ngươi là công bình ở trước mặt ta. Vì còn bảy ngày nữa, ta sẽ làm mưa xuống mặt đất, trong bốn mươi ngày và bốn mươi đêm; ta sẽ tuyệt diệt khỏi đất hết các loài của ta đã dựng nên" (Sáng Thế Ký 7:1, 4). Lời Chúa ghi rõ 40 ngày và 40 đêm mưa xuống mặt đất là thời gian Chúa trừng phạt loài người tội lỗi, không một ý nào nói rằng Chúa dành 40 ngày để chuẩn bị Nô-ê thực hiện một mục đích nào cho Ngài.

·         Môi-se: Thánh Kinh chép:"Ðức Giê-hô-va cũng phán cùng Môi-se rằng: Hãy chép các lời nầy; vì theo các lời nầy mà ta lập giao ước cùng ngươi và cùng Y-sơ-ra-ên. Môi-se ở đó cùng Ðức Giê-hô-va trong bốn mươi ngày và bốn mươi đêm, không ăn bánh, cũng không uống nước; Ðức Giê-hô-va chép trên hai bảng đá các lời giao ước, tức là mười điều răn" (Xuất Ê-díp-tô Ký 34:27-28). Lời Chúa ghi rõ Môi-se được Chúa sai chép các luật lệ (ngoại trừ giao ước của Ngài với dân I-sơ-ra-ên, tức là mười điều răn do chính Ngài chép trên hai bảng đá). Trong 40 ngày và 40 đêm đó, Môi-se được Chúa dùng để chép Thánh Kinh chứ không phải để chuẩn bị ông thực hiện một mục đích nào khác cho Ngài.

·         Các thám tử: Thánh Kinh chép: "Các ngươi đi do thám xứ bao nhiêu ngày, nghĩa là bốn mươi ngày, thì các ngươi cũng sẽ mang hình phạt vì tội gian ác mình bấy nhiêu năm, nghĩa là bốn mươi năm, một năm đền cho một ngày; bấy giờ các ngươi sẽ biết ta đã xây khỏi các ngươi. Ta, Ðức Giê-hô-va, đã phán: Ta sẽ làm điều nầy cho cả hội chúng hung dữ nầy đã hiệp lại nghịch cùng ta; chúng nó sẽ bị hao mòn và chết tại trong đồng vắng nầy. Những người mà Môi-se đã sai đi do thám xứ, khi trở về có xui cho cả hội chúng lằm bằm cùng Môi-se, và có phao phản xứ, những người nầy đều bị một tai vạ hành chết trước mặt Ðức Giê-hô-va. Nhưng trong bọn người đi do thám xứ, chỉ có Giô-suê, con trai của Nun, và Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê, còn sống được " (Dân Số Ký 14:34-38). Lời Chúa ghi rõ, Chúa phạt dân I-sơ-ra-ên vì sự cứng lòng, vô tín của họ theo số ngày mà các thám tử đi do thám xứ Ca-na-an, một ngày tương ứng với một năm. Chúa không hề dùng 40 ngày đi do thám để chuẩn bị các thám tử cho một mục đích nào khác hơn. Trong số 12 thám tử, chỉ có Giô-suê và Ca-lép được sống mà vào đất hứa vì họ có đức tin nơi Đức Chúa Trời. Nếu quả thật Chúa đã dùng 40 ngày đi do thám xứ Ca-na-an để chuẩn bị 12 thám tử hoàn thành một mục đích nào đó của Ngài, không lẽ mục đích của Ngài là tiêu diệt 10 thám tử và toàn bộ dân I-sơ-ra-ên từ 20 tuổi sấp lên?

·         Đa-vít: Thánh Kinh chép: "Người Phi-li-tin đi ra buổi mai và buổi chiều, tỏ mình ra như vậy trong bốn mươi ngày. Vả, Y-sai nói cùng Ða-vít, con trai mình, mà rằng: Con hãy lấy một ê-pha hột rang và mười ổ bánh nầy, chạy mau đến trại quân đặng đem đưa cho các anh con" (I Sa-mu-ên 17:16-17). Lời Chúa ghi rõ, Gô-li-át mỗi ngày hai lần, trong suốt 40 ngày đi ra thách chiến và sỉ nhục quân đội I-sơ-ra-ên. Trong 40 ngày tranh chiến này, Đa-vít không hề có mặt cho đến khi được cha sai đi thăm các anh. Khi đến nơi, Đa-vít được Chúa cảm động giết chết Gô-li-át. Thánh Kinh không hề nói Chúa dùng 40 ngày để chuẩn bị cho Đa-vít giết Gô-li-át hay hoàn thành một mục đích nào khác cho Ngài.

·         Ê-li: Thánh Kinh chép:"A-háp thuật lại cho Giê-sa-bên mọi điều Ê-li đã làm, và người đã dùng gươm giết hết thảy tiên tri Ba-anh làm sao. Giê-sa-bên sai một sứ giả đến Ê-li mà nói rằng: Nếu ngày mai trong giờ này, ta không xử mạng sống ngươi như mạng sống của một người trong chúng nó, nguyện các thần đãi ta cách nặng nề. Vì vậy, Ê-li sợ hãi, đứng dậy chạy đi đặng cứu mạng sống mình. Ðến tại Bê-e-Sê-ba, thuộc về Giu-đa, người để tôi tớ mình lại đó. Còn người vào đồng vắng, đường đi ước một ngày, đến ngồi dưới cây giếng giêng, xin chết mà rằng: Ôi Ðức Giê-hô-va! đã đủ rồi. Hãy cất lấy mạng sống tôi, vì tôi không hơn gì các tổ phụ tôi. Ðoạn, người nằm ngủ dưới cây giếng giêng. Có một thiên sứ đụng đến người và nói rằng: Hãy chổi dậy và ăn. Người nhìn thấy nơi đầu mình một cái bánh nhỏ nướng trên than, và một bình nước. Người ăn uống, rồi lại nằm. Thiên sứ của Ðức Giê-hô-va đến lần thứ nhì, đụng người và nói rằng: Hãy chổi dậy và ăn, vì đường xa quá cho ngươi. Vậy người chổi dậy, ăn và uống, rồi nhờ sức của lương thực ấy, người đi bốn mươi ngày và bốn mươi đêm cho đến Hô-rếp, là núi của Ðức Chúa Trời" (I Các Vua 19:1-8). Lời Chúa ghi rõ, thiên sứ của Chúa tiếp trợ lương thực cho Ê-li để ông có đủ sức vượt một chặng đường 40 ngày và 40 đêm đến núi của Đức Chúa Trời. Bốn mươi ngày và đêm này là thời gian cần có cho Ê-li vượt qua khoảng cách địa dư chứ không phải 40 ngày đêm Đức Chúa Trời chuẩn bị Ê-li để thực hiện một mục đích nào cho Ngài. Chúng ta biết, sau đó, Ê-li truyền chức tiên tri lại cho Ê-li-sê rồi ông được Chúa cất lên trời. Nếu cần phải được Chúa dành 40 ngày để chuẩn bị thực hiện một mục đích của Ngài thì Ê-li-sê mới là người cần được chuẩn bị.

·         Dân thành Ni-ni-ve: Xin xem trong Giô-na đoạn 3. Lời Chúa ghi rõ, dân thành Ni-ni-ve nghe lời giảng của tiên tri Giô-na thì lập tức ăn năn tội lỗi trong tro bụi và Chúa đã tha tội cho họ mà không diệt thành. Chúa không dùng 40 ngày để chuẩn bị dân thành Ni-ni-ve thực hiện một mục đích nào cho Ngài cả.

Cho dù, lời khẳng định của Rick Warren: "Bất cứ khi nào Đức Chúa Trời muốn chuẩn bị một ai đó để thực hiện các mục đích của Ngài, Ngài dành ra 40 ngày." trên một phương diện nào đó có thểđúng đi nữa, thì cũng không phải người được Chúa chuẩn bị tự chọn lấy khi nào thì bắt đầu giai đoạn 40 ngày, mà là chính Chúa chọn lựa! Rick Warren cố tình khiến cho độc giả tin vào sức mạnh huyền bí của "giai đoạn 40 ngày" bằng cách trưng dẫn một vài sự kiện trong Thánh Kinh. Tuy nhiên, như chúng ta đã duyệt qua trên đây, không một chỗ nào trong Lời Chúa hổ trợ cho ý tưởng của Rick Warren. Vô tình hay hữu ý, Rick Warren đã liên kết việc "học tập bài học tâm linh" do ông biên soạn với những sự kiện 40 ngày trong Thánh Kinh và đưa ra lời bảo đảm:"Đến cuối cuộc hành trình này, bạn sẽ biết được mục đích của Đức Chúa Trời cho cuộc đời bạn và sẽ hiểu được bức tranh lớn – mọi mảng nhỏ trong cuộc đời bạn ráp lại với nhau như thế nào. Cách nhìn này sẽ giúp bạn bớt căng thẳng, đơn giản hóa các quyết định của bạn, khiến bạn thỏa lòng hơn, và, điều quan trọng nhất là chuẩn bị bạn cho cõi đời đời." [1]

Nếu một người có thể được "The Purpose Driven Life" chuẩn bị cho cõi đời đời thì như vậy, Hội Thánh chỉ cần phiên dịch, in và phân phát tác phẩm của Rick Warren, mà không cần phải rao giảng Tin Lành và giảng dạy Lời Chúa nữa. Công tác phiên dịch, in và phân phát một tác phẩm thuộc loại "best-seller" dễ dàng và ít tốn kém hơn mọi hình thức truyền giáo và giảng dạy Lời Chúa khác rất nhiều.


Mục Tử
27.09.2005

 

Tham khảo:


[1] Sống theo đúng mục đích, Rick Warren; bản dịch Việt Ngữ không đề tên nhà xuất bản và năm phát hành, trang7.

[2] "The Purpose Driven Life" được chia thành sáu phần với 40 chương:

Phần 1: Tôi có mặt trên trần gian này để làm gì?
Phần 2: Bạn được tạo dựng vì sự vui thỏa của Đức Chúa Trời
Phần 3: Bạn được tạo dựng cho gia đình của Đức Chúa Tròi
Phần 4: Bạn được tạo dựng để trở nên giống như Đấng Christ
Phần 5: Bạn được tạo dựng để phục vụ Đức Chúa Trời
Phần 6: Bạn được tạo dựng với một sứ mệnh

[3] Sống theo đúng mục đích, Rick Warren; bản dịch Việt Ngữ không đề tên nhà xuất bản và năm phát hành, trang57.

[4] Sống theo đúng mục đích, Rick Warren; bản dịch Việt Ngữ không đề tên nhà xuất bản và năm phát hành, trang7.

[5] Sống theo đúng mục đích, Rick Warren; bản dịch Việt Ngữ không đề tên nhà xuất bản và năm phát hành, trang92, 93.

Đọc Tiếp →

Phê Bình Tác Phẩm “The Purpose Driven Life” – Bài Hai: Tin Lành Theo Rick Warren

Phê Bình Tác Phẩm "The Purpose Driven Life"

Bài Hai: Tin Lành Theo Rick Warren

Copyright Notice:Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry – All Rights Reserved © 2006 Vietnamese Christian Mission Ministry, Inc. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức với điều kiện giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Mục Tử
Bấm vào đây để download bài viết này

[1491]

Ý nghĩa của sự giảng Tin Lành

Trước khi thăng thiên, Đức Chúa Jesus đã truyền đạt mệnh lệnh rao giảng Tin Lành cho các sứ đồ: "Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin Lành cho mọi người. Ai tin và chịu phép báptem sẽ được rỗi; nhưng ai chẳng tin, sẽ bị đoán phạt." (Mác 16:15-16). Nhưng giảng Tin Lành như thế nào? Chúng ta hãy xem lại một vài phân đoạn Thánh Kinh dạy về ý nghĩa của sự rao giảng Tin Lành:

"Từ lúc đó, Đức Chúa Jesus khởi giảng dạy rằng: Các ngươi hãy ăn năn, vì nước thiên đàng đã đến gần."
(Ma-thi-ơ 4:17)

"Sau khi Giăng bị tù, Đức Chúa Jesus đến xứ Galilê, giảng Tin Lành của Đức Chúa Trời, mà rằng:
Kỳ đã trọn, nước Đức Chúa Trời đã đến gần; các ngươi hãy ăn năn và tin Tin Lành."
(Mác 1:14-15)

"Ngài phán: Có lời chép rằng Đấng Christ phải chịu đau đớn dường ấy, ngày thứ ba sẽ từ kẻ chết sống lại,
và người ta sẽ nhơn danh Ngài mà rao giảng cho dân các nước sự ăn năn để được tha tội,
bắt đầu từ thành Giêrusalem."
(Lu-ca 24:46-47)

"Chúng nghe bấy nhiêu lời, trong lòng cảm động, bèn hỏi Phi-e-rơ và các sứ đồ khác rằng: Hỡi anh em,
chúng ta phải làm chi? Phi-e-rơ trả lời rằng:Hãy hối cải, ai nấy phải nhơn danh Đức Chúa Jesus
chịu phép báp-tem, để được tha tội mình, rồi sẽ được lãnh sự ban cho Đức Thánh Linh."
(Công-Vụ Các Sứ Đồ 2:37-38)

"Vậy, các ngươi hãy ăn năn và trở lại, đặng cho tội lỗi mình được xóa đi."
(Công-Vụ Các Sứ Đồ 3:19)

"Anh em biết tôi chẳng trể nải rao truyền mọi điều ích lợi cho anh em, chẳng giấu điều chi hết, lại biết tôi đã dạy anh em hoặc giữa công chúng, hoặc từ nhà này sang nhà kia, giảng cho người Giu-đa như cho người Gờ-réc về sự ăn năn đối với Đức Chúa Trời, và đức tin trong Đức Chúa Jesus là Chúa chúng ta."
(Công-Vụ Các Sứ Đồ 20:21)

Như vậy, giảng Tin Lành là "nhơn danh Đức Chúa Jesus Christ mà rao giảng cho dân các nước sự ăn năn và đức tin trong Đức Chúa Jesus để được tha tội." Gần 2000 năm nay, Hội Thánh thật của Đấng Christ luôn rao giảng Tin Lành về sự ăn năn và đức tin trong Đức Chúa Jesus để được tha tội.

Những yếu tố trong sứ điệp Tin Lành

Theo Thánh Kinh, một người muốn được cứu rỗi, trước hết phải hiểu biết và tin nhận ba thực tại căn bản như sau:

  • Mọi người đều là tội nhân: "Vì mọi ngưòi đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời" (Rôma 3:23).
  • Hậu quả của sự phạm tội là sự chết:"Vì tiền công của tội lỗi là sự chết!" (Rôma 6:23).
  • Đức Chúa Jesus Christ đã chịu chết thay cho tội nhân:"Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết." (Rôma 5:8).

Tuy nhiên, tin nhận những thực tại kể trên cũng chưa đủ để bước vào trong sự cứu rỗi. Một người muốn được cứu rỗi, sau khi tin nhận những điều kể trên còn phải thật lòng ăn năn tội và quyết tâm lìa bỏ tội, quay về đầu phục Đấng Christ! Một sứ điệp về Tin Lành mà người rao giảng không giảng đủ và rõ về ba thực tại kể trên, không kêu gọi tội nhân ăn năn tội và đầu phục Đấng Christ thì không phải là một sứ điệp Tin Lành theo Thánh Kinh.

Tin Lành theo Rick Warren

Trong tác phẩm "The Purpose Driven Life," Pastor Rick Warren đã dành trọn chương thứ nhất trong sáu chương sách, để thuyết phục độc giả rằng, mỗi một người được sinh ra trong cuộc đời này vì Đức Chúa Trời có năm mục đích dành cho họ. Tiếp theo, ông khuyên độc giả như sau:

"Trước hết, hãy tin. Hãy tin rằng Đức Chúa Trời yêu thương bạn và tạo dựng bạn vì những mục đích của Ngài…"[1]

"Thứ hai, hãy tiếp nhận. Hãy tiếp nhận Chúa Giêsu vào cuộc đời bạn, làm Chúa, làm Chủ đời sống bạn. Hãy tiếp nhận sự tha thứ của Ngài. Hãy tiếp nhận Thánh Linh Ngài, Đấng sẽ ban cho bạn năng lực để làm trọn mục đích đời sống bạn. Kinh Thánh chép: "Ai tin Con, thì được sự sống đời đời; ai không chịu tin Con, thì chẳng thấy sự sống đâu, nhưng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người đó" – Giăng 3:36. Dù đang đọc câu Kinh Thánh này ở đâu, tôi cũng muốn mời bạn cúi đầu và thầm nguyện điều sẽ thay đổi cõi đời đời của bạn:"Lạy Chúa Giêsu, con tin nơi Ngài và con xin tiếp nhận Ngài." Hãy làm đi." [2]

"Nếu bạn thật lòng trong lời cầu nguyện đó, thì xin chúc mừng! Chào mừng bạn gia nhập gia đình của Đức Chúa Trời! Bây giờ bạn đã sẵn sàng để khám phá và bắt đầu sống vì mục đích của Đức Chúa Trời trên cuộc đời bạn."[3]

Làm sao một người có thể tin nơi Đức Chúa Jesus và tiếp nhận Ngài khi mà người ấy không được giảng cho biết địa vị tội nhân đang chết mất của mình, không được giảng cho biết Đức Chúa Jesus Christ đã làm gì để tội nhân có thể ra khỏi tội lỗi và sự chết, không được kêu gọi ăn năn tội lỗi và đầu phục Đấng Christ?

Cả chương đầu của cuốn sách "The Purpose Driven Life" nhằm thuyết phục độc giả rằng, nan đề lớn nhất của họ là sống một đời sống không có mục đích, và cuốn sách của Pastor Rick Warren sẽ giúp cho họ khám phá ra mục đích của đời sống. Thật ra, theo Thánh Kinh, nan đề lớn nhất của đời người là tội lỗi, vì tội lỗi phân rẽ loài người với Đức Chúa Trời và đem đến hậu quả là tội nhân sẽ bị trừng phạt đời đời trong hỏa ngục. Pastor Rick Warren kêu gọi độc giả tin nhận Đấng Christ nhưng trong toàn bộ cuốn sách "The Purpose Driven Life" ông không hề nói cho độc giả biết thân phận tội nhân đang chết mất đời đời của họ. Trong cuốn sách ấy không hề nói cho độc giả biết Đấng Christ đã phải hy sinh trên thập tự giá để chuộc tội cho nhân loại. Trong cuốn sách ấy không hề nói cho độc giả biết họ cần phải ăn năn tội lỗi và đầu phục Chúa. Trong cuốn sách ấy không hề nói cho độc giả biết một người đã tiếp nhận sự cứu rỗi của Đấng Christ thì phải bước đi theo Thánh Linh, sống một nếp sống được thánh hóa mỗi ngày bởi quyền năng của Thánh Linh và Lời Hằng Sống của Đức Chúa Trời. Vì thế, Tin Lành được rao giảng trong tác phẩm "The Purpose Driven Life," nếu có, là một Tin Lành phiếm diện; một Tin Lành không xác định tình trạng hư mất của tội nhân, không trình bày rõ phương thức cứu rỗi của Đức Chúa Trời qua Đức Chúa Jesus Christ, không kêu gọi tội nhân đến với sự ăn năn; một Tin Lành hoàn toàn khác biệt với Tin Lành được trình bày trong Thánh Kinh.

Có thật chăng, nếu một người thật lòng tin rằng Đức Chúa Trời yêu thương họ và đời sống của họ được Đức Chúa Trời tạo ra vì năm mục đích, rồi tiếp nhận Đức Chúa Jesus vào đời sống họ qua lời cầu nguyện: "Lạy Chúa Giêsu, con tin nơi Ngài và con xin tiếp nhận Ngài." thì họ được gia nhập vào gia đình của Đức Chúa Trời? Thánh Kinh không bao giờ trình bày một Tin Lành như vậy!

Rôma 10:8-10 chép rằng:"Nhưng nói làm sao? Đạo ở gần ngươi, ở trong miệng và trong lòng ngươi. Ấy là đạo đức tin mà chúng ta giảng dạy. Vậy, nếu miệng ngươi xưng Đức Chúa Jesus ra và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, thì ngươi sẽ được cứu; vì tin bởi trong lòng mà được sự công bình, còn bởi miệng làm chứng mà được sự cứu rỗi."

Phaolô định nghĩa đạo đức tin mà ông giảng dạy như sau:"Vì tôi đã đoán định rằng ở giữa anh em, tôi chẳng biết sự chi khác ngoài Đức Chúa Jesus Christ, và Đức Chúa Jesus Christ bị đóng đinh trên cây thập tự." (1Côrinhtô 2:2).

Kết luận

Thực tế, chắc không ai đi ra ngoài rao giảng Tin Lành cho người chưa biết Chúa như sau:"Hãy tin rằng Đức Chúa Trời yêu thương bạn. Hãy tin rằng Đức Chúa Trời đã dựng nên bạn vì năm mục đích. Hãy tin nhận Đức Chúa Jesus Christ vào trong đời sống bạn và hãy cầu nguyện những lời sau đây: Lạy Chúa Giêsu, con tin nơi Ngài và con xin tiếp nhận Ngài." Nhưng hàng trăm ngàn pastor, hàng triệu tín đồ khắp nơi trên thế giới đã chấp nhận "The Purpose Driven Life" như là một tác phẩm hướng linh không thể thiếu trong thế kỷ 21 này.

Nhiều người cho rằng, dẫu tác phẩm này không trình bày Tin Lành cho người chưa biết Chúa một cách trung thực thì nó cũng có giá trị bồi linh, dưỡng linh cho con dân của Chúa. Kể từ bài tới, dùng Thánh Kinh để đối chiếu, chúng ta sẽ cùng nhau xem xét giá trị bồi linh, dưỡng linh của tác phẩm này trong từng chương sách.

 

Mục Tử
09.2005


Tham khảo:

[1], [2], [3] Sống theo đúng mục đích, Rick Warren, Bản dịch Việt Ngữ không đề tên nhà xuất bản và năm phát hành. Trang 57.

Đọc Tiếp →

Phê Bình Tác Phẩm “The Purpose Driven Life” – Bài Một: Lời Nói Đầu

Phê Bình Tác Phẩm "The Purpose Driven Life"

Bài Một: Lời Nói Đầu

Copyright Notice:Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry – All Rights Reserved © 2006 Vietnamese Christian Mission Ministry, Inc. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức với điều kiện giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Mục Tử
Bấm vào đây để download bài viết này

"Những người này có ý hẳn hoi hơn người Têsalônica, đều sẵn lòng chịu lấy đạo,
ngày nào cũng tra xem Kinh Thánh, để xét lời giảng có thật chăng!"

(Côngvụ 17:11)

[1285]

Tác phẩm "The Purpose Driven Life" (được dịch sang tiếng Việt là "Sống Theo Đúng Mục Đích" [1],) viết bởi Pastor Rick Warren, đã trở thành nguyên cớ và nền tảng của một phong trào Cơ-đốc sôi nổi nhất, ảnh hưởng rộng rải nhất trong lịch sử Tin Lành thế giới. Suốt mấy năm qua, hàng ngàn Hội Thánh trong mọi giáo phái khắp nơi trên thế giới đã sử dụng tác phẩm này để dắt hội chúng đi vào chương trình "Bốn Mươi Ngày Có Mục Đích" (Forty Days of Purpose).

"The Purpose Driven Life" được chia thành sáu phần với 40 chương:

Phần 1: Tôi có mặt trên trần gian này để làm gì?
Phần 2: Bạn được tạo dựng vì sự vui thỏa của Đức Chúa Trời
Phần 3: Bạn được tạo dựng cho gia đình của Đức Chúa Tròi
Phần 4: Bạn được tạo dựng để trở nên giống như Đấng Christ
Phần 5: Bạn được tạo dựng để phục vụ Đức Chúa Trời
Phần 6: Bạn được tạo dựng với một sứ mệnh

Theo như tác giả trình bày trong lời giới thiệu:

"Đây không chỉ đơn thuần là một cuốn sách; nó là một loạt bài học cho hành trình tâm linh trong 40 ngày nhằm giúp bạn khám phá lời đáp cho câu hỏi quan trọng nhất của cuộc sống: Tôi có mặt trên trần gian để làm gì? Đến cuối cuộc hành trình này, bạn sẽ biết được mục đích của Đức Chúa Trời cho cuộc đời bạn và sẽ hiểu được bức tranh lớn — mọi mảng nhỏ trong cuộc đời bạn ráp lại với nhau như thế nào. Cách nhìn này sẽ giúp bạn bớt căng thẳng, đơn giản hóa các quyết định của bạn, khiến bạn thỏa lòng hơn, và, điều quan trọng nhất là chuẩn bị bạn cho cõi đời đời"[2].

Với lời hứa hẹn mở đầu như trên, người đọc không mong gì hơn là tác giả sẽ thật sự thỏa mãn được nhu cầu tâm linh của mình. Tuy nhiên, trong 336 trang sách (324 trang trong bản Việt ngữ) chia thành 40 chương, làm bài học cho hành trình tâm linh đó, chứa đầy những lỗi lầm:

– Trên 40 điểm không đúng với Thánh Kinh
– 18 lần trích dẫn Thánh Kinh lạc ý (out of context)
– Sử dụng những bản dịch diễn ý hoàn toàn diễn dịch sai lạc ý nghĩa của nhiều câu Thánh Kinh
– Đưa vào những tư tưởng tâm lý,triết học (của Rogers và Freud), và New Age hoàn toàn xa lạ với Thánh Kinh.

Một tác phẩm hướng linh hay dưỡng linh mà trung bình cứ mỗi 3 trang chứa một lỗi lầm không đúng với Thánh Kinh lại được sử dụng để hướng dẫn người đến với Chúa, và huấn luyện con dân Chúa thì quả là một điều nghi vấn đáng ngại! Trước thực tế nguy hiểm và phủ phàng này, thiết nghĩ, mỗi một ai nhận thức được, đều có trách nhiệm và bổn phận gióng lên tiếng chuông cảnh báo.

Tiếp theo bài giới thiệu này, người viết sẽ trình bày những sai lầm trong tác phẩm "The Purpose Driving Life" (PDL) trong từng chương một của 40 chương như đã tổng kết trên đây.

Người viết không có ý trình bày Pastor Rick Warren như là một "giáo sư giả." Người viết không thắc mắc gì về đức tin của ông nơi Đức Chúa Trời, về tấm lòng hầu việc Chúa của ông. Nhưng Thánh Kinh cũng đã cho thấy một con người đầy dẫy Thánh Linh như sứ đồ Phi-e-rơ cũng có lúc phạm tội giả hình giữa Hội Thánh (Galati 2:11-14). Thánh Kinh cũng cho biết, mặc dù là lời giảng của sứ đồ Phao-lô, nhưng các tín đồ thành Bê-rê vẫn mỗi ngày tra xem Thánh Kinh xem lời giảng có thật hay chăng (Côngvụ 17:11)!

Người viết cũng không có ý bài bác sự kiện trong thực tế có nhiều người cảm nhận được ích lợi trong khi đọc tác phẩm PDL, và trong chính tác phẩm quả thật có nhiều ý tưởng tuyệt vời, hoàn toàn phù hợp với Thánh Kinh. Tuy nhiên, những điểm son đó không thể nào và không nên dùng để khỏa lấp sự nguy hiểm có thể phát sinh từ những sai lầm trong tác phẩm, ảnh hưởng lâu dài đến đời sống tâm linh của người đọc. Xin bạn đọc cùng suy ngẫm câu chuyện minh họa sau đây:

Có một gia đình kia, những đứa con xin cha cho đi xem một cuốn phim Cơ-đốc được Hội Thánh giới thiệu và ủng hộ. Người cha vốn tính cẩn thận, tìm xem những lời bình luận về cuốn phim đó và nhận thấy trong phim có vài cảnh và vài câu đối thoại không thích hợp với Cơ-đốc nhân nên ông từ chối yêu cầu của các con. Các con cứ nài nỉ và bảo rằng, toàn bộ cuốn phim rất là xây dựng, một vài cảnh, một vài câu đối thoại ra ngoài khuôn khổ không ảnh hưởng gì đến tính giáo dục và ích lợi của cuốn phim. Người cha im lặng, đi làm món bánh ngọt mà các con thích nhất dọn lên cho các con. Chờ cho các con đã vây quanh đĩa bánh và sửa soạn cầm bánh lên ăn, người cha nhỏ nhẹ thông báo: Cha báo cho các con biết là hôm nay cha đã dùng 99% vật liệu tốt nhất để làm món bánh này cho các con, chỉ có 1% vật liệu cha nghĩ là không tốt, nhưng không sao, các con cứ ăn, cha đoán là nó sẽ không ảnh hưởng gì. Những đứa con muốn biết 1% vật liệu không tốt đó là gì. Người cha cười, bảo: Ồ, không có gì quan trọng, chỉ là phân bò thôi! Sau câu nói đó, không một đứa con nào cầm bánh đưa lên miệng.

Thánh Kinh không dạy chúng ta chấp nhận lẽ thật trộn lẫn với sai lầm. Và, cho đến đời đời, Thánh Kinh là thẩm quyền tuyệt đối trong đời sống của thánh đồ.


Mục Tử
09.2005

Chú thích và tham khảo:

[1] Bản dịch Việt ngữ "Sống Theo Đúng Mục Đích" được ủng hộ, quảng cáo và phổ biến rộng rải trong các hội đồng thường niên của các giáo phái, của Liên Hữu Tin Lành Thế Giới (Vietnamese World Christian Fellowship, Inc.), trên các sách báo, websites Tin Lành, nhưng trong ấn bản không thấy đề tên người hoặc cơ quan phiên dịch, ấn loát, và phát hành.

[2] Sống theo đúng mục đích, Rick Warren; bản dịch Việt Ngữ không đề tên nhà xuất bản và năm phát hành, trang7.

 

Đọc Tiếp →

Trách Nhiệm Dịch Thuật Và Phổ Biến Một Tác Phẩm Trong Hội Thánh

Phê Bình Tác Phẩm "The Purpose Driven Life"

Lời Kêu Gọi:
Trách Nhiệm Dịch Thuật Và Phổ Biến Một Tác Phẩm Trong Hội Thánh

Copyright Notice:Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry – All Rights Reserved © 2006 Vietnamese Christian Mission Ministry, Inc. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức với điều kiện giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Mục Tử
Bấm vào đây để download bài viết này

[1272]

Phiên dịch các tác phẩm Cơ-đốc giáo, hợp với sự dạy dỗ của Thánh Kinh, về mọi thể loại sang Việt ngữ là một công tác đáng được khích lệ và nâng đỡ, vì đó là kho tàng của Hội Thánh chung, cần được quảng bá rộng rãi để mang lại phước hạnh cho con dân Chúa người Việt. Tuy nhiên, việc xác định đâu là những tác phẩm thật sự được Chúa ban phước và sử dụng, nâng đỡ đời sống tâm linh của con dân Chúa để đưa vào dịch thuật là một trọng trách mà người đảm nhận phải hết sức cẩn thận tìm kiếm sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh.

Không phải bất cứ một "best seller" nào hoặc tác phẩm do bất kỳ một nhân vật nỗi tiếng nào viết ra cũng đương nhiên là đúng với sự dạy dỗ của Thánh Kinh, mà tác phẩm đó cần phải được cẩn thận đối chiếu với Thánh Kinh. Người đứng ra giới thiệu, dịch thuật một tác phẩm có trách nhiệm đối với tâm linh của người đọc ngang bằng với tác giả. Nếu chúng ta đặt Chúa là trên hết trong mọi việc làm của chúng ta, ắt hẳn chúng ta sẽ rất cẩn thận trong việc giới thiệu anh chị em của mình với một tác phẩm.

Thời gian qua, hiện tượng "PDL" và "PDC" ("Purpose Driven Life" và "Purpose Driven Church") đã trở thành một cuộc tranh luận sôi nổi trong các giáo phái Cơ-đốc. Hiện tượng này phát sinh từ hai tác phẩm nổi tiếng bán chạy nhất hiện nay của Pastor Rick Warren: "Purpose Driven Life" và "Purpose Driven Church," với số ấn hành hàng chục triệu bản, được dịch ra hàng chục ngôn ngữ, được tiếp nhận và đưa vào học tập bởi hàng chục giáo phái, hàng ngàn Hội Thánh địa phương, và một số các nhóm Công Giáo, Mormon, lẫn New Age.

Tại Hoa Kỳ, hai tác phẩm này cũng đã được dịch ra Việt ngữ, phổ biến rộng rãi trong các hội đồng thường niên của Baptist cũng như C&MA, được nhiều mục sư Việt Nam ủng hộ và đưa vào học tập trong Hội Thánh, được cổ động, quyên góp tài chánh để phổ biến rộng rãi về Việt Nam.

Cuộc tranh luận về nội dung của hai tác phẩm "Purpose Driven Life" và "Purpose Driven Church," được dịch ra Việt ngữ là "Sống Theo Đúng Mục Đích" và "Hội Thánh Theo Đúng Mục Đích" đã nêu lên những điểm lệch lạc về thần học Thánh Kinh trong hai tác phẩm này, đồng thời nêu rõ thái độ tắc trách của Pastor Rick Warren đối với Lời Chúa khi ông dựa vào những bản dịch diễn ý sai lạc với ý chính của Thánh Kinh để bảo vệ quan điểm, luận cứ của mình trong hai tác phẩm nói trên.

Nhiều pastor Hoa Kỳ đã và đang tiếp tục lên tiếng cảnh giác Hội Thánh chung về những sai lầm trong hai tác phẩm "Purpose Driven Life" và "Purpose Driven Church" của Pastor Rick Warren. Phía mục sư Việt Nam tại Hoa Kỳ, cho đến nay, không thấy có một ai lên tiếng phê bình những sai lầm trong hai tác phẩm này và cách sử dụng Thánh Kinh tắc trách của tác giả.

Nếu những gì các pastor Hoa Kỳ dựa trên Thánh Kinh phê bình về hai tác phẩm "Purpose Driven Life" và "Purpose Driven Church" là đúng, thì xin quý mục sư Việt Nam làm ơn lên tiếng cảnh báo cho tín đồ người Việt biết và những người có trách nhiệm làm ơn chấm dứt ngay việc quảng bá hai tác phẩm này vào Hội Thánh Việt Nam. Nếu những gì các pastor Hoa Kỳ dựa trên Thánh Kinh phê bình về hai tác phẩm này là sai, thì xin quý mục sư Việt Nam vui lòng chứng minh cái sai của họ, để tín đồ yên tâm bồi linh với hai tác phẩm này.

Thiển nghĩ, đó là thiên chức của người chăn bầy.

Mục Tử
09.2005

Đọc Tiếp →