Sự Thật Hiển Nhiên về Christmas

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?4plxbd3up4t7up6

Nguyên Tác: “The Plain Truth About Christmas” by David J. Stewart
Chuyển Ngữ: Huỳnh Christian Timothy

Có phải Christmas thật sự kỷ niệm sinh nhật của Đức Chúa Jesus? Có phải Ngài đã được sinh ra vào ngày 25 tháng mười hai? Phao-lô, các sứ đồ, và Hội Thánh ban đầu của Tân Ước có kỷ niệm Christmas hay không? Bạn có biết Thánh Kinh nói gì về cây Christmas không?

Hãy dừng lại và suy nghĩ! Rất ít người biết tại sao chúng ta làm những điều mà chúng ta làm hoặc các thói tục của chúng ta đến từ đâu! Chúng ta lớn lên, thực hành chúng, đương nhiên tiếp nhận chúng, nhưng không bao giờ hỏi tại sao!

Một Lễ Hội của Ngoại Giáo Không Phải của Cơ-đốc Nhân

Chúng ta cho rằng Christmas là ngày lễ chính của các lễ hội Cơ-đốc. Chúng ta không hề thắc mắc khi chúng ta giả định sự giữ nó phải là một trong các giáo lý chính và các mạng lệnh của Tân Ước. Chúng ta cho rằng Đức Chúa Jesus đã được sinh ra vào ngày 25 tháng mười hai, và rằng, Tân Ước đã biệt riêng ngày này như là ngày lễ chính của Cơ-đốc nhân. Chúng ta cho rằng, chúng ta trao đổi quà bởi vì các nhà thông thái đã tặng quà cho hài nhi Christ.

Nhưng, đừng cho rằng nữa, mà hãy nhìn vào lịch sử và Thánh Kinh để tìm hiểu các dữ kiện!

Chữ “Christmas” có nghĩa là “Mass of Christ” (có nghĩa là lễ tái diễn sự chết của Đấng Christ) hay là, về sau được rút ngắn thành, “Christ-Mass.” Chữ đó đến với chúng ta với ý nghĩa là một lễ tế (mass) của Công Giáo La-mã. Từ đâu mà họ có chữ đó? Từ sự kỷ niệm ngày 25 tháng mười hai như ngày sinh của mặt trời, tức thần mặt trời, bởi dân ngoại Đạo. Thật ra, nó là nghi thức cổ thờ phượng thần Ba-anh của ngoại giáo, mà Thánh Kinh lên án là sự đáng gớm ghiếc nhất trong tất cả các sự thờ lạy thần tượng.

Lễ ấy không hề được nói đến chút nào trong Tân Ước. Lễ ấy không hề được giữ bởi Phao-lô, các sứ đồ hay Hội Thánh chân thật lúc ban đầu.

Ý tưởng cho rằng Đức Chúa Jesus được sinh ra vào ngày 25 tháng 12, là một trong các chuyện huyển mà Sứ Đồ Phao-lô đã tiên tri rằng sẽ lừa gạt thế gian trong những ngày cuối cùng này (Ti-mô-thê 4:4).

Lẽ thật rõ ràng là, Christmas không phải là sinh nhật của Christ! Và lễ hội này, dầu được xem là quan trọng đối với nhiều người, nhưng nó không thuộc về Cơ-đốc nhân, nhưng thuộc về ngoại giáo – bắt nguồn từ Ba-by-lôn! Nhưng điều đó có gây ra sự khác biệt gì không? Có thể nào chúng ta cứ thản nhiên mà kỷ niệm nó? Không phải tinh thần của Christmas là điều tốt lành và đẹp đẻ, bất kể là nó đã được bắt đầu như thế nào hay sao? Chúng ta sẽ xem xét điều này!

Đức Chúa Jesus Không Được Sinh Ra vào Ngày 25 Tháng Mười Hai

Bây giờ, chúng ta hãy nhìn vào các chứng cớ đáng chú ý! Đức Chúa Jesus được sinh ra khi nào?

Đức Chúa Jesus không hề được sinh ra trong mùa đông. Khi hài nhi Christ được sinh ra “có mấy kẻ chăn chiên trú ngoài đồng, thức đêm canh giữ bầy chiên” (Lu-ca 2:8). Điều này không bao giờ có thể xảy ra tại xứ Palestin trong tháng mười hai. Những người chăn luôn đem các bầy của họ từ các triền núi và các đồng cỏ về và cho vào chuồng không trể hơn ngày 15 tháng mười, để bảo vệ chúng khỏi mùa mưa lạnh sẽ theo sau ngày đó. Hãy để ý là chính Thánh Kinh chứng minh trong Nhã Ca 2:11 và E-xơ-ra 10:9, 13 rằng, mùa đông là mùa mưa khiến cho những kẻ chăn không thể ở ngoài đồng trống vào ban đêm.

Sách Giải Kinh của Adam Clark, cuốn 5, chương 386 (và 370), cho biết: Theo phong tục cổ truyền của người Do-thái thời ấy, họ đưa chiên ra đồng và hoang mạc vào khoảng Lễ Vượt Qua (đầu mùa xuân), và mang chúng về lại nhà vào lúc bắt đầu cơn mưa đầu mùa.”

Tác giả nói tiếp: “trong suốt thời gian chúng ở bên ngoài, những người chăn canh giữ chúng ngày đêm. Khi… cơn mưa đầu mùa bắt đầu vào đầu tháng Marchesvan, là tháng tương đương với tháng mười và tháng mười một của chúng ta [bắt đầu vào giữa tháng mười], chúng ta thấy rằng, những con chiên được giữ ngoài trời ở miền quê trong suốt mùa hè. Và, bởi vì những người chăn chiên này chưa đem bầy của họ về lại nhà, chúng ta có thể lý luận cách giả định rằng, tháng mười chưa bắt đầu, và như vậy, dẫn đến việc Chúa của chúng ta không được sinh ra vào ngày 25 tháng mười hai, là lúc mà không có bầy chiên nào còn ở ngoài đồng. Ngài cũng không thể được sinh ra sau tháng chín, là tháng mà các bầy chiên vẫn còn ở ngoài đồng vào lúc ban đêm. Trên chính nền tảng này, câu chuyện Chúa giáng sinh vào tháng mười hai cần phải được loại bỏ. Sự cho các bầy chiên ăn vào ban đêm trên các đồng cỏ là một dữ kiện lịch sử…”

Bất cứ một bộ bách khoa từ điển nào hay một thẩm quyền nào khác, sẽ nói cho bạn biết rằng Đấng Christ không được sinh vào ngày 25 tháng mười hai. Bộ Công Giáo Bách Khoa Từ Điển nói rõ sự kiện này.

Sinh nhật chính xác của Đức Chúa Jesus là điều hoàn toàn không biết được như các nhà có thẩm quyền đã xác nhận – Tuy nhiên, nếu tôi có đủ chỗ trong cuốn sách nhỏ này, tôi có thể chỉ cho bạn những câu Thánh Kinh ít nhất cho thấy cách mạnh mẽ rằng, nó phải vào đầu mùa thu – có thể là tháng chín – khoảng chừng sáu tháng sau Lễ Vượt Qua.

Nếu Đức Chúa Trời muốn chúng ta giữ và kỷ niệm sinh nhật của Đấng Christ thì Ngài đã không dấu đi ngày chính xác ấy.

Các Bộ Bách Khoa Từ Điển Nói Gì?

Không hề có một chữ nào trong Tân Ước hoặc trong bất cứ nơi nào của Thánh Kinh bảo chúng ta phải kỷ niệm Christmas. Các Cơ-đốc nhân trong thế kỷ thứ nhất, dưới sự giảng dạy thần cảm của Phi-e-rơ và Phao-lô cùng các sứ đồ khác, không hề kỷ niệm nó. Thật lạ lùng, không hề có thẩm quyền Thánh Kinh nào cho sự giữ nó.

Thế thì, từ đâu mà chúng ta có “Christmas?” Vì nó đến với chúng ta qua Giáo Hội Công Giáo La-mã và không bởi thẩm quyền nào ngoài thẩm quyền của Giáo Hội Công Giáo La-mã, chúng ta hãy xem xét bộ Công Giáo Bách Khoa Từ Điển, phát hành bởi giáo hội. Dưới tựa đề “Christmas,” bạn sẽ tìm thấy:

“Christmas không thuộc về các lễ hội đầu tiên của Hội Thánh… Chứng cớ đầu tiên về lễ hội này là từ Ai-cập… Các thói tục ngoại giáo tập trung vào ngày đầu tháng Giêng dồn lại thành Christmas.” Và, khi đọc thêm, chúng ta sẽ tìm thấy lời xác nhận này: “… trong Thánh Kinh, chỉ có các tội nhân, chứ không phải các thánh đồ, kỷ niệm sinh nhật của họ.”

Bộ Britannica Bách Khoa Từ Điển chép: “Christmas (tức là: the Mass of Christ). Christmas không thuộc về các lễ hội đầu tiên của Hội Thánh…” Nó không được thiết lập bởi Đấng Christ hay các sứ đồ hay bởi thẩm quyền của Thánh Kinh – Nó được thu nhận sai này từ sự thờ phượng của ngoại giáo.

Bộ Americana Bách Khoa Từ Điển chép: “Christmas. Theo nhiều thẩm quyền, nó không hề được kỷ niệm trong các thế kỷ đầu của Hội Thánh Cơ-đốc, bởi vì, thói quen chung của các Cơ-đốc nhân là kỷ niệm sự chết của những người đáng nhớ hơn là kỷ niệm sự sinh ra của họ…” (“Tiệc Thánh” là lễ được thiết lập bởi thẩm quyền của Thánh Kinh, là sự nhớ đến sự chết của Đấng Christ.”)… một lễ hội đã được thiết lập vào thế kỷ thứ tư để ghinhớ sự kiện này [sự sinh ra của Đấng Christ]. Vào thế kỷ thứ năm, Giáo Hội Tây Phương ra lệnh nó phải được kỷ niệm đời đời vào ngày lễ cũ của dân La-mã mừng sinh nhật thần mặt trời, vì không ai biết chắc sinh nhật của Đấng Christ nhằm ngày nào.

Bằng Cách Nào Thói Tục Ngoại Giáo Này Đã Vào Trong Hội Thánh?

Hãy lưu ý rằng, Những thẩm quyền được xác nhận này đã cho thấy Christmas không hề được các Cơ-đốc nhân giữ trong hai hay ba trăm năm đầu – đó là một thời gian lâu dài hơn cả toàn chiều dài lịch sử lập quốc của Hoa Kỳ. Nó thâm nhập vào Giáo Hội Tây Phương, còn gọi là Giáo Hội La-mã, vào thế kỷ thứ tư. Mãi đến thế kỷ thứ năm thì Giáo Hội La-mã mới ra lệnh cho nó được kỷ niệm như một lễ hội chính thức của Cơ-đốc nhân!

Thế thì, thói tục này của dân ngoại đã len vào cái gọi là Cơ-đốc Giáo như thế nào?

Bộ Schaff-Herzog Bách Khoa Từ Điển giải thích cách rõ ràng trong tiết mục về “Christmas:” “Ngày của lễ hội tùy thuộc vào ngày Brumalia của ngoại giáo (25 tháng 12) theo sau ngày Saturnalia (17-24 tháng 12) và sự kỷ niệm ngày ngắn nhất trong năm cùng với 'mặt trời mới' như thế nào… không thể xác định. Các lễ hội Saturnalia và Brumalia của ngoại giáo đã quá chìm sâu trong các thói tục phổ thông để mà có thể bị dẹp bỏ bởi sự ảnh hưởng của Cơ-đốc nhân… Lễ hội của ngoại giáo cùng với sự náo loạn và vui chơi của nó đã quá phổ thông đến nỗi các Cơ-đốc nhân vui mà viện cớ để tiếp tục sự kỷ niệm nó với một chút thay đổi trong tinh thần và hình thức. Các nhà truyền giảng Cơ-đốc của Phương Tây và Cận Đông phản đối, chống lại sự phù phiếm không chính đáng mà sinh nhật của Đấng Christ đã được kỷ niệm với, trong khi đó, các Cơ-đốc nhân ở Mesopotamia thì lên án anh em của họ ở Phương Tây về tội thờ lạy thần tượng và mặt trời, vì là Cơ-đốc nhân mà đã tiếp nhận lễ hội này của ngoại giáo.”

Hãy nhớ rằng, thế giới La-mã thuộc về ngoại giáo. Trước thế kỷ thứ tư, Cơ-đốc nhân chỉ là số ít, dầu có gia tăng, và bị bách hại bởi chính quyền và những người ngoại giáo. Nhưng, khi Constanrine trở thành hoàng đế, xưng mình theo Cơ-đốc Giáo, vào thế kỷ thứ tư, đặt Cơ-đốc Giáo ngang hàng với ngoại giáo, hàng trăm ngàn dân chúng trong thế giới La-mã bắt đầu tiếp nhận Cơ-đốc Giáo đang thịnh hành.

Nhưng cũng hãy nhớ rằng, những người này đã lớn lên trong các thói tục ngoại giáo, mà đứng đầu là lễ hội thờ lạy thần tượng vào ngày 25 tháng 12. Đó là một lễ hội vui chơi với tinh thần đặc biệt của nó. Họ vui hưởng nó! Họ không muốn bỏ nó! Cũng trong cùng một chủ đề, bộ Schaff-Herzog Bách Khoa Từ Điển giải thích rằng: chủ nhật, vốn là ngày dân ngoại giáo thờ lạy mặt trời, đã được Constantine công nhận như thế nào, và sự ảnh hưởng của Manichaeism ngoại giáo khiến cho Con của Đức Chúa Trời đã bị đồng hóa với chính mặt trời vật chất như thế nào, khiến cho những dân ngoại giáo của thế kỷ thứ tư, cùng gia nhập tập thể vào Cơ-đốc Giáo, có được lý do để gọi ngày lễ hội ngoại giáo của họ 25 tháng 12 (sinh nhật của thần mặt trời) là sinh nhật của Con Đức Chúa Trời.

Và đó là cách thức mà “Christmas” đã đi vào trong cái gọi là Cơ-đốc Giáo của chúng ta! Chúng ta có thể gọi nó bằng một tên khác, nhưng nó vẫn là lễ hội cũ của ngoại giáo thờ lạy mặt trời! Điều duy nhất thay đổi là cách mà chúng ta gọi nó. Bạn có thể gọi một con thỏ là một con “sư tử,” nhưngnó vẫn là con thỏ, y nguyên.

Một lần nữa, từ bộ Britannica Bách Khoa Từ Điển: “Có lẽ những người La-tinh, vào khoảng năm 354, đã chuyển sinh nhật 6 tháng Giêng sang 25 tháng 12, lúc ấy là lễ hội Mithraic… hay sinh nhật của mặt trời bất khuất… Dân Syrians và Armenians, những người bám vào ngày 6 tháng Giêng, lên án dân La-mã về tội thờ mặt trời thờ lạy thần tượng, cho rằng, lễ hội 25 tháng 12 do các môn đồ của Cerinthus lập ra…”

Nguồn Gốc Thật của Christmas

Nhưng nếu chúng ta nhận Christmas từ Công Giáo La-mã, và họ nhận nó từ ngoại giáo, thì ngoại giáo nhận nó từ đâu? Ở đâu, khi nào, và cái gì là nguồn gốc thật của nó?

Nó là thói tục đứng đầu của một hệ thống hủ bại dưới tên Ba-by-lôn, bị lên án trong suốt các lời tiên tri và các giáo lý của Thánh Kinh. Nó bắt đầu và có nguồn gốc từ Ba-by-lôn nguyên thỉ của Nim-rốt thời cổ. Vâng, nó phát sinh từ gốc rể của kẻ xuất hiện không bao lâu sau Cơn Nước Lụt.

Nim-rốt là cháu của Cham, Cham là con của Nô-ê. Nim-rốt là người thật sự xây dựng hệ thống Ba-by-lôn nắm bắt cả thế gian kể từ thời bấy giờ – một hệ thống ganh đua có tổ chức – của các chính quyền và đế quốc do loài người cai trị, dựa trên hệ thống kinh tế cạnh tranh và thủ lợi. Nim-rốt xây dựng tháp Ba-bên, là Ba-by-lôn nguyên thỉ, cổ thành Ni-ni-ve, và nhiều thành phố khác. Ông tổ chức vương quốc đầu tiên của thế giới. Tên Nim-rốt trong tiếng Hê-bơ-rơ ra từ chữ “Marad,” và có nghĩa là “kẻ phản nghịch” (Sáng Thế Ký 10:6, 8-12).

Từ các bản thảo xa xưa, có nhiều điểm giúp cho chúng ta biết về Nim-rốt, người khởi đầu một tổ chức của thế gian, bội bạc Thiên Chúa và thống trị thế giới cho tới ngày nay. Nim-rốt rất là gian ác, ông ta đã kết hôn với chính mẹ mình, bà tên là Semiramis. Sau cái chết bất kỳ của Nim-rốt, thì Semiramis, người được gọi là vợ-và-mẹ của Nim-rốt rao truyền tà giáo về sự Nim-rốt vẫn còn sống như là một thần linh. Bà ta xưng rằng, một cây thông đã nảy sinh ra từ một gốc cây chết, qua một đêm, đã trở thành cao lớn, tiêu biểu cho sự nảy sinh từ sự chết vào trong một đời sống mới của Nim-rốt. Bà xưng rằng, hàng năm, vào sinh nhật của Nim-rốt, ông sẽ viếng thăm cây thông và lưu các món quà lại trên cây. Ngày 25 tháng 12 là sinh nhật của Nim-rốt. Đây là nguồn gốc thật của cây Christmas (còn gọi là cây Nô-en).

Qua mưu kế và sắp xếp của mình, Semiramis đã trở thành “Nữ Vương Trên Trời” của Ba-by-lôn, và Nim-rốt, dưới nhiều tên khác nhau, đã trở thành “con thánh của Trời.” Trải qua nhiều thế hệ, trong sự thờ lạy tà thần này, Nim-rốt cũng trở thành Đấng Mê-si-a giả, con của thần mặt trời Ba-anh. Trong hệ thống Ba-by-lôn giả dối này, “Mẹ và Con,” (Semiramis và Nim-rốt được phục sinh), trở thành đối tượng được thờ phượng. Sự thờ phượng “Mẹ và Con” này lan truyền khắp thế gian. Tên gọi của nó đổi khác theo từng ngôn ngữ ở mỗi quốc gia. Tại Ai-cập, nó là “Iris và Osiris.” Tại Á-châu, nó là Cybele và Deoius.” Tại ngoại giáo La-mã, nó là “Fortuna và Jupiterpuer.” Ngay cả tại Hy-lạp, Trung Quốc (“Quan Âm và Na-tra”), Nhật Bản, và Tibet, các hình thức tương tự Madonna (bà Ma-ri) cũng được tìm thấy từ lâu đời, trước khi Đấng Christ giáng sinh.

Như vậy, trong thế kỷ thứ tư và thứ năm, khi hàng trăm ngàn dân ngoại giáo của thế giới La-mã bắt đầu “tiếp nhận” một Cơ-đốc Giáo mới được thịnh hành, thì họ đã mang theo các thói tục và niềm tin ngoại giáo cũ của họ, mà chỉ cần khoác cho nó những cái tên có tính Cơ-đốc. Các ý tưởng “Madonna” và “Mẹ và Hài Nhi” cũng trở nên thịnh hành, đặc biệt là vào thời điểm Christmas. Mỗi mùa Christmas bạn sẽ nghe hát và tụng hàng chục lần bài thánh ca “Đêm Yên Lặng, Đêm Thánh” với chủ đề quen thuộc “Mẹ và Hài Nhi.” Chúng ta, những người được sinh ra trong thế giới Ba-by-lôn như vậy, được nuôi dưỡng và nhúng chìm trong những điều này suốt cả đời sống của chúng ta, được dạy rằng phải tôn những điều ấy là thánh và xem chúng là thiêng liêng. Chúng ta không bao giờ thắc mắc để tìm hiểu xem chúng đến từ đâu – Có phải chúng đến từ Thánh Kinh hay chúng đến từ sự thờ lạy thần tượng của ngoại giáo?

Chúng ta bị sững sốt khi học biết được lẽ thật – buồn thay, một số người chống nghịch lại lẽ thật rõ ràng! Nhưng Thiên Chúa truyền cho các tôi tớ trung tín của Ngài, Hãy kêu to lên, đừng dứt; hãy cất tiếng lên như cái loa; rao bảo tội lỗi dân ta cho nó…”(Ê-sai 58:1). Dầu những dữ kiện này gây sững sốt nhưng chúng là những dữ kiện rõ ràng của lịch sử và Thánh Kinh.

Nguồn gốc thật của Christmas đi ngược về Ba-by-lôn thời cổ. Nó được gói gọn trong cái tổ chức bội Đạo mà Sa-tan đã dùng để kiềm chế thế gian bị lừa dối trong suốt bao nhiêu thế kỷ qua. Tại Ai-cập, người ta vẫn luôn tin rằng con của Iris (Tên trong tiếng Ai-cập của “Nữ Vương Trên Trời”) được sinh ra vào ngày 25 tháng 12. Dân ngoại giáo kỷ niệm sinh nhật danh tiếng này trong hầu hết thế giới biết được suốt hàng nhiều thế kỷ trước khi Đấng Christ giáng sinh.

Ngày 25 tháng 12 không phải là sinh nhật của Đức Chúa Jesus, Đấng Christ thật! Các sứ đồ và Hội Thánh ban đầu không hề kỷ niệm sinh nhật của Đấng Christ bao giờ. Không có một mạng lệnh hay chỉ thị nào trong Thánh Kinh bảo phải kỷ niệm nó – ngược lại, tin hay không thì sự kỷ niệm sinh nhật là của những người không tin Chúa, không phải là phong tục của Cơ-đốc nhân.

Không một chỗ nào trong Thánh Kinh dạy chúng ta thờ phượng “Mẹ và Hài Nhi.” Các sứ đồ và các Cơ-đốc nhân chân thật buổi ban đầu không hề làm điều đó. Thánh Kinh cho thấy, một thiên sứ báo với Ma-ri: “Hỡi người được ơn, mừng cho ngươi; Chúa ở cùng ngươi.” Ê-li-sa-bét nói với Ma-ri: “Ngươi có phước trong đám đàn bà, thai trong lòng ngươi cũng được phước,” và Ma-ri đáp lời: “Nầy, từ rày về sau, muôn đời sẽ khen tôi là có phước” (Lu-ca 1:28, 42, 48).

Ma-ri được Thiên Chúa ban phước nhiều và điều này được công nhận bởi mọi thế hệ kể từ ngày ấy – nhưng điều này không có nghĩa là bà phải được thần hóa, được thờ phượng, được làm cho thành một thần linh khi bà chỉ là một con người. Sự thờ phượng bà Ma-ri một cách rộng khắp như là “Mẹ Thiên Chúa,” giáo lý dạy rằng bà Ma-ri là vô nhiễm nguyên tội, xem bà như một Đấng Trung Bảo giữa loài người và Đức Chúa Trời chính là sự tiếp diễn của sự thờ lạy thần tượng từ người Ba-by-lôn thời cổ, bắt đầu bởi sự lường gạt xảo trá của Semiramis, vợ của Nim-rốt! Nó được ràng buộc chằng chịt với ý tưởng “Christmas.”

Như vậy, sự thờ lạy thần tượng thời cổ “Huyền Nhiệm của Người Canh-đê” được thành lập bởi vợ của Nim-rốt, được lưu truyền qua các tín ngưỡng ngoại giáo vào trong Giáo Hội Công Giáo dưới những cái tên mới mang tính Cơ-đốc, và từ đó, vào trong các giáo phái Tin Lành, rồi đến với tất cả chúng ta ngày nay.

Nguồn Gốc của Vòng Lá Thánh (Holly Wreath), Cây Tầm Gửi (Mistletoe), và Khúc Củi (Yule Log)

Từ đâu mà chúng ta có thói tục làm vòng cây chùm gửi (mistletoe) này? Trong thế giới của các dân ngoại giáo thời cổ thì cây chùm gửi được dùng trong ngày lễ hội đông chí, bởi vì, nó được xem là thiêng liêng đối với mặt trời, được cho là có năng lực chữa lành cách lạ lùng. Thói tục hôn nhau dưới cây chùm gửi của ngoại giáo là bước khởi đầu cho một đêm vui chơi và say sưa dâm dật – kỷ niệm sự chết của “mặt trời cũ” và sự sinh ra của mặt trời mới vào ngày đông chí (ngày ngắn nhất trong năm). Cây chùm gửi, thiêng liêng trong các lễ hội ngoại giáo, là một loại ký sinh (ăn bám, sống bám)!

Những trái dâu thánh cũng được xem là thiêng liêng đối với thần mặt trời. Khúc củi “Yule” thật ra, chính là “khúc củi mặt trời.” “Yule” có nghĩa là “vòng khung,” một biểu tượng của ngoại giáo dành cho mặt trời. Thế nhưng, những người xưng mình là Cơ-đốc nhân ngày nay lại nói đến “Mùa Yule thiêng liêng!”

Ngay cả việc đốt lửa và thắp nến như là một nghi thức của Cơ-đốc Giáo cũng chỉ là một sự kế tục của thói tục ngoại giáo để khích lệ thần mặt trời xế tàn khi nó xuống đến điểm thấp nhất trên vùng trời phương nam.

Bộ Americana Bách Khoa Từ Điển cho biết: “Vòng thánh, cây chùm gửi, khúc củi Yule… là những giáo tích của thời tiền Cơ-đốc.” Cuốn sách “Ngoại Giáo,” Trả Lời Các Câu Hỏi, được biên soạn bởi Frederick J. Haskins, có thể tìm thấy trong các thư viện công cộng, cho biết: “Sự sử dụng các vòng Christmas được các nhà có thẩm quyền tin rằng, có thể truy ngược về các thói tục trang trí nhà cửa và những nơi thờ phượng của ngoại giáo vào lúc lễ hội được diễn ra cùng một thời điểm với Christmas. Cây Christmas đến từ Ai-cập, và nguồn gốc của nó được tính ra là một thời điểm rất lâu dài trước thời đại Cơ-đốc.

Ngay Cả Ông Già Nô-en (Santa Claus)

Nhưng phải chăng, Ông Già Nô-en (Santa Claus) thân thương không phải là một sản phẩm của ngoại giáo? Ông ta chính là sản phẩm của ngoại giáo và tính chất thật của ông ta không nhân ái và thánh thiện như nhiều người nghĩ.

Cái tên “Santa Claus” là một cái tên đã bị biến thể từ tên “Thánh Nicholas,” một giám mục Công Giáo La-mã sống vào thế kỷ thứ năm. Xem trong bộ Britannica Bách Khoa Từ Điển, cuốn 19, trang 648-649, ấn bản thứ 11, bạn sẽ đọc thấy: “Thánh Nicholas, giám mục thành Myra… là một vị thánh được tôn kính bởi người Hy-lạp và La-tinh vào ngày 6 tháng 12… Có một huyền thoại về sự ông kín đáo tặng của hồi môn cho ba cô con gái của một người dân nghèo… được cho rằng làm phát sinh phong tục cổ về việc tặng quà cách bí mật vào đêm kỷ niệm Thánh Nicholas [6 tháng 12], rồi sau đó được chuyển sang ngày Christmas. Đó là sự liên kết giữa Christmas với Ông Già Nô-en (Santa Claus).

Trong suốt năm, các bậc cha mẹ trừng phạt con cái mình về tội nói dối. Thế rồi, vào thời điểm Christmas, chính họ lại nói dối với con cái của họ về Ông Già Nô-en. Điều đáng suy nghĩ là, có khi nào nhiều đứa trẻ lúc lớn lên, biết được sự thật thì cũng bắt đầu nghi ngờ Đức Chúa Trời cũng là một huyền thoại?

Có một em bé bị vỡ mộng về Ông Già Nô-en đã nói với bạn mình rằng: “Vậy, mình cũng sẽ xem xét lại câu chuyện về Đức Chúa Jesus Christ.” Có phải chính các Cơ-đốc nhân đã dạy cho trẻ em về những huyền thoại và những sự dối trá? Đức Chúa Trời phán: “Các ngươi chớ làm chứng dối!” Có lẽ theo lý luận loài người thì việc đó không sao, có thể làm được, nhưng Đức Chúa Trời phán “Có một con đường, xem dường chánh đáng cho loài người; nhưng cuối cùng, nó thành ra những nẻo của sự chết! “Ông Già Nick” (Old Nick) cũng là một tên của Ma Quỷ. Có sự liên kết nào chăng? Sa-tan giả làm “thiên sứ sáng láng” để lường gạt (II Cô-rinh-tô 11:4 và Khải Huyền 12:9).

Và khi chúng ta xem xét các dữ kiện, chúng ta ngạc nhiên biết rằng, rốt cuộc, sự thực hành kỷ niệm Christmas không phải là một sự thực hành chân thật của Cơ-đốc nhân nhưng là một thói tục ngoại giáo – một trong những nẻo của Ba-by-lôn mà chúng ta đã rơi vào.

Thánh Kinh nói gì về cây Christmas?

Nhưng nếu Thánh Kinh im lặng về việc dạy chúng ta kỷ niệm Christmas hoặc ghi lại sự kỷ niệm nó bởi các sứ đồ của Hội Thánh thật lúc ban đầu, thì Thánh Kinh có nói đến cây Christmas.

Điều này sẽ khiến cho nhiều người ngạc nhiên nhưng đây là điều Thánh Kinh nói:

Giê-rê-mi 10:2-4 “Đức Giê-hô-va phán như vầy: Chớ tập theo tục của các dân ngoại, chớ sợ các dấu trên trời, mặc dầu dân ngoại nghi sợ các dấu ấy. Vì thói quen của các dân ấy chỉ là hư không. Người ta đốn cây trong rừng, tay thợ lấy búa mà đẽo; rồi lấy bạc vàng mà trang sức; dùng búa mà đóng đinh vào, đặng khỏi lung lay.”

Trên đây là lời mô tả chính xác cây Christmas, bị Đấng Hằng Hữu gọi là “tục của các dân ngoại.” Chúng ta được truyền lệnh là chớ tập hoặc theo các tục ấy. Trong phân đoạn này, nó được xem như là thần tượng. Câu thứ năm cho thấy những cây này không thể nói, không thể đi, phải được khiêng vác. “Đừng sợ các thần ấy, vì không có quyền làm họa hay làm phước.” Chúng chẳng phải là các thần để bị sợ. Nhiều người cho rằng phân đoạn Thánh Kinh này dạy rằng không có gì nguy hiểm trong việc dựng cây Christmas, nhưng đó không phải là điều Thánh Kinh dạy.

Việc Trao Đổi Quà Có Hợp Thánh Kinh Không?

Nhưng khi đến phần quan trọng nhất trong tất cả các phần của sự kỷ niệm Christmas – mùa mua sắm Christmas – sự mua sắm và trao đổi quà – nhiều người sẽ kêu lên cách đắc thắng rằng: “Ít ra thì Thánh Kinh cũng dạy chúng ta làm như vậy. Không phải những nhà thông thái đã tặng quà khi Chúa giáng sinh đó sao?”

Một lần nữa, chúng ta lại sẽ ngạc nhiên khi chúng ta biết được lẽ thật hiển nhiên. Trước hết, chúng ta hãy xem lại lịch sử nguồn gốc của việc trao đổi quà, rồi chúng ta sẽ xem Thánh Kinh nói gì về việc đó.

Từ bộ Bibliotheca Sacra, cuốn 12, trang 153-155, chúng ta đọc được: “Sự trao đổi quà giữa bạn bè là đặc tính giống nhau giữa Christmas và Saturnalia, và đã được tiếp nhận bởi các Cơ-đốc nhân từ những dân ngoại giáo, theo sự cáo trách mà Tertullian đã tỏ ra cách rõ ràng.”

Sự thực là, thói quen trao đổi quà giữa bạn bè và bà con vào mùa Christmas không hề có một chút dấu tích nào về nó trong Cơ-đốc Giáo. Dầu có vẻ lạ lùng nhưng thói tục này không kỷ niệm sinh nhật của Đấng Christ mà cũng không tôn kính ngày ấy hay tôn kính Chúa. Giả sử như vào dịp sinh nhật của một người thân yêu của bạn. Bạn muốn tôn trọng sinh nhật của người ấy. Có khi nào bạn tốn kém tiền bạc mua sắm quà cho tất cả những người khác, trao đổi quà qua lại với tất cả các bạn bè và người thân khác của bạn, nhưng hoàn toàn quên lãng tặng quà cho chính người có sinh nhật mà bạn đang tôn trọng? Ngược lại, điều đó thật là lố bịch khi được xem xét như vậy, có phải không?

Nhưng đó chính xác là điều mà người ta đang làm khắp nơi trên thế giới. Họ tôn trọng một ngày không phải là sinh nhật của Đấng Christ, bằng cách tiêu phí hết từng xu mà họ dành dụm được để mua các món quà trao đổi qua lại giữa bạn bè và bà con. Tôi có thể nói theo kinh nghiệm nhiều năm của mình, như tôi tin rằng hầu hết các người chăn và người hầu việc Chúa có thể nói, rằng khi tháng 12 đến gần, hầu như tất cả những người xưng mình là Cơ-đốc nhân cùng nhau quên lãng việc tặng quà cho Đấng Christ và mục vụ của Ngài.

Bây giờ, hãy xem Thánh Kinh nói gì về việc tặng quà khi Đấng Christ giáng sinh. Ma-thi-ơ 2:1-11 chép: “Khi Đức Chúa Jesus đã sanh tại thành Bết-lê-hem, xứ Giu-đê, đang đời vua Hê-rốt, có mấy thầy bác sĩ ở đông phương đến thành Giê-ru-sa-lem, mà hỏi rằng: Vua dân Giu-đa mới sanh tại đâu? Vì chúng ta đã thấy ngôi sao Ngài bên đông phương, nên đến đặng thờ lạy Ngài… Khi vào đến nhà, thấy con trẻ cùng Ma-ri, mẹ Ngài, thì sấp mình xuống mà thờ lạy Ngài; rồi bày của báu ra, dâng cho Ngài những lễ vật, là vàng, nhũ hương, và một dược.”

Tại Sao Quà Được Tặng Đấng Christ?

Chúng ta chú ý đến điều này: Họ hỏi thăm về hài nhi Jesus, Đấng được sinh ra để làm vua của dân Giu-đa. Tại sao họ tặng quà Ngài? Có phải bởi vì đó là sinh nhật của Ngài? Không hề như vậy, bởi vì khi họ tìm đến nơi thì đã là nhiều ngày hay nhiều tuần sau khi Ngài được sinh ra. Sự kiện đó có là tấm gương để chúng ta noi theo mà trao đổi quà với nhau? Không! Hãy để ý kỷ: họ không trao đổi quà lẫn nhau nhưng họ “dâng cho Ngài!” Họ dâng quà của họ cho Đấng Christ chứ không phải cho bạn bè, thân thuộc hay cho lẫn nhau.

Tại sao?Tôi xin trích từ bộ giải kinh của Adam Clarke, cuốn 5, trang 46: “Câu 11. (Họ dâng quà lên Ngài). Dân đông phương không bao giờ đến gần các vua hay các bậc quyền quý mà không có quà trong tay của mình. Phong tục này thường được ghi nhận trong Cựu Ước và vẫn tồn tại ở đông phương, và trong một vài hải đảo mới được khám phá tại Nam Dương.

Sự việc là như vậy. Họ không thiết lập một phong tục Cơ-đốc mới về việc trao đổi quà để tôn vinh sinh nhật của Đấng Christ. Họ chỉ theo phong tục cũ từ thời cổ của đông phương trong việc tặng quà cho một vì vua Khi họ đến ra mắt Ngài. Họ đang ra mắt Ngài, Đấng được sinh ra để làm vua của dân Giu-đa. Vì vậy, phong tục khiến họ phải tặng quà – như khi khi Nữ Vương nước Sheba ra mắt Vua Sa-lô-môn – như nhiều người ngày nay mang quà theo khi họ viếng thăm tòa Bạch Ốc để gặp tổng thống.

Không, thói tục trao đổi quà qua lại không hề phát xuất từ sự kiện này trong Thánh Kinh, ngược lại, như đã trích từ lịch sử trên đây, nó là sự tiếp nối của một thói tục ngoại giáo. Thay vì tôn kính Đấng Christ, nó luôn luôn làm cho cản trở công việc của Ngài, thường làm cho chậm trể, vào mùa Christmas mỗi năm.

Chúng Ta Đang ở Trong Ba-by-lôn Mà Không Biết!

Christmas đã trở thành một mùa thương mãi. Những kẻ bảo trợ nó, giữ cho nó sống còn bằng những chiến dịch quảng cáo bán hàng tưng bừng nhất trong năm. Bạn sẽ thấy những hóa trang “Ông Già Nô-en” trong nhiều cửa tiệm. Các quảng cáo giữ cho chúng ta bị dẫn dắt sai lạc và bị lường gạt về “sự đẹp đẻ của tinh thần Christmas.” Các báo chí, đăng các quảng cáo, in những ấn bản sặc sở đề cao và tán tụng mùa ngoại giáo và “tinh thần” của nó. Những kẻ khờ dại đã bị tiêm nhiễm quá nặng, đến nỗi chống đối kịch liệt khi được nghe nói về lẽ thật. Nhưng “tinh thần Christmas” được tạo ra mỗi năm không phải để tôn kính Đấng Christ, mà để bán hàng hóa. Giống như tất cả các sự lường gạt của Sa-tan, nó hiện ra như “thiên sứ sáng láng,” nó được làm cho thể hiện như tốt lành. Hàng tỷ đô-la đã bị tốn phí trong cơn dịch mua sắm hàng năm, trong khi mục vụ của Đấng Christ phải chịu tổn thất. Nó chính là một phần trong hệ thống kinh tế của Ba-by-lôn.

Chúng ta là tuyển dân của Đức Chúa Trời. Nhưng chúng ta đang ở trong Ba-by-lôn, như Thánh Kinh đã tiên tri, mà chúng ta không biết. Hãy ra khỏi nó, hỡi dân ta, để các ngươi không dự phần trong tội lỗi của nó, và các ngươi sẽ không cùng chịu sự đoán phạt của nó – sẽ đến cách nhanh chóng – là tiếng cảnh báo của Khải Huyền 18:4.

Nguyên Tác: “The Plain Truth About Christmas” by David J. Stewart
Chuyển Ngữ: Huỳnh Christian Timothy
12.12.2012

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry.
Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

 

Đọc Tiếp →

Sự Thật Là Gì?

Copyright Notice:Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry – All Rights Reserved © 2003 Vietnamese Christian Mission Ministry, Inc. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức với điều kiện giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Huỳnh Thiên Hồng
Bấm vào đây để download bài viết này

[1292]

Trong trang trước, tờ thứ ba của cuốn "sách" Chúa Giê-su là ai? Giảng Dạy Những Gì? (CGSLAGDNG), Trần Chung Ngọc đã trích dẫn câu sau đây từ Thánh Kinh:

"Rồi các ngươi sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải thoát các ngươi."
(Giăng 8:32)

Một trong những điểm chung của bất kỳ ai phê bình, chỉ trích Thánh Kinh và Cơ-đốc Giáo, là trích dẫn Thánh Kinh để bảo vệ lập luận của mình mà không hiểu gì cả (hoặc hoàn toàn hiểu sai) về ý nghĩa của câu Thánh Kinh mà mình trích dẫn. Trần Chung Ngọc cũng không thoát ra ngoài cái khuyết điểm và thói xấu đó.

Khi trích dẫn câu Thánh Kinh nói trên, Trần Chung Ngọc hàm ý rằng cái nội dung chỉ trích và đả phá Chúa Jesus cùng những lời giảng dạy của Ngài, trong cuốn CGSLAGDNG do ông ta "biên khảo," là sự thật, và hễ ai đọc xong sự thật đó thì sẽ được giải thoát ra khỏi "vòng nô lệ" của Cơ-đốc Giáo. Khổ nỗi, người "trí thức" Trần Chung Ngọc không hiểu được danh từ sự thật trong câu Thánh Kinh mà ông ta trích dẫn có nghĩa gì.

Trần Chung Ngọc lầm lẫn giữa "sự kiện" và "sự thật." Sự kiện là những gì xảy ra trong thực tế của đời sống nhưng sự kiện không hẳn là sự thật. Sự kiện Cộng sản Bắc Việt đem quân xâm lấn và chiếm đoạt miền Nam Việt Nam là điều đã xảy ra trong thực tế, nhưng sự thật không phải là Cộng Sản Bắc Việt "giải phóng" nhân dân miền Nam. Sự kiện Trần Chung Ngọc và nhóm Giao Điểm chống Chúa Jesus và Cơ-đốc Giáo là điều xảy ra trong thực tế, nhưng sự thật không phải là Trần Chung Ngọc muốn "đóng góp một phần vô cùng nhỏ nhoi trong chiều hướng mở mang dân trí" cho "đám tín đồ thấp kém đã bị cấy vào đầu óc những niềm tin tôn giáo từ khi còn nhỏ" (Trang 11 & 12- CGSLAGDNG). Sự kiện "40 tài liệu được viện dẫn trong Chương I, là công trình nghiên cứu trong vòng 200 năm gần đây mà phần lớn là những nghiên cứu mới nhất về Chúa Giê-su của các học giả uy tín gồm những Giám Mục, Linh Mục, Giáo sư Thần Học, Giáo sư đại học v.v… ở trong cũng như ngoài giáo hội Ki Tô" (trang Lời Giới Thiệu – CGSLAGDNG) là điều xảy ra trong thực tế, nhưng sự thật không phải là những "công trình nghiên cứu" đó có thể chứng minh được Chúa Jesus là ai, giảng dạy những gì!

Người "trí thức lương thiện" Trần Chung Ngọc và nhóm Giao Điểm cùng những "học giả" của ông không nhận biết được một điều rất cơ bản về Chúa Jesus và Cơ-đốc Giáo, đó là: Người ta chỉ có thể BIẾT Chúa Jesus và Cơ-đốc Giáo khi người ta TIN NHẬN Chúa Jesus là Con Đức Chúa Trời, là Đấng vì yêu thương nhân loại đã xuống thế làm người, chịu chết trên cây gỗ để đền tội cho nhân loại, và đã sống lại sau khi chiến thắng sự chết; chứ không mấy ai BIẾT Chúa Jesus và Cơ-đốc Giáo qua sự "nghiên cứu." Một người chỉ thật sự "biết" vị ngon của tô phở bò khi ngồi xuống ăn tô phở đó chứ không phải nhờ vào "nghiên cứu" thành phần hóa học của tô phở hoặc cách thức nấu phở. Tuy nhiên, cũng có một số ít người, trong khi "nghiên cứu" về phở để viết bài chống báng phở, lại bị thuyết phục, tin rằng quả thật phở là một thức ăn thơm ngon và bổ dưỡng nên đã chịu ăn phở! Trong thời đại chúng ta đang sống đây, có một người trí thức thật, nhờ điều tra về Đức Chúa Jesus mà trở thành tín đồ của Ngài. Tôi xin vắn tắt vài hàng tiểu sử của người này nơi đây, để xem Trần Chung Ngọc có chịu công nhận sự tri thức, danh tiếng của người này hay không. Người này TIN NHẬN Chúa Jesus sau khi đã trưởng thành, đã nổi danh, và vốn là tín đồ của thuyết tiến hoá chứ không phải là một "tín đồ thấp kém đã bị cấy vào đầu óc những niềm tin tôn giáo từ khi còn nhỏ" như Trần Chung Ngọc đã viết một cách xách mé về những người tin nhận Chúa Jesus.

Lee Strobel, tốt nghiệp Master of Studies về Luật từ Đại Học Yale và tốt nghiệp ký giả từ Đại Học Missouri. Ông là cựu chủ biên về pháp lý của tờ Chicago Tribune, từng giảng dạy luật tại Roosevelt University. Ông từng nhận lãnh các giải thưởng cao quý nhất của Illinois về nghiệp vụ điều tra và báo chí phục vụ cộng đồng, do tổ chức United Press International trao tặng. Hành trình từ vô thần đến Cơ-đốc Giáo của ông đã được đúc kết thành văn bản trong tác phẩm "The Case for Christ: A Journalist's Personal Investigation of the Evidence for Jesus" là tác phẩm được giải huy chương vàng của "sách bán chạy nhất." Nếu bạn đọc muốn biết Lee Strobel đã "điều tra" về Chúa Jesus một cách lương thiện, khoa học và hợp lý như thế nào để rồi đi đến kết luận Chúa Jesus quả thật là "Đường Đi, Lẽ Thật, và Sự Sống" như lời Ngài đã tuyên phán, và thành tâm tin nhận Ngài, bỏ hết công danh, sự nghiệp để làm người rao truyền Tin Lành cứu rỗi của Chúa, thì xin vào link dưới đây để mua sách:

http://www.amazon.com/Case-Christ-Journalists-Personal-Investigation/dp/0310209307

Ngoài ra, mời các bạn vào link dưới đây để xem các nhà khoa học nói gì về Thánh Kinh:

http://www.answersingenesis.org/   

Trần Chung Ngọc hí hững sao chép những lời chống Chúa từ các "giám mục, linh mục, mục sư, giáo sư thần học" mà không biết rằng, chính Chúa Jesus đã phán về những người này như sau:

"Hãy coi chừng tiên tri giả, là những kẻ mang lốt chiên đến cùng các ngươi, song bề trong thật là muông sói hay cắn xé. Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng Ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa thì được vào nước thiên đàng đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha Ta ở trên trời mà thôi. Ngày đó, sẽ có nhiều người thưa cùng Ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng tôi chẳng từng nhơn Danh Chúa mà nói tiên tri sao? nhơn Danh Chúa mà trừ quỷ sao? và lại nhơn Danh Chúa mà làm nhiều phép lạ sao? Khi ấy, Ta sẽ phán rõ ràng cùng họ rằng: Hỡi kẻ làm gian ác, Ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi ta!" (Ma thi ơ 7:15, 21-23)

Trần Chung Ngọc đọc Thánh Kinh nhưng đọc chưa hết nên không biết rằng, gần hai ngàn năm trước, Thánh Kinh đã cảnh cáo tín đồ của Chúa Jesus như sau:

"Vì mấy người như vậy là sứ đồ giả, là kẻ làm công lừa dối, mạo chức sứ đồ của Đấng Christ. Nào có lạ gì, chính quỉ Satan mạo làm thiên sứ sáng láng. Vậy thì những kẻ giúp việc nó mạo làm kẻ giúp việc công bình cũng chẳng lạ gì; nhưng sự cuối cùng họ, sẽ y theo việc làm." (2 Cô rinh tô 11:13-15). "Chúng nó đã từ giữa chúng ta mà ra, nhưng vốn chẳng phải thuộc về chúng ta; vì nếu chúng nó thuộc về chúng ta, thì đã ở cùng chúng ta." (1 Giăng 2:19)

… Dầu vậy, trong dân chúng cũng đã có tiên tri giả, và cũng sẽ có giáo sư giả trong anh em; họ sẽ truyền những đạo dối làm hại, chối Chúa đã chuộc mình, tự mình chuốc lấy sự hủy phá thình lình. Có nhiều kẻ sẽ theo họ trong những sự buông tuồng, và đạo thật vì cớ họ sẽ bi gièm pha… (2 Phê-rơ 2: 1-2).

Chân lý không đến từ con người. Chân lý đến từ Đức Chúa Trời bởi Ngài chính là Chân Lý. Đức Chúa Trời bày tỏ chính mình Ngài cho con người qua Lời Hằng Sống của Ngài: "Xin Cha lấy lẽ thật khiến họ nên thánh. Lời Cha là lẽ thật." (Giăng 17:17)

Khi Đức Chúa Trời bày tỏ chính Ngài qua Lời thành văn của Ngài là Thánh Kinh:"Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình, hầu cho người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành" (II Ti mô thê 3:16, 17); "Vì lời của Đức Chúa Trời là lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, thấu vào đến đỗi chia hồn, linh, cốt, tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng. Chẳng có vật nào được giấu kín trước mặt Chúa, nhưng thảy đều trần trụi và lộ ra trước mắt Đấng mà chúng ta phải thưa lại" (Hê bơ rơ 4:12, 13);hay qua Lời thành nhục thể của Ngài là Chúa Jesus:"Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời" (Giăng 1:1); hay qua Lời trực tiếp của Ngài trong tâm linh con người bởi Chúa Thánh Linh: "Ngày nay nếu các ngươi nghe tiếng Ngài, thì chớ cứng lòng" (Hê bơ rơ 4:7); thì Ngài đang bày tỏ Chân Lý cho con người; và nếu con người biết lắng nghe Lời của Đức Chúa Trời, con người biết được Chân Lý và Chân Lý sẽ giải phóng con người ra khỏi sự mù lòa tâm linh, sự nô lệ của tội lỗi, và sự chết đời đời trong hoả ngục. (Nhân đây, cũng xin nói rõ là hoả ngục được dựng nên cho Sa-tan và quỷ sứ chứ không phải dựng nên cho con người, vì vậy, Chúa đã mở ra cho con người đường cứu rỗi. Tuy nhiên, nếu con người vì kiêu ngạo, khước từ sự cứu rỗi của Chúa, thì con người phải cùng chung số phận với Sa-tan. Tất cả những kẻ chống Chúa, sẽ cùng chung một số phận là đời đời xa cách tình yêu và sự hiện diện của Đức Chúa Trời. I Tê sa lô ni ca 1:9)

Dưới đây là ý nghĩa của Chân Lý trong Thánh Kinh mà nhà "trí thức lương thiện" Trần Chung Ngọc đọc cả bốn ấn bản Thánh Kinh vẫn không sao hiểu ra được:

Giăng 8:12-38

12 Đức Chúa Jêsus lại cất tiếng phán cùng chúng rằng: Ta là sự sáng của thế gian; người nào theo ta, chẳng đi trong nơi tối tăm, nhưng có ánh sáng của sự sống.
13 Người Pha-ri-si bèn nói rằng: Thầy tự làm chứng về mình, thì lời chứng thầy không đáng tin.
14 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Dẫu ta tự làm chứng về mình, nhưng lời chứng ta là đáng tin, vì ta biết mình đã từ đâu đến và đi đâu; song các ngươi không biết ta từ đâu mà đến, cũng chẳng hay ta đi đâu.
15 Các ngươi xét đoán theo xác thịt; ta thì không xét đoán người nào hết.
16 Nếu ta xét đoán ai, sự xét đoán của ta đúng với lẽ thật; vì ta không ở một mình, nhưng Cha là Đấng đã sai ta đến vẫn ở cùng ta.
17 Vả, có chép trong luật pháp của các ngươi rằng lời chứng hai người là đáng tin:
18 ta tự làm chứng cho ta, và Cha là Đấng đã sai ta đến cũng làm chứng cho ta.
19 Chúng thưa cùng Ngài rằng: Cha của thầy ở đâu? Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Các ngươi chẳng biết ta, và cũng chẳng biết Cha ta. Nếu các ngươi biết ta, thì cũng biết Cha ta nữa.
20 Đức Chúa Jêsus phán mọi lời đó tại nơi Kho, đương khi dạy dỗ trong đền thờ; và không ai tra tay trên Ngài, vì giờ Ngài chưa đến.
21 Ngài lại phán cùng chúng rằng: Ta đi, các ngươi sẽ tìm ta, và các ngươi sẽ chết trong tội lỗi mình. Các ngươi không thể đến được nơi ta đi.
22 Người Giu-đa bèn nói rằng: Người đã nói: Các ngươi không thể đến được nơi ta đi, vậy người sẽ tự tử sao?
23 Ngài phán rằng: Các ngươi bởi dưới mà có; còn ta bởi trên mà có. Các ngươi thuộc về thế gian nầy; còn ta không thuộc về thế gian nầy.
24 Nên ta đã bảo rằng các ngươi sẽ chết trong tội lỗi mình; vì nếu các ngươi chẳng tin ta là Đấng đó, thì chắc sẽ chết trong tội lỗi các ngươi.
25 Chúng bèn hỏi Ngài rằng: Vậy thầy là ai? Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Như lời ta đã nói với các ngươi từ ban đầu.
26 Ta có người sự nói và đoán xét về các ngươi; nhưng Đấng đã sai ta đến là thật, và điều chi ta nghe bởi Ngài, ta truyền lại cho thế gian.
27 Chúng không hiểu rằng Ngài phán về Cha.
28 Vậy Đức Chúa Jêsus phán rằng: Khi các ngươi treo Con người lên, bấy giờ sẽ biết ta là ai, và biết ta không tự mình làm điều gì, nhưng nói điều Cha ta đã dạy ta.
29 Đấng đã sai ta đến vẫn ở cùng ta, chẳng để ta ở một mình, vì ta hằng làm sự đẹp lòng Ngài.
30 Bởi Đức Chúa Jêsus nói như vậy, nên có nhiều kẻ tin Ngài.
31 Bấy giờ Ngài phán cùng những người Giu-đa đã tin Ngài, rằng: Nếu các ngươi hằng ở trong đạo ta, thì thật là môn đồ ta;
32 các ngươi sẽ biết lẽ thật, và lẽ thật sẽ buông tha các ngươi.

33 Người Giu-đa thưa rằng: Chúng tôi là dòng dõi Aùp-ra-ham, chưa hề làm tôi mọi ai, vậy sao thầy nói rằng: Các ngươi sẽ trở nên tự do?
34 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai phạm tội lỗi là tôi mọi của tội lỗi.
35 Vả, tôi mọi không ở luôn trong nhà, mà con thì ở đó luôn.
36 Vậy nếu Con buông tha các ngươi, các ngươi sẽ thật được tự do.
37 Ta biết rằng các ngươi là dòng dõi Áp-ra-ham, nhưng các ngươi tìm thế để giết ta, vì đạo ta không được chỗ nào ở trong lòng các ngươi.
38 Ta nói điều ta đã thấy nơi Cha ta; còn các ngươi cứ làm điều đã học nơi cha mình.

Chân Lý (Lẽ Thật, Sự Thật) của câu Thánh Kinh Giăng 8:32 mà nhà trí thức lương thiện Trần Chung Ngọc trích dẫn, đăng trang trọng vào trong trang trước, tờ thứ ba của cuốn "sách" CGSLAGDNG là chỉ về chính Chúa Jesus như câu hạ văn (8:36) đã minh định; và buông tha đây là buông tha khỏi sự nô lệ của tội lỗi. Trong chỗ khác, Chúa Jesus cũng xác nhận Ngài chính là Chân Lý:

"Vậy Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha." (Giăng 14:6)

Gần 2000 năm trước, khi Chúa Jesus dạy dỗ Phi lát, quan Tổng trấn La mã về Lẽ Thật, thì Phi lát đã thành thật mà thú nhận sự không hiểu của mình. Ngày nay, có nhiều người xưng mình là "lương thiện trí thức" nhưng khi không hiểu những gì mình đọc, lại không đủ lương thiện để thú nhận như Phi lát. Chúng ta hãy cùng nhau xem qua đoạn đối đáp giữa Chúa Jesus và Tổng trấn Phi lát, được ghi lại trong Thánh Kinh, sách Giăng 18:33-38

33 Phi-lát bèn vào trường án, truyền đem Đức Chúa Jêsus đến, mà hỏi rằng: Chính ngươi là Vua dân Giu-đa phải chăng?
34 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ngươi nói điều đó tự ý mình, hay là có người đã nói điều đó với ngươi về ta?
35 Phi-lát trả lời rằng: Nào có phải ta là người Giu-đa đâu? Dân ngươi cùng mấy thầy tế lễ cả đã nộp ngươi cho ta; vậy ngươi đã làm điều gì?
36 Đức Chúa Jêsus đáp lại rằng: Nước của ta chẳng phải thuộc về thế gian nầy. Ví bằng nước ta thuộc về thế gian nầy, thì tôi tớ của ta sẽ đánh trận, đặng ta khỏi phải nộp cho dân Giu-đa; nhưng hiện nay nước ta chẳng thuộc về hạ giới.
37 Phi-lát bèn nói rằng: Thế thì ngươi là vua sao? Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Thật như lời, ta là vua. Nầy, vì sao ta đã sanh và vì sao ta đã giáng thế: ấy là để làm chứng cho lẽ thật. Hễ ai thuộc về lẽ thật thì nghe lấy tiếng ta.
38 Phi-lát hỏi rằng:Lẽ thật là cái gì? Khi người đã hỏi vậy rồi lại đi ra đến cùng dân Giu-đa, mà rằng: Ta chẳng thấy người có tội lỗi gì cả.

Tóm lại, Lời Chúa từ gần hai ngàn năm trước đã khẳng định như sau:

17 Thật vậy, Đấng Christ đã sai tôi, chẳng phải để làm phép báp-tem đâu, nhưng để rao giảng Tin Lành, và chẳng dùng sự khôn khéo mà giảng, kẻo thập tự giá của Đấng Christ ra vô ích.
18 Bởi vì lời giảng về thập tự giá, thì những người hư mất cho là điên dại; song về phần chúng ta, là kẻ được cứu chuộc, thì cho là quyền phép của Đức Chúa Trời.
19 cũng có lời chép rằng: Ta sẽ hủy phá sự khôn ngoan của người khôn ngoan, Tiêu trừ sự thạo biết của người thạo biết.
20 Người khôn ngoan ở đâu? Thầy thông giáo ở đâu? Người biện luận đời nay ở đâu? Có phải Đức Chúa Trời đã làm cho sự khôn ngoan của thế gian ra dồ dại không?
21 Vì, tại thế gian cậy sự khôn ngoan mình, chẳng nhờ sự khôn ngoan Đức Chúa Trời mà nhận biết Đức Chúa Trời, nên Ngài đành lòng dùng sự giảng dồ dại của chúng ta mà cứu rỗi những người tin cậy.
22 Vả, đương khi người Giu-đa đòi phép lạ, người Gờ-réc tìm sự khôn ngoan,
23 thì chúng ta giảng Đấng Christ bị đóng đinh trên cây thập tự, là sự người Giu-đa lấy làm gương xấu, dân ngoại cho là dồ dại;
24 song le, về những người được gọi, bất luận người Giu-đa hay người Gờ-réc, thì Đấng Christ là quyền phép của Đức Chúa Trời và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời.
25 Bởi vì sự dồ dại của Đức Chúa Trời là khôn sáng hơn người ta, và sự yếu đuối của Đức Chúa Trời là mạnh hơn người ta.
26 Hỡi Anh em, hãy suy xét rằng ở giữa anh em là kẻ đã được gọi, không có nhiều người khôn ngoan theo xác thịt, chẳng nhiều kẻ quyền thế, chẳng nhiều kẻ sang trọng.
27 Nhưng Đức Chúa Trời đã chọn những sự dại ở thế gian để làm hổ thẹn những sự mạnh;
28 Đức Chúa Trời đã chọn những sự hèn hạ và khinh bỉ ở thế gian, cùng những sự không có, hầu cho làm những sự có ra không có,
29 để chẳng ai khoe mình trước một Đức Chúa Trời.
30 Vả, ấy là nhờ Ngài mà anh em ở trong Đức Chúa Jêsus Christ, là Đấng mà Đức Chúa Trời đã làm nên sự khôn ngoan, sự công bình, sự nên thánh, và sự cứu chuộc cho chúng ta;
31 hầu cho, như có lời chép rằng: Ai khoe mình, hãy khoe mình trong Chúa.

Nguyện sự nhơn từ và thương xót của Đức Chúa Trời giúp Trần Chung Ngọc và những ai chưa nhận biết Chân Lý, có cơ hội nhận biết Chúa Jesus là ai? Giảng dạy những gì? và đến với sự cứu rỗi chỉ có trong Đức Chúa Jesus Christ, trước khi quá trể. Nguyện Chúa từ ái thành toàn cho ước nguyện này. A-men!

Huỳnh Thiên Hồng
06/11/2003

Đọc Tiếp →

Trả Lời Tác Phẩm “Chúa Giê-su Là Ai?…” của Trần Chung Ngọc

Copyright Notice:Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry – All Rights Reserved © 2003 Vietnamese Christian Mission Ministry, Inc. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức với điều kiện giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Huỳnh Thiên Hồng
Bấm vào đây để download bài viết này

"Hãy thường thường sẵn sàng để trả lời mọi kẻ hỏi lẽ về sự trông cậy trong anh em."
(I Phi e rơ 3:15)

[2767]

Lời Người Viết:Những chữ in nghiêng trong bài dưới đây là nguyên văn trích từ tác phẩm "Chúa Giê-su Là Ai? Giảng Dạy Những Gì?" của Trần Chung Ngọc.

Năm qua (2002), làng văn hóa Việt Nam ở hải ngoại vừa có thêm một "tác phẩm" mới, nhằm "mở mang dân trí" để góp phần vào việc tạo "điều kiện tất yếu cho sự tiến bộ quốc gia." "Tác phẩm" này có tựa đề "CHÚA GIÊ-SU LÀ AI? GIẢNG DẠY NHỮNG GÌ?" do nhà "trí thức được đào tạo trên căn bản lương thiện" Trần Chung Ngọc "khảo luận" qua các tài liệu và Thánh Kinh, và do Giao Điểm xuất bản vào mùa Xuân 2002.

Trong phần "Lời nói đầu," tác giả khẳng định: "Tôi không chủ trương hận thù hay chia rẽ, nhưng tôi quan niệm rằng sự mở mang dân trí là điều kiện tất yếu của sự tiến bộ quốc gia, và sự hòa hợp trong các khối dân tộc chỉ có thể có khi chúng ta hiểu rõ tín ngưỡng của nhau và tìm những phương cách để cùng nhau chung sống trên đất nước thân yêu của chúng ta. Hận thù và chia rẽ bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết chứ không từ sự hiểu biết những sự thực tôn giáo;" (trang V – CGSLAGDNG). Thật là một tâm tình rất đáng ngưỡng phục!

Tuy nhiên, sau khi lướt qua "tác phẩm" CGSLAGDNG (CHÚA GIÊ-SU LÀ AI? GIẢNG DẠY NHỮNG GÌ?) của Trần Chung Ngọc, tôi thật sự thất vọng, một nỗi thất vọng lớn, và tiếc cho $15 đã bỏ ra mua "sách." Cái mà Giao Điểm giới thiệu: "thuộc loại nghiên cứu ở trình độ cao của một trí thức đã được đào tạo trên căn bản lương thiện và trong tinh thần khoa học của một khoa học gia, một nhà Vật Lý học," thực chất chỉ là một tổng hợp rác rưởi tư duy của những nhà "trí thức" hoang tưởng.

Những "lý luận" của các nhà "trí thức" này nếu dùng để viết một bài văn nghị luận bậc trung học còn không đáng để được điểm trung bình. Cách trưng dẫn và giải thích Kinh Thánh của những "trí thức gia" này cho thấy rõ sự vô trí của họ. Trần Chung Ngọc chỉ làm công việc "lượm rác" trong những đống phế thải của tư tưởng nhân loại, vậy mà Giao Điểm lại huênh hoang gọi đó là một "tác phẩm thuộc loại nghiên cứu ở trình độ cao của một trí thức đã được đào tạo trên căn bản lương thiện và trong tinh thần khoa học của một khoa học gia, một nhà Vật Lý học." Thử hỏi, ngày hôm nay, nếu chúng ta muốn tìm hiểu về thực chất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, chúng ta sẽ đi tìm tài liệu ở đâu? Phải chăng chúng ta sẽ gom góp các tác phẩm của những cây viết cộng sản viết về QLVNCH, cóp nhặt những đoạn ưng ý nhất của các tác giả đó, đem in thành một cuốn "sách," đặt cho nó cái tên: "Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa Là Ai? Đã Chiến Đấu Như Thế Nào?" Hai điểm nổi bật nhất trong "tác phẩm" CGSLAGDNG của Trần Chung Ngọc là:

1) Đánh phá Công Giáo:Thật ra, Trần Chung Ngọc mượn tên Chúa Jesus để đánh phá Công Giáo. Hơn một nửa những gì Trần Chung Ngọc "viết" trong đó là đả kích Công Giáo. Chính chỗ này nói lên sự"lương thiện" của Trần Chung Ngọc. Sợ rằng, tiếp tục lấy tựa đề đả kích Công Giáo thì sẽ không "ăn khách" nữa, bởi giáo dân Công Giáo đâu có thừa tiền để bỏ ra nghe người ta chửi mình, còn Phật tử thuần thành thì đâu có chấp nhận sự sân si bài xích tôn giáo của người khác theo kiểu "đấu tố" một chiều của cộng sản. Ngay trong mấy trang đầu của cuốn "sách," Trần Chung Ngọc đã cho đăng hình của Giáo Hoàng John Paul II và hình vẽ cảnh linh mục Công Giáo thiêu sống thổ dân từ chối theo đạo. Những cái hình này có liên quan gì đến Chúa Jesus và sự giảng dạy của Chúa? Có thể nào, viết một cuốn sách lấy tên là "Đức Phật và Phật Pháp" rồi cho đăng hình mấy sư đeo mắt kính đen, ngồi xe jeep Mỹ, hút thuốc lá Mỹ, "chỉ đạo" những cuộc biểu tình chống Mỹ? Có thể nào đem chuyện "bàn thờ Phật xuống đường," hoặc chuyện mấy sư hổ mang, mấy dâm tăng ra để thóa mạ Phật Thích Ca và Phật Pháp? Thiết tưởng, một trí thức, lại là một trí thức "được đào tạo trên căn bản lương thiện" phải biết thế nào là một việc làm lương thiện và không lương thiện. Thiết tưởng, một Phật tử thuần thành, lại là một "trí thức" Phật tử, không thể nào mở miệng, đặt bút để thóa mạ một ai. Nói lên một sự thật, khác với nhân danh sự thật để thóa mạ "chúng sinh."

Trong quan điểm chân chính của Phật giáo: "Chúng sinh là Phật chưa thành!" Có thể nào, một Phật tử lại nhân danh này, nhân danh nọ (mở mang dân trí, đoàn kết dân tộc, bảo tồn văn hóa …) là những cái "danh" tự nó cũng không thật (theo thuyết Vô Ngã) để nhục mạ những vị "Phật sẽ thành?" Sự ngã mạn, biên kiến của Trần Chung Ngọc đối với Cơ đốc giáo nói chung, đối với Công Giáo La mã nói riêng, đã cho người đọc thấy rõ, Trần Chung Ngọc không phải là một Phật tử thuần thành. Bởi lẽ, một Phật tử chân chính, cho dù không có tri thức cao về văn hoá, về Phật học, cũng biết là thái độ, lời ăn tiếng nói, bài viết của Trần Chung Ngọc không xứng hợp với những ai tự cho mình là con Phật. Một cái miệng tụng niệm "Đức Phật đã thành," không thể nào thoát ra những lời ngã mạn, đê tiện, hạ nhục những vị "Phật sẽ thành."

2) Trần Chung Ngọc tự để lộ chân tướng là cán bộ cộng sản Việt Nam.Tôi xin trích đăng lại nguyên văn phát biểu trên giấy trắng mực đen của Trần Chung Ngọc, để quý bạn đọc tự thẩm định:

"Chính quyền Việt Nam cần phải ý thức được cái hiểm họa Ki Tô, Ca Tô cũng như Tin Lành, nếu không muốn truyền thống dân tộc và văn hóa của Việt Nam bị xóa sạch trong tương lai, rơi vào vòng nô lệ Vatican hay Tin Lành, bình phong tôn giáo của các đế quốc tư bản Âu Mỹ." (Trang 10, CGSLAGDNG)

Tôi muốn hỏi Trần Chung Ngọc là chắc ông ta rất đau khổ khi phải sống trong "vòng nô lệ" Tin Lành trên đất nước "đế quốc tư bản" Mỹ này; dân tộc Ý chắc sống rất là đau khổ trong "vòng nô lệ" Vatican hơn là dân tộc Việt Nam đang sống trong vòng nô lệ của bạo quyền cộng sản vô thần. Dưới chế độ vô thần, độc tài, sắt máu của cộng sản, chắc là truyền thống dân tộc và văn hóa của Việt Nam đã được bảo tồn và phát huy? Tôi không biết là dân tộc Việt Nam chúng ta có cái truyền thống văn hóa đấu mẹ tố cha, giết lầm hơn tha sót… Tôi không biết là dân tộc Việt Nam có truyền thống cắt đất hiến dâng một phần lãnh thổ cho ngoại bang. Tôi không biết là dân tộc Việt Nam có truyền thống và văn hóa nhốt tù thiếu nhi tám tuổi:

"Một tay em trổ: Đời xua đuổi.
Một tay em trổ: Hận vô bờ.
Thế giới ơi, người có thể ngờ?
Đó là một tù nhân tám tuổi…

Những thiếu nhi điển hình chế độ
Thuở mới đi tù trông thật ngộ
Lon xon không phải mặc quần
Chiếc áo tù dài phủ kín chân

… Giờ thấm thoát mười xuân đã lớn
Mặt mũi vêu vao, tính tình hung tợn
Mở miệng là chửi bới chẳng từ ai
Có thể giết người vì củ sắn, củ khoai!" [1]

Tôi thật không ngờ, Trần Chung Ngọc thà là để cho dân tộc Việt Nam phải sống trong cảnh:

"Đảng dìu dắt thiếu nhi thành trộm cướp
Giải phóng đàn bà thành đỉ, thành trâu
Giúp người già bằng bắt bớ rể, dâu
Và cải tiến dân sinh thành xác mướp
Đảng thực chất chỉ là đảng cướp…" [1]

Chứ Trần Chung Ngọc không muốn cho dân tộc Việt Nam "chịu" đau khổ trong "vòng nô lệ" Vatican như dân Ý hoặc trong"vòng nô lệ" Tin Lành như dân Mỹ. Đến lúc nào Trần Chung Ngọc sẽ viết "sách" kêu gọi giải phóng nhân dân Ý và nhân dân Mỹ, để thành toàn "nghĩa vụ quốc tế?"

Nhưng, Trần Chung Ngọc lại tự mình mâu thuẫn khi cũng trong bài "Lời Nói Đầu" Trần Chung Ngọc viết rằng: "Sự hòa hợp tôn giáo trong các nước văn minh tiến bộ Âu Mỹ, nơi đây có vô số những sách viết về mọi tôn giáo, là một tấm gương để chúng ta soi vào" (Trang V – CGSLAGDNG). Thật là lạ lùng cho lối tư duy của "trí thức" Trần Chung Ngọc. Chỉ cách nhau 12 trang giấy, Trần Chung Ngọc vừa "soi" vào tấm gương hòa hợp tôn giáo ở các nước văn minh tiến bộ Âu Mỹ xong, thì lại lớn tiếng cảnh báo chính quyền cộng sản Việt Nam coi chừng bị rơi vào "vòng nô lệ" Vatican hay Tin Lành, bình phong tôn giáo của các đế quốc tư bản Âu Mỹ." Vậy, cộng sản Việt Nam nên học cái gương tự do tôn giáo, hòa hợp tôn giáo của Âu Mỹ hay nên triệt hại Cơ đốc giáo để khỏi bị "nô lệ" Cơ đốc giáo?

Trần Chung Ngọc viết tiếp:

"Chính quyền và người dân Việt Nam cần ý thức được tầm quan trọng của sự mở mang dân trí. Nếu không muốn mang tội với dân tộc trong lịch sử Việt Nam, chính quyền Việt Nam cần đẩy mạnh nỗ lực mở mang dân trí. Đây chính là sách lược then chốt để ngăn chặn sự xâm nhập văn hóa Việt Nam qua những luận điệu mê hoặc hoang đường của Ki Tô Giáo, đồng thời là cái chìa khóa để mở rộng cánh cửa tiến bộ về mọi mặt của nước nhà." (Trang 11 – CGSLAGDNG)

Trần Chung Ngọc làm như cộng sản Việt Nam KHÔNG HỀ CÓ TỘI VỚI DÂN TỘC TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM. Trần Chung Ngọc hàm ý là những cơn bách hại tôn giáo khởi từ năm 2000 đến nay tại Việt Nam của bạo quyền cộng sản là "một sự mở mang dân trí" và nếu tiếp tục tàn sát những lương dân vô tội như thế thì cộng sản Việt Nam sẽ KHÔNG MANG TỘI VỚI DÂN TỘC VIỆT NAM TRONG LỊCH SỬ; Nhờ giết chóc như thế, cộng sản Việt nam đã "vận dụng" cái chìa khóa để mở rộng cánh cửa tiến bộ về mọi mặt của nước nhà. Tôi thật sự ao ước được nghe tiếng nói của các Phật tử chân chính về những lời tuyên bố trên đây của "Phật tử" Trần Chung Ngọc.

Trong phần "Lời Giới Thiệu" của Giao Điểm (không biết do ai viết hay cũng do chính Trần Chung Ngọc viết) có đoạn sau đây:

"Trong Chương II, Giáo sư Trần Chung Ngọc đã trích dẫn từ Thánh Kinh, Tân Ước, thuần túy từ Tân Ước, những lời Chúa Giê-su nói và những hành động của Người, và đưa ra một phân tích tổng hợp mà chúng tôi tin chắc quý bạn chưa bao giờ được nghe hoặc biết đến, vì người ngoại đạo cũng như người trong đạo thường không đọc Thánh Kinh, và dĩ nhiên, chẳng có ai mang những điều này ra giảng trong các nhà thờ." (Lời Giới Thiệu – CGSLAGDNG)

Chắc chắn là những lời giải thích xuyên tạc, vô trí về Thánh Kinh thì tín đồ Cơ đốc giáo chẳng muốn nghe. Nhưng nói là "người trong đạo thường không đọc Thánh Kinh" thì thật là không biết phải đánh giá "trí thức" của các "đại trí thức gia" Giao Điểm như thế nào! Xưng là "trí thức đuợc đào tạo trên căn bản lương thiện" mà không biết rằng nếp sống đạo của Cơ đốc nhân dựa trên mối tương giao mật thiết với Đức chúa Trời bằng hai yếu tố bất khả phân ly: sự cầu nguyện và sự đọc Kinh Thánh. Cầu nguyện được gọi là hơi thở tâm linh, còn Kinh Thánh được gọi là thức ăn tâm linh của người theo Chúa. Đời sống đức tin của người theo Chúa chỉ có thể tăng trưởng khi người ấy cầu nguyện và đọc Kinh Thánh.

Những sách giải kinh, những bài giảng về các câu Kinh Thánh Trần Chung Ngọc trích dẫn trong Chương II của cuốn "sách" CGSLAGDNG, nhiều đến nỗi hầu như một người không có đủ thời gian để mà đọc cho hết, vậy mà các "trí thức" Giao Điểm dám nói khơi khơi là "người ngoại đạo và người trong đạo thường không đọc Thánh Kinh, và dĩ nhiên, chẳng có ai mang những điều này ra giảng trong các nhà thờ." Các "trí thức" Giao Điểm hình như không thèm biết cái "sự thật" Kinh Thánh là một cuốn sách được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất trên thế giới, được in ra nhiều nhất trên thế giới, và thay đổi cuộc đời của nhiều người nhất trên thế giới. Nếu người trong đạo và ngay cả người ngoài đạo không đọc Kinh Thánh (chẳng biết Trần Chung Ngọc, quý "trí thức gia" Giao Điểm, và quý "trí thức gia" được Trần Chung Ngọc trích đăng, thuộc về người trong đạo hay người ngoài đạo?) thì Kinh Thánh được dịch và in ra để làm gì, từ năm này sang năm khác, và giá bán một quyển Kinh Thánh hoặc các sách giải kinh, các sách thần học không phải là rẻ, nếu so với các loại sách khác. Ở đây, chỉ nói để mà so sánh chứ không phải để khen chê: Con số các cơ sở Phật Học Viện trên toàn thế giới cũng không nhiều bằng con số các Thần Học Viện chỉ riêng tại nước Mỹ; Con số các nhà sách Phật Học trên toàn thế giới gom lại cũng không nhiều bằng con số các nhà sách Thần Học Cơ-đốc chỉ trong một tiểu bang CA hoặc TX của Mỹ (cứ vào internet để search thì rõ). Con số kinh sách, giảng luận Phật Học được in ra trên toàn thế giới, cũng không nhiều bằng chính bản thân cuốn Kinh Thánh được in ra, chứ chưa nói đến các sách vỡ thần học và giải kinh!

Tôi muốn nói cho Trần Chung Ngọc và nhà "trí thức" Giao Điểm nào đó viết lời giới thiệu cho Trần Chung Ngọc, biết rằng bất kỳ một câu Kinh Thánh nào Trần Chung Ngọc trích dẫn trong phần II của cuốn CGSLAGDNG, cũng đều được "người trong đạo" phân tích, giảng luận ít nhất là 10 lần hơn bất kỳ một câu kinh Phật nào được Phật tử phân tích và thuyết giảng. Tôi thách thức Trần Chung Ngọc "khảo cứu" một câu kinh Phật được phân tích và thuyết giảng nhiều nhất, được ghi lại trên giấy trắng mực đen, để xem câu kinh đó được phân tích và thuyết giảng bao nhiêu lần; rồi tôi sẽ chứng minh bằng sách vỡ, bất kỳ một câu Kinh Thánh nào mà Trần Chung Ngọc trích dẫn trong phần II của cuốn CGSLAGDNG, cũng đều được phân tích và giảng dạy ít nhất là 10 lần hơn câu kinh Phật đó. Ở đây, không phải tôi muốn đưa ra sự hơn thua về tính "phổ thông" của kinh Phật và kinh Chúa. Nhưng tôi chỉ muốn nói cho Trần Chung Ngọc và các "trí thức" Giao Điểm biết rõ: Người tín đồ Cơ-đốc Giáo chân chính đọc, phân tích, giảng dạy, và thực dụng Kinh Thánh mỗi ngày trong đời sống của họ. Đó là lẽ sống của đời họ! Và, điều đó được chứng minh bằng không biết bao nhiêu sách vỡ đã ghi lại kết quả của sự đọc, phân tích, và giảng giải Kinh Thánh của tín đồ Cơ-đốc. Tín đồ Cơ-đốc chân chính tin theo Chúa Jesus không chỉ dựa trên lời tường thuật trong Kinh Thánh, mà còn là dựa vào quyền năng thay đổi lòng người của Kinh Thánh. Nếu Kinh Thánh có lý thuyết hay đến đâu, lý luận có thuyết phục đến đâu, nhưng những người tín đồ Cơ-đốc không kinh nghiệm được những điều Kinh Thánh dạy trong chính tâm linh họ: "Sự bình an thiên thượng" mà thế gian không thể hiểu; Năng lực thắng được sự cám dỗ làm điều dữ và năng lực làm trọn những điều lành; Sự tiêu tan của mặc cảm tội lỗi sau khi hưởng ân cứu rỗi của Chúa; Tình yêu thiên thượng khiến một người có thể tha thứ và yêu thương ngay chính kẻ thù của mình; v.v… thì họ không vì đức tin mà chịu tử đạo cả hàng triệu người đâu! Những Cơ-đốc nhân được gì khi họ bỏ hết mọi sự tiện nghi, sung túc trong một thế giới văn minh để đến với những con người cùi phung, lỡ lói, tật bệnh, thiếu nghèo trong chốn rừng sâu, núi thẳm ở những nơi tận cùng của thế giới? (Đến với những con người mà "Phật tử" Trần Chung Ngọc gọi là "còn đóng khố" hàm ý miệt thị họ là bán khai, ngu dốt, thất học!) Ai vinh danh họ? Phần thưởng nào, huy chương nào được trao tặng cho họ? Động cơ nào? sức mạnh nào thúc đẩy và giúp họ trung thành với nghĩa cử dấn thân cao đẹp đó cho đến cuối cuộc đời? Chỉ có một câu trả lời thỏa đáng: Chúa Cứu Thế Jesus Christ mà họ tin nhận đó, thật sự là Chân Lý, là Tình Yêu, là Sự Sống đang sống trong chính họ, là động cơ và sức mạnh để trái tim họ tan chảy ra trước đau khổ, nhục nhằn của đồng loại. Lý trí bình thường của một con người cũng nhận ra được điều này! Câu:"người ngoại đạo và người trong đạo thường không đọc Thánh Kinh, và dĩ nhiên, chẳng có ai mang những điều này ra giảng trong các nhà thờ" thật sự là câu nói vô căn cứ của một người vô trí. 

Trong "Lời nói đầu," Trần Chung Ngọc viết: "Sự thật là sự thật, sự thật không có tính cách bè phái và tuyệt đối không thiên vị. Lương tâm trí thức của bất cứ người Việt Nam nào quan tâm đến vấn đề tôn giáo là phải tôn trọng sự thật trong các tôn giáo, bất kể sự thật đó như thế nào. Trong thời đại này, chúng ta phải có can đảm đối diện với sự thật dù sự thật đó không hợp ý ta hay mang đến cho chúng ta ít nhiều phiền muộn." (Trang IV & V – CGSLAGDNG)

Tôi ngờ rằng người viết "Lời giới thiệu" cho Trần Chung Ngọc không phải là một người "trí thức" Việt Nam, bởi người đó không dám "tôn trọng" sự thật là Cơ-đốc nhân xem việc đọc Kinh Thánh là nhu cầu sống chết, sự thật là Kinh Thánh được in và dịch ra nhiều nhất trên toàn thế giới. Hoặc giả, người đó là một "trí thức" Việt Nam nhưng không có lòng quan tâm đến vấn đề tôn giáo, mà chỉ quan tâm làm sao cho "đảng" đắc lợi trong việc khuấy động hận thù giữa Phật Giáo và Công Giáo. Tôi cũng ngờ là Trần Chung Ngọc tuy nói vậy mà không phải vậy. Chính trong phần "Dẫn nhập" Trần Chung Ngọc đã dịch "Justification by Faith" ra Việt ngữ là: "Đức Tin biện minh cho tất cả" đủ để cho thấy trình độ "trí thức" và mức độ "lương thiện" của tác giả trong sự quan tâm đến tôn giáo. (Justification by Faith là giáo lý về "sự xưng nghĩa bởi đức tin" của Cơ đốc giáo) "Đức Tin biện minh cho tất cả" có nghĩa là gì? Phải chăng, Trần Chung Ngọc muốn gieo rắc vào đầu người đọc một ấn tượng sai lầm về lẽ đạo quan trọng của Cơ Đốc Giáo? Dịch "bậy" một cách đầy ác ý như vậy là một sự cố tình "chơi chữ" của Trần Chung Ngọc. Trần Chung Ngọc muốn lập lờ trong sự một từ hai nghĩa của "justify và justification" trong Anh ngữ. (Justify = to show a sufficient lawful reason for an act done. Justification = the act, process, or state of being justified by God – Merriam Webster's Collegiate Dictionary – Được xưng công nghĩa bởi đức tin nghĩa là một tội nhân được Đức Chúa Trời xưng là sạch tội khi người ấy tin nhận rằng Đức Chúa Jesus đã chết trên thập tự giá để trả nợ tội thế cho người ấy.) Nếu một người thử dịch "Đức Tin biện minh cho tất cả" ra Anh ngữ, dịch một cách nghiêm chỉnh, sát nghĩa, sẽ thấy được cái ác ý của Trần Chung Ngọc. Nhưng, tôi cũng không ngạc nhiên đâu, bởi vì câu nói: "Cứu cánh biện minh cho phương tiện" là câu kinh nhật tụng của người cộng sản. Trần Chung Ngọc có vì quen miệng, hoặc vì "tâm đắc" với ý nghĩa của câu kinh cộng sản ấy mà cố tình dịch "bậy" cũng là điều tự nhiên.

Trong suốt cuốn "sách," Trần Chung Ngọc không ngớt mạ lỵ các tín đồ của Đấng Christ như là những người"tầm thường, ngu dốt, thất học" và tìm cách đề cao Phật Giáo (chắc có hậu ý để cho Công Giáo "đánh trả" vào Phật Giáo). Thế nhưng, khi nhắc đến các tác giả Cơ-đốc người Việt như Tiến Sĩ Lê Anh Huy, Tiến Sĩ Phan Như Ngọc, "Cựu Đại Đức Phật Giáo" Nguyễn Huệ Nhật (xuất thân đại học Vạn Hạnh), thì Trần Chung Ngọc "phe lờ" học vị của những tác giả này. Làm như thể Lê Anh Huy, Phan Như Ngọc, Nguyễn Huệ Nhật là những "tín đồ Cơ đốc tầm thường, ngu dốt, thất học, và cuồng tín chỉ biết nhắm mắt nghe theo lời giảng của các mục sư mà không hề tự mình đọc Kinh Thánh." Chính điểm này cũng nói lên cái "trí thức lương thiện" của Trần Chung Ngọc. Tôi không biết Trần Chung Ngọc sẽ có đủ can đảm để viết rằng nhà khoa học Isaac Newton, một tín đồ Cơ-đốc chân thành – cha đẻ của định luật vật lý mà Trần Chung Ngọc phải mài đũng quần trên ghế của nhà trường để học, để thán phục, để mang cái học đó ra truyền lại cho người khác – cũng là"một tín đồ Cơ đốc tầm thường, ngu dốt, thất học, và cuồng tín chỉ biết nhắm mắt nghe theo lời giảng của các mục sư mà không hề tự mình đọc Kinh Thánh" hay không! (Theo tài liệu của Giao Điểm thì Trần Chung Ngọc là một khoa học gia, một nhà vật lý học, từng dạy vật lý trong một đại học ở Mỹ). Ở đây, tôi không có cái ý "khoe khoang bằng cấp" giùm cho những tác giả nói trên, nhưng vì Trần Chung Ngọc không ngớt mạ lỵ tín đồ Cơ-đốc như là những kẻ tầm thường, ngu dốt, thất học, mê tín và cuồng tín nên tôi mới nêu ra cái điểm nổi bật về "trí thức""lương thiện" biết tôn trọng sự thật của Trần Chung Ngọc.

Thật ra, tôi không muốn dính vào những thứ rác rưởi mà Trần Chung Ngọc đã cất công thu thập một cách rất là "tâm đắc," (nói một tín ngưỡng là đúng hoặc sai theo nhận định chủ quan của mình, khác với việc mạ lỵ một tín ngưỡng). Nếu Phật Thích Ca tuyên bố là có đến 84,000 pháp môn để qua đó một người có thể tìm đến chân lý, thì Trần Chung Ngọc và các "trí thức" Giao Điểm là ai để phán định Cơ-đốc Giáo không thuộc một trong 84,000 pháp môn ấy? Tôi nói đây, là theo quan điểm và lý luận chính tông của Phật Giáo! Cho nên, bài bác, mạ lỵ một tôn giáo, một "pháp môn" mà tự mình chưa hề bao giờ chứng nghiệm, tức là chỉ tuôn ra những thứ rác rưởi, xuất phát từ ngã mạn và biên kiến! Nhưng, xét ra, cũng nên "tản mạn" một chút về những điều "tâm đắc" của Trần Chung Ngọc như là một hình thức "tái chế" những rác rưởi trong tâm linh của ông ta thành một thứ "phân bón" hầu sau này, sẽ hữu dụng trong việc giúp ông tăng trưởng đức tin mà tôi mong rằng một ngày nào đó, ông sẽ tìm gặp trong Chúa Cứu Thế Jesus Christ, trước khi quá muộn. Bên cạnh đó, cũng nên có một bài nhận định về cuốn "sách" của Trần Chung Ngọc để giúp hóa giải những chất độc vô thần, phỉ báng tôn giáo, phỉ báng Đức Chúa Trời, mà Trần Chung Ngọc cùng nhóm Giao Điểm đang hung hăng, điên cuồng gieo rắc.

Trong những bài kế tiếp, tôi sẽ chỉ đề cập đến những "hiểu biết" ấu trỉ của nhà "trí thức lương thiện" Trần Chung Ngọc xoay quanh hai tiêu đề "Chúa Jesus là ai?" và "Chúa Jesus giảng dạy những gì?" Mặc dù đó chỉ là "diện" của cuốn "sách," còn "điểm" của cuốn "sách" là tấn công vào Giáo Hội Công Giáo, nhưng xin để cho quý vị giáo dân và hàng giáo phẩm Công Giáo lên tiếng về phần đó. Tôi nghĩ, Trần Chung Ngọc "ghét" Kinh Thánh là vì trong đó có một câu như sau: "Kẻ ngu dại nói trong lòng rằng: Không có Đức Chúa Trời" (Thi Thiên 14:1 & 53:1). Vì Kinh Thánh gọi nhà "trí thức đã được đào tạo trên căn bản lương thiện và trong tinh thần khoa học của một khoa học gia, một nhà Vật Lý học" nhưng vô thần Trần Chung Ngọc là một kẻ ngu dại nên Trần Chung Ngọc "ghét cay ghét đắng" Kinh Thánh, nhất là sách Thi Thiên, và "căm thù" vua Đa vít, là người ghi lại câu đó. Nếu Đức Chúa Trời đã gọi những kẻ vô thần chỉ nói thầm trong lòng rằng không có Đức Chúa Trời là "kẻ ngu dại," thử hỏi, những kẻ vô thần nói ra miệng, viết thành "sách" rằng không có Đức Chúa Trời, như Trần Chung Ngọc và nhóm Giao Điểm còn "ngu dại" đến đâu.

Cũng xin mở ngoặc nơi đây để nói riêng với các bạn đọc Phật Giáo chân chính. Câu:"Kẻ ngu dại nói trong lòng rằng: Không có Đức Chúa Trời" là tuyên phán của Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta chấp nhận có Đức Chúa Trời, thì Ngài há không có quyền "mắng" Trần Chung Ngọc là ngu dại hay sao, khi Trần Chung Ngọc không nhận thức nổi sự thực hữu của Đấng đã tạo dựng ra ông? Còn nếu lý luận rằng Đức Chúa Trời không có thật, Kinh Thánh là sản phẩm mạo danh Chúa, thì có gì khiến cho Trần Chung Ngọc phải nổi nóng, nếu Trần Chung Ngọc thật sự là một Phật tử? Chắc các bạn đều rõ thái độ của Phật Thích Ca như thế nào, khi có người đến mắng chửi xối xả vào mặt Phật, ngay trước sự chứng kiến của hàng đệ tử! Trong giao tiếp thường ngày của tôi, tôi quen biết nhiều người là Phật tử, cá nhân tôi, đã từng tu theo Phật Pháp, nhưng trong mười Phật tử tôi gặp, không có đến một người chấp nhận mình là "vô thần," nghĩa là không tin nhận có một Đấng Cao Siêu Tuyệt Đối, làm ra và tể trị vũ trụ này. Tùy theo quan niệm, tư duy của mỗi người, Đấng ấy có thể được gọi là Ông Trời, là Đấng Tạo Hóa, hay được gọi là Đức Chúa Trời trong đức tin của người Cơ-đốc! Họa hoằn lắm, tôi mới gặp những "trí thức" phật tử vô thần. Phật Thích Ca bác bỏ một "Đức Chúa Trời" bị nhân cách hóa theo quan niệm của các dân tộc mê tín, theo tâm cảnh mình, tự dựng ra một "Đức Chúa Trời" để thờ phượng của thời điểm lịch sử lúc bấy giờ; nhưng Phật Thích Ca không phủ nhận một Đức Chúa Trời, vượt ngoài, không-thời-gian và vật chất! Bởi, chính Phật Thích Ca, gọi đích Danh Ngài là: Chân Lý! Khoảng 500 năm sau, Đấng Chân Lý đó, khi đến kỳ hạn đã ấn định, nhập thế làm người để dẹp bỏ các "Thần" do loài người dựng nên và mạc khải cho loài người một Chân Thần, qua thân vị Chúa Cứu Thế Jesus!

Tôi thành thật khuyên bạn đọc đừng bỏ ra $15 để mua cuốn "sách" CGSLAGDNG của Trần Chung Ngọc; phí tiền! Trong những bài viết kế tiếp, tôi sẽ tổng kết nội dung của "sách" ấy. Nhưng nếu bạn đọc muốn biết chính xác, Trần Chung Ngọc đã mượn danh Phật tử để làm những việc không lương thiện như thế nào thì việc bỏ ra $15 để mua cuốn "sách" của Trần Chung Ngọc về đọc cũng chẳng phải là không đáng!

Cá nhân tôi, chưa hề quen biết gì với Trần Chung Ngọc, nếu xét về tuổi đời, có lẽ Trần Chung Ngọc xứng là bậc cha chú của tôi. Nếu gặp mặt ông ngoài đời, tôi sẽ lễ phép khoanh tay cúi đầu kính chào ông. Nếu ông có lớn tiếng chửi mắng tôi vì cho là tôi ngu dốt, vong bản khi tin theo Chúa Jesus thì tôi cũng chẳng buồn giận gì ông và cũng sẽ không dám vô lễ với ông. Nhưng khi ông đã lợi dụng chữ nghĩa để gieo rắc những nọc độc của sự dối trá, có thể làm hại đến biết bao linh hồn của đồng hương tôi, dân tộc tôi, thì tôi nhận thấy mình cũng như bất kỳ ai biết tôn trọng công lý và sự lương thiện, đều có trách nhiệm "giải độc." Trong tiến trình giải độc đó, việc quan trọng và cần thiết là phải lột mặt nạ của kẻ gieo rắc chất độc. Kẻ gieo rắc chất độc, dù mặc áo y tế, dùng ngôn ngữ của bác sĩ, thì vẫn là kẻ sát nhân. Cho nên, xin bạn đọc thông cảm với tôi, nếu tôi có gọi đích danh Trần Chung Ngọc là một "trí thức" vô trí và bất lương, là tay sai của cộng sản vô thần, đội lốt Phật tử, được cài vào cộng đồng tỵ nạn Việt Nam để khuấy động hận thù tôn giáo. Mặt khác, tôi thật sự xót xa cho số phận tâm linh của Trần Chung Ngọc. Tôi có thể nói mà không thẹn với lòng mình và với Chúa Cứu Thế Jesus Christ là Chúa, là Đức Chúa Trời của tôi rằng: "Nếu có phải đánh đổi tất cả những gì tôi có, ngay cả mạng sống của tôi, để chắc chắn là Trần Chung Ngọc thật lòng tin nhận Chúa Jesus như tôi, tôi sẽ không ngần ngại!" Linh hồn của Trần Chung Ngọc hoặc của bất kỳ một ai, rất là quý báu trước mặt Đức Chúa Trời. Chính Chúa Jesus tuyên bố, cả thế gian này cũng không xứng với giá trị của một linh hồn! Còn về lẽ thật cứu rỗi của Cơ-đốc Giáo, thì Trần Chung Ngọc không cần phải được nghe giảng nữa. Kinh Thánh gọi những người như Trần Chung Ngọc là đui mù tâm linh. Chúng ta không thể cố gắng chiếu ánh sáng vào trong một đôi mắt đã đui mù rồi mong cho đôi mắt ấy tiếp nhận ánh sáng. Chỉ trừ khi, vì lòng nhân từ thương xót của Chúa mà Ngài chữa lành chứng đui mù tâm linh cho Trần Chung Ngọc, thì ông ta mới nhận biết Chúa. Chúng ta hãy cầu xin điều đó cho Trần Chung Ngọc.


Huỳnh Thiên Hồng
05/12/2003

 

Tham Khảo

[1] Nguyễn Chí Thiện,"Bản chúc thư của một người Việt Nam"

Đọc Tiếp →