Những Lẽ Thật của Lời Chúa Đem Tôi Ra Khỏi Công Giáo

Phạm Đắc Quang

Trước đây tôi là người Công Giáo, một hôm đến thăm cô giáo hồi trung học, tôi được cô nói về Chúa và mời tôi đến dự buổi truyền giảng. Khi mục sư kêu gọi tôi lên tiếp nhận Chúa thì tôi nghĩ tôi đã tin Chúa rồi, trong đầu tôi luôn nhớ tới câu: "Chỉ có một Chúa, một đức tin, một phép báp-têm” Ê-phê-sô 4:6. Tôi nghĩ tôi tin vào Chúa, chỉ mình Ngài thôi và đã làm phép rửa nhân danh Ba Ngôi Đức Chúa Trời, chẳng có sự khác biệt nào cả giữa hai giáo hội.

Nhưng sau đó tôi vẫn tham gia một số buổi học Thánh Kinh và mượn sách về đọc, rất nhiều điều khác biệt dần xuất hiện. Tôi cố tìm lại và đọc giáo lý Giáo Hội Công Giáo và sách lịch sử Giáo Hội Công Giáo, thậm chí lên mạng để tìm hiểu “Tin Lành là gì?”

Trước tiên tôi nhận ra là giáo lý Công Giáo chỉ dưa trên một ít trên nền tảng Thánh Kinh còn phần lớn là dựa trên giáo luật, các sắc lệnh, hiến chế, tuyên ngôn. Đây rõ ràng là giáo lý của con người không đến từ Chúa, dù người ta luôn nói Thánh Kinh là lời của Chúa. Và người ta mỗi ngày đẻ ra thêm giáo lý, sắc lệnh mới chồng chất lên đến độ thành một bộ luật và phải học để được phong tiến sỹ luật hội thánh. Trong khi đó chính Lời Chúa là luật pháp người ta không học lại tự bày ra luật pháp để học với nhau và phong học vị cho nhau đến tiến sỹ.

Tạ ơn Chúa đã cứu tôi, Ngài đã làm mềm lòng để tôi đón nhận Chúa và đón nhận lời Ngài. Càng đọc Thánh Kinh tôi càng hiểu rõ về Chúa. Một điều làm tôi thức tỉnh là mọi người đều nói tin Chúa nhưng tin chúa là tin cái gì. Tôi được Chúa nhắc nhở trong Hê-bơ-rơ 11: "Vả, không có đức tin, thì chẳng hề có thế nào ở cho đẹp ý Ngài, vì kẻ đến gần Đức Chúa Trời phải tin rằng có Đức Chúa Trời, và Ngài là Đấng hay thưởng cho kẻ tìm kiếm Ngài”. Tin Chúa, đồng đi với Chúa, đến gần Ngài là tin Chúa thực hữu, thực tồn tại trên cuộc đời này và trong lòng mình, trên cuộc đời mình.

Một điều cơ bản nữa là tin vào chính Chúa chứ không phải vào tổ chức giáo hội con người. Chính Chúa là nền tảng, không phải là Phi-e-rơ hay một vị giáo chủ nào cả: “Hãy châm rễ và lập nền trong Ngài, lấy đức tin làm cho bền vững, tùy theo anh em đã được dạy dỗ, và hãy dư dật trong sự cảm tạ” Cô-lô-se 2:7. Hội Thánh cũng vậy nếu không đặt nền tảng chính Chúa, và chính Chúa làm đầu Hội Thánh thì Hội Thánh chỉ mỗi ngày đi lệch lạc con đường của Chúa và đánh mất đức tin vào Chúa mà thôi.

Tin vào Chúa tức là phải có mối tương giao với Chúa qua việc cầu nguyện. Đọc kinh và đi lễ không giúp ích gì, vì sau khi đi lễ và đọc kinh về người ta vẫn như cũ, vẫn phạm tội, vẫn độc ác với anh em, chỉ khi đọc Thánh Kinh được chính lời Chúa dạy bảo người ta làm theo thì mới có phước, làm thay đổi chính mình, trở nên giống Chúa hơn. Chỉ khi có mối tương giao với Chúa bằng việc cầu nguyện người ta mới nhận sức lực quyền năng của Chúa, mà tôi đang từng ngày cảm nghiệm và nghe ngóng Chúa phán bảo và nghe ngóng ơn phước Chúa xuống cho tôi. Theo tôi nghĩ, đức tin là một thực nghiệm, một sự cảm nhận phải thực hành phải cảm nhận chứ không phải học để biết về triết lý về các giá trị triết học mà tôi đã từng bị sa vào. Phải thực hành chứ không phải học để cho biết giáo lý ấy nói gì như người ta học triết học trong trường học.

Tôi học biết cách cầu nguyện, không phải cầu nguyện chỉ là xin ơn, nhưng trước tiên là tạ ơn, cảm tạ về tất cả những gì Chúa ban cho mình, dù là thuận cảnh hay nghịch cảnh, cầu thay cho mọi người sau đó là trình dâng những nhu cầu, những nan đề cho Chúa, xin Chúa giải quyết. Chính việc cầu nguyện là nói chuyện, trình dâng và phó thác công việc của mình cho Chúa, là bí quyết giúp tôi biết cầu nguyện, giúp tôi cầu nguyện khắp mọi nơi, lúc nào tôi cũng có thể cầu nguyện được.

Chính lời Chúa làm thay đổi cuộc đời, thay đổi suy nghĩ lối sống, tôi vui vẻ và bình an,vì nếu không đọc Thánh Kinh thì tôi chưa biết về sự dạy dỗ của Chúa; nhưng lời Chúa đã được ghi vào trong lòng mình, khiến tôi phải dè chừng không dám phạm tội. Những lúc yếu lòng muốn làm những điều theo xác thịt tôi nghĩ giá mà tôi không biết gì về lời Chúa thì có phải sung sướng không, nhưng chính lời Chúa và ơn Chúa đã kéo tôi trở lại.

Chính lúc làm theo lời Chúa tôi được bình an, đôi lúc có những ứng xử xã hội vì theo lời Chúa tôi phải thiệt thòi, nhưng tôi luôn nghĩ không phải cái tức thời nhưng là cái mai hậu Chúa sẽ ban cho tôi điều khác, Chúa sẽ ban cho tôi hơn cả những cái người ta lấy đi hay làm hại tôi và hơn hết đó là phần thưởng nước trời.

Chính lúc tôi tìm kiếm Chúa trong lời Ngài, tôi được chính lời Chúa giải đáp trước là cho tôi và sau nữa là cho gia đình tôi lý do tại sao tôi lại bỏ đạo, tức là bỏ Đạo Công Giáo.

Tôi xin xác quyết là tôi không bỏ Chúa nhưng tôi từ bỏ giáo hội tự xưng là giáo hội của Chúa nhưng không làm theo lời Chúa.

Chính lúc đọc Thánh Kinh tôi mới tránh việc thờ hình tượng mà trong Mười Điều Răn Giáo Hội Công giáo bỏ đi điều thứ hai và tách điều thứ mười thành hai điều cho đủ mười điều răn, Xuất Ê-dip-tô ký 20:3-17. Người Công Giáo không đọc Thánh Kinh, chỉ được nghe một khúc hay một đoạn ngắn trong Thánh Kinh mà thôi chứ không đọc toàn bộ cuốn Thánh Kinh. Mà Thánh Kinh là giao ước, có ai ký hợp đồng mà không đọc kỹ từng chữ, từng điều khoản không, có ai phân tích một tác phẩm văn học mà không đọc toàn bộ tác phẩm thì mới phân tích, đánh giá hay nhận xét . Nếu chỉ đọc một đoạn thì sẽ chỉ là những đánh giá thiên kiến, thiếu sót và sai lạc nữa.

Sau đây là những điều tôi tìm thấy trong lời Chúa đã giải đáp thắc mắc về niềm tin của tôi.

I. ĐỐI VỚI CHÚA

1. Chỉ có Chúa Jesus Christ là đấng trung gian giữa Thiên Chúa và con người:

“Chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung Bảo ở giữa Đức Chúa Trời và loài người, tức là Đức Chúa Jesus Christ”.1 Ti-mô-thê 2,5

“Đức Chúa Jesus Christ là Đấng đã chết, và cũng đã sống lại nữa, Ngài đang ngự bên hữu Đức Chúa Trời, cầu nguyện thế cho chúng ta” Roma 8,34

Phải gắn kết với Chúa không phải con người

“Ta là cây nho, các con là cành. Ai cứ ở trong Ta, và Ta trong người ấy thì sinh ra nhiều quả, vì ngoài Ta các con không làm gì được”. Giăng 5,15

“Hãy đâm rễ, lập nền trong Ngài, hãy mạnh mẽ trong đức tin như anh em đã được dạy dỗ, và càng gia tăng trong sự cảm tạ”. Cô-lô-se 2, 7

“Anh em phải kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em, phục vụ Ngài, gắn bó với Ngài và nhân danh Ngài mà thề nguyện”. Phục truyền luật lệ ký 10, 20 ; 11,22 ; 13,4

Chỉ có Chúa là Đấng cứu rỗi duy nhất

“Chẳng có sự cứu rỗi trong Đấng nào khác, vì ở dưới trời chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta nhờ đó mà được cứu”. Công vụ các sứ đồ 4, 12

Không được thờ lạy bất cứ loài thọ tạo nào, kể cả thiên sứ, không thờ hình tượng, dù là hình tượng Chúa vì không ai thấy Chúa

“Con không làm cho mình một hình tượng nào theo hình dạng của những vật trên trời cao, hoặc trong nước dưới mặt đất. Con không được cúi lạy trước các hình tượng đó hay phụng thờ chúng…”. Xuất Ai Cập ký 20, 4-5

“Họ đã đổi vinh quang của Đức Chúa Trời bất diệt để lấy hình tượng của loài người hư nát, hoặc của chim muông, thú vật, hay loài bò sát”. Rô-ma 1,23

“Đừng để bị lừa mà mất phần thưởng bởi những kẻ cố làm bộ khiêm nhường và thờ lạy các thiên sứ”. Cô-lô-se 2, 18

“Họ không liên hệ chặt chẽ với Đầu để nhờ Ngài mà toàn thân được nuôi dưỡng, được kết hợp với nhau bởi những khớp xương, dây liên kết, và tăng trưởng theo ý muốn của Đức Chúa Trời”. Cô-lô-se 2,19

“Tôi phủ phục dưới chân thiên sứ để thờ lạy, nhưng thiên sứ bảo: “Đừng làm như vậy, ta là bạn đồng lao với ngươi và các anh em ngươi, là những người giữ lời chứng của Đức Chúa Jesus. Hãy thờ lạy Đức Chúa Trời. Vì lời chứng của Đức Chúa Jesus là tinh thần của lời tiên tri”. Khải huyền 19,10

“Vậy, đã là dòng dõi của Đức Chúa Trời, thì chúng ta đừng nghĩ rằng Đấng thiêng liêng giống như hình tượng bằng vàng, bạc, hay đá do nghệ thuật và trí tưởng tượng của con người làm ra”. Công vụ các sứ đồ 17,29

“Chớ làm cho mình một hình tượng mang hình ảnh của bất cứ vật gì mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã cấm anh em. Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời  của anh em là một đám lửa thiêu đốt và là Đức Chúa Trời kỵ tà”. Phục truyền luật lệ ký 4, 23-24

“Vì anh em không thấy một hình dạng nào trong ngày Giê-hô-va Đức Chúa Trời phán với anh em từ giữa đám lửa tại Hô-rếp”. Phục truyền luật lệ ký 4, 15

2. Chỉ có Kinh Thánh có thẩm quyền tối thượng

Vì là Lời của Đức Chúa Trời

“Cả Kinh Thánh đều được Đức Chúa Trời cảm thúc, có ích cho sự dạy dỗ, khiển trách, sửa trị và huấn luyện trong sự công chính”. 2 Ti-mô-thê 3,16

“Vì không có lời tiên tri nào đến bởi ý người, nhưng người ta được Đức Thánh Linh cảm thúc nói ra từ Đức Chúa Trời”. 2 Phi-e-rơ 1, 21

“Vì lời của Đức Chúa Trời là lời sống động và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, xuyên thấu đến nỗi phân chia hồn với linh khớp với tủy, phán đoán các tư tưởng  và ý định trong lòng”. Hê-bơ-rơ 4,12

“Lấy lòng nhu mì tiếp nhận lời đã trồng trong lòng anh em, là lời có thể cứu chuộc linh hồn anh em”. Gia-cơ 1,21b

“Anh em được tái sinh không phải bởi hạt giống dễ hư hoại nhưng bởi hạt giống không hề hư hoại, đó là lời hằng sống và bền vững của Đức Chúa Trời” 1Phi-e-rơ 1,23

“Lời Chúa tồn tại đời đời. Lời đó là tin lành đã được công bố cho anh em” 1Phi-e-rơ 1,25

Truyền thống tông đồ chỉ xuất phát từ các tông đồ là những người  được chọn bởi chính Chúa Giêsu Cơ đốc, truyền thống này chỉ có thể tìm thấy trong Kinh Thánh và được viết bởi các tông đồ:

“Tôi khen anh em vì hay nhớ đến tôi trong mọi dịp, và lấy lòng trung tín mà giữ những điều tôi đã dạy dỗ anh em”1 Cô rinh tô 2, 5

“Nhưng nếu có ai, hoặc chính chúng tôi, hoặc thiên sứ trên trời truyền cho anh em một tin lành nào khác với tin lành chúng tôi đã truyền cho anh em , thì người ấy đáng bị nguyền rủa” Ga la ti 1, 8

“Hỡi anh em, vậy thì hãy đứng vững, hãy vâng giữ những điều dạy dỗ mà chúng tôi đã truyền cho anh em, hoặc bằng lời nói, hoặc bằng thơ từ của chúng tôi” 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2,15

Giáo hoàng không phải là tông đồ của Chúa Giêsu: Sứ đồ là người cùng sống với Chúa và dấu hiệu một sứ đồ là làm phép lạ.

“Vậy trong những người từng ở với chúng ta trong suốt thời gian Chúa là Đức Chúa Jesus đi lại giữa chúng ta”. Công vụ 1,21

“Những dấu hiệu của một sứ đồ đã được thể hiện giữa anh em rồi: nào là sự chịu đựng, nào là các dấu lạ, các phép màu, và các quyền năng” 2 Cô-rinh-tô 12,12

Giáo huấn của giáo hòang không có thẩm quyền tông đồ, vì Kinh Thánh là giao ước không ai được thêm vào hay bớt đi, và đức tin truyền cho các sứ đồ một lần đủ cả không thêm hay bớt điều gì cả.

“Khi một giao ước đã được lập dù là của con người, thì không một ai được quyền hủy bỏ hay thêm bớt điều gì”. Ga-la-ti 3, 15

“Anh em đừng thêm, đừng bớt điều gì mà tôi truyền cho anh em, nhưng phải giữ các điều răn của Giê-hô-va Đức Chúa Trời mà tôi đã truyền cho anh em”. Phục truyền luật lệ ký 4, 2
“Tôi nghĩ cần viết để khích lệ anh em chiến đấu vì đức tin, là đức tin truyền cho các thánh đồ một lần đủ cả”. Giu-đê 1,3

“Đây là thư thứ hai tôi viết cho anh em…để khắc ghi những lời tiên báo của các nhà tiên tri thánh cũng như những điều răn của Chúa và cứu Chúa  chúng ta do các sứ đồ truyền lại”. 2 Phi-e-rơ 3,1-2

“Về phần các con, hãy giữ điều các con đã nghe từ ban đầu ở trong các con. Nếu điều đã nghe từ ban đầu luôn ở trong các con thì các con sẽ ở trong Con và trong Cha”. 1 Giăng 2, 24

“Nếu ai thêm gì vào những lời này, thì Đức Chúa Trời sẽ thêm cho người ấy những tai họa đã ghi trong sách này. Còn nếu ai bớt điều gì trong các lời của sách tiên tri này, thì Đức Chúa Trời sẽ cất lấy phần của người ấy về cây sự sống và thành thánh đã được ghi trong sách này” Khải huyền 22,12

Chúa có giao quyền tha tội cho các sứ đồ không theo Giăng 20, 23: Quyền công bố phúc âm là nếu ai tin thì họ được cứu và ai không tin thì tội lỗi họ không được tha và họ đã từ chối sự sống đời đời.

“Hầu cho bởi đức tin nơi ta, họ nhận được sự tha tội và hưởng phần gia tài cùng với các thánh đồ” Công vụ các sứ đồ 26, 18b

“Nhưng vì anh em đã từ chối, và tự xét mình không xứng đáng nhận sự sống đời đời”. Công vụ các sứ đồ 13, 46

“Ai tin Con thì được sự sống đời đời, ai không tin Con  thì chẳng kinh nghiệm được sự sống đâu, nhưng cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người ấy”. Giăng 3,36

Chúa ban cho Hội Thánh quyền buộc và mở trong Ma-thi-ơ 18,18; Mt 16,19: Theo Ma-thi-ơ 18 câu 15 đến 17 nói rõ về cách xử lý với anh em phạm tội. Nếu họ có lỗi thì gặp riêng nói cho họ biết , nếu không nghe thì gọi thêm một hai người nữa , nếu lại không nghe thì trình với hội thánh, nếu còn không nghe nữa thì hãy xem như người ngoại và kẻ thu thuế. Đó là quyền xử sự với anh em phạm lỗi. Các sứ đồ đã thi hành quyền này được ghi lại trong Kinh Thánh là tùy theo tội nhân ăn năn hay không ăn năn sau khi khuyên bảo kẻ theo tà giáo một hai lần rồi thì lánh họ, phó cho quỉ sa tan, người như thế thì tự đoán xét mình và coi như kẻ chưa tin Chúa . Chìa khóa nước trời trong câu 19 có nghĩa là giao giảng tin lành, phúc âm, vì Chúa quở trách người Pha-ri-si :”Vì các ngươi đóng cửa thiên đàng trước mặt người ta; chẳng những chính các ngươi đã không vào mà lại còn ngăn cản những ai muốn vào nữa”. Ma-thi-ơ 23, 13.

“Vì có kẻ ăn nằm với vợ kế của cha mình…tôi đã lên án kẻ làm điều ấy, như thể tôi đang có mặt tại đó….Chúng ta phó kẻ như thế cho satan hủy hoại phần thân xác để phần tâm linh được cứu trong ngày của Chúa”. 1 Cô-rinh-tô 5, 1-5

“Có người vì đã chối bỏ lương tâm đó mà sụp đổ đức tin, trong số đó có Hy-mê-nê và A-léc-xan-đờ-ri-a mà ta đã phó mặc cho satan để họ học tập đừng phạm thượng nữa”. 1 Timô-thê 1, 19-20

“Sau khi đã khiển trách kẻ kẻ gây bè phái một đôi lần rồi thì hãy xa lánh họ, vì con biết rằng kẻ cứ lầm lạc và phạm tội như thế, thì đã tự kết án mình rồi”. Tít 3,10-11

Chúa lập hội thánh trên nền tảng nào?: Trên lời tuyên xưng của Phi-e-rơ” Thầy là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời hằng sống” Ma-thi-ơ 6, 15:

“Vì chẳng ai có thể đặt một nền móng khác, ngoài nền đã được đặt là Đức Chúa Jesus Christ”. 1 Cô-rinh-tổ, 11

“Ngài là đầu của thân thể, tức là hội thánh”. Cô-lô-se 1, 18

“Cũng như đấng Christ là đầu hội thánh, Hội Thánh là thân thể Ngài và chính Ngài là cứu Chúa của Hội Thánh”. Ê-phê-sô 5,23

“Hòn đá bị thợ xây loại ra đã trở nên đá góc nhà” 1 Phi-e-rơ 2, 7

“Tất cả  cùng uống một thức uống thiêng liêng, vì họ uống nơi một tảng đá thiêng liêng đi với họ, tảng đá ấy chính là Đấng Christ’ 1 Cô-rinh-tô 10, 4

“Ngài là hòn đá bị các ông là những thợ xây nhà loại ra, nhưng lại trở nên hòn đá góc nhà”. Công vụ các sứ đồ 4, 11

“Anh em được xây dựng trên nền các sứ đồ và các nhà tiên tri mà chính Đấng Christ Jesus là đá góc nhà” E-phê-sô 2, 20

Chúa là đá tảng:

Phục truyền 32,4 ; 32, 18
Samuen 23,3
Thi thiên 18, 31 ; 42,9 ; 62,2 ; 78,35 ; 95,1
Ha ba cuc 1,12
Esai 28,16

3. Chỉ có đức tin con người được cứu

Sự cứu rỗi là sự ban cho không của Đức Chúa Trời không do công đức của người ta.

“Vì nhờ ân điển, bởi đức tin mà anh em được cứu, điều này không đến từ anh em mà là tặng phẩm của Đức Chúa Trời, cũng không do việc làm của anh em, để không ai có thể tự hào”. Ephê-sô 2, 8-9

“Anh em nào muốn được xưng công chính bởi luật pháp thì đã lìa khỏi Đấng Christ, đánh mất ân điển rồi”. Ga-la-ti 5,4

“Vì chúng ta tin rằng  một người được xưng công chính  bởi đức tin  chứ không bởi việc làm theo pháp luật” Rô-ma 3,28.

“Hết thảy  các đấng tiên tri đều làm chứng nầy về Ngài rằng hễ ai tin Ngài thì được sự tha tội vì danh Ngài”. Công vụ các sứ đồ 10,43

“Vậy hỡi anh em , khá biết rằng nhờ Đấng đó mà sự tha tội được rao truyền cho anh em, lại nhờ Ngài mà hễ ai tin thì được xưng công chính về mọi điều theo theo luật pháp Môi-se chẳng có thể được xưng công chính”. Công vụ các sứ đồ 13,38-39

“Ngài chẳng phân biệt chúng ta với người ngoại đâu, vì đã lấy đức tin khiến cho long họ tinh sạch” Công vụ các sứ đồ 15, 9

“Chúng ta tin rằng  nhờ ơn Đức Chúa Jesus, chúng ta được cứu cũng như người ngoại vậy”. Công vụ các sứ đồ 15,11

“Vì chẳng có một người nào bởi việc làm theo luật pháp mà được kể là công chính trước mặt Ngài, vì nhờ luật pháp ngưới ta nhận biết tội lỗi”. Rô-ma 3,20

“Vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất vinh quang của Đức Chúa Trời, nhờ ân điển Ngài, bởi sự cứu chuộc trong Đấng Christ Jesus, họ được xưng công chính mà không phải trả một giá nào. Đức Chúa Trời đã lập Ngài làm sinh tế chuộc tội cho những ai có đức tin trong  Ngài”. Ro-ma 3,23-25

“Vì Đấng Christ là sự cuối cùng của luật pháp, để mọi người tin đều được xưng công chính”. Rô-ma 10,4

“Vậy nếu miệng anh em xưng Đức Chúa  Jesus là Chúa, và lòng anh em tin rằng  Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ cõi chết sống lại thì anh em sẽ được cứu. Vì ai tin trong lòng thì sẽ được xưng công chính, ai tuyên xưng nơi miệng thì được cứu rỗi”. Rô-ma 10, 9-10

“Chúng tôi biết rằng một người được xưng công chính không phải nhờ vào những công việc của luật pháp mà bởi đức tin trong Đức Chúa Jesus Christ” Ga-la-ti 2, 16

“Không phải bởi việc công chính chúng ta đã làm, nhưng bởi lòng thương xót của Ngài, qua việc thanh tẩy của sự tái sinh và đổi mới của Đức Thánh Linh, là Đấng mà Ngài đã tuôn đổ dồi dào trên chúng ta bởi Đức Chúa Jesus Christ, Cứu Chúa chúng ta, để chúng ta nhờ ân điển Ngài mà được xưng công chính, trở nên người  thừa kế niềm hy vọng  về sự sống đời đời" Tit 3,5-7

“Đức Chúa Trời đã cứu chúng ta, đã gọi chúng ta bằng sự kêu gọi thánh, không phải do việc làm của chúng ta, nhưng theo mục đích riêng của Ngài và ân điển mà Ngài ban cho chúng ta từ muôn đời trước trong Đấng Christ Jesus”. 2 Ti-mô-thê 1, 9

Không phải ai tin vào Chúa rồi cứ phạm tội mà được cứu: Vì con cái của Đức Chúa Trời thì không phạm tội và người thuộc về Chúa thì không làm điều bất chính

“Ai do Đức Chúa Trời sinh ra thì không phạm tội, vì hạt giống của Đức Chúa Trời ở trong người ấy, người ấy không thể cứ phạm tội vì đã được Đức Chúa Trời sinh ra” 1 Giăng 3,9

“Chúa biết những người thuộc về Ngài và người nào kêu cầu danh Chúa thì phải tránh xa điều bất chính” 2 Ti-mô-thê 2,19

Làm việc lành vì nhờ việc lành mà đức tin được trọn. Đức tin không có hành động là đức tin chết. Đức tin cần được thể hiện bằng hành động, không phải làm việc công đức để mua chuộc nước trời mua sự cứu rỗi của Chúa. Chính Chúa sẽ thấy hành động của con người có xuất phát từ tấm lòng không hay là hành động giả hình để được khen ngợi. Nếu nhờ cậy vào việc công đức thì tự từ chối ân điển cứu chuộc của Chúa Jesus rồi.

“Chẳng phải Ap-ra-ham, tổ phụ chúng ta, đã được xưng công chính bởi hành động khi ông  dâng con mình là I-sác trên bàn thờ sao?”. Gia-cơ 2,21

“Đức tin đi đôi với hành động, và nhờ hành động mà đức tin trở nên trọn vẹn”. Gia-cơ 2,22

“Cũng vậy, chẳng phải kỹ nữ Ra-háp đã được xưng công chính bởi hành động , khi bà tiếp rước các sứ giả và đưa họ đi bằng một con đường khác sao?”. Gia-cơ 2,24

“Đức tin cũng vậy, nếu đức tin không có hành động thì tự nó chết”. Gia-cơ 2,17

“Anh em thấy đó, người ta được xưng công chính bởi hành động chứ không chỉ bởi đức tin mà thôi”. Gia-cơ 2,24

Chúng ta được cứu nhờ ân điển của Chúa. Chúng ta được thưởng hay bị phạt do những điều chúng ta đã làm ở trên đất

“Vì nhờ ân điển, bởi đức tin mà anh em được cứu, điều này không đến từ anh em mà là tặng phẩm của Đức Chúa Trời, cũng không do việc làm của anh em, để không ai có thể tự hào” Ê-phê-sô 2, 8-9

“Vì tất cả chúng ta đều phải trình diện trước tòa án Đấng Christ để mỗi người nhận lãnh tùy theo điều thiện hoặc ác mình đã làm lúc còn trong than xác” 2 Cô-rinh-tô 5, 10

“Nầy ta đến mau chóng, đem phần thưởng theo với ta, để thưởng cho mỗi người tùy theo việc họ đã làm” Khải huyền 22,12

4. Chỉ do ân điển của Chúa con người được cứu

Chỉ có Chúa là Đấng tha tội, nhờ ân điển của Ngài mà ta được tha tội, được cứu, được chữa lành.

“Còn nếu chúng ta xưng tội mình thì Ngài là thành tín công chính sẽ tha tội cho chúng ta và tẩy sạch chúng ta khỏi mọi điều bất chính”. 1 Giăng 2,9

“Nếu chúng ta bước đi trong ánh sáng, cũng như chính Ngài ở trong ánh sáng, thì chúng ta được tương giao với nhau, và huyết của Đức Chúa Jesus, Con Ngài, tẩy sạch mọi tội lỗi chúng ta” 1 Giăng 1,7

“Hỡi các con bé nhỏ của ta, ta viết cho các con những điều này để các con không phạm tội. Nhưng nếu có ai phạm tội thì chúng ta có Đấng biện hộ với Đức Chúa Cha là Đức Chúa Jesus Christ, Đấng công chính. Chính Ngài là tế lễ chuộc tội chúng ta, không những vì tội của chúng ta mà thôi, nhưng còn vì tội  của cả thế gian nữa” 1 Giăng 2, 1-2

“Tât cả các nhà tiên tri đêu làm chưng răng ai tin Ngài thì nhơ danh Ngài đươc tha tôi”Công vụ các sư đô 10,43

“Không phải nhờ vào những vật dễ hư hoại như bạc hoặc vàng, mà anh em được chuộc khỏi lối sống phù phiếm từ tổ tiên mình truyền lại, nhưng bởi huyết báu của Đấng Christ, như huyết  của Chiên Con không khuyết tật, không tì vết đã được định sẵn từ trước khi tạo dựng vũ trụ” 1 Phi-e-rơ 1, 18-20

“Sao người này nói như vậy? Thật là phạm thượng! Ngoài Đức Chúa Trời , còn ai có thể tha tội được?” Mác 2,7

“Vì trong Đấng Christ, chúng ta được cứu chuộc bởi huyết Ngài, được tha tội theo sự phong phú ân điển Ngài” E-phê-sô 1, 7

“Hãy ăn năn, mỗi người phải nhân danh Đức Chúa Jesus nhận báp-têm để được tha tội mình rồi sẽ nhận lãnh quà tặng là Đức Thánh Linh”. Công vụ các sứ đồ 2, 38

“Anh em đã bởi phép báp têm được chôn với Ngài, thì cũng được sống lại với Ngài bởi đức tin trong quyền phép của Đức Chúa Trời, là Đấng đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại….vì đã tha thứ hết mọi tội lỗi chúng ta”. Cô-lô-se 2, 12-13

“Vậy, hãy ăn năn việc ác của anh và cầu nguyện với Chúa, để may ra Ngài sẽ tha thứ ý tưởng ấy trong lòng anh” Công vụ các sứ đồ 8, 22

“Con đã thú tội cùng Chúa, không giấu gian ác con; Con nói:” Con sẽ xưng các sự vi phạm con với Đức Giê-hô-va, và Chúa tha tội cho con”. Thi thiên 32,5

“Ngài có thể cứu toàn vẹn  những người nhờ Ngài mà đến gần Đức Chúa Trời, vì Ngài hằng sống để cầu thay cho những người ấy”. Hê-bơ-rơ 7, 25

“Ngài dâng chính mình Ngài làm sinh tế  một lần đủ cả” Hê-bơ-rơ 7, 27

“Ngài đã bước vào nơi Chí Thánh một lần đủ cả, không dâng máu dê đực và bò con, nhưng dâng chính huyết mình để đem đến sự cứu chuộc đời đời cho chúng ta”. Hê-bơ-rơ 9,12

“Ngài mang tội lỡi chúng ta trong thân thể Ngài trên cây gỗ, để chúng ta chết đối với tội lỗi và sống cho sự công chính, nhờ những vết thương của Ngài mà mà anh em được chữa lành” 1 Phi-e-rơ 2,24

Ân điển cứu những ai tin Ngài khi còn đang sống ở trên đất, khi chết hoặc xuống âm phủ hoặc lên thiên đàng, không có luyện ngục, những người còn sống trên đất không thể dùng công đức để mua chuộc sự cứu rỗi cho người thân ở âm phủ.

“Qủa thật, ta nói cùng ngươi, hôm nay ngươi sẽ được ở với ta trong nơi pa-ra-đi”Lu-ca 23,43

“Kẻ nào không được biên vào sách sự sống đều bị ném xuống hồ lửa”. Khải huyền 20,15

“Đọan, sự chết và âm phủ bị quăng xuống hồ lửa. Hồ lửa là sự chết thứ hai”. Khải huyền 20,10

“Như mây tan và biến mất, người xuống âm phủ không còn trở lên được nữa. Họ không trở về nhà mình nữa, nơi họ ở chẳng còn ai biết đến”. Gióp 7,9-10

“Họ sẽ chẳng bao giờ được dự phần gì trong mọi việc xảy ra dưới ánh mặt trời”. Truyền đạo 9,6

“Hơn nữa, có một vực sâu lớn được phân định giữa chúng ta với con đến nỗi ai muốn từ đó qua đây cũng không được”. Lu-ca 16,26

“Không ai chuộc được anh em mình hoặc trả giá chuộc người ấy nơi Đức Chúa Trời”. Thi thiên 49, 7

“Vì giá chuộc mạng sống quá đắt, người ấy không thể trả nổi”. Thi thiên 49, 9

II. ĐỐI VỚI ANH EM: Nếp sống của tín đồ

1. Hãy bỏ con người cũ mặc lấy con người mới

“Chớ nói dối nhau vì đã lột bỏ người cũ cùng các công việc của nó mà mặc lấy người mới, là người đang được đổi mới trong nhận thức theo hình ảnh Đấng tạo dựng người ấy”
Co-lo-se 3, 9-10

“Chớ lấy ác trả ác cho ai, phải chăm tìm điều thiện trước mặt mọi người. Nếu có thể được, thì hãy hết sức mình mà hòa thuận với mọi người. Hỡi kẻ rất yêu dấu của tôi ơi, chính mình chớ trả thù ai, nhưng hãy nhường  cho cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời, vì có chép lời Chúa phán rằng: Sự trả thù thuộc về ta, ta sẽ báo ứng” Rô-ma 12,17-19

“Phàm những kẻ tà dâm, kẻ thờ hình tượng , kẻ ngoại tình, kẻ làm dáng điệu, kẻ đắm nam sắc, kẻ trộm cướp, kẻ hà tiện kẻ say sưa, kẻ chửi rủa, kẻ chắt bóp đều chẳng được hưởng nước Đức Chúa Trời đâu”. 1 Cô-rinh-tô 6, 10

“Phải bỏ khỏi anh em những sự cay đắng, buồn giận, tức mình, kêu rêu, mắng nhiếc, cùng mọi điều hung ác. Hãy ở với nhau cách nhân từ, đầy dẫy long thương xót, tha thứ nhau như Đức Chúa Trời đã tha thứ anh em trong Đấng Christ vậy”. Ê-phê-sô 4,31-32

“Đừng say rượu , vì rượu xui cho luông tuồng, nhưng phải đầy dẫy Đức Thánh Linh”. Ê-phê-sô 5,18

“Chớ dùng men cũ là men hiểm độc và gian ác, mà hãy dùng bánh không men của sự thành thật và chân lý” 1 Cô-rinh-tô 5,8

2. Mặc lấy con người mới

“Trái của Thánh Linh là yêu thương, vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, khiêm nhu, tiết độ”. Ga-la-ti 5,22

“Hãy  vui mừng trong hy vọng, kiên nhẫn trong hoạn nạn, bền lòng mà cầu nguyện” Ro-ma 12,12

“Vì trái của ánh sáng là mọi điều nhân từ, công chính và chân thật” Ê-phê-sô 5,9

“Hãy bước đi trong sự yêu thương “ Ê-phê-sô 5, 2

“Đừmg làm điều gì vì lòng ích kỷ, hoặc vì hư vinh, nhưng hãy khiêm nhường, xem người khác như tôn trọng hơn mình”. Phi-líp 2, 3

“Chúa biết những ai thuộc về Ngài và người nào kêu cầu danh Ngài thì phải tránh xa điều bất chính” 2 Ti-mô-thê 2,19

“Mọi người phải mau nghe, chậm nói, chậm giận, vì cơn giận của loài người không thực hiện sự công chính của Đức Chúa Trời”. Gia-cơ 1,19-20

“Vậy, hãy loại bỏ mọi điều ô uế và gian ác đang lan tràn, lấy long nhu mì tiếp nhận lời đã trồng  trong anh em , là lời có thể cứu chuộc anh em”. Gia-cơ 1,21

“Ai không vấp phạm trong lời nói, đó là người trọn vẹn, có thể kiềm chế được cả thân thể mình”. Gia-cơ 3,2

“Đức Chúa Trời chống cự kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ân điển cho người khiêm nhường’ Gia-cơ 4,6

“Đức Chúa Trời chống cự kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho người khiêm nhường” 1 Phi-e-rơ 5,5

“Khi bị nguyền rủa, Ngài không nguyền rủa lại, lúc chịu đau khổ, Ngài không hề hăm dọa, nhưng phó thác chính mình cho Đấng phán xét công minh “. 1 Phi-e-rơ 2, 23

“Đừng phiền trách nhau, để anh em khỏi bị đoán xét, kìa Đấng phán xét đang đứng trước cửa”. Gia-cơ 5,9

“Đừng nói xấu nhau”. Gia-cơ 4,11

“Vậy, ai biết điều tốt cần phải làm mà không làm, thì phạm tội”. Gia-cơ 4,17

“Đừng thề gì hết” Ma-thi-ơ 5,34

“Đừng xét đoán ai để các con khỏi bị xét đoán. Vì các con xét đoán họ thế nào thì họ cũng xét đoán các con thế ấy, các con lường cho họ mực nào thì họ sẽ lường cho các con mực ấy’ Ma-thi-ơ 7,1

“Phải khiêm nhường đến điều, mềm mại đến điều, phải nhịn nhục, lấy lòng thương yêu mà chiều nhau, dùng dây hòa bình mà giữ gìn sự hiệp một của Thánh Linh”. E-phê-sô 4,2

“Đừng chống cự kẻ ác. Trái lại, nếu ai vả má bên phải, hãy đưa luôn má bên kia cho người ấy, nếu ai muốn kiện con để lấy áo ngoài, hãy cho người ấy luôn áo trong; Nếu ai bắt con đi một dặm, hãy đi với người ấy hai dặm. Ai xin, hãy cho, ai mượn của con thì đừng từ chối. Ma-thi-ơ 5, 39-42

“Hãy thương yêu kẻ thù nghịch, và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các con” Ma-thi-ơ 5, 44

“Nếu các con tha lỗi cho người ta, thì Cha các con ở trên trời cũng sẽ tha thư cho các con” Ma-thi-ơ 6, 14

“Khi con làm việc từ thiện, đừng cho tay trái biết tay phải làm gì để việc từ thiện con được kín đáo, và Cha con, Đấng thấy trong nơi kín đáo, sẽ ban thưởng cho con” Ma-thi-ơ 6, 3-4

“Mọi người phải vâng phục các đấng cầm quyền trên mình, vì chẳng có quyền nào mà không đến bởi Đức Chúa Trời, các quyền bởi Đức Chúa Trời chỉ định”. Ro-ma 13, 1

“Hãy trả cho mọi người điều mình mắc nợ: nộp thuế cho kẻ mình phải nộp, đóng lợi tức cho người mình phải đóng, sợ kẻ mình phải sợ, tôn trọng người đáng tôn trọng” Rô-ma 13, 7

“Đừng mắc nợ ai điều gì, ngoại trừ món nợ yêu thương nhau, vì ai yêu người lân cận mình là đã làm tr

Đọc Tiếp →

A Catholic Nun’s Testimony

Quý bạn đọc có thể dùng Google Translate để dịch bài viết sau đây sang tiếng Việt: http://translate.google.com/#en|vi|

A Nun's Testimony

by
Sister Charlotte Keckler

        I was reared in a devout Roman Catholic home and, although our home contained many religious items, we never had a Bible there. Consequently, I never heard of God's wonderful plan of salvation by faith in the Lord Jesus. No one ever explained to me that I only had to invite Him into my heart and ask Him to save me from all my sins to be born again (Revelation 3:20). Instead, I only knew what I was taught in the catechisms and in the institution which we attended faithfully.
        Unknown Object
        I had a deep love and devotion to the God I did not really know personally and I yearned to give my life to Him completely. According to the teaching I received, the way to do this was to become a nun and enter a convent. My parish priest pressed this idea on me as did the nuns who taught in my parochial school.

        How well I remember the day two nuns from my school accompanied me home. The parish priest joined them there for a conference with my father and mother. In my family, children did not interrupt grown-ups but asked to speak. When given permission I told my father simply, "Dad, I want to go into the convent." Both parents wept for joy at this because they had been thoroughly indoctrinated to believe that to give a child to the convent in this matter was a great service to God.

        They were thrilled that one of their girls had decided to give her life to the convent in order to pray for lost humanity. It was all so exciting and religious, and none of us had any idea what was involved or implied in all this. Tragically, both my parents and I had been cleverly manipulated by carefully trained recruiters, representatives of the Roman Catholic system, whom we trusted. Not for one moment did we suspect the deception, lies and horror which lay behind the convent doors. We believed what we had been taught. Like sheep we were led to the slaughter, totally unaware of the fate planned for us.

        Twelve months went by and the year 1910 came, when I was to leave home. My mother and I busied ourselves with preparations. The priest said that they had no place for me near home; therefore, my parents had to take me a thousand miles crosscountry to enter me in the convent boarding school. I was then three months from my thirteenth birthday, an immature child, being snatched from my parents at a critical time in my growing up.

        Never had I been away from my parents, not even overnight. When they left after staying with me for three days, I was smitten with an aching loneliness and homesickness. In all of the planning for the move, I didn't really realize that I was going to be separated from my parents, never to see them again. I was miserable and unhappy.

        Catholic priests select children at the confessional box and begin to plant the seed to steer them into the convents and the priesthood. Even when I was seven, I would go immediately to the statue of the Virgin Mary when I entered the church to pray, believing she would help me to make a good confession. My childish heart was very honest and the priest always heavily emphasized the absolute necessity of making a good confession. We could keep back nothing if we expected absolution from our sins.

        I entered what was classified as a sister of the open order, until I took my white veil at the age of sixteen and one half. Everything was beautiful, and I had no fears or doubts in my mind. The things I was taught were in line with what I had been told earlier before entering the convent. There was no reason to suspect that there were vast areas which were hidden and had been deliberately misrepresented.

        Shortly after arrival at the convent, I resumed my schooling. I had just graduated from eighth grade and they had promised me a high school education plus college. Actually, I got little beyond the high school level, other than some nurse's training. The schooling I received was under duress and terrible difficulties. Following this, I was pushed into the crucial training required of all noviates entering the convent.

        Six months before I was fourteen, the Mother Superior began to urge me to take the white veil. She made it all sound so glamorous, romantic and fascinating. I would take the white veil, dressed in a beautiful white wedding dress. An actual marriage ceremony would follow and I would receive a ring and become the spouse or bride of Christ. It was not difficult for an impressionable teenager to be swayed into eager agreement.

        Mother Superior then wrote my father to tell him how much money he must send to pay for my wedding dress. Because he was wealthy, it was a sizeable amount. I learned later that it was customary to demand three to five times the cost of the dress. The nuns bought the material and made the dress so that the actual cost was small and the rest of the money could be pocketed. No opportunity was overlooked to milk funds from the faithful.

        I was always devout and often walked the fourteen stations of the cross, but after deciding to take the white veil, my fervency increased. In my anxiety to be holy enough to be worthy to become the bride of Christ, I began to crawl the stations of the cross each Friday. Surely this would draw me closer to God and prepare me to take the step I planned.

        My heart was bursting with idealistic devotion and love toward the false goals I had been taught would please and honor God in my life. Hundreds of innocent girls go down this trail into the maw of the convents annually, starry eyed and desiring to give their hearts, minds and souls in unselfish service, praying for lost humanity.

        With the wedding ceremony behind them, nuns are treated as married woman. We were taught that our family would be saved if we continued to live in the convent, serving the Roman Catholic system. A child's concern for family members, especially erring ones, is often manipulated by the father confessor to convince him/her to go into religious vocations. As a child, I looked on my father confessor as God and others with whom I have talked did the same thing. This gives his insinuations and suggestions tremendous power and influence. I thought of him as being holy and infallible, totally incapable of lying.

        After I took the white veil, everything continued, rosy, religious and beautiful. Everyone was good to me and I lived in the open order convent I saw nothing to lead me to believe it would not continue this way. No girl is subject to the priest until she is twenty-one, but I knew nothing of this for all was carefully hidden and covered. There was no clue to cause one to guess what lay behind the black veil and those double locked doors of the closed, cloistered convent.

        Up until I took the black veil I was allowed to receive one letter per month from my family and was permitted to write one to them from the convent. When I wrote I knew that much of it would be censored and marked out by the Mother Superior who read all incoming and outgoing mail. My letters from home were always so marked out until virtually nothing was left to read. I used to weep over all those inked out sections, wondering and worrying over what my mother had been trying to tell me, but there was no way I could ever know.

        No one imprisoned behind those walls ever comes out to tell the awful story. Priests will glibly pooh, pooh the idea that there is anything amiss. They will tell you that in this country and elsewhere sisters can walk out of the convents anytime they please. That is a lie! I was shut up for twenty-two years and tried everything to escape. I even carried tablespoons to the dungeons and desperately dug in their dirt floors attempting to find a way out. Why a tablespoon? All the other tools were locked up or carefully supervised. They were used to dig the tunnels and underground chambers. Convents are constructed like prisons to thwart the escape of the nuns.

        As I approached eighteen, Mother Superior began to work on me again. Remember that these ruthless women are carefully selected and trained for their jobs. I was making my plans to come out of the convent after taking the white veil to become a nursing sister in the Roman Catholic system. However, she had noted my endurance and devotion so she called me into her office for a conference.

        "Charlotte," she said, "I have been watching you. You have a strong body and the devotion to make a good nun, a cloister nun. I believe you are the type who would be willing to give up home and everything you love in the world to hide yourself away behind convent doors. I believe that you would be willing to sacrifice and live in crucial poverty in order to be able to pray for lost humanity. You would have to be willing to suffer in order to achieve this."

        We were constantly taught that living loved ones as well as those already in purgatory would be delivered sooner by the nun's suffering here. Mother Superior had observed that I was willing to suffer without murmuring or complaining, therefore she broached the idea of my taking the black veil. Of course I had no idea what the cloistered nuns did or how they lived so she began to tell me about the cloisters.

        Mother Superior told me that in the cloisters, I would have to shed my own blood as Jesus did on Calvary. I would have to be willing to endure heavy penances and live in crucial poverty the rest of my life. Already I was living in poverty, but if this would make me holier, draw me closer to God and a better nun, I thought it would be worth it to accept this crucial poverty, whatever it was.

        Two months before my twenty-first birthday I was summoned into Mother Superior's office and papers were shown to me in which I would sign away any and all inheritance I would ever have to the Roman Catholic system. Priests work hard to entice girls from wealthy families into the convents, for the system is enriched by their inheritances. I told her I needed some more time to think about it.

        For two years I seriously considered it. If I took my perpetual vows it would mean going behind closed doors in a cloistered convent, and there all my life would belong to God. It would be one of study, devotion, meditation and prayer; however I would be able to win many more souls to God because I would have more time to pray. I believed and accepted all that she said and one day informed her that I had decided to go into cloister.

        To begin, I would be required to lie for nine hours in a casket, dying to the world. Never again would I see my people or return home, for I would be bound by the cloister's convent. This was a tremendous price for a twenty-one year old girl to pay, to give up all that she loved and held dear in the world, but this had to be done in order to win souls to God. I was dressed in a dark red velvet funeral shroud for this wedding ceremony which was performed by the bishop. Both the dress and coffin had been made by the nuns in the cloister.

        I knew that when I came out of that coffin, I would never see or hear from my family again; never leave the convent; and would be buried there when I died. I walked to the casket, climbed in and stretched out. Two little nuns came and covered the entire casket with heavy black draperies which reeked of incense. I thought I would surely suffocate. On one side of the room were the usual statues and on the other, Mother Superior, the nuns and priests were seated. For the nine long hours I lay in the coffin they kept vigil and chanted constantly.

        The one purpose of being in the coffin was to learn to hate my mother, father and all other earthly ties–all for the love of God. I must forget them, hate them, crowd them completely from my heart, mind and life. All this was to enable me to be a better wife to God.

        Lying there, I reminisced about my childhood at home. I remembered the dresses my mother had made for me, but I would never again wear one. I thought of delicious meals, warm beds, and all of the rich and full family life I had had. Of course I wept bitterly and sobbed as my heart ached for those loved ones I would never see again. It was an agonizing experience and I think I loved them more than I ever had before.

        I wrung out and spilled every tear in my body. It was so hard to give up everything. In my agony and anguish I shuddered and groaned until there simply were on more tears left. After several hours of this, I regained my composure somewhat. I resolved, "Charlotte, you are going to make the best Carmelite nun who ever was, because both inside and outside the convent you always do your very best."

        When the ordeal finally ended, a bell was tapped and two little nuns immediately lifted the black drapes from the casket. When I stepped from it I was ushered into a room where I was to take my perpetual vows of poverty, chastity, and obedience. Mother Superior opened a place in my ear lobe and drew out blood, for these must be signed in my own blood.

        I vowed to be willing to live in crucial poverty for the balance of my life (although I did not know then what this meant). Next the vow of chastity bound me never to legally marry because I was now the wife of God (by virtue of the wedding ceremony performed earlier). Then the one of obedience, the hardest of all. I promised absolute, unquestioning obedience to the Pope, all the prelates of the Roman Catholic hierarchy, to the Mother Superior of the convent and to the rules of that convent. I was totally ignorant of how sweeping these commitments were and had no realistic concept of the things to which I was pledging myself.

        After I had signed all the vows, Mother Superior whacked off all my long hair with the scissors. This was to be sold to the highest bidder, for human hair brings a good market price and they commercialize on everything. (This explains the unbelievable wealth of the church.) After cutting the hair, she took clippers and shaved me bald. For the rest of my life, every two months the clippers would go on my head to shave me bald. The heavy nun's headgear would be very cumbersome if she kept her hair. Besides, there was neither time nor facilities to wash hair in the convents.

        The next step in dehumanizing and disorientation was to take away my entire family name and replace it with the name of a patron saint. As she did this Mother Superior emphasized that, although I was not holy enough to stand in the presence of God, I could always pray to my patron saint and she would intercede to get my prayers through to God. I accepted all this as truth because I did not know any better. Following this if someone had inquired about me at the convent by my given name, they would have been informed that no such person was inside the convent.

        Next, Mother read this statement: "As Jesus suffered here on earth, so must we suffer as nuns. We must live our lives as martyrs in the convent. In the Garden of Olives, Jesus shed 62,700 tears for you and me; He shed 98,600 drops of blood for you and me; He received 667 strokes on His body; on His cheek, 110 strokes; on His neck, 107 strokes; on His back, 180 strokes; on His breast, 77 strokes; on His head, 108 strokes; on His side, 32 strokes. They spit in His face 32 times; pulled His beard many times and threw Him to the ground 38 times. By the crown of thorns He received 100 wounds; pleaded for our salvation 900 times, and carried the cross to Calvary 320 steps." I believed all these religious lies, which years later I learned were the invention of a corrupt Pope.

        The last statement she read said, "You will receive a plenary indulgence for your sins and entirely escape the pains of purgatory. Reward them as martyrs who spill their blood for the faith." She said that if we lived in the convent without breaking a rule, one day when we died we would not go to purgatory but go directly to be with Jesus. What she did not tell us was that it is humanly impossible to live in a convent without breaking rules.

        After the vows were signed all of my personal identification was destroyed. Sixty days before, Mother Superior had laid a sheet of paper in front of me. She said I was not to read it, just to sign at the bottom. I didn't realize then how completely I was signing away any and all inheritances which might ever come to me. They were all assigned to the convent. When my brother was ordained as Roman Catholic priest he also signed everything over to the hierarchy. There is not a lawyer in the land who can break this confiscation assignment, for I have checked it out.

        When I took my perpetual vows and signed away my life and possessions I had sold my soul for a mythical mess of pottage. Not only are the nuns systematically destroyed in body but hundreds have their minds shattered and die premature deaths under the cruel and heartless convent bondage. To make it even worse the poor creatures sacrifice all of this and then go out to meet God, Christless and lost for all eternity. How we need to pray for those closed off from the world and the gospel all over the world in these terrible prisons called cloistered convents.

        Mother Superior next locked her arm in mine and we walked down the center of another room. A Roman Catholic priest, dressed in holy habit, came to meet us from the other end of the room. When we met, Mother dropped my arm and the priest stepped around and attempted to lock his arm in mine.

        I recoiled in horror at this intimacy, for never, in all my years in the convent had a priest ever approached me like this. Always they had been kind, considerate and very polite. Something about the familiarity of his touch and the lecherous look in his eyes repulsed and insulted me although I did not understand exactly why. I jerked loose, blushing with embarrassment and exploded, "Shame on you." I felt violated and threatened. He turned red in the face and became very angry at my rejection of his overtures to lead me to the "bridal chamber."

        Evidently Mother Superior overheard the exchange for she quickly returned, called by my church name, and informed me that after I had been in the convent a while I would not feel this way. She said all nuns felt the same in the beginning and sternly reminded me of the wedding ceremony I had gone through and of my obligation. She said a priest's body was sanctified and what they did was not sin. I was terrified, and sobbed hysterically, my mind reeling and I refused to accept what she said.

        She became very angry and stiffly said, "As the Holy Ghost placed the seed in the Virgin Mary's womb and Jesus Christ was born, even so the priest represents the Holy Ghost, therefore it is not a sin for nuns to bear his children."

        I could scarcely believe my ears. I had been deceived and it was too late to turn back! This ghastly statement made me frantic. When she finally gave me permission to speak I burst out, "Mother Superior, why didn't you tell me this before I took my perpetual vows?" She pursed her lips tightly but said nothing.

        Needless to say, I was in a state of numbed shock and horror at what she was saying. It was like an unbelievable nightmare. All my bridges were burned and there was no way back. I could not get out of the convent. Hysterically, I sobbed and told the priest that I wanted to go home. I begged him to call my father to come and get me. I did not want to go any further with this. All my illusions had been shattered and I could not bear the picture which was looming up before me.

        I related how three months before I left home to come to the convent (at age 13) my mother told me she would rather dig my grave with her own hands and bury me than to hear that I had lost my virtue. Because I knew nothing of sex, she had then explained it to me. When I related this to Mother and the priest, they stood and laughed at me like fools. They found my naivety and innocent gullibility hilarious.

        When this sort of betrayal happens I can tell you that you stand absolutely alone. Communication with your loved ones and friends has already been cut off. Sealed off, you have no one to understand or help and soon the numbing realization of the utter hopelessness of your situation sets in. It is like waking up and finding that an unbearable nightmare is not a dream but a dreadful reality.

        I now belonged to Rome and the Pope and Mother Superior had turned me over to a lustful priest who leeringly invited me to join him in the "bridal chamber." I did not enter the convent to become a bad, but a holy woman, by giving my heart and life to God. I firmly rejected his sexual advances and was strong enough to put up quite a fight had he insisted. I was prepared to struggle to my last drop of blood to preserve my virtue.

        When I signed those vows with my own blood I did not realize the enormity of what I had done. I had surrendered away every human right, in order to become a mechanical, robot-like person. From henceforth I would not be able to sit, stand, or speak without permission. I could not lie down, eat or do anything else unless authorized by my superiors. I was allowed to see, hear and feel only what they permitted and ordered. I had become a helpless puppet of the Roman Catholic hierachy.

        The next step was my initiation and for this I had to go to my convent. They had my passport all signed and tickets ready to ship me out to a foreign country. Two priests met us at the boat and we were taken, heavily veiled, out into the mountains to be put in a cloistered convent, one story underground. (Of course when the priest sat in our living room at home he never told my dad I would live for years one or two stories underground in a foreign land).

        I faced initiation penances, so after three or four days at the new convent, about 9:00 o'clock one morning the Mother Superior told me to come with her. She told me were going to do penance and I would begin my initiation as a Carmelite nun. I remember when she walked me down that dark tunnel and into the room one story below ground level. I had always lived on the first floor, but after taking the black veil I was to live one or two stories underground. When we entered the cold, dark room it was hard to see, for all the light came from seven flickering candles. I was frightened and apprehensive, not knowing what to expect, nor what she planned to do to me.

        As we came closer, I could make out a nun lying on a board six feet long (a cooling board). I realized with a shock that she was dead. Although I was not afraid of the dead nun my heart ached for her. When I signed those perpetual vows I had unknowingly signed away every human right. I was not allowed to see, to hear, to complain, to feel or to murmur. I had ears but was to be deaf; eyes but must not see; feelings but soon would be brainwashed so they would be blotted out. As I stood looking at the body, many thoughts and questions raced through my mind but I was bound to silence. How and why did she die?

        Mother Superior ordered me to stand vigil over the dead body for one hour, then she went away. I was required to walk over to the frail body frequently, sprinkle it with ashes and holy water and say repeatedly, "Peace be unto you." In an hour a bell was to be tapped somewhere and out of the mysterious darkness behind me another nun came to relieve me. Because she was barefooted on the dirt floor there was no sound. We were forbidden to speak, therefore my relief reached out and touched me on the shoulder. I leaped with fright and began screaming hysterically at the top of my voice.

        This loss of control meant I must be punished by being tossed into a dark and dirty dungeon. There I lay for three days and nights, without food or water, just because I had shrieked in fear – a terrible crime. I assure you I never screamed again. You learn fast in a convent to observe the rules.

        On the fourth day, again Mother Superior told me we were going to do penance and we went deep under the convent into another dark chamber. We started through the tunnels (there were 35 miles of them under this convent) and, other than candles, there was no light in the rooms we passed. She marched me into a large penance chamber, arm in arm, on our toes, with downcast eyes.

        In the flickering candlelight I saw the usual statues of Jesus and Mary in the room. There was also a large eight foot cross, made of heavy, rough timber, lying on its side. She took me near the foot of it and proceeded to strip my clothes off down to the waist. Then she bent my body down over the cross, pulled my hands down below it and fastened them securely to my knees, under the cross.

        This was where I was to begin to spill my blood as Jesus had shed His on Calvary. I had been told earlier that I would shed my blood for lost humanity, but they never gave me any idea of how this would be accomplished. Now I was to learn one of the many ways this was to take place. Two other nuns were given flagellation whips fashioned from six leather straps fastened to a wooden handle. In the ends of the thongs were embedded a number of sharp, jagged bits of metal. They began to flog me methodically with these cruel instruments until my bare flesh was thoroughly lacerated from hundreds of cuts and my blood ran all over the floor.

        Twist and writhe as I might, there was no escape from the relentless, fiery bite of the ruthless whips. Let me tell you they did a thorough job on me and I was aflame with awful pain and agony. Sobbing and screaming did not stop them, nor were they affected by pitiful cries for mercy. They were well trained and utterly heartless and I was swallowed up in a sea of pain and awful despairing. It was unbelievable, yet it was happening. I thought the beating would never stop. I was helpless and totally without defenses.

        Mother Superior released my hands from my knees after I had slumped into a moaning, suffering heap and she was satisfied I had spilled enough blood for this time. She drug me to my feet but did not bathe me nor treat the mass of bleeding wounds on my body. She simply pulled my clothes back on and I was forced to work all day, until 9:15 that night. Needless to say, the day was one of agony, but no one seemed to notice. with a sickening horror I realized the meaning of the teachings I had received that God is made happy by this penance and other sufferings. This was supposed to make us holier.

        That day was a living hell for me, but this was only the beginning of hundreds of such days. When night came I stood in front of my cell bed where we were required to undress, with our backs to each other. I could not remove my clothing. The garments stained with blood had dried and were stuck tightly to my gaping wounds. It was several nights before I could take them off, and then it was an agonizing and bloody procedure. At mealtime I was not hungry because of the terrible misery I was suffering.

        Ordinarily I would have undressed and have slipped into a muslin nightgown, and then enter my cell to be locked in for the night. For a bed we had only a slab of wood–no mattress, springs, pillow or blanket. Before we were permitted to lie down we were required to kneel on a penance prayer board. This contained hundreds of upright, sharp wires to pierce the knees. The upper section where we were to prostrate ourselves upon our arms was also a mass of sharp wires.

        Another day the Mother Superior took me through a long, dark tunnel hall for my next initiation penance. As we entered the chamber, again there were seven candles. As she marched me up under the candles I spotted some ropes dangling from the ceiling with some sort of metal clamps on the ends. She made me stand very close, facing the wall and extending my arms in the air. Quickly she snapped the metal bands securely around each thumb. She then stepped to one side and began to turn a crank which took the ropes straight up until I was slowly hoisted from the floor. When I was suspended on the tips of my bare toes she fastened the handle, walked out without a word and slammed and locked the door. The weight of my body on those thumbs and my toes was excruciating.

        I was already whimpering and moaning in misery. I had no idea how long I would stay there. Always in these things, you hung there wondering if you might die before they came back to free you. In the white heat of the waves of unbearable pain which wrack the body and mind, death would be a blessed way out.

        As hours stretched interminably into days and nights there was no way to calculate how long you had been there. There was no sun; no sounds other than your own fevered sobbings and screams. It was like being buried alive without food or water. Torment and delirium causes you to loose track of reality and nothing seems real except the ever present torture and pain.

        This was another part of their brainwashing technique. I could do nothing but to stand there, screaming and crying. No one would hear or help me or even care. Three, four, six and finally ten agonizing hours crept by and every bone, muscle and nerve in my tortured body was screaming for relief. The maddening, unending pain is indescribable and I also grew hungry and thirsty. When my hands and arms began to swell tightly I believed I was going to die.

        I had desperately prayed to all the statues in the room. Eventually I realized the Virgin Mary was not hearing a word I sobbed. Hysterically I shouted and pleaded for help from my patron saint; from St. Jude, St. Bartholomew, and every other idol or saint I could ever remember hearing about. I was surrounded by an unearthly silence, broken only by my own fevered screams and groans and the sputtering candles.

        There I hung, wracked with pain and saturated in my own human filth, for there was no break in the torture regime for toilet facilities. Just as I felt I was going completely insane, Mother Superior walked in. Directly on the wall in front of me was an adjustable shelf which she raised to the level of my face. On it she placed a pan of water and a pan containing one small potato.

        I was starving for water and food but how was I to get it? Painfully I scooted on my toes, tilting first one arm, then the other, straining to reach the pans. When I managed to reach them, I felt the tissues in my lungs tearing with terrible pain. As a matter of fact, many nuns contract tuberculosis after going through this torture. However, only by enduring such pain and strain could I manage to get water or food. I bumped and spilled most of it.

        Nine days later Mother Superior came and released first one thumb and then the other and I collapsed in a faint to the floor. My limbs were swollen and shrieking with pain. My eyes felt as if they were being pushed out of my head and my arms were swollen to three times normal size. No part of my anatomy was free from the throbbing pain and soreness.

        Of course I could not move. Two nuns picked me up by the shoulders and feet and took me, moaning incoherently, into the infirmary and laid me on a slab of wood. They cut off all my clothes for I was saturated with my own urine and bowel movements. This was another part of the carefully planned brutalization and dehumanization program, designed to produce mindless robots. Following this episode I could not even walk for two and a half months and would have been happy to die.

        One day I was called out and again marched down those dread tunnels, not knowing what misery and pain I faced. She marched me into a room with a straight chair with a high back. Pushing me down into the chair, she then removed my headdress and shoved my head forward in my lap and placed my hands on my knees. Quickly she fastened my head and wrists in stocks so I could not move. This done she positioned a faucet directly over my bare head and adjusted it so that it began on my head, a drop at a time.

        I cringed in anticipation for I had witnessed others who had been subjected to this for ten long hours. After a short time the drops hitting in the same spot will break the strongest person. Often I and others would writhe and twist against the binding of the stocks, desperately trying to escape that pounding drop of water, even foaming at the mouth. Screaming and crying is never absent from these horror holes, deep under the ground, where no one with an ounce of humanity or compassion will ever hear. Pleas for mercy only bring longer and worse penances.

        Many a nun has gone stark raving mad after being repeatedly subjected to this penance. Do not worry, the convent takes care of this too. The world outside will never know the truth. There are underground dungeons for those who have nervous or mental breakdowns. There will be reports and records of the nun and how she died, all lies.

        You must realize that this entire religious structure is based on lies and deception and it is small wonder that at all costs, even human life, the hypocritical cloak of righteousness of the Roman Catholic system must be maintained. They will stop at nothing to protect it. Slander, lies, frame-ups, changing and destroying documents, injury and even murder are standard and acceptable procedure. The average person with a conscience and some sort of moral code will struggle to grasp the enormity and inhuman demonic intelligence which drives this religious monster.

        Once I was taken to one of the filthy dungeons with dirt floors. I then had my ankles fastened securely to leather straps in the rings at the top of rods mounted in cement. I was standing with my feet in those rings until my strength failed or I fainted. When that happened I just crumpled over with my chest touching my ankles. After getting to a certain stage of pain and exhaustion there is nothing you can do. I must then stay in this cramped position for two or three days, depending on the whims of my tormentors. No one will come and there was no food, water, or toilet facilities. Bugs crawled over my body.

        It is no wonder there is such a cry against such horrors being uncovered and revealed.

        The loneliness in the convent is inhuman and cruel, for there are no friends there. Everyone is set up to spy on everyone else and the slightest infraction of rules brings instant and harsh punishment. There were on friendships among the nuns. Suspicion and separation was the order of the day for convent living. We were taught to trust no one and depend upon no one, by a methodical and systematic isolation. The victims could never be allowed to unite to do something about conditions.

        Communists followed a similar program in Korean prisoner-of-war camps to prevent any closeness or cooperation between the inmates. Each nun is taught to be a policeman to watch and inform on all others. Betrayal of others causes the informer to be in good standing with Mother Superior. Her approval is desired so strongly that often the sisters make up and exaggerate things in order to gain this kind of favor. Absolute obedience in everything is demanded in the convent and you are wise to learn to obey quickly and without question.

        Each time I came in my cell I was required to kneel there, praying for lost humanity, while I suffered and shed more of my blood. Only after this could I lie down on the slab which served as a bed. Promptly at seven minutes before midnight a bell was always tapped and cells unlocked so we all could gather in the inner chapel to pray another hour for lost humanity. At seven minutes till one o'clock we returned to our cells to be locked up again until 4:30 a.m. At this time a bell was tapped and we had exactly five minutes to get dressed and report for duty, barefooted. This is a daily routine. To be late in dressing brought severe punishments.

        Each night at 8:00 p.m. we were required to go down a long, dark hall to do a penance in the meditation room. Located there was a tiny room about four foot square, which contained a human skull and candle on a small table. We were to slip to our knees, gaze into the skull and meditate for one hour on death. When this hour was over, a bell was tapped and we returned to our cells where we dropped all our clothes. We then took three interlaced chains with sharp edges (which hung in our cells) and began to lay stripes on our own bodies in imitation of the stripes of Christ on earth.

        Sometimes, because of lack of food and strength it was difficult to lay on many stripes. If Mother Superior suspected this, she would order you to strip and have two other nuns to whip you viciously. Following this you would lose all desire for your coffee, bread, or anything else for a few days, because of being in such misery.

        This was cloistered convent life, where a merciless system of brainwashing was employed, just as Russia does in the concentration camps. It is exactly the same brutal barbarism, but Rome rides under the banner of religion while communist Russia is openly atheistic.

        In the refractory where our meals were served, were two long wooden tables and each nun was assigned a certain place to sit. No one ever sits in another's place. For breakfast we were given only a big tin cup of strong black coffee with a piece of black bread which weighed exactly four ounces. Although we worked very hard all day there was no lunch, and about 5:00 p.m. we would gather again in the refractory, if we could walk under our own power.

        For supper fresh vegetables were cooked together, making a tasteless, watery soup, without seasonings of any kind. This was served in a pie tin with two ounces of black bread and a tin cup of strong black coffee. Two or three times per week we were given one-half glass of skim milk.

        This was our monotonous diet, 365 days per year. The only exception was Christmas day when we were each given one tablespoon of molasses. My, what a delight that was, and we ate it very slowly, savoring each drop. All year long we looked forward to this treat.

        With the limited food rations, three hundred sixty-five days per year, we never went to bed without gnawing hunger pains. For years I would roll and toss at night, unable to sleep, and wondering how much longer I could endure this continued torment. I assure you that it is sheer misery to live on the brink of controlled starvation constantly. Of course starving persons are weaker and can be more easily coerced and forced into every form of degrading obedience and subservience. This was executed with fiendish delight and a definite purpose to crush the human spirit.

        With such a horribly restricted diet, torture, bloodshed and long, hard hours, it is little wonder that bodies fail and become sickly and many nuns die young in the cloistered convents. Remember there are cloistered convents in the United States.

        In preparing vegetables, potatoes were boiled with skins on and peeled after cooking. Once while on kitchen duty, I was throwing a pile of these potato peelings in the garbage. I was so hungry I quickly snatched two handfuls from the can and hid them in my clothing. I told no one, for in the convent everyone is watching each other and there are informers everywhere who betray others. That night, in my cell, greedily I gobbled down the potato skins because I was so starved.

        The next morning at 9:00 sharp Mother Superior announced with a smirk that I was to do penance and I knew this was not a regular penance day. With sinking heart I went with her to one of the torture chambers. It was a huge room with the usual seven candles. When she tapped a bell, two little nuns appeared, quickly binding my hands and feet together. Mother then ordered one to pinch my nostrils tightly so that I was forced to open my mouth to breathe. She then dumped a heaping tablespoon of hot cayenne pepper in my mouth and I had to choke it down in order to breathe. For two days after this I was plagued with itching, burning hives all over my body. This, for eating a bit of garbage!

        Another time I saw a piece of bread lying on a table, and watched it for several days. Finally I took the bread, ate it in my cell, and the next morning Mother Superior again said we were going to do penance. Somehow she found out about the scrap of bread. This time I was taken to a room with a square table and was made to stand at the edge with my hand and wrist strapped on a board.

        It was very dark and my eyes adjusted slowly in the dim light. She moved over to one side to manipulate some sort of control and suddenly another heavy board smashed down on the hand and wrist. The blinding pain caused me to slump to the floor, but I could not get loose and was dangling by the helpless, injured hand. Stealing even a mouthful of stale bread was treated as a heinous crime and drew swift and cruel retribution.

        As the years dragged by I learned to use a hammer, saw, shovel and anything else a man normally does. We worked very hard, performing heavy manual labor, digging out underground rooms and tunnels, building walls, plastering, etc. Often we were two, three or four miles back in the tunnels. Sometimes we wondered if we even had voices because of the strict rule of silence, and would speak in whispers to each other. The very next morning Mother Superior would call the offenders out and say, "You are going to do penance." We wondered how she could have heard us. One day we learned that all thirty-five miles of tunnel under the convent were wired so she could hear every whisper.

        Working back in the tunnels we listened for the tap of the bell which signaled us to come in for meals. Sometimes, due to fatigue or distance we would arrive late. Because each was in her own place, it was obvious who was tardy. When this happened, we had to ask a nun to hand us our tin cup, pan and tablespoon. We then had to crawl behind each nun, begging for one tablespoon of her food. After crawling to each one, the offenders sat on the floor to eat. This is supposed to humble them by breaking their wicked pride, and also to promote promptness.

        Our day in the convent began at 4:30 in the morning when Mother Superior tapped a bell. This signal meant we had exactly five minutes to get dressed. In the beginning I was late a half a minute, but the punishment was so severe for this minor infraction of rules that I never was late again. Raw terror and cruel punishment bring absolute and unquestioning obedience in the convent to every rule and order, no matter how unreasonable or trivial. Lies and deceit covering and concealing such infractions to avoid the dire consequences become a way of life for the nuns.

        When we finished dressing, we would march on tiptoes, with downcast eyes, to report to the Mother Superior. There she assigned us our daily chores. These could be scrubbing, washing clothes, ironing, cooking, or other heavy and hard labor assignments.

        Washing was done in twelve old-fashioned washtubs with rubboards. We ironed with cast iron flatirons, heated on a stove. Not only did we do the laundry and ironing for our convent but the local priests were free to load us with all of their linens and clothing, which they did. After all, the service, performed by slave labor, was free to them.

        Down in the laundry room there were rough cement floors and the heavy washing in twelve tubs caused a lot of soapy water to be sloshed on the floor. We walked around in our bare feet because shoes and stockings were a luxury we were denied in the convent. Suddenly Mother Superior would glide up, terrifying everyone because there is no way to know why she had come. When she made such an appearance, someone invariably had to suffer. Because things were done so quietly in a convent, we learned to sense her presence before she arrived.

        One of her favorite tricks in the laundry room was to order one or more nuns to prostrate themselves on the cold, wet, soapy, floor. This done, with a cruel sneer she would order that the victim lick long crosses on the rough cement with her tongue. She watched intently to see if there was the slightest flicker of anger, distaste or hesitation on the face of the one forced to lick the crosses. If she did, she would assign ten to twenty-five more crosses to be done. Believe me, the tongue was always raw and bleeding before she was satisfied, and the victim would be unable to eat or drink for a day or two because of the mangled tongue. Many times Mother would return the very next day, seize the same victim and force her to repeat the crosses again.

        Hard manual labor was advocated as a good physical discipline. In our emaciated condition because of the constant torture and systematic starvation we were driven and kept in a state of chronic fatigue and exhaustion. We were property of the Pope and the system, to be worked to death for their pleasure. All the crying and pleading we did would never be heard by anyone who would lift a finger to help us.

        Another favored punishment was to compel us to crawl up and down an aisle ten times, upright on the knees. After I made it five or six times my knees were killing me. Drained of strength, I could not continue but collapsed in a faint. Mother Superior shook me roughly, pulled me back on my knees and commanded me to resume crawling. Desperately I tried to finish my assignment. The next day she might order me to do the same thing again and this would rip off the scabs from my injured knees, further bruising and tearing them.

        This is typical of torments and tortures to which the little nuns are subjected day after day, year in and year out. There is no mercy, only heartless cruelty and this multiplies and reinforces the dreary hopelessness and despair which grips the entire cloister.

        Continually we were told that doing such "penance" was pleasing and brought happiness to God, Who looked down on our misery and suffering, and smiled His approval. Although this was hard to believe, heathens who know no better simply believe what they are taught. Never having read the Bible, we had no way to learn the truth.

        Most of us were reared in Roman Catholic teachings and traditions and snatched away from family and friends at an early age. It took a while for the awful truth and scope of the deception to soak in. When it did, it produced atheists who hated anything associated with God or the saints. Vicious hatred and violence then floods the disillusioned and embittered heart.

        There was no bath tub in this convent, only a metal, horse watering tank and we were only permitted to have a bath when Mother Superior ordered it. Even when bathing I wore my scapular, although I shed all my other clothes. We were taught that the first Saturday after the death of a Roman Catholic the Virgin Mary descends into purgatory. Whoever she finds there wearing a scapular, she will release. I was bound by these and other religious fables and lies, but did not know any better. I was taught to accept as truth everything Mother Superior said.

        In the convent there was a huge painting in a certain room which depicted all horrors of tormented men, women, children and even babies in the awful flames of purgatory. The agony and misery was so graphically portrayed that it actually seemed real. We were marched in on occasion to meditate on the tortures of the damned for a long period. After this session Mother Superior would address the nuns and say that they had better go and work another penance on their bodies, because those poor people were begging to escape the awful burning flames there.

        There were many days when I would deliberately burn my own body and spill some more of my blood because of my conviction that as I suffered it would help these miserable people to be delivered. I often say that if the mass and purgatory were taken from the Roman Catholic system it would eliminate 90% of her income and she would starve to death. This evil Babylonian system drains both the living and the dead for funds to finance her cancerous spread throughout the world.

        The nuns cells were bare except for a statue of the Virgin Mary holding an infant Jesus. As I dropped on the sharp wires which lined the prayer board and prostrated my arms on still other penetrating wire, I would pray earnestly for lost humanity. I had been taught that my suffering and bloodshed would help to save them. I believed that my poor old grandmother would be released sooner from purgatory (our family priest had assured us she went there at death) because of my sufferings. Often, in spite of the misery, I was spurred on to continue in this painful posture longer, fervently hoping to speed her release.

        We were taught that for every drop of blood we shed in the convent we would have 100 days less to spend in purgatory. When nuns worked in the kitchen or other places underground they often wounded themselves to spill blood for this purpose. We had it hammered into our thinking that, as we spilled our own blood, as we whipped and lacerated our bodies, tortured and tormented them, we were gaining indulgence for ourselves and others from purgatory. Remember there is no hope in a convent; nothing to look forward to except continuous pain, exhaustion, starvation and finally death. (Leviticus 19:28).

        To those who have been taught the truth of salvation through faith in Jesus Christ and know of the marvelous grace of God, it may seem incredible that anyone could be so deluded and ignorant. I remind you that if you had been taught nothing else all your life and, if as an impressionable child you had been spirited away to be brainwashed and finally imprisoned in a convent, you would not know any better either.

        It took ten terrible years in the convent before I finally realized the awful truth that I had been duped. I was finally convinced that the Virgin Mary, Jesus, Joseph, St. Peter, and all the other saints were simply unfeeling metal, wood or plaster statues. It was a shock when I knew they could do nothing to answer all the fervent prayers poured out to them by faithful and deluded people all over the world.

        It is surprising how tenacious my faith in all those false idols was. How long it took to really realize the bitter truth about them and the deception in which we had been snared. Bitterly, I came to believe that, if there was a God, He certainly either was dead or cared nothing about humanity. Oh, the hours I and others have spent in earnest, sobbing prayer at the feet of these dumb statues. (Jeremiah 10:19).

        One regular monthly event we always dreaded was the visit of the father confessor to the convent. Each time it was a different priest but they were all basically the same. I hated going and always attempted to get in the back row. I lived in a convent so long that I would never trust any priest. All of the ones I met were rotten and vile. The ordeal of confession sometimes took all day. One by one the nuns had to file in to the room where the priest was waiting. Never did I see a priest in the convent who had not been drinking.

        The room was bare except for the inevitable statue of the Virgin Mary. The priest perched in a straight-backed chair and the nun must come in and kneel before him. If she got out without being defiled and forced into some unspeakable depravity she was fortunate. No one ever interrupted the priest and the woman, no matter what transpired. One after another the nuns would enter and leave the room.

        At other times it was not unusual for the Mother Superior to usher in a drunken priest who would pick out a nun and take her to a cell with him for more liquor and sex. The Mother Superior was a hard and carnal woman who had borne numbers of illegitimate children of priests and usually she drank with the visitors. The priest was well fed, healthy, and strong and lived a relatively easy life; therefore a poor, weakened nun was no match for him, to fight him off. Because she was helpless, he did whatever he pleased and violated her any way he chose. There is no one to defend or help her and none to even care about her being forced into harlotry. Because Mother Superior locked the cell there was no way to escape.

        Often I have

Đọc Tiếp →

Huyền Bí Vatican, Sự Hiện Ra của Bà Ma-ri Đã Bộc Lộ

Nguyên tác: “Vatican Occult, Marian Apparitions Exposed” trong YouTube, của Kyte Cutter

Chuyển ngữ: Mã Thiên Ân

Phép lạ thật là có sức mạnh khủng khiếp đã lôi cuốn con người còn hơn cả những lẽ thật trong Thánh Kinh. Sự hiện ra của bà Maria đã lôi cuốn hằng triệu người trên thế giới thờ lạy bà, nhất là những người không hiểu biết lẽ thật trong Thánh Kinh, hoặc có thể bị phép lạ của bà hấp dẫn quá nên đã lôi cuốn khiến họ quên đi lẽ thật. Những nơi bà hiện ra hằng năm có hằng triệu khách hành hương đến thăm viếng và xin dấu lạ của bà. Có nhiều người đã nhận được phép lạ và về làm chứng cho mọi người nghe. Ai núp sau bức tuợng của Maria ? Chắc các bạn đã đoán ra ai rồi, phải không? (Người dịch).

Sự hiện ra khắp trên thế giới và những dấu kỳ phép lạ của bà Maria đã lừa dối Giáo Hội Công Giáo La Mã và hằng triệu người trên thế giới (trong đó có cả Vietnam).

Giáo hoàng Giáo hội CGLM thuộc về chế độ Tân Thế Giới đã xúc tiến Hòa Bình Thế Giới vào tháng giêng năm 2004. Tại thành phố Vatican, Giáo hoàng Gio-an Phao-lô đệ nhị vào đầu năm đã nhấn mạnh rằng hòa bình có thể thực hiện, và ngài kêu gọi thành lập một chế độ Tân Quốc Tế. Tờ CNN nói: “Giáo hoàng kêu gọi thành lập Chế độ Tân Thế Giới vào thứ năm, ngày 1 tháng 1 năm 2004.

Tại thành phố Vatican, Giáo hoàng Gioan Phaolô đệ nhị đã kéo chuông vào đầu năm mới với lời kêu gọi hòa bình Trung Đông, Phi Châu và thành lập một chế độ Tân Thế Giới dựa trên căn bản phẩm giá con người và bình đẳng giữa các quốc gia. Năm nay GH tiếp tục nhắc đến sự xung đột quanh địa cầu, nhưng ngài nhấn mạnh về hòa bình và chú trọng việc thành lập luật pháp quốc tế và chế độ Tân Quốc Tế dựa trên những mục tiêu của Liên Hiệp Quốc. Ngài đã kêu gọi thực hiện một chế độ có thể giải quyết những nan đề hiện nay dựa trên phẩm giá con người và một xã hội phát triển, để củng cố các quốc gia giàu và nghèo, chia xẻ những tài nguyên, và thành quả của khoa học kỹ thuật.

Làm sao họ có thể đạt được điều này ? Nhờ vào dấu kỳ phép lạ của bà Maria chăng ?

Còn về phần Đức Chúa Jêsus là ai và làm gì ? Thánh kinh nói rằng:

  • Đức Chúa Jêsus gánh tội lỗi cho chúng ta (Ga-la-ti 3:13; I Giăng 1:9)
  • Tiếp nhận Đức Chúa Jêsus, chúng ta không còn bị Thiên Chúa đoán phạt (Rô-ma 8:1)
  • Đức Chúa Jêsus đã vì mọi người mà nếm trải sự chết (Hê-bơ-rơ 2:8,9)
  • Đức Chúa Jêsus trở nên người tội lỗi vì chúng ta để chuộc tội cho chúng ta (II Cô-rinh-tô 5:21).

Theo Giáo hội Công giáo La Mã, nếu ai không nhờ vào bà Maria thì sẽ bị hư mất.

Bà Maria được gọi là Cửa Thiên Đàng, không ai có thể vào Vương quốc đó mà không qua bà. Con đường cứu rỗi duy nhất chỉ qua bà Maria mà thôi. Khi đọc kinh cầu nguyện, người Công giáo nhắc đến bà Maria nhiều nhất.

Trái lại Thánh Kinh khẳng định rằng: “Vì chỉ có một Thiên Chúa và chỉ có một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người là Đức Giê-su Kitô cũng là người thật.” (I Ti-mô-thê 2:5) Và “Thầy là đường lối, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Cha, nếu không qua Thầy.” (Gio-an 14:5b) Hai câu KT trên trích từ Bản dịch Tân Uớc của Hồng y giám mục Trịnh văn Căn.

Theo Công giáo, sự cứu rỗi tất cả tùy thuộc vào ân huệ và sự bảo vệ của bà Maria. Ai được Maria bảo vệ thì được cứu, còn không thì bị hư mất (CG gọi là mất linh hồn).

 Họ nói:” Sự cứu độ của chúng tôi thuộc về Mẹ…Thiên Chúa sẽ cứu chúng tôi qua sự cầu thay của Mẹ Maria..”

Trên thế giới có hai phía đang thành hình:

  • Một phía nói rằng: “Mẹ Maria cứu chúng tôi”.
  • Còn phe theo Thánh Kinh nói rằng: “Đức Chúa Jêsus cứu chúng tôi.”

Bạn theo về phía nào, theo Phúc Âm (tin lành) đời đời hay theo sự hiện ra của bà Maria ?

Nhà thần học Karl Rahner đã bày tỏ, càng lúc thiên hạ càng sẵn sàng tiến về sự can thiệp của thần thánh có hiệu quả thực tiễn và dễ tin hơn là đi theo sự dạy dỗ của thần học sáng suốt và Hội Thánh. Những sự hiện ra của bà Maria xảy ra khắp nơi trên thế giới, và những phép lạ của bà như là Mẹ Chảy Nước Mắt, Mẹ Chảy Máu, Mẹ nhấp môi, Mẹ Vỗ Tay, Mẹ Chớp Mắt, Tà áo Mẹ bay bay….và ngay cả Mình Thánh Chúa Giêxu cũng chảy máu nữa…đã lôi kéo hằng triệu người thờ lạy bà.

Thánh Kinh cho chúng ta biết, vào thời kỳ cuối cùng Ma quỷ sẽ làm ra những dấu kỳ phép lạ để thiên hạ hiếu kỳ mà chạy theo thờ phượng nó:

     “Vì nhiều Ki-tô giả (Christ giả) và tiên tri giả sẽ xuất hiện, họ sẽ làm những phép lạ to lớn khả dĩ lừa dối, nếu có thể cả những kẻ lành nữa (người được cứu) Tin mừng theo Thánh Mathêu 24:24 Bản dịch của Hồng y Trịnh văn Căn.

     “Chúng là những linh của Ma quỷ làm được các phép lạ đến cùng các vua trên đất của toàn thế gian để nhóm họ lại trên chiến trận vào ngày lớn của Đức Chúa Trời, Đấng Toàn Năng. Phước cho kẻ tỉnh thức và giữ áo xống mình, để không bước đi lõa lồ, và bị người ta nhìn thấy sự hổ thẹn mình ” (Khải Huyền 16:14, 15 Bản dịch Ngôi Lời).

Tóm lại phép lạ là thứ dễ dàng cám dỗ người ta nhất, nếu họ không nắm chắc được lẽ thật trong Thánh Kinh đã báo trước cho mình đề phòng sự lừa dối này. Kẻ không biết lẽ thật có thể cho rằng những phép lạ đó đến từ Thiên Chúa, rồi thờ lạy Thiên Chúa qua kẻ làm phép lạ. Riêng tôi khi nhận thấy phép lạ do Ma quỷ làm thì tôi lại càng tin chắn có một Đấng Chân Thần mình đang trông đợi về sống với Ngài hưởng phước hạnh đời đời.

                                                                                        Mã Thiên Ân phóng dịch

Đọc Tiếp →

Giáo Hội Công Giáo Có Quyền Tha Thứ Tội?

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2011 Vietnamese Christian Mission Ministry, Inc.  –  Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry  –  Xin quý bạn đọc vui lòng tiếp tay phổ biến bài viết nầy dưới mọi hình thức, nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Đặng Vũ Thanh Nguyên
Bấm vào đây để download bài viết này

[507]

Giáo Hội Công Giáo dạy rằng họ có thẩm quyền để tha thứ cho tội lỗi của những người theo Công Giáo. Xin dẫn chứng một số phân đoạn trích từ sách Giáo Lý Công Giáo (GLCG) có sự đối chiếu giữa bản tiếng Việt và tiếng Ý. Sở dĩ tôi chọn bản tiếng Ý vì là bản gốc dễ hiểu hơn bản tiếng La-tinh:

Điều 982 trong GLCG, bản Việt ngữ chép rằng:"Không có tội nào nặng đến nỗi Hội Thánh không thể tha thứ được. "Dù có ai gian ác và xấu xa đến đâu… vẫn có thể tin chắc được tha thứ, miễn là chân thành sám hối" (x. Giáo lý Rô-ma 1, 11, 5). Ðức Ki-tô, Ðấng đã chết cho mọi người, muốn rằng: mọi cánh cửa tha thứ trong Hội Thánh luôn rộng mở cho bất cứ ai ăn năn trở lại" (x. Mt 18, 21-22).

Đối chiếu với điều 982, trang 258 trong bản tiếng Ý:"Non c'è nessuna colpa, per grave che sia, che non possa essere perdonata dalla santa Chiesa. « Non si può ammettere che ci sia un uomo, per quanto infame e scellerato, che non possa avere con il pentimento la certezza del perdono ». (550) Cristo, che è morto per tutti gli uomini, vuole che, nella sua Chiesa, le porte del perdono siano sempre aperte a chiunque si allontani dal peccato (551)."

Trong nguyên bản tiếng Ý chúng ta lưu ý câu: "Non c'è nessuna colpa, per grave che sia, che non possa essere perdonata dalla santa Chiesa" nếu dịch cho thật sát nghĩa sẽ là "không có một tội lỗi nào dù nặng nề, xấu xa đến đâu đi chăng nữa mà Giáo Hội không thể không tha thứ được."

Nguy hiểm hơn nữa là câu "Ðức Ki-tô, Ðấng đã chết cho mọi người, muốn rằng: mọi cánh cửa tha thứ trong Hội Thánh luôn rộng mở cho bất cứ ai ăn năn trở lại" (bản Việt ngữ). Chúng ta nhận thấy có điểm khác biệt giữa sự dẫn chứng của hai bản văn.

Bản Việt ngữ dẫn chứng câu Kinh Thánh trong sách Mathieu 18:21-22 và Rô-ma 1, 11, 5. Vậy Ma-Thi-ơ 18:21-22 nói gì?

"Phi-e-rơ bèn đến gần Đức Chúa Jêsus mà hỏi rằng: Thưa Chúa, nếu anh em tôi phạm tội cùng tôi, thì sẽ tha cho họ mấy lần? Có phải đến bảy lần chăng? Ngài đáp rằng: Ta không nói cùng ngươi rằng: đến bảy lần đâu, nhưng đến bảy mươi lần bảy"(Ma-thi-ơ 18:20-22).

Không hề có một câu nào có ý nghĩa Giáo Hội Công Giáo có quyền phép tha thứ mọi tội lỗi.

Bản tiếng Ý dùng điều 550 và 551 của GLCG để dẫn chứng quyền phép tha thứ của Giáo Hội Công Giáo. Vậy chúng ta hãy tra điều 550 và 551 trong bản Việt ngữ.

Điều 550:"Nước Thiên Chúa đến làm cho nước Xa-tan sụp đổ (x. Mt l2, 26) "Nếu tôi nhờ Thánh Thần Thiên Chúa mà trừ quỷ, thì quả là Nước Thiên Chúa đã đến giữa các ông" (Mt l2, 28). Ðức Giê-su trừ quỷ là giải phóng con người khỏi vòng cương tỏa của ma quỷ (x. Lc 8, 26-39). Qua đó, Người thể hiện trước Người sẽ toàn thắng "thủ lĩnh thế gian này" (Ga l2, 3l). Chính nhờ Thánh Giá Ðức Ki-tô mà Nước Thiên Chúa sẽ được thiết lập vĩnh viễn : "Trên ngai Thập Giá, Thiên Chúa thống trị muôn loài" (x. Thánh ca "Vexilla Regis").

Điều 551: "Ngay khi bắt đầu đời sống công khai, Ðức Giê-su chọn Nhóm Mười Hai để các ông cùng ở với Người và chia sẻ sứ mạng với Người (x. Mc 3, l3-l9). Người ban cho họ dự phần vào uy quyền của Người và "sai họ đi loan báo Nước Thiên Chúa và chữa lành bệnh nhân" (Lc 9, 2). Họ sẽ vĩnh viễn liên kết với Nước Ðức Ki-tô, bởi vì Người sẽ nhờ họ mà điều hành Hội Thánh."

"Thầy sẽ ban quyền cai trị cho anh em; như Cha Thầy đã ban cho Thầy, anh em được đồng bàn ăn uống với Thầy trên vương quốc của Thầy, và ngự trên tòa xét xử l2 chi tộc Ít-ra-en"(Lc 22, 29-30).

Trong phần dẫn chứng, chúng ta thấy chẳng hề có sự liên quan giữa hai văn bản của Giáo Hội Công Giáo Việt-Ý-Pháp! Qua những sự so sánh ở trên, chúng ta thấy rõ ràng GLCG hoàn toàn là truyền thống của loài người, không phải lời Chúa trong Kinh Thánh. Nếu đem đối chiếu với bản Pháp ngữ thì thực trạng cũng không khá hơn. Bản Việt ngữ dịch thuật không đúng với bản GLCG bản tiếng Ý và tiếng Pháp. Bản Việt ngữ dẫn chứng bằng những câu Kinh Thánh nhưng thực chất những câu dẫn chứng đó không hề liên quan gì đến sự ghi chép trong GLCG của Vatican. Các bản tiếng Ý và tiếng Pháp lại chú giải bằng chính các điều khoản đã dẫn trong GLCG. Ngoài ra để khẳng định quyền năng tha thứ tội lỗi của mình Giáo Hội Công Giáo còn đưa ra nhưng dẫn chứng khác trong GLCG:

Điều 986, bản Việt ngữ: "Do ý muốn của Ðức Ki-tô, Hội Thánh có quyền tha tội cho những người đã được rửa tội. Thông thường Hội Thánh thi hành quyền này trong bí tích Giải Tội qua các giám mục và linh mục."

Điều 986, bản tiếng Ý:"Secondo la volontà di Cristo, la Chiesa possiede il potere di perdonare i peccati dei battezzati e lo esercita per mezzo dei Vescovi e dei sacerdoti normalmente nel. sacramento della Penitenza."

Điều 986, bản Pháp ngữ,(tôi chỉ trích câu, đoạn cần thiết): "De par la volonté du christ, l'église possède le pouvoir de pardonner les péchés des baptisés…"

Khủng khiếp hơn là những gì mà Giáo Hội ghi trong điều 1448, trang 378:

Điều 1448, bản Việt ngữ:"Qua những thay đổi về qui định và nghi thức theo dòng thời gian, chúng ta nhận ra một cấu trúc nền tảng với hai yếu tố chính. Một mặt là những hành vi của những con người hoán cải dưới tác động của Chúa Thánh Thần : ăn năn, thú tội và đền tội. Mặt khác là tác động của Thiên Chúa qua thừa tác vụ của Hội Thánh. Nhờ giám mục và linh mục, Hội Thánh tha tội nhân danh Ðức Ki-tô, ấn định việc đền tội, cầu nguyện cho hối nhân và cùng làm việc thống hối với họ. Nhờ đó, tội nhân được chữa lành và hiệp thông lại với Hội Thánh."

Điều 1448, bản tiếng Ý:"Attraverso i cambiamenti che la disciplina e la celebrazione di questo sacramento hanno conosciuto nel corso dei secoli, si discerne la medesima struttura fondamentale. Essa comporta due elementi ugualmente essenziali: da una parte, gli atti dell'uomo che si converte sotto l'azione dello Spirito Santo: cioè la contrizione, la confessione e la soddisfazione; dall'altra parte, l'azione di Dio attraverso l'intervento della Chiesa. La Chiesa che, mediante il Vescovo e i suoi presbiteri, concede nel nome di Gesù Cristo il perdono dei peccati e stabilisce la modalità della soddisfazione, prega anche per il peccatore e fa penitenza con lui. Così il peccatore viene guarito e ristabilito nella comunione ecclesiale."

Qua điều 1448, rõ ràng là GLCG khẳng định là Chúa đã phải nhờ đến các Linh mục, Giám mục thay thế ngài làm việc tha thứ cho tội nhân! Vậy Giáo Hội Công Giáo có quyền tha tội không? Xin mời các anh chị em cùng tôi đi tìm sự thật qua lời Chúa trong Kinh Thánh:

"Hãy ở với nhau cách nhân từ, đầy dẫy lòng thương xót, tha thứ nhau như Đức Chúa Trời đã tha thứ anh em trong Đấng Christ vậy"(Ê-phê-sô 4:32).

Theo Kinh Thánh Đức Chúa Trời muốn con cái của Ngài trực tiếp đến đối diện với Ngài, cầu nguyện Ngài chứ không phải qua trung gian của bất kỳ một ai. Hãy suy ngẫm câu Kinh Thánh Hê-bơ-rơ 4:16:

"Vậy, chúng ta hãy vững lòng đến gần ngôi ơn phước, hầu cho được thương xót và tìm được ơn để giúp chúng ta trong thì giờ có cần dùng."

Ngôi ơn phước ngụ ý nói về Ngai của Đức Chúa Trời. Vậy câu Kinh Thánh này nói rõ ràng sự tha thứ tội lỗi là đến từ Đức Chúa Trời chứ không phải là Linh mục, Giám mục, Giáo Hội hay bất kỳ một ai khác. Thế nhưng Giáo Hội Công Giáo đã dạy những tín lý sai trái như sau:

Điều 1461, bản Việt Ngữ:"Vì Ðức Ki-tô đã trao cho các tông đồ thừa tác vụ giao hòa (x. Ga 20,23; 2Cr 5,18), nên các giám mục kế nhiệm các ngài và các linh mục là những cộng sự viên của các giám mục, tiếp tục thi hành thừa tác vụ này. Nhờ bí tích Truyền Chức, các giám mục và linh mục có quyền tha tội "nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần."

Điều 1461, bản tiếng Ý:"Poiché Cristo ha affidato ai suoi Apostoli il ministero della riconciliazione, (63) i Vescovi, loro successori, e i presbiteri, collaboratori dei Vescovi, continuano ad esercitare questo ministero. Infatti sono i Vescovi e i presbiteri che hanno, in virtù del sacramento dell'Ordine, il potere di perdonare tutti i peccati « nel nome del Padre e del Figlio e dello Spirito Santo »."

Điều 1461, bản Pháp Ngữ:""En effet, ce sont les évêques et les presbytres, qui ont, en vertu du sacrement de l'Ordre, le pouvoir de pardonner les péchés"

Điều 979, bản Việt Ngữ:"Trong cuộc chiến chống xu hướng xấu, không ai đủ nghị lực và cảnh giác để tránh mọi tội lỗi, "vì thế, Hội Thánh cần có quyền tha tội. Bí tích Thánh Tẩy không phải là phương thế duy nhất để Hội Thánh sử dụng chìa khóa Nước Trời đã lãnh nhận từ Ðức Giê-su Ki-tô; Hội Thánh phải có khả năng tha tội cho tất cả các hối nhân phạm tội sau khi lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy", cho dù họ có còn phạm tội cho đến hơi thở cuối cùng." (Giáo Lý Rô-ma 1, 11, 4).

Điều 979, bản tiếng Ý:"In tale combattimento contro l'inclinazione al male, chi potrebbe resistere con tanta energia e con tanta vigilanza da riuscire ad evitare ogni ferita del peccato? « Fu quindi necessario che nella Chiesa vi fosse la potestà di rimettere i peccati anche in modo diverso dal sacramento del Battesimo. Per questa ragione Cristo consegnò alla Chiesa le chiavi del regno dei cieli, in virtù delle quali potesse perdonare a qualsiasi peccatore pentito i peccati commessi dopo il Battesimo, fino all'ultimo giorno della vita » (546)."

Điều 979, bản Pháp Ngữ:"il fallait qu'elle [ý chỉ Hội Thánh trong bản Việt ngữ] fût capable de pardonner leurs fautes à tous les pénitents, quand même ils auraient péché jusqu'au dernier moment de leur vie."

Tín điều do Giáo Hội Công Giáo tạo dựng đã đi ngược hoàn toàn với Kinh Thánh, họ tự ban cho mình cái thẩm quyền thay mặt Đức Chúa Trời tha thứ tội lỗi cho mọi người. Trong khi đó, Kinh Thánh đã nói rõ ràng, những ai biết ăn năn, muốn xin tha tội thì phải đến khẩn cầu nơi Đức Chúa Trời. Tác giả Thi-Thiên nói:

"Tôi đã thú tội cùng Chúa, không giấu gian ác tôi; Tôi nói: Tôi sẽ xưng các sự vi phạm tôi cùng Đức Giê-hô-va; Còn Chúa tha tội ác của tôi"(Thi-thiên 32:5).

Vua David đã trực tiếp nói chuyện với Đức Chúa Trời trong Thi-Thiên 25:16-20, Thi-Thiên 51:2-4 để xin Chúa tha thứ cho tội lỗi của ông:

"Cầu xin Chúa hãy đoái xem tôi và thương xót tôi, Vì tôi một mình và khốn khổ. Sự bối rối nơi lòng tôi đã thêm nhiều; Xin Chúa cứu tôi khỏi sự hoạn nạn. Khá xem xét sự khốn khổ và sự cực nhọc tôi, Và tha các tội lỗi tôi. Hãy xem xét kẻ thù nghịch tôi, vì chúng nó nhiều; Chúng nó ghét tôi cách hung bạo. Xin Chúa hãy giữ linh hồn tôi, và giải cứu tôi; Chớ để tôi bị hổ thẹn, Vì tôi nương náu mình nơi Chúa" (Thi-thiên 25:16-20).

"Xin hãy rửa tôi cho sạch hết mọi gian ác, Và làm tôi được thanh khiết về tội lỗi tôi. Vì tôi nhận biết các sự vi phạm tôi, Tội lỗi tôi hằng ở trước mặt tôi. Tôi đã phạm tội cùng Chúa, chỉ cùng một mình Chúa thôi, Và làm điều ác trước mặt Chúa; Hầu cho Chúa được xưng công bình khi Chúa phán, Và được thanh sạch khi Chúa xét đoán"(Thi-thiên 51:2-4).

Vua Sa-lô-môn cũng biết rằng chính ông cũng như các con dân Do Thái đều có thể trực tiếp cầu xin Đức Chúa Trời để được Ngài tha thứ, làm cho họ được thanh sạch:

"…Phàm điều gì tôi tớ Chúa và dân Y-sơ-ra-ên của Chúa sẽ cầu khẩn trong khi hướng về nơi này, xin Chúa hãy đủ nghe; phải, ở nơi ngự của Chúa tại trên các từng trời, xin Chúa đủ nghe, nhậm lời, và tha thứ cho"(II Sử-ký 6:21).

Chính Đức Chúa Trời cũng phán rằng những ai biết ăn năn mà tìm đến Ngài thì sẽ nhận được tha thứ:

"…và nhược bằng dân sự ta, là dân gọi bằng danh ta, hạ mình xuống, cầu nguyện, tìm kiếm mặt ta, và trở lại, bỏ con đường tà, thì ta ở trên trời sẽ nghe, tha thứ tội chúng nó, và cứu xứ họ khỏi tai vạ"(II Sử-ký 7:14).

Đức Chúa Trời không hề nói con, cái của Ngài phải tìm đến một kẻ trung gian, một nhà thờ, Hội thánh để cầu xin sự tha thứ. Chúa của chúng ta là công bình, là Cha nhân ái, tại sao Ngài lại phải xử dụng kẻ trung gian để thay thế Ngài chăm sóc cho con cái của Ngài? Thật là vô lý khi GLCG tự ban cho mình cái quyền đó. Thi-Thiên 86:5 đã nói rõ ràng tấm lòng nhân từ của Đức Chúa Trời với các con cái của Ngài:

"…Chúa ôi! Chúa là thiện, sẵn tha thứ cho, Ban sự nhân từ dư dật cho những người kêu cầu cùng Chúa" (Thi-thiên 86:5).

Đứng trước sự ăn năn chân thành của con cái Ngài, tấm lòng nhân ái của Chúa thật bao la.

"…nếu một người trong anh em có sự gì phàn nàn với kẻ khác thì hãy nhường nhịn nhau và tha thứ nhau: như Chúa đã tha thứ anh em thể nào, thì anh em cũng phải tha thứ thể ấy"(Cô-lô-se 3:13).

Thế thì tại sao ta lại phải cầu xin Linh mục, Giám mục, Giáo Hội Công Giáo? Tại sao tín ký của Giáo Hội lại đi nghịch lại lời Chúa trong Kinh Thánh? Mục đích của họ là gì khi họ dẫn dắt các tín đồ đi ra ngoài lời Chúa khiến cho tín đồ phải trật phần ân điển?

Theo như tín điều 983 trong Giáo Lý Công Giáo (GLCG), họ đã tự nhận họ dược đầy dẫy quyền năng của Đức Chúa Trời. Họ cũng khẳng định uy quyền của họ. Nhưng có một điều mà chúng ta phải ghi nhận là khi họ tự ban cho mình quyên năng vô biên đó, là chính họ đã đứng giữa các tín đồ và Đức Chúa Trời. Điều này có nghĩa là họ tách rời Chúa ra khỏi con cái của Ngài.

Điều 983, bản Việt ngữ:"Huấn giáo phải cố gắng khơi dậy và nuôi dưỡng nơi các tín hữu niềm tin vào hồng ân vô song Ðức Ki-tô Phục Sinh đã ban cho Hội Thánh là sứ mạng và quyền tha tội nhờ thừa tác vụ của các tông đồ và những người kế nhiệm: "Chúa muốn các môn đệ của Người có một quyền năng vô biên: Người muốn các tôi tớ thấp hèn của Người nhân danh Người mà thực hiện tất cả những gì Người đã làm khi còn tại thế" (x. T. Am-rô-siô bàn về phép giải tội 1, 34). Các linh mục đã nhận được một quyền năng mà Thiên Chúa đã không ban cho các thiên thần hoặc các tổng lãnh thiên thần… Từ trời cao, Thiên Chúa phê chuẩn tất cả những gì các linh mục làm dưới đất (x. T. Gio-an Kim Khẩu, chức linh mục 3, 5). Nếu Hội Thánh không có quyền tha tội, thì chúng ta không còn hy vọng nào, không còn hy vọng được sống đời đời và được ơn giải thoát vĩnh cửu. Chúng ta hãy tạ ơn Thiên Chúa vì đã ban cho Hội Thánh một hồng ân như vậy (x. T. Âu-tinh bài giảng 213, 8)!"

Điều 983, bản Ý ngữ:"La catechesi si sforzerà di risvegliare e coltivare nei fedeli la fede nella incomparabile grandezza del dono che Cristo risorto ha fatto alla sua Chiesa: la missione e il potere di perdonare veramente i peccati, mediante il ministero degli Apostoli e dei loro successori. « Il Signore vuole che i suoi discepoli abbiano i più ampi poteri; vuole che i suoi servi facciano in suo nome ciò che faceva egli stesso, quando era sulla terra » (552). I sacerdoti « hanno ricevuto un potere che Dio non ha concesso né agli angeli né agli arcangeli. […] Quello che i sacerdoti compiono quaggiù, Dio lo conferma lassù » (553). Se nella Chiesa non ci fosse la remissione dei peccati, « non ci sarebbe nessuna speranza: nessuna speranza di una vita eterna e di una liberazione eterna. Rendiamo grazie a Dio che ha fatto alla sua Chiesa un tale dono » (554).

Điều 983, bản Pháp ngữ:"….Si dans l'église il n'y avait pas la rémission des péchés, nul espoir n'existerait, nulle espérance d'une vie éternelle et d'une libération éternelle. Rendons grâce à Dieu qui a donné à son Eglise un tel don.

Thay vì đi với Chúa Giêsu để được tha tội và sự sống đời đời. Thay vì cúi đầu ăn năn cầu xin Đức Chúa Trời tẩy sạch tội lỗi. Người Công Giáo được dạy rằng tội lỗi của họ chỉ có thể được tha thứ thông qua các Linh mục, Giám mục, nhà thờ Công Giáo! Sự kinh khủng tín lý này là Giáo Hội bẻ cong lời Chúa trong Kinh Thánh và qua đó Giáo Hội đã bủa cái lưới nhện của họ để giam cầm tín đồ Công Giáo trong vòng kiềm chế của Giáo Hội.

Kết luận:

Một lần nữa Giáo Lý Công Giáo của Giáo Hội Công Giáo đã đối nghịch lại với lời Chúa trong Kinh Thánh.  Kinh thánh xác định Đức Chúa Trời là vị Cha nhân từ, Đấng yêu thương. Nếu như con cái của Ngài hư hỏng thì các con phải đến ăn năn cùng Cha và chỉ có Ngài, vị Cha đầy tình yêu, công bằng mới có thẩm quyền tha thứ cho con cái của Ngài. Vậy mà GLCG đã dám tước đi vai trò của Đức Chúa Trời, ngăn cách con cái của Ngài với Ngài.

Là một Cơ-đốc Nhân (tôi xử dụng từ Cơ-đốc Nhân trong ý rộng rãi, bao gồm tất cả những ai tin theo Chúa, không phân biệt Công Giáo, Tin Lành), chúng ta phải khẳng định con đường chúng ta đi là con đường thánh khiết mà Đức Chúa Trời mong muốn con cái của Ngài đi theo. Con đường đó đã ghi chép rõ ràng trong Kinh Thánh. Bất kỳ con đường nào khác ngoài Kinh Thánh, chúng ta phải gạt bỏ nói đi.

Trước khi kết thúc, tôi xin các bạn hãy suy ngẫm câu Kinh Thánh sau:

"Hỡi linh hồn ta, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va, Chớ quên các ân huệ của Ngài. Ấy là Ngài tha thứ các tội ác ngươi, Chữa lành mọi bịnh tật ngươi"(Thi-thiên 103:2-3).

Cầu mong các bạn, các anh chị em luôn được bình an trong tình yêu thương vô biên của Đức Chúa Trời, Cha nhân ái của chúng ta. Trong danh Đức Chúa Jesus Christ. A-men.

Đặng Vũ Thanh Nguyên

Đọc Tiếp →

Lễ Ban Thánh Thể của Công Giáo

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2011 Vietnamese Christian Mission Ministry, Inc.  –  Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry  –  Xin quý bạn đọc vui lòng tiếp tay phổ biến bài viết nầy dưới mọi hình thức, nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Đặng Vũ Thanh Nguyên
Bấm vào đây để download bài viết này

[443]

Đạo Công Giáo nói: Thánh lễ giúp cho người chết. Chia sẻ Thánh lễ giúp cho người Công giáo còn sống có cơ hội để giúp cho người thân đã chết:

"Thánh lễ cũng được dâng lên để cầu cho các tín hữu đã qua đời, những người đã chết trong Ðức Ki-tô và chưa được thanh luyện trọn vẹn, để họ được vào hưởng ánh sáng và bình an của Ðức Ki-tô" (Điều 1371 Giáo lý Công giáo. Bản Việt ngữ).

"Le sacrifice eucharistique est aussi offert pour les fidèles défunts, pour qu'ils puissent entrer dans la lumière et la paix du christ" (Điều 1371, trang 358. Bản Pháp ngữ).

"Eucharistique" mà người Công giáo dịch là Thánh lễ. Nhưng "Thánh lễ" thật ra không có ý nghĩa gì cả! Vì Eucharistique thật ra nó có nghĩa là lễ ban thánh thể. Bản dịch Việt ngữ đã dịch không sát nghĩa với bản Pháp ngữ bởi họ đã bỏ qua câu "Le sacrifice" có nghĩa là "lễ hiến sinh."

Vậy câu dịch đúng sẽ là: "Lễ hiến sinh ban thánh thể cũng là để dâng hiến cho các tín hữu đã qua đời để họ được vào trong ánh sáng và sự bình an của Đức Ki-Tô."

Trong điều 1689, giáo lý Công Giáo nói tiếp:

Phụng vụ Thánh Thể khi lễ nghi an táng cử hành trong nhà thờ, bí tích Thánh Thể là tâm điểm của thực tại Vượt Qua nơi cái chết của Ki-tô hữu(x. Sách Lễ Nghi An Táng 1). Trong thánh lễ, Hội Thánh bày tỏ sự hiệp thông hữu hiệu của mình với người quá cố: khi dâng lên Chúa Cha, trong Chúa Thánh Thần, hy tế cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Ðức Ki-tô, Hội Thánh cầu xin Cha cho người con của mình được thanh luyện khỏi mọi tội lỗi, được tha mọi hình phạt, và được nhận vào bàn tiệc trong nước Chúa (x. Sách Lễ Nghi An Táng 57). Nhờ bí tích Thánh Thể, cộng đoàn tín hữu, nhất là gia đình người quá cố, học sống hiệp thông với người "đã an nghỉ trong Chúa," bằng cách rước Mình Thánh Chúa mà người đó đang là một chi thể sống động, để rồi cầu nguyện cho và cùng với người đó. (Điều 1689, giáo lý Công Giáo. Bản Việt ngữ).

"L'Eucharistie est le coeur de la réalité pascale de la mort chrétienne. C'est alors que l'église exprime sa communion efficace avec le défunt … " (Điều 1689, trang 435. Bản Pháp Ngữ).

Thật đáng kinh ngạc khi giáo lý Công Giáo La-mã dạy tín hữu phải tham gia lễ rước Thánh Thể thường xuyên với người thân đã chết sẽ giúp cho họ được lên thiên đường nhanh hơn. Là một Cơ-đốc nhân, nếu như học thuyết này đến từ Đức Chúa Trời thì chúng ta phải tuân hành. Nhưng nếu đến từ truyền thống của loài người, để kềm chế tín đồ dưới sự kiểm soát của tôn giáo thì đó là một điều cực kỳ dã man, độc ác. Đã là một Cơ đốc nhân, chúng ta phải và chỉ tuân theo lời Chúa dạy dỗ chúng ta trong Kinh Thánh, vậy chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện Chúa ban cho chúng ta sự thông sáng để đi tìm hiểu lời Chúa dạy chúng ta trong Kinh Thánh như thế nào.

Từ sách Cựu ước đến sách Tân ước câu "Thánh Lễ" hoặc "Lễ Ban Thánh Thể" không bao giờ được đề cập trong Kinh Thánh.

Các anh chị em có thể lật từng trang Kinh Thánh, đọc kỹ lưỡng từng câu, từng chữ, chúng ta không thể nào tìm ra được Bí Tích Thánh Thể. Và cũng không có một đoạn, một câu nào trong Kinh Thánh nói rằng Bí Tích Thánh Thể cứu giúp người chết. Thậm chí, không có một nhân vật nào trong Kinh Thánh nhận Bí Tích Thánh Thể để giúp đỡ người thân yêu của họ đã qua đời.

Vậy, giáo lý Công giáo không những "vắng" lời Chúa mà lại còn cố tình vi phạm lời Chúa. Trong Kinh Thánh đã dạy rõ ràng mỗi cá nhân chúng ta phải chịu trách nhiệm về sự hiện hữu của mình trong đời này trước Đức Chúa Trời như đã ghi trong Rô-Ma 14:12: "Như vậy, mỗi người trong chúng ta sẽ khai trình việc mình với Đức Chúa Trời."

Khi Đức Chúa Cứu Thế giáng trần, Ngài đã hoàn thành mọi công việc để mở cho chúng ta một con đường bước vào thiên đường trên cây thập tự giá. Sự cứu rỗi mà chúng ta được hưởng là món quà của Đức Chúa Trời ban cho. Ân điển đó không phải là sự giành, mua bởi đức tính truyền thống của loài người hoặc bằng đạo đức của người thân yêu của chúng ta. Kinh Thánh đã nói rõ ràng, sau khi chết mọi người đều phải đối diện với Đức Chúa Trời để chịu sự xét xử và không có sự lựa chọn nào khác:"Theo như đã định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét" (Hê-bơ-rơ 9:27).

Vậy theo như lời Chúa trong Kinh Thánh, mọi việc rất rõ ràng: những ai không đặt đức tin nơi Đức Chúa Jesus Christ khi còn sống trên đời này, người đó sẽ bị phân tách ra khỏi Chúa và nước thiên đàng: "Ai tin Ngài thì chẳng bị đoán xét đâu; ai không tin thì đã bị đoán xét rồi, vì không tin đến danh Con một Đức Chúa Trời" (Giăng 3:18). "Ai tin Con, thì được sự sống đời đời; ai không chịu tin Con, thì chẳng thấy sự sống đâu, nhưng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người đó" (Giăng 3:36).

Kinh Thánh không hề nói Đức Chúa Trời sẽ tha thứ cho người chết vì thân nhân của họ khi còn sống đã chịu bí tích thánh thể. Cách duy nhất để tránh sự xét xử của Đức Chúa Trời, được Ngài tha thứ là phải đặt đức tin nơi Đức Chúa Jesus Christ và dâng hiến cả cuộc đời minh lên cho Ngài: "Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai nghe lời ta mà tin Đấng đã sai ta, thì được sự sống đời đời, và không đến sự phán xét, song vượt khỏi sự chết mà đến sự sống" (Giăng 5:24).

Tóm lại, chúng ta có thể tự đặt ra một số câu hỏi như sau:

·         Tại sao truyền thống của giáo hội Công Giáo lại có thể có những tín lý như vậy? Tín lý hoàn toàn đối lập với lời Chúa trong Kinh Thánh?

·         Tại sao tín điều Công giáo lại yêu cầu các tín hữu phải thực hiện các nghi lễ dành cho các thân nhân đã chết trong khi Kinh Thánh đã khẳng định đó là một điều vô ích?

·         Phải chăng đây là một trong những hành động để trói chân tín đồ? Để đặt tín đồ dưới sự kiểm soát của Giáo hội?

·         Sau cùng, nếu một Cơ-đốc nhân tin theo tín lý này, thì Cơ-đốc nhân đó đương nhiên chối bỏ lời Chúa trong Kinh Thánh và phủ nhận sự hy sinh của Đức Chúa Jesus Christ để cứu chuộc chúng ta! Các bạn, các anh chị em có chắc chắn muốn làm điều này không?

Kinh Thánh nói:"Hãy giữ chừng, kẻo có ai lấy triết học và lời hư không, theo lời truyền khẩu của loài người, sơ học của thế gian, không theo Đấng Christ, mà bắt anh em phục chăng" (Cô-lô-se 2:8).

Mến chúc các bạn, các anh, chị, em luôn sống trong tình yêu thương của Đức Chúa Trời yêu kính của chúng ta. Và cùng học, cùng suy ngẫm lời Ngài để mãi mãi làm đẹp lòng Ngài. A-men.

Đặng Vũ Thanh Nguyên

Đọc Tiếp →

Những Bức Tâm Thư của Cựu Linh Mục Bùi Đức Hạnh

Bấm vào đây để download bài viết này

[690]

BỨC TÂM THƯ I

Kính gởi: các linh mục Công Giáo

Về chức linh mục Công Giáo

‘Tu es sacerdos in Eternum secumdum Ordinem Melchisedech’ (Con là thầy cả tế lễ đời đời theo ban Mên-chi-xa-đéc’) Hê-bơ-rơ 7:17 TL.110.4

     Câu kinh thánh trên đây được tất cả linh mục Công Giáo tâm niệm để giữ mình trong một đời sống xứng đáng.

     Theo giáo lý Công Giáo được thụ phong do phép bí tích Chúa Jê-sus đã lập và được in dấu thiêng liêng bất diệt và linh mục là thầy tế lễ đời đời theo Mên-chi-xa-đéc.

      Thầy tế lễ, chức linh mục Công Giáo có quyền cao cả, người cầm trong tay Mình Thánh Đức Chúa Jê-sus  khi người hành lễ đọc lời truyền ‘Hoc est corpucmeum! Này là mình Ta’, linh mục dâng tế lễ cho Đức Chúa Trời để đền tội. Linh mục cầm trong tay ấn quyền giải tội để tha thứ, và cầm buộc tội nhân. Linh mục là Người của Đức Chúa Trời là Ki-Tô khác (Alter Christus). Phẩm chức cao trọng và quyền bính cao cả ấy ngang hàng với Đức Chúa Trời, đã tìm thấy trong chức linh mục Công Giáo.

     Vậy, phẩm chức cao trọng và quyền bính cao cả ấy bởi đâu? Bởi chính Đức Chúa Trời ban cho hay bởi loài người tự tạo lấy cho mình. Để hiểu rõ điều đó, chúng ta hãy tra cứu Kinh Thánh và chỉ có Kinh Thánh là lời Chúa mới giải tỏ được. Xin tra cứu sách Hê-bơ-rơ trong Tân Ước, xuất Ai-Cập ký và sách Lê-vi trong Cựu Ước.

     Trong Cựu Ước, Đức Chúa Trời thiết lập A-rôn làm thầy tế lễ cho Ngài: ‘Trong vòng dân Y-sơ-ra-ên, người hãy chọn Arôn anh người cùng các con trai người là Na-đáp, Abihu, Eleasa và Jthama lập lên chức tế lễ trước mặt Ta. ‘Đức Chúa Trời lại trang sức cho A-rôn, mũ đội trên đầu, bảng đeo trước ngực, áo khoác trong và ngoài. Lại phong chức trong 7 ngày’ (Xuất 29:35).

     ‘Nhưng ấy là hình bóng chỉ về đời bấy giờ’ hê-bơ-rơ 10:1.

Sách Hê-bơ-rơ đoạn 1 nói về Chúa Jê- sus cao trọng hơn thiên sứ, đoạn 3: Chúa Jê-sus cao trọng hơn Môi-se; đoạn 7&8: Đức Chúa Jê-sus là thầy tế lễ thượng phẩm theo ban Mên-chi-xa-đéc.(tr 1). Vậy chúng ta có thể ứng dụng mọi điều cho chức linh mục Công Giáo được không? Có phải Đức Chúa Trời thiết lập chức linh mục Công Giáo theo như Lời Ngài trong Kinh Thánh chăng?

Để trả lời câu hỏi trên, ta hãy tra cứu Kinh Thánh về các vấn đề:

1. Ơn thiên triệu     2.Chức tế lễ     3.Của tế lễ     4. Mục đích tế lễ     5. Quyền tha tội của linh mục Công Giáo.

1. Ơn Thiên Triệu

     Linh mục Công Giáo nói rằng: Mình có ơn Thiên Triệu, ơn Đức Chúa Trời kêu gọi. Thật đáng sợ khi kẻ làm việc tế lễ cho Đức Chúa Trời mà không có ơn Ngài gọi. Trong Cựu Ước, sách Sử Ký 26:16-21 kể chuyện vua Ô-xia làm điều ác, phạm tội cùng Đức Chúa Trời vì người vào trong đền thờ Đức Giê-hô-va xông hương trên bàn thờ xông hương. Các thầy tế lễ đã cản vua vì đó là phần việc các thầy tế lễ con cháu A-rôn. Song vua cứ xông hương thì Đức Chúa Trời hình phạt người và người bị tật phong.

     ‘Vì vậy không ai được chiếm lấy chức trọng đó cho mình, phải được Đức Chúa Trời kêu gọi như A-rôn ngày xưa, Nec qisquam sumit honoren, sed qui vocatur a Deo tanquam A-rôn’ Hê-bơ-rơ 5:4.

     Ơn kêu gọi A-rôn làm thầy tế lễ, chỉ để dâng của lễ chiên bò … của lễ theo luật pháp, không thể cất tội lỗi đi được (Hê-bơ-rơ 10:4) mà Đức Chúa Trời còn cặn kẽ phán dậy. Kinh Thánh từng nói bao nhiêu lần trong các đoạn sách Xuất Ê-díp-tô ký từ đoạn 28-40. Sách Lê-vi ký từ đoạn 1-10. Chẳng những đối với chức tế lễ của A-rôn. Đức Chúa Trời còn nói về nghi thức hành sự và lễ phục của người nữa. Vi phạm những điều ấy thì Đức Chúa Trời đã trừng trị cách nghiêm thẳng. Hai con trai A-rôn là Na-đáp và Abihu, mặc dầu đã được Môi-se xức dầu làm thầy tế lễ, nhưng vì xem thường việc lấy lửa bỏ vào bình hương mà bị Đức Chúa Trời phạt chết thiêu. Kinh Thánh nói: ‘Hai con trai A-rôn là Na-đáp và Abihu, mỗi người đều cầm lư hương mình để lửa vào, bỏ hương lên và dâng một thứ lửa lạ trước mặt Đức Giê-hô-va, ấy là điều Ngài không phán dặn. Một ngọn lửa từ nơi Đức Giê-hô-va lòe ra, nuốt tiêu họ và họ chết trước mặt Đức Giê-hô-va.’ Le-vi 10:01.   

     Kinh Thánh còn chứng minh, dù chính Chúa Jê-sus là Con Đức Chúa Trời cất tội lỗi thiên hạ cũng phải có ơn Đức Chúa Trời gọi. Đức Ki-Tô không tự tôn mình làm thầy tế lễ thượng phẩm, nhưng tại Đấng đã phán cùng Ngài rằng : Người là con Ta, Ta đã sinh ra ngươi ngày nay. Lại nơi khác cũng đã phán cùng Ngài rằng Người làm thầy tế lễ đời đời theo ban Mên-chi-xa-đéc. Sic et christus non semetipsum clarificavit ut pontifex fieret; sed qui locutus est ad Eum: Filius meus es Tân Ước ego hodie genuita. Quemadmodum et in alio loco dicit : Tu es sarcedos in Aternum secumdum ordinem Melchisedech. (Hê-bơ-rơ 5:6-7) (tr 2)

     Kinh Thánh chứng minh trong Cựu Ước Đức Chúa Trời kêu gọi A-rôn làm thầy tế lễ, khi A-rôn gần chết, A-rôn phải từ bỏ chức đó mà truyền cho con ‘Hãy đưa A-rôn và Ê-lê-a-sa con trai người, biểu đi lên núi Hô-rơ, đoạn hãy lột áo xống A-rôn mặc cho Ê-lê-a-sa con trai người’ Dân Số ký 20:25-26. Chức tế lễ thượng phẩm được giao cha truyền con nối thuộc dòng họ Lê-vi suốt trong thời Cựu Ước.

     Thời Tân Ước, Đức Chúa Trời kêu gọi Con Ngài làm thầy tế lễ thượng phẩm, thầy tế lễ cả, ngoài ra Kinh Thánh không thấy nói Đức Chúa Trời kêu gọi ai làm thầy tế lễ dù Phê-rô, hay Phao-lồ cũng khong có ơn kêu gọi đó.

     Giáo hội Công Giáo dựa vào câu nói của Chúa Jê-sus khi ăn bữa tối ‘Này là thân thể Ta, đã vì các người mà phán cho; hãy làm sự này để nhớ đến Ta’ Lu-ca 22:19. Thật là lạ lùng khi cắt nghĩa câu kinh Thánh ‘Hãy làm sự này để nhớ đến Ta’ là phong chức linh mục! Vậy ai được làm linh mục là người được ăn bánh uống chén?

     ‘Hãy lấy ăn đi. Hết thảy hãy uống đi’ Ma-thi-ơ 26:27. Nếu tất cả mọi giáo hữu đều dược ăn là chịu Bánh Thánh được quyền làm việc nhớ đến Chúa thì đều là thầy tế lễ sao?

     ‘Thánh Phê-rô cũng nói cho tất cả các tín hữu là ‘Giòng giống được lựa chọn là chức tế lễ nhà vua, là dân thánh, là dân thuộc về Đức Chúa Trời hầu cho anh em rao giảng nhân đức của Đấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm.’ I Phi-e-rơ 2:9. Chức tế lễ nhà vua là rao gảing nhân dwsc của Đáng đã gọi anh em, lại trong thư Hê-bơ-rơ nói dâng lễ bằng lời ngợi khen (Hê-bơ-rơ 13:15) chứ không phải chức tế lễ nhà vua dâng Chiên con Đức Chúa Trời, chỉ một mình Chúa Jê-sus là thầy thượng cả thượng phẩm và dâng chính thân thể Ngài làm của lễ cho Đức chúa Trời để cất tội lỗi dân Ngài.

     Bởi vậy khi Chúa Jê-sus chưa chịu đóng đanh trên thập giá thì Ngài chưa dâng thân thể làm của tế lễ. Ngài chưa thi hành nhiệm vụ thầy cả thượng phẩm và Ngài cũng không phong cho ai làm thầy tế lễ dâng thân thể Ngài. Các tông đồ không có lời nào về việc phong chức và không một ai làm thầy tế lễ dâng thân thể Chúa Jê-sus cho Đức Chúa Cha.

2. Chức Tế Lễ

     Linh mục Công Giáo nói mình có chức tế lễ theo Tân Ước, nghĩa là không dâng chiên, bò dê đực và bồ câu … theo như Cựu Ước, mà dâng Chiên con Đức Chúa Trời, là dâng chính Chúa Ki-Tô chuộc tội thay cho loài người. Vậy chức này bởi đau mà đến ? Bởi Đức Chúa Trời chăng? Không! Vì Đức (tr 3) Chúa Trời chỉ lập Con Ngài mà thôi. ‘Ngày nay ta sinh ra Con, Con là thầy tế lễ dời đời theo ban Mên-chi-xa-đéc. Filius mous es Tân Ước, ego hodic genui te. Tu es sacerdos in Oternum secundum ordinem Melchisedech’ Hê-bơ-rơ 5:5-6.

     Bởi Chúa Jê-sus chăng? Không! Vì Chúa Thánh Thần là Thần lẽ thật nói : ‘Số thầy tế lễ theo Cựu Ước rất nhiều vì phải chết nên không giữ luôn chức vụ mình được. Nhưng Đấng Ki-Tô vì hằng có đời đời nên giữ chức vụ đó không thay đổi’ Không thế vị, không nhường ngôi cho ai ‘Hic autem eo quod naneat in Eternum, sempiternum habet sacerdotium’ Hê-bơ-rơ 7:23-24.

     Như vậy, theo Tân Ước chỉ có một thầy tế lễ thượng phẩm là Đấng Ki-Tô. Ngài là Đấng trung bảo của giao ước mới, vì Đức Chúa Trời đã bỏ ước thứ nhất và lập ước thứ hai tức là Tân Ước, mà chúng ta được nên thánh nhờ sự dâng thân thể của Đức Chúa Jê-sus Ki-Tô một lần đủ cả. In qua voluntate sanctificati sumus per Oblatinem Corporis Jesus Christi semel. Hê-bơ-rơ 10:10.

     Theo Cựu Ước, thầy tế lễ mỗi ngày đứng hầu việc mà dâng các lễ đồng một thứ là của lễ không bao giờ cất tội lỗi đi được. Còn như Đấng Ki-Tô đã vì tội lỗi dâng chỉ một của lễ rồi đời đời ngồi bên hữu Đức Chúa Trời. Vì nhờ dâng chỉ một của lễ, Ngài làm cho những kẻ nên thánh được trọn vẹn đời đời. ‘Hic autem unam pro peceatis offerens hostiam … Una enim oboatione con summavit in sempiternem sanctificatos’ Hê-bơ-rơ 10:12-14.

     Vậy, chúng ta chỉ có một thầy tế lễ là Chúa Jê-sus Ki-Tô và Ngài chỉ dâng một lần đặng cất tội lỗi đi. (Hê-bơ-rơ 9:28a) Ngài chỉ dâng một của lễ (Hê-bơ-rơ 10:12) Chúa Thánh Linh lại phỉ bác việc ‘Chúa Jê-sus dâng mình nhiều lần’ mà chỉ một lần mà thôi. ‘Neque ut Sepe offerat semetipsum … Christus semel oblatus est’ Hê-bơ-rơ 9:25-28. Chúa còn nhấn mạnh ‘Đấng Ki-Tô chỉ dâng thân thể mình một lần cũng như đã dịnh cho loài người phải chết một lần … ‘ Luật định cho loài người phải chết một lần thật rõ ràng không ai chối cãi được.

     Kinh Thánh đã minh chứng có một thầy tế lễ là Chúa Jê-sus Ki-Tô. Ngài hằng sống nên giữ chức tế lễ không thay đổi. Ngài dâng mình chỉ một lần và chỉ một của lễ là chính thân thể Ngài.

     Những câu Kinh Thánh trên thật rõ ràng và xác định như 2 2  = 4. Thế mà giáo hội Công Giáo đặt từng trăm vạn người làm thầy tế lễ, hằng ngày dâng từng trăm vạn của lễ và từng trăm vạn lần (tr 4)

3. Về Của Tế Lễ

     Theo giáo lý Công Giáo, các linh mục hằng ngày dâng của lễ trên khắp hoàn cầu cũng chẳng khác gì dân Y-sơ-ra-ên xưa Nhưng dân Y-sơ-ra-ên theo Cựu Ước, còn Giáo hội Công giáo theo Tân Ước, theo Cựu Ước Đức Chúa Trời đã phán dặn Môi-se về mọi của lễ và nghi thức dâng lễ. Song những thứ đó chẳng qua là hình và bóng chỉ về đời bấy giờ để tỏ rằng các lễ vật hy sinh dâng đó, không thể làm cho kẻ thờ phượng được trọn lành về lương tâm (Hê-bơ-rơ 9,19-10). Vậy ‘Các điều răn trước kia vì không quyền, không ích nên đã bị bỏ’ (Hê-bơ-rơ 7:18) ‘Đức Chúa Trời đã lận con người bằng lời thề, bởi Đấng đã phán cùng Ngài rằng: Chúa đã thề rồi và không hồi lời thề ấy đâu: Con làm thầy tế lễ đời đời – Juravit dominus et non P. Enitebit eum; Tân Ước es sacerdos in Eternum’ (Hê-bơ-rơ 7:21) Vì thế Đức Chúa Jê-sus đã trở nên Đấng bảo lãnh cho giao ước mới.

     Theo Tân Ước, chỉ có một của lễ là thân thể của Đấng Ki-Tô. Song Đấng Ki-Tô chỉ dâng chính mình một lần thì đủ cả. (Hê-bơ-rơ 7:27) và Ngài chỉ dâng một của lễ rồi đời đời ngồi bên hữu Đức Chúa Trời (Hê-bơ-rơ 10:12)

     Như vậy Kinh Thánh đã minh định trong Tân Ước chỉ có:

     -Một thầy tế lễ là Chúa Jê-sus Ki-Tô

     -Một của lễ là Thân thể của Chúa Jê-sus Ki-Tô.

     -Một lần dâng của lễ khi Chúa Jê-sus Ki-Tô chịu treo mình trên thập giá.

      Không thể hiểu được Giáo hội Công Giáo dựa vào giáo lý nào mà lập nên nhiều thầy tế lễ, dâng lễ từng trăm vạn lần trong một ngày?!

     Như vậy giáo lý Công Giáo không phải là giáo lý Kinh Thánh, chân lý của Đức Chúa Trời mà giáo lý là của kẻ thù địch Chúa Jê-sus Ki-Tô, là giáo lý của kẻ thù cỏ lùng gieo vào lúa mì (Ma-thi-ơ 13:28).

     Giáo hội Công giáo đã pha trộn Cựu Ước vào Tân Ước. Tổng hợp lễ nghi, phẩm phục của đời Môi-se với chức tế lễ của Chúa Jê-sus. Trộn lẫn sự thật của Đức Chúa Trời với sự giả trá của Ma Quỉ.

Thật là một giáo lý tai hại

giết chết linh hồn người ta.

4. Mục Đích Dâng Của Lễ

    ‘Luật pháp Cựu Ước chỉ là bóng của sự tốt lành ngày sau, nên không bao giờ nhờ của tế lễ mỗi năm hằng dâng như vậy mà khiến cho kẻ đến gần Đức Chúa Trời trở nên trọn lành đựợc … vì huyếtcủa bò đực và dê đực không thể cất tội lỗi đi được’ (Hê-bơ-rơ 10: 1, 4).

     Đức Chúa Jê-sus đến theo ý chỉ của Đức Chúa Trời, dâng thân thể mình làm sinh tế được Đức Chúa Trời nhậm. Bởi vậy, Đấng Ki-Tô vào thế gian phán rằng: ‘Chúa chẳng muốn hy sinh, cũng chẳng muốn lễ vật nhưng Chúa đã sắm sẵn một thân thể cho Con’ (Hê-bơ-rơ 10:5-7) (tr 5). Chúa Jê-sus dâng thân thể mình để cất tội lỗi đi ‘Chiên Con của Đức Chúa Trời là Đấng cất tội lỗi đi’ (Giăng 1:29). Nhờ huyết Chúa Jê-sus đổ ra mà có sự tha thứ, vì ‘Không đổ huyết thì không có sự tha thứ’ (Hê-bơ-rơ 9:22). Nhưng ‘Khi có sự tha thứ rồi thì không cần phải dâng của tế lễ vì tội lỗi nữa’ (Hê-bơ-rơ 10:18).

     Như vậy Kinh Thánh nói : Chúa Jê-sus dâng mình làm của lễ cất tội lỗi đi, nhờ sự đổ Huyết của Ngài trên thập giá mà có sự tha thứ, nên Không cần dâng tế lễ vì tội lỗi nữa.

     Giáo hội Công Giáo phong chức từng trăm vạn người làm thầy tế lễ, hằng dâng đi dâng lại từng trăm vạn lần mỗi ngày… Linh mục Công giáo dâng lễ Misa là một điều phạm thượng, trái nghịch Kinh Thánh. Như vậy, lễ Misa đâu còn là việc Thánh tha thứ tội nhân, đền bù tội lỗi, cứu vớt các linh hồn… mà trái lại chính là tội lỗi, là một việc làm gớm ghiếc trước mặt Đức Chúa Trời.

5. Quyền Tha Tội

     Linh mục Công giáo ngồi tòa giải tội, thay quyền Đức Chúa rời mà tha thứ hay cầm buộc tội nhân. Cái quyền đó khi chính Chúa Jê-sus là Con Đức Chúa Trời thi hành còn làm cho dân Y-sơ-ra-ên căm phẫn. ‘Thầy thông giáo và người Pha-ri-si bèn nghị luận rằng: người này là ai mà nói phạm thượng vậy! Ngoài Đức Chúa Trời há có ai tha tội được sao? (Lu-ca 5:21).

     Giáo hội Công Giáo dựa vào câu Chúa phán cùng các tông đồ: ‘Bình an cho các con. Cha đã sai ta thế nào, Ta cũng sai các con thể ấy. Khi Ngài phán điều đó rồi thì hà hơi trên các môn đồ mà rằng : Hãy nhận lãnh Đức Thánh linh, kẻ nào mà các con tha tội cho thì tội sẽ được tha, còn kẻ nào các con cầm tội lại thì tội sẽ bị cầm cho kẻ đó’ (Giăng 20:221-23).

     Có nhiều nhà thờ Công Giáo đã viết câu : ‘Kẻ nào mà các con tha tội cho thì tội sẽ được tha, còn kẻ nào các con cầm tội lại thì tội sẽ bị cầm cho kẻ đó’ lên tòa giải tội để chỉ rõ linh mục Công Giáo có quyền tha thứ hay cầm buộc tội nhân.

     Giáo hội Công giáo ngày nay, nếu trong nhà thờ dẹp bỏ tòa giải tội thì sự phụng vụ mất hẳn ý nghĩa vì kẻ tham dự phụng vụ sẽ không còn một ai, vì giáo hữu không chịu phép giải tội đâu còn giám đi chịu lễ, dám chịu các phép bí tích. Vì các phép bí tích (trừ ra phép rửa tội và giải tội) chỉ cho kẻ có ơn nghĩa Thánh. Một mối quan hệ cho phụng vụ Công Giáo, một điều kiện tối cần không có không được như vậy mà các tông đồ không ghi một nét trong các bức thư Tân Ước!? (tr 6). Trái lại, trong Tân Ước Chúa Thánh Linh truyền chép lại :’Phê-rô ở thành Gióp-bê nhiều ngày trong nhà người thợ thuộc da tên là Si-môn’ (Công vụ các sứ đồ 9:43). Chính Thiên sứ của Đức Chúa Tròi hiện ra cùng với Cọt-nây cũng bảo: ‘Hãy sai người đến thành Gióp-bê, mời Si-môn cũng gọi là Phê-rô. Người hiện ở trọ nơi nhà Si-môn thợ thuộc da ở gần biển’ (công vụ các sứ đồ 10:5,8).

     Còn về sứ đồ Phao-lồ thì Chúa Thánh linh dạy chép ‘Vì đồng nghề nên Phao-lồ ở nhà hai người làm việc chung nhau, và nghề các người đó là may trại. Hễ đến ngày Sabát thì Phaolồ giảng trong nhà hội, khuyên dỗ người Giu-đa và người Gờ-réc’ (Công vụ các sứ đồ 18:3-4) Phao-lồ còn nêu gương mình cho các trưởng lão thành Ê-phê-sô.

     Còn việc tha thứ cầm buộc thì sau khi các sứ đồ đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh ‘Hết thảy khởi sự nói các thứ tiếng khác theo như Đức Thánh Linh cho mình nói’ (Công vụ các sứ đồ 2:4) Phê-rô cũng trong sự đầy dẫy Đức Thánh Linh đã truyền dạy :’Hãy hối cải, ai nấy phải nhan danh Chúa Jê-sus chịu phép báptêm  để được tha tội mình rồi sẽ được lãnh sự ban cho của Thánh Linh’ (Công vụ các sứ đồ 2:38).

     Các sứ đồ cũng trong ơn đầy dẫy Thánh Linh đã tháo cởi & cầm buộc như sau : ‘Ây là Đức Thánh Linh và chúng ta đã ưng rằng chẳng gán gánh nặng nào khác cho anh em ngoài những điều cần dùng, tức là anh em phải kiêng của cúng thần tượng, huyết, thú vật chết ngộp và chớ tà dâm.’

          Trong đoạn cuối cùng Tân Ước sứ đồ Gioan cũng trong sự đầy dẫy Đức Thánh Linh mà tháo cởi và câm buộc cho những kẻ thêm hoặc bớt điều gì trong những lời của sách Tiên Tri là Đức Chúa Trời sẽ cất lấy phần họ về cây sự sống và Thành Thánh (Khải huyền 18-19).

Như vậy Thánh Kinh đã dậy rõ cho chúng ta là các sứ đồ đã được đầy dẫy Thánh linh để tháo cởi và cầm buộc cách đầy đủ như đã ghi trong Kinh Thánh, chứ không phải là quyền uỷ thác cho loài người ngày nay muốn đóng, muốn mở tuỳ ý. Giáo hội Công Giáo sử dụng Thiên Chúa như một tên đầy tớ như một tên đầy tớ như vậy thật là phạm thượng.

***

     Kính thưa quí vị linh mục Công giáo, đến đây quí vị đã thấy rõ (tr 7) Đức Chúa Trời không kêu gọi quí vị làm thầy tế lễ dâng Đức Chúa Con cho Đức Chúa Cha. Thánh Linh cũng không phán dậy quí vị làm việc phụng sự như thế. Như vậy, tôi thành tâm tha thiết xin nài quí vị hãy suy gẫm lời Đức Chúa Trời, xin Đức Chúa Thánh linh là Thần Lẽ Thật dẫn dắt quí vị khỏi con đường lầm lạc kẻo một ngày kia quí vị đến trước Đức Chúa Trời quí vị sẽ bị Lời Đức Chúa Trời phán xét quí vị’

     ‘Lời ta rao giảng, chính lời đó sẽ phán xét họ nơi ngày sau cùng. Bởi ta chẳng nói theo ý riêng Ta; nhưng Cha ta sai Ta đến, đã truyền lịnh cho Ta phải nói điều chi và phải nói thế nào.’ (Gioan 12:48-49)

     ‘Này Ta đến mau chóng và đem phần thưởng theo với Ta để trả cho mỗi người tùy theo công việc họ làm.’(Khải huyền 20:12)

Saigon, ngày 30 tháng 03 năm 1973

Kính chào thân ái

Bùi Đức Hạnh

Cựu Linh Mục (tr 8)

*****

Bức Tâm Thư 2

Kính gởi : Quí Vị Tín Hữu Công Giáo

Việc Tôn Sùng Bà Maria

Kinh thưa Quí Vị,

     Rảo qua lịch sử tôn giáo, chưa có một vị thần nào được tôn sùng, khen ngợi bằng bà Maria bên Công Giáo.

     Bà Maria được khen tặng trên 200      huy hiệu.

     Ba Maria được sùng bái nhiều thể cách.

     Bà Maria được nhiều đoàn thể mang danh hiệu.

     Bà Maria được nhiều nhà thờ cung hiến vì hầu hết không một nhà thờ lớn nhỏ nào trong Công Giáo mà không có bàn thờ đặc biệt kính Bà.

     Bà Maria được giáo hội Công Giáo tôn phong là:

     Đồng Công Cứu Chuộc

     Mẹ Thông ơn Thiên Chúa

     Đáng Trung bảo giữa Thien Chúa và loài người.

     Bà Maria thậm chí còn được giáo hội tôn phong lên cao hơn Đức Chúa Trời, là Mẹ Đức Chúa Trời.

     Một vị thánh Công Giáo Bonaventura đã khen tặng Bà Maria:

     ‘Nếu dưới gầm trời này không một vật sống nào chẳng nhờ ánh sáng mặt trời, thì trong thế giới thiêng liêng cũng không một linh hồn nào không phải nhờ Đức Bà Maria, kể cả Đức Chúa Trời.’

     Lòng tôn sùng Bà Maria bao trùm hết mọi việc phụng vụ. Công giáo và đã thành mục tiêu trong đời sống giáo hữu. Người Công Giáo đã sùng kính và tin tưởng sắt đá câu châm ngôn :

‘DEVOSTUS MARIA, NUMQUAM PERIBIT’

‘Người tôn sùng Đức Bà Maria, không hề hư mất’

Chính phần tôi, trong quãng đời 30 năm trước cũng đã miệt mài trong việc tôn sung Bà Maria, đến nỗi những người chung quanh đã dùng biệt hiệu gọi tôi là: (tr 9)

Công Giáo Ba Kinh Kính Mừng

Linh mục Mẫu Tâm

Danh hiệu Giuse Maria

     Tôi hầu như đã dâng hiến cuộc đời trước đây để tôn vinh Bà Maria, đã tổ chức nhiều đoàn thể nhiều cuộc cung nghinh kính bà. Tôi cũng đưa ra nhiều người làm con cái bà hay hơn thế nữa là làm nô lệ cho Đức Bà Maria!. Theo Thánh Ghi-nhông đơ-mông-pho.

     Vì quá trình cuộc đời tôi đã gây ảnh hưởng  cho nhiều người nên tôi phải viết lên bài này, nài xin với tất cả những người đã nghe tôi trước đây, hãy bừng tỉnh đón nhận lấy ánh sáng của Chúa Thánh linh cầu thay cho mọi người chúng ta.

     ‘Kính lạy Chúa Thánh linh là thần Lẽ Thật. Xin Chúa ngự đến thăm viếng linh hồn chúng con, dạy chúng con mọi lẽ thật trong đường tôn kính Thiên Chúa. Con cầu nguyện cho hết thẩy mọi người đã lắng nghe con trước đây nay đang lầm lạc, được nhận lấy ánh sáng thật, Lời của Đức Chúa Trời. Con cầu xin mọi ngừoi tìm theo lẽ thật và con gửiđến mọi người lời nài xin HÃY BƯỚC ĐI THEO THÁNH LINH (Ga-la-ti 5:16) để con được sạch máu những người này, con dâng lời cầu nguyện tha thiết trước mặt Chúa, vì vinh hiển Chúa Jê-sus Ki-Tô.’ AMEN

     Kính thưa quí vị,

     Giờ đây chúng ta hãy nhờ Chúa Thánh thần dẫn dắt mà tra cứu Kinh Thánh nói gì về bà Maria và địa vị đích thật của Bà.

Bà Maria đồng trinh khi sanh Đức Chúa Jê-sus

    Kinh Thánh nói : Bà Mari đồng trinh sanh Đức Chúa Jê-sus’ 500 năm trước khi Chúa Jê-sus sanh ra, tiên tri Isaia đã nói về Chúa:

‘Này một nữ đồng trinh sẽ sinh một con trai, đặt tên là Emmauel, nghĩa là ĐứcChúa Trời ở cùng.’ (Isaia 7:14)

     Kinh Thánh cũng khen bà là đáng chào khen, là người được Đức Chúa Trời ở cùng. Thiên thần đã vào nơi người nữ mà chào khen bà :’Chào bà được ơn, Đức Chúa Trời ở cùng bà’ (Lu-ca 1:28)

     Bà Isave đầy dẫy Thánh linh tặng khen bà là người có phước trong các người nữ, cũng được gọi là mẹ Chúa: MATER DOMINI.   

‘Bởi đâu tôi được phước này ra Mẹ Chúađến thăm viếng tôi’ (Lu-ca 1:43)

Môn đồ Gioan cũng viết :

Bên thập tự giá Chúa Jê-sus cũng có Mẹ Ngài’ (Gioan 19:25) (tr 10)

Đáp lại những lời ngợi khen đó, bà Maria với sự hiểu biết phận mình chỉ là tạo vật, là con cháu của 2 nguyên tố Adong Evà nên đã xưng mình là tôi tớ Chúa, quy vinh hiển cho Đức Chúa Trời. (Lu-ca 1:38)

     ‘Đây, tôi là tôi tớ Chúa, xin xẩy đến cho tôi như lời Thiên Thần’.

     Bà Maria ngợi khen Chúa ‘Chúa đã đoái thương sự hèn hạ của tôi tớ Chúa. Linh hồn tôi vui mừng trong Đấng Cứu Chuộc tôi’ (Lu-ca 1:47-48)

     Dẫu vậy, bà Maria cũng chỉ nhận biết đúng địa vị của mình sau khi dược Chúa Jê-sus nghiêm nghị trả lời cho bà đôi lần.

Lần thứ nhất:Khi Chúa Jê-sus 12 tuổi đi dự lễ thành Giê-ru-sa-lem. Ngài ở lại đền thờ Nhưng hai ông bà Giu-se & Maria không hay biết. Khi tìm gặp lại Chúa trong đền thờ, bà Maria đã cất tiếng phiền trách Chúa rằng :’Hỡi con, sao con làm cho hai ta thế này? Này cha mẹ đã khó nhọc lắm mà tìm con! ‘Ngài thưa rằng : ‘Cha mẹ kiếm tôi làm chi? Há chẳng biết tôi phải lo việc cha tôi sao? (Lu-ca 2:48-49)    

Lần Thứ Hai:Trong đám cưới thành Cana, bà Maria muốn xen vào việc làm phép lạ. Khi thấy đám cưới hết rượu, bà đã nói với Chúa Jê-sus :’Nhà này không còn rượu nữa.’ Chúa Jê-sus đã nghiêm nghị trả lời bà : ‘Hỡi đàn bà kia, Ta với bà có việc gì chăng? Giờ Ta chưa đến.’ (Gioan 2: 4)

     Trong lần thứ nhất bà Maria không hiểu lời Chúa Jê-sus đáp nên Kinh Thánh chép ‘Hai ông bà không hiểu lời Ngài nói chi hết.’ Tuy nhiên ‘Mẹ Ngài ghi nhớ các lời ấy vào lòng’ (Lu-ca 2:50-51)

     Nhưng trong lần thứ hai, bà Maria đã hiểu và lui về đúng vị trí của mình nên bà nói với mọi người :’Người bảo chi hãy vâng theo cả.’ (Gioan 2:5) Đó là lời duy nhất bà Maria nói với người khác liên quan đến Chúa Jê-sus đã được ghi trong Kinh Thánh. Từ đó trở đi, Kinh Thánh không ghi một lời nào của bà nữa dù chỉ là một lời nói về Chúa Jê-sus bên thập tự giá lúc Ngài đang hấp hối, hay là lời bà nói với người khác khi cùng các môn đồ hiệp nguyện chờ đều Đức Chúa Cha hứa ban Thánh linh (Công vụ các sứ đồ 1:14) và kể cả lúc Chúa Thánh linh đổ xuống cách đầy dẫy trên bà và mọi người (Công vụ các sứ đồ 2:4).

     Địa vị, hành động và lời nói của bà Maria đã được Chúa Thánh linh truyền ghi vào Kinh Thánh. Tất cả mọi tín điều, nghị quyết về quyền năng, địa vị hay lời tuyên phán nào mạo nhận của bà Maria lúc sinh thời hay sau khi qua đời trái với những điều đã ghi trong Kinh Thánh đều là giả trá, trái ý của bà, và nghịch với Đức Chúa Trời.

     Loài người không thể quyết nghị một điều gì nghịch với Thánh Kinh.(tr 11) Nếu Thiên thần, Giáo hoàng, đoàn thể hàng giáo phẩm hay cả nhân loại quyết nghị điều gì trái nghịch với Kinh Thánh thì đều bị rủa sả. Thánh Phao-lô cẩn thận khuyên dạy rằng :

     ‘Nếu có ai (Giáo hoàng, hàng giáo phẩm hay toàn thể nhân loại) hoặc chính chúng tôi (Phao-lô và các sứ đồ) hoặc Thiên thần trên trời truyền cho anh em một Phúc Âm khác với Phúc Âm chúng tôi đã truyền thì người ấy đáng bị rủa sả – Licet nos, aut Angelus de caelo evangelized vobis praeterquam quod evangelizavius vobis anathema sit, tội lỗi quisvobis evangelizaverit praeter’ (Ga-li-ti :1: 7-8)

Bà Maria không trọn đời đồng trinh

     Có lời tiên tri Isaia báo từ 500 năm trước ‘Này người nữ đồng trinh sẽ chịu thai và sanh con trai’ (Isaia 7:14) Kinh Thánh còn ghi rõ lời thiên thần phán truyền :

‘Đức Thánh linh sẽ đến trên bà, và quyền phép đấng rất cao sẽ che phủ bà dưới bóng mình, cho nên con Thánh sinh ra phải xưng là Con Đức Chúa Trời’(Lu-ca 1:35)

     Hai sự kiện trên (1.Bà Maria đồng trinh sinh Chúa Jê-sus. 2. Bà Maria chịu thai bởi quyền phép của Chúa Thánh linh) không một ai tin Chúa mà dám phủ nhận, bởi vì không tin hai sự kiện này tức là chối bỏ lời Đức Chúa Trời, chối bỏ Kinh Thánh, phủ nhận quyền năng của Đấng Tạo Hóa.

     Nhưng! Bà Maria chỉ đồng trinh khi sanh Chúa Jê-sus mà thôi, vì Kinh Thánh đã xác nhận Bà Maria và Ông Giu-se là vợ chồng những không ăn ở với nhau cho đến khi Chúa Jê-sus được sinh ra.

     ‘Thiên sứ hiện đến cùng Giu-se, nói cùng người rằng :Ngươi chớ ngại lấy Maria làm vợ, vì Con mà người chịu thai đó là bởi Đức Thánh Linh’ (Ma-thi-ơ1:20) ‘Giu-se đã theo lời thiên sứ mà đem vợ về ở với mình, nhưng không ăn ở với nhau cho đến khi người sinh con trai đặt tên là Jê-sus’. (Ma-thi-ơ 1:25)

     Giả như nếu Giu-se không nghĩ đến chuyện vợ chồng thì việc gì ông phải bối rối và lẽ gì Thiên sứ lại bảo Giu-se lấy Maria làm vợ?

     Giả như Maria trọn đời đồng trinh thì sao bằng lòng làm vợ của Giu-se và phải nhắc đến việc ‘ăn ở với nhau’? Vâng, họ chỉ đã không ăn ở với nhau cho đến khi sanh chúa Cứu Thế Jê-sus…’

     Kinh thánh lại còn xác nhận :’Người sanh con trai đầu lòng’ (Lu-ca 2:7) (Thánh Lu-ca ghi chép điều này khoảng 60 năm sau chúa Giáng sinh, lúc ấy nhiều người quen biết với gia đình Ông Giu-se Maria còn sống (tr 12). Nếu quả thật bà Maria trọn đời đồng trinh, chác chắn Lu-Ca phải viết là ‘người sanh con trai duy nhất’). Đã có con đầu lòng thì phải là còn có con khác, bà Maria đã không khấn hứa trọn đời đồng trinh vì bà đã hứa hôn với ông Giuse trước khi thiên sứ truyền

Đọc Tiếp →