Sự Thật về Hiện Tượng Nói Tiếng Lạ và Đặt Tay Té Ngã

Xin trân trọng giới thiệu đến quý bạn đọc tác phẩm: "Sự Thật về Hiện Tượng Nói Tiếng Lạ và Đặt Tay Té Ngã" của Pastor Huỳnh Christian Timothy.

  • Phiên bản in sẽ phát hành vào ngày 1 tháng 1 năm 2013:

    • Khổ 5.5 X 8.5
    • Dày 146 trang
    • Bìa tráng nhựa
    • Ấn phí và cước phí trong Hoa Kỳ: $10.00 USD một cuốn – ngoài Hoa Kỳ $15.00 USD một cuốn.
    • Ấn phí và cước phí trong Hoa Kỳ: $300.00 USD cho 50 cuốn hoặc $500.00 USD cho 100 cuốn.

Quý bạn đọc muốn đặt mua sách in, xin gửi thư và money order hoặc check về:

Timothy Christian Huynh
Three Sixteen Family
501 N Robinson Dr
Robinson TX 76706

Thời gian nhận sách qua bưu điện khoảng từ 1 đến 2 tuần, kể từ ngày chúng tôi nhận được thư đặt mua.

Chúng tôi có thể gửi tặng miễn phí 1 sách (trong Hoa Kỳ) cho quý bạn nào muốn nhận sách in nhưng không thể chi trả ấn phí và chi phí.

Dưới đây là phần "Lời Nói Đầu" được trích ra từ tác phẩm:

Lời Nói Đầu

Cuốn sách nhỏ này là một tổng hợp bài biên khảo và các bài giải đáp thắc mắc của tôi về các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần.

Trong giai đoạn từ 2001 đến 2006, tôi chung đụng và cùng làm việc với rất nhiều người Ân Tứ và Ngũ Tuần. Vào lúc đầu, khi chứng kiến các hiện tượng “đặt tay té ngã,” “nói tiếng lạ,” “say Thánh Linh…” tôi cảm thấy rất là lạ lùng vì không thấy những điều này được nói đến trong Thánh Kinh. Tuy nhiên, sự nóng cháy của những người Ân Tứ và Ngũ Tuần trong sự cầu nguyện, thờ phượng, chứng Đạo, và truyền giảng khiến cho tôi không dám nghĩ rằng, những hiện tượng đó không đến từ Chúa.

Tôi dành một thời gian dài, cầu nguyện, xin Chúa bày tỏ cho mình. Thậm chí, tôi xin với Chúa rằng: “Con biết ân tứ của Đức Thánh Linh được ban cho tùy theo thánh ý của Ngài, nhưng con cầu xin điều này, nếu sự “nói tiếng lạ” của những người Ân Tứ và Ngũ Tuần là ân tứ của Đức Thánh Linh, thì xin Chúa ban cho con được một lần có thể “nói tiếng lạ” để ấn chứng rằng, nó đến từ Chúa, rồi Chúa cất nó ra khỏi con, nếu ý của Chúa là không ban cho con ân tứ đó, chỉ để con được yên tâm mà hầu việc Chúa chung với những người Ân Tứ và Ngũ Tuần…”

Tôi không bao giờ nhận được sự “nói tiếng lạ” từ nơi Chúa, mà trong tâm thần tôi chỉ có một sự nhắc nhở rõ ràng: “Chớ tin cậy mọi thần, nhưng hãy thử cho biết các thần có phải đến bởi Đức Chúa Trời chăng?” (I Giăng 4:1). Tôi tự hỏi, làm sao để thử các thần? Câu trả lời đến trong tâm trí tôi: “Cả Thánh Kinh đều là bởi Thiên Chúa hà hơi, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình, hầu cho người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành” (II Ti-mô-thê 3:16-17).

Sau khi xét thấy rõ các hiện tượng: “đặt tay té ngã,” “nói tiếng lạ,” “say Thánh Linh…” hoàn toàn không được nói đến trong Thánh Kinh, ngược lại, có hình thức như dân ngoại giáo lên đồng, lên bóng, đọc thần chú hoặc bị quỷ nhập, đồng thời, qua một thời gian chung đụng, cùng làm việc với những người tự xưng là đầy dẫy Thánh Linh, tôi nhận ra họ đang sống trong tội lỗi cách thầm kín (đủ các thói: kiêu ngạo, tham lam, dối trá, thất tín, ganh tỵ, nói xấu, vu khống… và tà dâm), thì tôi chấm dứt sự giao tiếp với họ và tránh xa tất cả các tổ chức giáo hội nào công nhận việc “nói tiếng lạ.”

Đến tháng 6 năm 2006, trong khi đang quản nhiệm Hội Thánh của Chúa tại Tucson, Arizona, và phụ trách tổ chức ngày kiêng ăn cầu nguyện cho Việt Nam, thì tôi thực sự bị tà linh nói tiếng lạ tấn công. Trong dịp đó, có một mục sư Việt Nam sơ giao với tôi, dẫn theo bảy tín đồ từ California đến tham dự nhóm cầu nguyện, trong đó có một người Mỹ. Họ là những người “nói tiếng lạ.” Vì họ xin phép được tham dự cầu nguyện cho Việt Nam và hứa là sẽ vâng theo các quy định của ban tổ chức, nên tôi đồng ý cho họ đến tham dự.

Họ lái xe từ California đến Tucson, Arizona vào lúc nửa đêm, nên tôi thu xếp cho họ ngủ qua đêm trong nhà của tôi. Căn nhà chúng tôi thuê lúc đó có ba phòng ngủ và một phòng khách rộng, nên có đủ chỗ cho mọi người.

Sáng hôm sau là thứ bảy, ngày đầu tiên kiêng ăn cầu nguyện, mọi người cùng đến nơi nhóm họp thờ phượng. Nhóm tám người “nói tiếng lạ” đó cũng đến nhóm với chúng tôi nhưng có một điểm kỳ lạ nơi họ mà tôi không bao giờ quên được. Đó là: không một người nào trong số họ mang theo Thánh Kinh, kể cả người mục sư. Họ phải hỏi mượn Thánh Kinh từ nơi tôi. Chúng tôi tổ chức nhóm liên tục suốt hai ngày, với những buổi nghỉ giải lao. Dưới đây là một vài hiện tượng đã xảy ra với nhóm tám người nói tiếng lạ:

·         Có một lúc, tôi đang hướng dẫn Hội Thánh tôn vinh Chúa thì một phụ nữ trong nhóm họ đứng lên, bắt giọng hát một bài thánh ca khác mà cả nhóm họ hát theo. Tôi và cả hội chúng yên lặng, chờ cho họ hát xong thì chúng tôi tiếp tục chương trình thờ phượng của mình. Tôi dự định, nếu họ còn tiếp tục quấy rối như vậy thì tôi sẽ mời họ ra khỏi phòng nhóm. Nhưng sau đó, họ đã ngồi yên, đắm chìm trong sự lâm râm cầu nguyện tiếng lạ của họ.

·         Khi đến giờ cầu nguyện thì họ cùng nhau lớn tiếng cầu nguyện tiếng lạ, người thì ngồi xếp bằng trên sàn nhà, lắc lư thân hình, người thì quỳ mọp trên sàn, người thì lăn lộn trên mặt sàn, người thì nằm ngữa trên sàn, gác cả hai chân lên vách tường. Trong số họ, có nhiều người là phụ nữ nhưng đã thể hiện nhiều tư thế thật là hớ hênh, khó coi… Những âm thanh do họ phát ra làm cho toàn thể hội chúng đều bị nhức đầu và khiếp sợ, hầu hết phải bỏ ra khỏi phòng nhóm, chỉ còn lại những người trong ban tổ chức và vài chấp sự trong Hội Thánh. Chính cá nhân tôi cũng bị nhức đầu rất là lạ lùng. Chúng tôi đã nhân danh của Đức Chúa Jesus Christ để truyền cho các tà linh đang hiện diện phải lui ra khỏi phòng nhóm thì cơn nhức đầu mới lui đi và nhóm tám người nói tiếng lạ đó mới dịu lại.

·         Sau đó, nhóm tám người kéo ra ngoài, đứng cầu nguyện tiếng lạ trong bãi đậu xe, và kể cho nhau nghe các “khải tượng” mà họ đang thấy. Họ không chịu vào phòng nhóm, trừ khi tôi cho phép mục sư của họ đứng lên điều khiển buổi nhóm. Họ đòi đặt tay trên tôi để tôi được báp-tem bằng Thánh Linh. Họ nói tà linh đang hiện diện trong phòng nhóm nên họ không vào trong đó. Họ nói, họ thấy khải tượng có rất nhiều con rắn lớn trong phòng nhóm, đồng thời, có nhiều chim bồ câu trắng bay đến nhưng không vào trong phòng nhóm được vì có quá nhiều rắn. Họ giải thích với tôi, rắn là tà linh còn bồ câu là Đức Thánh Linh. Họ yêu cầu tôi để cho mục sư của họ đứng lên điều khiển buổi nhóm để trục xuất hết các tà linh thì Đức Thánh Linh mới vào phòng nhóm, và Hội Thánh mới được đầy dẫy Thánh Linh và một cuộc phục hưng lớn sẽ xảy ra.

Dĩ nhiên, tôi khước từ tất cả các đề nghị của họ, và sự kiện đó khiến cho tôi nhớ lại Chúa đã báo trước cho tôi rằng Sa-tan sẽ vào trong phòng nhóm trong kỳ kiêng ăn cầu nguyện cho Việt Nam này. Trước đó khoảng một tuần, liên tục ba đêm, tôi nằm mơ nghe tiếng Chúa phán với tôi là Sa-tan sẽ vào trong phòng nhóm trong ngày kiêng ăn cầu nguyện cho Việt Nam. Tôi nghĩ, có lẽ Sa-tan sẽ hiện diện trong thân thể thuộc linh của nó để cản trở sự cầu nguyện của chúng tôi. Mục đích chính trong sự cầu nguyện của chúng tôi vào năm đó, là xin Chúa cất đi quyền lực của Sa-tan trên đất nước và dân tộc Việt Nam, đã được biểu hiện qua hình ảnh con rồng và truyền thuyết “con rồng cháu tiên” của dân tộc Việt Nam.

Trước đó khoảng một tháng, nhà tôi đang cầu nguyện xin Chúa thương xót, giải cứu dân tộc Việt Nam ra khỏi sự thờ lạy hình tượng, thì bà nghe Chúa phán: “Dân tộc con phạm thượng, kêu “Trời” vô cớ. Dân tộc con đã nhận rồng làm Cha. Các con đã mời nó vào thì phải đuổi nó ra, thì các linh sợ hãi sẽ không còn cai trị trên họ. Hình tượng bị vô hiệu hóa thì Tin Lành sẽ được tiếp nhận dễ dàng. Hai mươi lăm năm trước Ta đã cho con thấy hình ảnh hai con rồng. Chính nó là chúa quỷ. Chính nó đã dẫn dụ dân tộc con thờ phượng nó. Hãy kiêng ăn cầu nguyện, vì có những thứ quỷ cần phải kiêng ăn cầu nguyện mới đuổi được chúng.”

Vợ chồng chúng tôi hết lòng cầu nguyện xin sự bảo vệ của Chúa và có nghĩ đến việc, Sa-tan có thể tấn công hai con chúng tôi để phá vỡ ngày kiêng ăn cầu nguyện của chúng tôi. Chúng tôi dâng trình sự an toàn của hai con mình lên Chúa và hứa nguyện rằng, dầu cho có bất cứ chuyện gì xảy đến cho hai con chúng tôi: bệnh tật, tai nạn, và ngay cả sự chết, thì chúng tôi vẫn cậy ơn và sức của Chúa để hoàn tất hai ngày kiêng ăn, cầu nguyện cho Việt Nam, rồi mới giải quyết những vấn đề liên quan đến con mình.

Thế nhưng, Sa-tan không thể dùng sức để tấn công chúng tôi, vì Đấng ở trong chúng tôi mạnh hơn nó, mà chỉ có thể dùng kế, và nó đã sai các sứ giả của nó đến, tìm cách phá rối chương trình nhóm họp của chúng tôi.

Cảm tạ Chúa, hai ngày kiêng ăn và cầu nguyện cho dân tộc Việt Nam vào tháng 6 năm 2006 đã hoàn tất một cách tốt đẹp, dầu có sự tấn công của Sa-tan. Chiều chủ nhật, sau khi kết thúc sự nhóm họp, ban tổ chức mời tất cả mọi người tham dự, ra nhà hàng ăn uống và thông công với nhau. Trong bữa ăn và vào lúc chia tay, nhóm tám người nói tiếng lạ đã trở nên hết sức hiền hòa, thân ái với chúng tôi, và còn khen rằng, chúng tôi là những người đầy ơn Chúa.

Tối hôm đó, khi về đến nhà, vợ chồng chúng tôi có cái cảm giác rất là khác thường. Hình như có những cái bóng đen thoát hiện, thoát ẩn, lẫn quất trong nhà chúng tôi và có một mùi hôi lạ lùng, thoang thoảng. Nhưng sau hai ngày kiêng ăn cầu nguyện, thân thể chúng tôi đã mệt mõi và vì mới được ăn no, nên chúng tôi vội tắm rửa rồi đi ngủ, không bận tâm lắm về cảm giác và mùi hôi khác thường.

Đến khoảng ba giờ sáng thì tôi giật mình thức giấc vì tiếng kêu khóc của nhà tôi. Dưới đây là lời làm chứng của nhà tôi:

Lời làm chứng của Huỳnh Christian Priscilla (Mỹ Linh):

Tôi đang ngủ thì nằm mơ thấy những người phụ nữ trong nhóm tám người nói tiếng lạ, từ trong bóng tối âm u tiến ra. Họ hỏi tôi người phụ nữ trong Hội Thánh Tucson mà trong buổi nhóm đã chống đối sự nói tiếng lạ của họ, ở đâu? Tôi cảm thấy dường như những người này có ý muốn kiếm người tín đồ đó để làm khó, cho nên, tôi mới nói, người đó không có ở đây, các chị có điều gì thì hãy nói với chồng tôi, là người quản nhiệm Hội Thánh. Nghe tôi nói vậy thì họ bèn bỏ đi. Liền sau đó, một người đàn ông xuất hiện ngay đầu giường của tôi, thân thể cao lớn lạ thường, mặt thì đỏ bầm. Tôi nhận ra khuôn mặt đó chính là của người mục sư cầm đầu bảy người nói tiếng lạ từ California.

Ông ta tiến đến chỗ tôi nằm. Tôi cảm nhận là ông ta muốn làm hại tôi, nên tôi sợ hãi. Ông ta ngồi xuống trên giường và đưa hai tay ra bóp lấy cổ tôi. Dù ông ta không nói gì, nhưng tôi có cảm nhận là ông ta đang muốn tôi phải phát ra những tiếng lạ như những người Ân Tứ và Ngũ Tuần. Tôi ú ớ, chống đối và kêu cầu Chúa: Chúa ơi! xin cứu con. Con không muốn nói thứ tiếng lạ đến từ quỷ. Lúc đó, chồng tôi nghe tôi ú ớ nên lay tôi thức dậy. Tôi kể cho chồng tôi nghe giấc mơ và chồng tôi nói: Mình hãy cầu nguyện, xin Chúa bày tỏ. Nếu đây là tà linh muốn ép em nói tiếng lạ thì xin Chúa ấn chứng, bằng cách cho phép sự kiện này tái diễn.

Chúng tôi cầu nguyện và nằm ngủ lại. Tôi vừa nằm xuống thì lập tức một quyền lực xâm hãm tôi, buộc tôi phải buộc miệng phát ra những âm thanh lạ. Quyền lực này cố mở miệng tôi ra, ép tôi phát ra những âm thanh lạ, trong khi tôi cố hết sức để chống lại và kêu cầu danh Chúa. Tôi bật ngồi dậy và khẩn thiết kêu cầu danh Chúa. Lúc đó, chồng tôi cũng ngồi bật dậy và ôm lấy tôi, cầu nguyện cho tôi.

Khi tôi nghe nhà tôi vừa khóc vừa kêu cầu Chúa: “Chúa ơi, con không muốn nói thứ tiếng lạ của quỷ, xin cất ra khỏi con sự thúc giục nói tiếng lạ này!” Thì tôi lập tức ngồi dậy, ôm nhà tôi vào lòng và cất tiếng cầu nguyện xin Chúa giải cứu. Vừa khi tôi chạm tay vào người của nhà tôi thì lập tức có một điều gì giống như một luồng điện từ thân thể nhà tôi chuyền sang tôi, lan tràn khắp người tôi và đầy cả bụng tôi, làm cho tôi bị ớn lạnh. Rồi, có một sức mạnh đi từ dưới bụng của tôi, dâng tràn lên cổ họng tôi, làm cho cứng cả quai hàm của tôi, khiến cho lời cầu nguyện của tôi không còn được phát ra cách rõ ràng nữa. Tôi biết quyền lực của tà linh đang tìm cách khống chế mình. Tôi không cảm thấy sợ hãi mà chỉ cố cầu nguyện ra tiếng, xin Chúa giải cứu chúng tôi ra khỏi quyền lực của tà linh.

Bỗng nhiên, tôi cảm nhận rất rõ ràng một sự thúc giục trong tôi là tôi phải mở miệng ra để nói tiếng lạ. Lúc đó, tôi vẫn lập cà lập cập kêu cầu Chúa, vì quai hàm tôi bị tê cứng khó phát âm. Nhưng tôi cảm nhận rất rõ ràng là, nếu tôi để cho miệng tôi phát ra một tràng âm thanh lạ thì tôi sẽ phát thanh một cách thông suốt. Tôi lập tức ý thức là tà linh nói tiếng lạ đang xúi giục tôi nói tiếng lạ nên tôi chuyển lời cầu nguyện sang: “Lạy Chúa, xin đừng để chúng con nói thứ tiếng lạ không đến từ Chúa.” Và, trong danh của Đức Chúa Jesus Christ, tôi ra lệnh cho tà linh nói tiếng lạ phải ra khỏi chúng tôi, ra khỏi căn nhà của chúng tôi.

Lập tức, mọi áp lực tan biến, vợ chồng chúng tôi trở lại bình thường. Chúng tôi cảm tạ Chúa và nằm ngủ lại, bình an cho tới sáng.

Sáng hôm sau, vì cái mùi hôi thoang thoảng lạ lùng vẫn còn trong nhà, cho nên, chúng tôi gom tất cả các mền, và khăn trải giường đã đưa cho tám người nói tiếng lạ sử dụng, đem đi bỏ. Sau đó, thì mùi hôi biến mất, cảm giác có những bóng đen lãng vãng trong nhà cũng biến mất. Chúng tôi không bao giờ quên được mùi hôi đó. Nó giống như mùi tử khí trong nhà xác, tanh tanh và làm cho ớn lạnh, nổi da gà. Từ đó, chúng tôi càng vững tin: hiện tượng nói tiếng lạ và đặt tay té ngã là đến từ Sa-tan.

Trong danh của Đức Chúa Jesus Christ và bởi ơn ban cho từ Ngài, chúng tôi đã giúp cho nhiều người nhận thức được sự thật về hiện tượng nói tiếng lạ và đặt tay té ngã. Chúng tôi đã cầu nguyện hoặc hướng dẫn cho nhiều người cầu nguyện để trục xuất tà linh nói tiếng lạ ra khỏi thân thể của họ. Ngày nay, họ đã trở nên những người lớn mạnh trong Chúa và là những chứng nhân về sự Sa-tan giả mạo ân tứ nói ngoại ngữ của Đức Thánh Linh trong các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần.

Quý bạn đọc có thể xem thêm các video clips sau đây trên Youtube:

Tôi cầu xin Đức Chúa Trời sẽ dùng cuốn sách nhỏ này, và những lời chứng trong các video clips nói trên đem lẽ thật của Lời Chúa đến cho những người đang bị tà linh nói tiếng lạ kiềm chế, để họ được lẽ thật của Lời Chúa giải phóng họ ra khỏi sự lừa gạt của Sa-tan, và có được một đời sống sung mãn trong Đức Chúa Jesus Christ. A-men!

Huỳnh Christian Timothy
21.12.2012

 

Đọc Tiếp →

Tiếng Mới và Ân Tứ Nói Ngoại Ngữ Không Phải Là Hiện Tượng Nói Tiếng Lạ

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?93rqt3ac144dve3

Huỳnh Christian Timothy

Dẫn Nhập

Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống đã dùng bốn từ ngữ: "tiếng mới," "tiếng lạ," "các thứ tiếng," và "tiếng ngoại quốc" để dịch hai từ ngữ hoàn toàn khác nhau trong nguyên ngữ Hy-lạp. Sự dùng từ ngữ “tiếng lạ” trong Bản Dịch Truyền Thống đã khiến cho rất nhiều người hiểu lầm hiện tượng “nói tiếng lạ” trong các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần, là ân tứ nói ngoại ngữ do Đức Thánh Linh ban cho Hội Thánh. Chắc chắn là “tiếng mới” khác với ân tứ “nói ngoại ngữ” và cả hai hoàn toàn không phải là sự “nói tiếng lạ” của những người Ân Tứ và Ngũ Tuần.

Trong bài này, chúng tôi nêu lên tất cả những câu Thánh Kinh trong Bản Dịch Truyền Thống có những từ ngữ: "tiếng mới," "tiếng lạ," "các thứ tiếng," và "tiếng ngoại quốc,” đối chiếu với Bản Hiệu Đính 2012. Bản Hiệu Đính 2012 là bản hiệu đính Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống (1926), còn được gọi là Bản Dịch Phan Khôi, do chúng tôi đang tiến hành mà bạn đọc có thể tham khảo trên mạng tại đây: http://www.tt2012.thanhkinhvietngu.net/. Sau đó, chúng tôi sẽ nêu lên phần nhận xét.

Dữ kiện

Trước hết, xin liệt kê các câu Thánh Kinh Việt ngữ có các từ ngữ "tiếng mới," "tiếng lạ," "các thứ tiếng" và "tiếng ngoại quốc." Kèm theo các từ ngữ đó là nguyên ngữ Hy-lạp và từ Anh ngữ tương đương được đặt trong hai dấu ngoặc vuông [ ]. Xin chú ý, cách dùng số ít "language" và số nhiều "languages" trong tiếng Anh là phản ánh trung thực từ nguyên ngữ:

1. Tiếng mới

Mác 16:17 "Vậy những kẻ tin sẽ được các dấu lạ nầy: lấy danh Ta mà trừ quỉ; dùng tiếng [γλωσσαις, glōssa – languages] mới [καιναις, kainos – new] mà nói." Bản Hiệu Đính 2012: "Và những dấu hiệu này sẽ theo những kẻ tin: Trong danh Ta họ sẽ đuổi quỷ, họ sẽ nói những thứ tiếng mới."

2. Tiếng lạ

I Cô-rinh-tô 12:30"Cả thảy đều được ơn chữa bịnh sao? Cả thảy đều nói tiếng lạ [γλωσσαις, glōssa – languages] sao? Cả thảy đều thông giải tiếng lạ [trong nguyên ngữ chỉ có chữ "diermēneuō" nghĩa là phiên dịch, không có chữ "glōssa"] sao?" Bản Hiệu Đính 2012: "Cả thảy đều được ơn chữa bịnh sao? Cả thảy đều nói các ngoại ngữ sao? Cả thảy đều thông giải sao?"

I Cô-rinh-tô 13:8"Tình yêu thương chẳng hề hư mất bao giờ. Các lời tiên tri sẽ hết, sự ban cho nói tiếng lạ [γλωσσαι, glōssa – languages] sẽ thôi, sự thông biết hầu bị bỏ." Bản Hiệu Đính 2012: "Tình yêu thương chẳng hề hư mất bao giờ. Các lời tiên tri sẽ hết, sự ban cho nói các ngoại ngữ sẽ thôi, sự thông biết hầu bị bỏ."

I Cô-rinh-tô 14:2"Vì người nào nói tiếng lạ [γλωσση,glōssa – languages], thì không phải nói với người ta, bèn là với Đức Chúa Trời, bởi chẳng có ai hiểu (ấy là trong tâm thần mà người kia nói lời mầu nhiệm)." Bản Hiệu Đính 2012: "Vì người nào nói các ngoại ngữ, thì không phải nói với người ta, bèn là với Đức Chúa Trời, bởi chẳng có ai hiểu (ấy là trong tâm thần mà người kia nói lời mầu nhiệm)."

I Cô-rinh-tô 14:4"Kẻ nói tiếng lạ [γλωσση, glōssa – language], tự gây dựng lấy mình; song kẻ nói tiên tri, gây dựng cho Hội thánh." Bản Hiệu Đính 2012: "Kẻ nói ngoại ngữ, tự gây dựng lấy mình; song kẻ nói tiên tri, gây dựng cho Hội thánh."

I Cô-rinh-tô 14:5"Tôi ước ao anh em đều nói tiếng lạ [γλωσσαις,glōssa – languages] cả, song tôi còn ước ao hơn nữa là anh em nói tiên tri. Người nói tiên tri là trọng hơn kẻ nói tiếng lạ [γλωσσαις, glōssa – languages] mà không giải nghĩa để cho Hội thánh được gây dựng." Bản Hiệu Đính 2012: "Tôi ước ao anh em đều nói các ngoại ngữ cả, song tôi còn ước ao hơn nữa là anh em nói tiên tri. Người nói tiên tri là trọng hơn kẻ nói các ngoại ngữ mà không giải nghĩa để cho Hội thánh được gây dựng."

I Cô-rinh-tô 14:6"Hỡi anh em, ví bằng tôi đến cùng anh em, nói các thứ tiếng lạ [γλωσσαις, glōssa – languages], mà lời nói tôi chẳng tỏ sự mầu nhiệm, chẳng có sự thông biết, chẳng có lời tiên tri, chẳng có sự khuyên dạy, thì ích gì đến anh em?" Bản Hiệu Đính 2012: "Hỡi anh em, ví bằng tôi đến cùng anh em, nói các thứ ngoại ngữ, mà lời nói tôi chẳng tỏ sự mầu nhiệm, chẳng có sự thông biết, chẳng có lời tiên tri, chẳng có sự khuyên dạy, thì ích gì đến anh em?"

I Cô-rinh-tô 14:13"Bởi đó, kẻ nói tiếng lạ [γλωσση, glōssa – language], hãy cầu nguyện để được thông giải tiếng ấy." Bản Hiệu Đính 2012: "Bởi đó, kẻ nói ngoại ngữ, hãy cầu nguyện để được thông giải tiếng ấy."

I Cô-rinh-tô 14:14"Vì nếu tôi cầu nguyện bằng tiếng lạ [γλωσση, glōssa – language], thì tâm thần tôi cầu nguyện, nhưng trí khôn tôi lơ lửng." Bản Hiệu Đính 2012: "Vì nếu tôi cầu nguyện bằng ngoại ngữ, thì tâm thần tôi cầu nguyện, nhưng trí khôn tôi lơ lửng."

I Cô-rinh-tô 14:18"Tôi tạ ơn Đức Chúa Trời, vì đã được ơn nói tiếng lạ [γλωσσαις, glōssa – languages] nhiều hơn hết thảy anh em." Bản Hiệu Đính 2012: "Tôi tạ ơn Đức Chúa Trời, vì đã được ơn nói các ngoại ngữ nhiều hơn hết thảy anh em."

I Cô-rinh-tô 14:19"nhưng thà tôi lấy năm lời bằng trí khôn mình mà rao giảng trong Hội thánh, để được dạy bảo kẻ khác, hơn là lấy một vạn lời bằng tiếng lạ [γλωσση, glōssa – language]." Bản Hiệu Đính 2012: "nhưng thà tôi lấy năm lời bằng trí khôn mình mà rao giảng trong Hội thánh, để được dạy bảo kẻ khác, hơn là lấy một vạn lời bằng ngoại ngữ."

I Cô-rinh-tô 14:21"Trong luật pháp có chép rằng: Chúa phán: Ta sẽ nhờ những người nói tiếng lạ [ετερογλωσσοις, heteroglōssos – foreign languages], và môi miệng người ngoại quốc mà phán cho dân nầy; dầu vậy họ cũng chẳng nghe ta." Bản Hiệu Đính 2012: "Trong luật pháp có chép rằng: Chúa phán: Ta sẽ bởi các ngoại ngữ và môi miệng những người ngoại quốc mà phán cho dân nầy; dầu vậy họ cũng chẳng nghe Ta."

I Cô-rinh-tô 14:23"Vậy thì cả Hội thánh nhóm lại một nơi, nếu ai nấy đều nói tiếng lạ [γλωσσαις, glōssa – languages], mà có kẻ tầm thường hoặc người chẳng tin vào nghe, họ há chẳng nói anh em là điên cuồng sao?" Bản Hiệu Đính 2012: "Vậy thì cả Hội Thánh nhóm lại một nơi, nếu ai nấy đều nói các ngoại ngữ, mà có kẻ tầm thường hoặc người chẳng tin vào nghe, họ há chẳng nói anh em là điên cuồng sao?"

I Cô-rinh-tô 14:26"Hỡi anh em, nên nói thể nào? Khi anh em nhóm lại với nhau, trong anh em, ai có bài ca, hoặc bài giảng dạy, hoặc lời tỏ sự kín nhiệm, hoặc nói tiếng lạ [γλωσσαν, glōssa – languages], hoặc giải tiếng lạ [trong nguyên ngữ chỉ có chữ "hermēneia" nghĩa là thông giải, không có chữ "glōssa"] chăng? Hãy làm hết thảy cho được gây dựng." Bản Hiệu Đính 2012: "Hỡi anh em, nên nói thể nào? Khi anh em nhóm lại với nhau, trong anh em, ai có bài ca, hoặc bài giảng dạy, hoặc lời tỏ sự kín nhiệm, hoặc nói các ngoại ngữ, hoặc thông giải chăng? Hãy làm hết thảy cho được gây dựng."

I Cô-rinh-tô 14:27"Ví bằng có người nói tiếng lạ [γλωσση, glōssa – language], chỉ nên hai hoặc ba người là cùng; mỗi người phải nói theo lượt mình, và phải có một người thông giải." Bản Hiệu Đính 2012: "Ví bằng có người nói ngoại ngữ, chỉ nên hai hoặc ba người là cùng; mỗi người phải nói theo lượt mình, và phải có một người thông giải."

I Cô-rinh-tô 14:39"Ấy vậy, hỡi anh em, hãy trông mong ơn nói tiên tri, và đừng ngăn trở chi về điều nói tiếng lạ [γλωσσαις, glōssa – languages]." Bản Hiệu Đính 2012: "Ấy vậy, hỡi anh em, hãy trông mong ơn nói tiên tri, và đừng ngăn trở chi về điều nói các ngoại ngữ."

3. Các thứ tiếng

Công Vụ Các Sứ Đồ 2:4"Hết thảy đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh, khởi sự nói các thứ tiếng [γλωσσαις, glōssa – languages] khác [ετεραις, heteros – other], theo như Đức Thánh Linh cho mình nói." Bản Hiệu Đính 2012: "Hết thảy đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh, khởi sự nói các ngoại ngữ khác, theo như Đức Thánh Linh cho mình nói."

I Cô-rinh-tô 14:22"Thế thì, các thứ tiếng [γλωσσαι, glōssa – languages] là một dấu, chẳng cho người tin Chúa, song cho người chẳng tin; còn như lời tiên tri là một dấu, chẳng phải cho người không tin, song cho người tin Chúa." Bản Hiệu Đính 2012: "Thế thì, các ngoại ngữ là một dấu, chẳng cho người tin Chúa, song cho người chẳng tin; còn như lời tiên tri là một dấu, chẳng phải cho người không tin, song cho người tin Chúa."

4. Tiếng ngoại quốc

Công Vụ Các Sứ Đồ 10:46"Vì các tín đồ nghe họ nói tiếng ngoại quốc [γλωσσαις, glōssa – languages] và khen ngợi Đức Chúa Trời." Bản Hiệu Đính 2012: "Vì các tín đồ nghe họ nói các ngoại ngữ và tôn vinh Đức Chúa Trời."

Công Vụ Các Sứ Đồ 19:6 "Sau khi Phao-lô đã đặt tay lên, thì có Đức Thánh Linh giáng trên chúng, cho nói tiếng ngoại quốc[γλωσσαις, glōssa – languages] và lời tiên tri." Bản Hiệu Đính 2012: "Sau khi Phao-lô đã đặt tay lên, thì có Đức Thánh Linh giáng trên chúng, cho nói các ngoại ngữ và lời tiên tri."

Nhận Xét

1. Ân tứ ngoại ngữ không phải là hiện tượng “nói tiếng lạ”

Trước hết, chúng ta cần xác định ý nghĩa của chữ "glōssa" trong nguyên tác Hy-lạp. Theo Thayer’s Greek Definitions (Bộ Định Nghĩa Tiếng Hy-lạp của Thayer) thì "glōssa" bao gồm các nghĩa như sau:

(1) cái lưỡi, một chi thể của thân thể, một cơ quan của sự nói

(2) một ngôn ngữ: ngôn ngữ hay thổ ngữ được dùng bởi một sắc dân khác với [ngôn ngữ hay thổ ngữ] của các quốc gia khác.

Như vậy, chữ "glōssa" được dùng trong tất cả các câu Thánh Kinh trưng dẫn trên đây dù là số ít hay số nhiều cũng đều mang nghĩa thứ (2), tức là ngôn ngữ. Khi chữ "glōssa" được dùng ghép với động từ "laleō" (nói) thành "laleō glōssa" thì luôn luôn mang ý nghĩa: "nói tiếng ngoại quốc" hay gọn hơn: “nói ngoại ngữ.” Chúng ta thấy trong các câu Thánh Kinh được trích dẫn không hề có tính từ "xenos" (lạ) kèm theo "glōssa" cho nên không thể dịch là "tiếng lạ." Điển hình về việc dùng tính từ "xenos" (lạ) là:

"Vì Ta đói, các ngươi đã cho Ta ăn; Ta khát, các ngươi đã cho Ta uống; Ta là khách lạ [ξενος, xenos – strange], các ngươi tiếp rước Ta." (Ma-thi-ơ 25:35)

"Rồi họ bàn với nhau dùng bạc đó mua ruộng của kẻ làm đồ gốm để chôn những khách lạ [ξενοις, xenos – strange]." (Ma-thi-ơ 27:7)

"Anh em chớ để cho mọi thứ đạo lạ [ξεναις, xenos – strange] dỗ dành mình; vì lòng nhờ ân điển được vững bền, ấy là tốt, chớ không phải nhờ đồ ăn, là sự chẳng ích chi cho kẻ làm như vậy." (Hê-bơ-rơ 13:9)

Như vậy, trừ trường hợp của Mác 16:17 mà chúng ta sẽ bàn tiếp dưới đây, tất cả các câu Thánh Kinh còn lại có từ ngữ "laleō glōssa" nên dịch thành "nói tiếng ngoại quốc" hoặc "nói ngoại ngữ."

Sách Công Vụ Các Sứ Đồ ghi lại ba trường hợp các môn đồ được đầy dẫy Thánh Linh và được ơn nói tiếng ngoại quốc mà chúng ta có thể dùng đó để xác chứng chỉ có ân tứ nói ngoại ngữ chứ không hề có ân tứ “nói tiếng lạ!" Điểm cần chú ý là, mỗi khi ân tứ nói ngoại ngữ được thể hiện thì đều có sự ấn chứng của những người chứng kiến, rằng người đang nói ngoại ngữ đó nói lên những sự cao trọng của Đức Chúa Trời mà tôn vinh Ngài hoặc nói tiên tri. Đây là điểm rất quan trọng để phân biệt giữa ân tứ nói ngoại ngữ do Đức Thánh Linh ban cho con dân Chúa với sự "nói tiếng lạ" đến từ tà linh. Chúng tôi đã từng chứng kiến cảnh một tín đồ gốc Ân Tứ bị quỷ ám "nói tiếng lạ" và sau đó "nói ngoại ngữ" (tiếng Anh) một cách lưu loát để giảng Tin Lành. Người này trước đó không thông thạo Anh ngữ. Mặc dù người ấy giảng Tin Lành một cách thông suốt, đúng Thánh Kinh, nhưng lại tự xưng là Đức Chúa Jesus và lại nói rằng rất yêu người nữ tín đồ đang bị nhập xác đó, muốn có con với người nữ tín đồ đó… thì rõ ràng là hiện tượng quỷ nhập, chưa kể các biểu hiện nói lãm nhảm, cười, khóc, trợn trắng, thè lưỡi, sùi nước bọt rất là bất bình thường. Chính nạn nhân vào lúc tỉnh cũng biết mình bị quỷ nhập.

2. Tiếng mới

Từ ngữ này chỉ được dùng có một lần trong Mác 16:17. Sự nói các thứ tiếng mới của người tin nhận Chúa chắc chắn là khác hẵn với ân tứ nói ngoại ngữ. Trong khi ân tứ nói ngoại ngữ là một trong các ân tứ do Đức Thánh Linh "theo ý Ngài muốn, phân phát sự ban cho riêng cho mỗi người" không phải tín đồ nào cũng nhận được (I Cô-rinh-tô 12:11), thì sự nói các thứ tiếng mới là dấu hiệu đi theo tất cả những ai là môn đồ thật của Chúa:

Mác 16:17"Vậy những kẻ tin sẽ được các dấu lạ nầy: lấy danh Ta mà trừ quỷ; dùng tiếng [γλωσσαις, glōssa – languages] mới [καιναις, kainos – new] mà nói."

Trong nguyên ngữ Hy-lạp, tính từ "kainos" có nghĩa là "mới," được dùng chung với danh từ "glōssa" số nhiều. Nếu dịch câu trên cho sát với nguyên ngữ thì sẽ như sau: "Và những dấu hiệu này sẽ theo những kẻ tin: Trong danh Ta họ sẽ đuổi quỷ, họ sẽ nói những thứ tiếng mới."

Tiếng mới hay ngôn ngữ mới ở đây khác với ngoại ngữ hay tiếng ngoại quốc được dùng trong những câu Thánh Kinh chúng ta vừa bàn đến phía trên. Tiếng mới này là tiếng của những người đã được dựng nên mới sử dụng: Tiếng của sự yêu thương! Ngôn ngữ của những người thật sự ở trong Chúa! Hễ những ai đã được dựng nên mới trong Đức Chúa Jesus Christ thì tự nhiên họ sẽ dùng thứ tiếng mới này. Khi một người đã được dựng nên mới thì "những sự cũ đã qua đi" trong đó có luôn thứ ngôn ngữ cũ của hận thù, cay đắng, châm chọc, mỉa mai, thô tục, kiêu ngạo… Các thứ tiếng mới chính là các thứ tiếng mẹ đẻ đã được đổi mới trong Chúa của những người đã được dựng nên mới trong Chúa.

"Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới."(II Cô-rinh-tô 5:17)

Chúng tôi xin lập lại điều quan trọng này: Trong khi "nói ngoại ngữ" là một trong các ân tứ do Đức Thánh Linh "theo ý Ngài muốn, phân phát sự ban cho riêng cho mỗi người," nghĩa là không phải con dân Chúa nào cũng nhận được, thì "nói tiếng mới" là một dấu hiệu đi theo tất cả những kẻ tin! Nghĩa là, bất cứ ai thực lòng tin nhận Chúa, được tái sinh thì đều nói tiếng mới! Từ ngữ "tiếng mới" được dùng trong Mác 16:17 dưới hình thức số nhiều cho chúng ta biết người thuộc dân tộc nào, ngôn ngữ nào, khi được đổi mới sẽ dùng tiếng mới của chính dân tộc đó, ngôn ngữ đó. Nếu tôi là người Việt Nam được dựng nên mới trong Đấng Christ thì tôi sẽ nói một thứ tiếng Việt Nam mới, là thứ tiếng Việt Nam thể hiện sự thương xót, công bình và thánh khiết của Đức Chúa Trời.

Người không thật lòng tin Chúa thì không có được các dấu hiệu "nói tiếng mới," và không thể nào "trong danh Chúa trừ quỷ…" cho nên, họ vẫn còn nói năng thô tục, giả ngộ tầm phào, bàn chuyện huyễn, và không ngại thốt ra những lời cay độc, kiêu căng, ngạo mạn… Những người như thế dễ dàng bị sập bẫy của Sa-tan để khoác cho mình những thứ ân tứ giả như: "nói tiếng lạ," "chữa bệnh," "đuổi quỷ," "nói tiên tri," thậm chí làm ra các “phép lạ” trong danh Chúa (Ma-thi-ơ 7:21-23). Con dân chân thật của Chúa có thể nhìn ra họ cách dễ dàng, vì họ không có được một trong các dấu hiệu thật của những người đã thật sự "tự bỏ mình đi, mỗi ngày vác thập tự giá mình mà theo" Chúa, là dùng “tiếng mới” mà nói!

Kết Luận

Ngày nay, hiện tượng "nói tiếng lạ" là một trong những động cơ phá tán Hội Thánh Chúa một cách đáng sợ nhất. Nhiều người chăn bầy thiếu khôn ngoan (mà lại không cầu xin Chúa – Gia-cơ 1:5) để phân biệt ân tứ nói ngoại ngữ đến từ Đức Thánh Linh với hiện tượng "nói tiếng lạ" đến từ tà linh, cho nên, đã dung chứa các sứ giả của Sa-tan trong Hội Thánh (II Cô-rinh-tô 11:14, 15). Hậu quả là trong vòng ba năm, Hội Thánh địa phương bị phá tán và biến thành hội của Sa-tan (Khải Huyền 2:9)!

Hy vọng rằng, trong các bản hiệu đính hoặc trong các bản dịch tương lai, Thánh Kinh Việt ngữ sẽ không còn những thiếu sót về thuật ngữ khiến gây ra những hiểu lầm, ảnh hưởng tai hại đến sự hiểu biết và áp dụng Lời Chúa vào trong cuộc sống của con dân Chúa người Việt.

 

Huỳnh Christian Timothy
28.12.2009
Hiệu Đính Lần Thứ Nhất 14.12.2012


Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry.
Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Đọc Tiếp →

Nguồn Gốc và Tín Lý Các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?u2ld9mi6cmzf976

Huỳnh Christian Timothy

Dẫn Nhập

Kể từ thập niên 1960 cho đến nay, một phong trào phát sinh từ trong các Giáo Hội Tin Lành và Công Giáo được gọi là "Phong Trào Ân Tứ," đã trở nên lớn mạnh và xâm nhập sâu rộng vào trong Hội Thánh của Chúa ở khắp nơi. Phong Trào Ân Tứ (Charismatic Movement – 1906) thoát thai từ Phong Trào Ngũ Tuần (Pentecostal Movement – 1901). Theo thống kê vào năm 2003, số người thuộc hai phong trào này lên đến khoảng 700 triệu, nghĩa là chiếm khoảng 33% tổng số những người xưng nhận có đức tin trong Đấng Christ (Christians – bao gồm Chính Thống Giáo, Công Giáo, Anh Giáo, và Tin Lành Giáo) trên toàn thế giới. Các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần mang lại nhiều tranh luận cũng như phân rẽ trong Hội Thánh. Nhiều giáo phái lớn trong các Giáo Hội Tin Lành và Công Giáo đã thành lập những ban nghiên cứu. Ngay cả, người ngoại đạo cũng thành lập các ban nghiên cứu về hiệu ứng tâm lý trong sự kiện chữa bệnh và nói tiếng lạ của các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần.

Nếu nhìn một cách khách quan thì có thể nói Ân Tứ với Ngũ Tuần chỉ là một. Ngũ Tuần như là gốc và thân chính của một cây với vài nhánh lớn, Ân Tứ như là những nhánh nhỏ phát sinh từ những nhánh lớn của Ngũ Tuần. Những hoa, lá, cành nhiều khi che lấp cả thân cây, vì thế, ngày nay thế giới biết nhiều đến Ân Tứ hơn là Ngũ Tuần.

Dấu hiệu đặc trưng của Phong Trào Ân Tứ là sự "đặt tay té ngã" và "nói tiếng lạ." Người Ân Tứ tin rằng, khi một người nhận được báp-tem bằng Thánh Linh thì phải biết "nói tiếng lạ" và khi một người được đầy dẫy Thánh Linh thì bị té ngã mà họ gọi là "bị giết trong Thánh Linh" (slain in the Spirit). Hiện tượng "té ngã" khi được đầy dẫy Thánh Linh là điều không hề được ghi lại trong Thánh Kinh. Tiếng lạ mà những người Ân Tứ và Ngũ Tuần nói không phải là ngôn ngữ có người hiểu được, như Thánh Kinh đã ghi lại trong Công Vụ Các Sứ Đồ chương hai, mà là một thứ âm thanh không có cấu trúc của ngôn ngữ và cũng không có ai hiểu.

Từ ngữ "nói các thứ tiếng khác" trong Công Vụ Các Sứ Đồ 2:4 được dịch sang tiếng Anh là “speak in other tongues.” Trong nguyên tác tiếng Hy-lạp (Greek) của Thánh Kinh là:

  • λαλειν, G2980, phiên âm quốc tế /laleō/, phiên âm tiếng Việt [la-lé-ồ], có nghĩa là: phát âm, nói.
  • ετεραις, G2087, phiên âm quốc tế /heteros/, phiên âm tiếng Việt [hé-tơ-ro-s], có nghĩa là: khác.
  • γλωσσαις,G1100, phiên âm quốc tế /glōssa/, phiên âm tiếng Việt [g-lố-xà], có nghĩa là: các ngôn ngữ.

Thánh Kinh không bao giờ nói đến một thứ “tiếng lạ.” Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống đã dịch không chuẩn khi dịch γλωσσαις(các ngôn ngữ) thành “tiếng lạ.”

Lược sử các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần

Các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần dấy lên trong lịch sử của Hội Thánh kể từ ngày đầu tiên của thế kỷ 20 và kéo dài cho đến nay đã tạo ra nhiều ảnh hưởng sâu đậm cả bên trong lẫn bên ngoài Hội Thánh. Sự tìm hiểu về các phong trào này thường khiến cho người ta đối diện với hai vấn đề:

1. Lẫn lộn giữa Phong Trào Ân Tứ và Phong Trào Ngũ Tuần.

2. Lẫn lộn giữa Phong Trào Ân Tứ, Phong Trào Ngũ Tuần, và các giáo phái Tin Lành truyền thống.

Để giảm thiểu những khó khăn dẫn đến sự rối trí trong khi theo dõi bài này, độc giả cần ghi nhớ các điểm quan trọng sau đây:

  • Danh từ Phong Trào Ngũ Tuần được dùng để gọi sự kiện "nói tiếng lạ" xuất hiện trong một cộng đồng Cơ-đốc nhân thuộc Giáo Hội Tin Lành, làm phát sinh ra một giáo phái mới trong Giáo Hội Tin Lành gọi là Giáo Phái Ngũ Tuần. Giáo Phái Ngũ Tuần theo thời gian phân nhánh ra thành nhiều tiểu giáo phái. Có thể ví Phong Trào Ngũ Tuần như một trong những cây con nảy ra từ gốc của cây mẹ (Giáo Hội Tin Lành), sau đó, từ gốc của cây con đó lại nảy ra nhiều cây con khác nữa.
  • Danh từ Phong Trào Ân Tứ được dùng để gọi sự kiện “đặt tay té ngã” và "nói tiếng lạ" xuất hiện trong tất cả các giáo hội và giáo phái của Cơ-đốc Giáo. Phong trào này thoạt đầu không tách rời khỏi các giáo phái như Phong Trào Ngũ Tuần, nhưng khi đã phát triển mạnh mẽ thì tự hình thành các giáo phái. Phong Trào Ân Tứ ví như những trái cây phát sinh ra trên khắp các nhánh của một thân cây (Cơ-đốc Giáo, bao gồm các giáo hội Chính Thống Giáo, Anh Giáo, Công Giáo, Tin Lành…) khi chín mùi thì rụng xuống và mọc lên thành những cây mới.
  • Danh từ Phong Trào Dấu Lạ được dùng để gọi sự kiện những dấu kỳ, phép lạ xuất hiện trong tất cả các giáo hội và giáo phái của Cơ-đốc Giáo mà không nhất thiết phải có hiện tượng “té ngã” và “nói tiếng lạ” kèm theo. Trên một phương diện, Phong Trào Dấu Lạ cũng chính là một Phong Trào Ân Tứ nhưng không chủ trương đề cao việc “đặt tay té ngã” và “nói tiếng lạ” cho bằng việc đề cao dấu kỳ, phép lạ xuất hiện trong khi giảng đạo.
  • Danh từ "trường phái" nói đến những khuynh hướng khác nhau trong cùng một phong trào. Thí dụ: Phong Trào Ngũ Tuần có mẫu số chung là "nói tiếng lạ" và tin rằng hiện tượng "nói tiếng lạ" là dấu hiệu của một người được báp-tem bằng Thánh Linh. Tuy nhiên, có ba khuynh hướng khác nhau về ý nghĩa của hiện tượng "nói tiếng lạ," khiến cho phân chia thành ba trường phái khác nhau. Có thể nói, phong trào là gốc cây chính, trường phái là các cây khác nảy ra từ gốc cây chính.
  • Danh từ "làn sóng" do Phong Trào Dấu Lạ đặt ra để tự phân biệt với các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần. Theo họ, từ đầu thế kỷ 20 đến nay, Đức Thánh Linh đã ba lần phục hưng Hội Thánh mà họ gọi là "những làn sóng phục hưng" (the revival waves). Họ xem Phong Trào Ngũ Tuần là làn sóng thứ nhất, Phong Trào Ân Tứ là làn sóng thứ hai, và họ là làn sóng thứ ba.

Nhìn theo quan điểm của những người Ân Tứ và Ngũ Tuần Tin Lành thì Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần được phân biệt như sau:

1. Làn sóng thứ nhất:Phong Trào Ngũ Tuần (The Pentecostal Movement) khởi động bởi Charles Fox Parham tại Topeka, Kansas, USA vào năm 1901 và phát triển bởi William Joseph Seymour tại Los Angeles, California, USA vào năm 1906.

2. Làn sóng thứ nhì:Phong Trào Ân Tứ (The Charismatic Movement) còn được gọi là Phong Trào Ân Tứ Phục Hưng (Charismatic Renewal Movement) khởi động bởi Dennis Bennett tại Van Nuys, California, USA vào năm 1960.

3. Làn sóng thứ ba:Phong Trào Dấu Lạ (The Signs and Wonders Movement) khởi động bởi John Wimber từ Trường Thần Học Fuller (Fuller Theological Seminary) tại Pasadena, California, USA vào năm 1981.

Nhìn khách quan về lịch sử của Cơ-đốc Giáo thì Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần phải được chia ra làm bốn làn sóng, bao gồm Phong Trào Công Giáo Ân Tứ Phục Hưng (The Catholic Charismatic Renewal Movement) khởi động giữa các sinh viên và nhân sự của Trường Đại Học DuQuesne tại Pittsburgh, Pennsylvania, USA vào năm 1967.

Phong Trào Ngũ Tuần (The Pentecostal Movement)

Còn được gọi là Phong Trào Ngũ Tuần Cổ Điển (The Classical Pentecostal Movement). Ngũ Tuần (Pentecostalism) phát xuất từ Giáo Hội Tin Lành như một phong trào nhấn mạnh đến kinh nghiệm cá nhân của một người với Đức Chúa Trời thông qua cái gọi là "báp-tem bằng Thánh Linh" (the baptism of the Holy Spirit). Có ba trường phái Ngũ Tuần chính:

Trường phái thứ nhất chiếm đa số, có tín lý tương tự như các giáo phái trong Giáo Hội Tin Lành, như tín lý về Thiên Chúa Ba Ngôi, tín lý về sự cứu rỗi, tín lý về thẩm quyền của Thánh Kinh. Điều khác biệt là họ tin rằng "nói tiếng lạ" là dấu hiệu phải có của một người đã được báp-tem bằng Thánh Linh. Hai trường phái còn lại (một làm lễ báp-tem chỉ trong danh của Đức Chúa Jesus Christ, một làm lễ báp-tem trong danh của Ba Ngôi Thiên Chúa) dùng Công Vụ Các Sứ Đồ 2:38 làm nền tảng cho tín lý: Một người cần phải ăn năn tội, nhận báp-tem trong danh Đức Chúa Jesus Christ, rồi nhận lãnh Đức Thánh Linh. Nhận lãnh Đức Thánh Linh là điều cần thiết cho sự cứu rỗi và (theo hai trường phái này) có nghĩa là phải biết "nói tiếng lạ." Như vậy, theo họ, nếu một người tin Chúa mà không biết "nói tiếng lạ" là chưa được báp-tem bằng Thánh Linh và có nghĩa là chưa được cứu rỗi. Hai trường phái này chia ra thành các giáo phái: "Jesus Name," "First," "United," và "Oneness." Từ trong bốn giáo phái chính này lại phát sinh ra nhiều tiểu giáo phái khác nữa.

Phong trào Ngũ Tuần phát sinh với George Fox (1624-1691, England), một tín đồ thuộc Giáo Phái Giám Lý (Methodist) và thành viên của phong trào Thánh Khiết (Holliness Movement), là một phong trào cũng bắt nguồn từ Giám Lý. Vào năm 19 tuổi, George Fox ly khai giáo hội vì không chịu nỗi sự hâm hẫm của nó. Chàng thanh niên trẻ khao khát một đời sống thuộc linh phong phú và nóng cháy. Tuy nhiên, thay vì dựa trên nền tảng muôn đời là Lời Chúa để sống đạo, chàng đã dựa trên cảm giác và kinh nghiệm. Chàng nghe một giọng nói phán với chàng, như sau: "Không phải Lời Thánh Kinh bên ngoài, không phải sự giảng dạy của giáo hội, không phải Đấng Christ bên ngoài có thể hướng dẫn con, nhưng là ánh sáng bên trong, là Đấng Christ nội tại." (Not the outward Word of Scripture, not the teaching of the church, not the outward Christ can lead you, but only the inner light, the inward Christ.)

Fox trở thành người sáng lập nhóm Con Cái của Sự Sáng (Children of Light) còn gọi là Xã Đoàn Thân Hữu (Society of Friends). Về sau, các đối thủ của ông gọi nhóm của ông là Quakers. (Quake = rung động, quakers = những người hay vật bị rung động. Có lẽ các đối thủ của Fox muốn chế nhạo sự kiện run rẩy trong khi xuất thần của những người thuộc nhóm ông. Tại Việt Nam, Quaker được gọi là Giáo Phái Anh Em). Danh xưng Quaker không bao giờ được Fox và những người theo ông chấp nhận nhưng vẫn được những người ngoài nhóm của ông sử dụng và vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Dù trong thuở ban đầu phái Quaker bị bách hại tàn bạo tại Anh nhưng đã phát triển đi khắp nơi, mạnh mẽ nhất là tại Hoa Kỳ và Đông Phi Châu. Điểm quan trọng cần chú ý trong quan điểm cực đoan của phái Quaker ngay từ nguyên thỉ, là: Họ xem ánh sáng nội tại (tâm thức, sự hiểu biết đến từ bên trong) và tiếng phán từ trên cao quan trọng hơn là Lời của Chúa trong Thánh Kinh. (Đối với Phong Trào Ân Tứ sau này thì dấu kỳ và phép lạ quan trọng hơn là Thánh Kinh). Điều đó là cánh cửa mở rộng cho đủ mọi thứ tà giáo xâm nhập. Ngay từ buổi sơ khai của phái Quaker đã có hiện tượng "nói tiếng lạ" xuất hiện trong nhiều nhóm.

Vào những năm 1800, phái Irvinggian được thành lập bởi Edward Irving (1792-1834), vốn là một pastor thuộc Giáo Hội Trưởng Lão (Presbyterian), với danh xưng là Giáo Hội Công Giáo Sứ Đồ (Catholic Apostolic Church) xứ Scotland. Phái này thực hành, giảng dạy sự "nói tiếng lạ" cùng những hình thức xuất thần và các hiện tượng chữa bệnh, khải tượng, nói tiên tri… nên thu hút rất đông tín đồ từ các giáo hội truyền thống vốn đã quá khô cạn sự sống thuộc linh vì sự tắc trách của những người chăn bầy. Phái Irvingian phát triển nhanh chóng sang Anh, Hòa Lan, Hoa Kỳ, và đặc biệt là Đức, với trung tâm chính tại Augsburg, và nơi có đông tín đồ nhất là Stuttgart.

Giữa những phong trào xuất thần có phái Mormon, còn được biết dưới danh xưng Latter Day Saints, do Joseph Smith (1805-1844) thành lập. Người Mormon cũng được biết đến qua những hiện tượng về khải tượng, mạc khải, "nói tiếng lạ," và chữa bệnh. Smith xưng rằng, ông nhận được khải tượng đến từ thiên sứ Moroni. Theo Smith, thiên sứ Moroni đã cho ông thấy những tấm bảng bằng vàng trên có viết chữ tại Mount Cumorah và ông đã nhận lãnh những bảng này vào năm 1827. Đối với những người Mormon, những chữ viết trên các tấm bảng vàng này có cùng một thẩm quyền như Thánh Kinh. Smith còn tuyên bố ông đã được phong chức tế lễ theo dòng A-rôn bởi Giăng Báp-tít. Về sau, ông tuyên bố rằng: các Sứ Đồ Phi-e-rơ, Gia-cơ, và Giăng đã phong chức tế lễ cho ông theo dòng Mên-chi-xê-đéc. Smith bị giết vào năm 1844.

Ngay cả vùng cực Bắc của Liên Xô cũ cũng có hiện tượng "nói tiếng lạ" trong một làng nhỏ tên là Kara Kala của dân tộc Armenian, vốn theo Chính Thống Giáo Nga. Vì bị giáo hội khủng bố, cho nên, vào năm 1900, những người Armenian "nói tiếng lạ" này lánh nạn sang Hoa Kỳ và định cư tại Los Angeles. Vài năm sau, nhóm này kết hợp với một nhóm "nói tiếng lạ" khác tại Azusa Street, Los Angeles.

Tại Hoa Kỳ, mặc dù hiện tượng "nói tiếng lạ" (không phải là một ngôn ngữ) đã xảy ra từ trước, nhưng đến năm 1901 mới thành phong trào dấy lên khi ân tứ “nói ngoại ngữ” phát sinh từ Trường Thánh Kinh Bethel ở Thủ Đô TopeKa của Tiểu Bang Kansas, do Charles Fox Parham (1873-1929) dẫn đầu. Parham xuất thân từ Giáo Phái Giám Lý (Methodist), là một người sốt sắng trong sự kêu gọi người theo Chúa phải sống thánh khiết. Ông phản đối lối tổ chức giáo quyền hàng dọc của Giám Lý, ly khai giáo hội này, tự lập ra một mục vụ riêng, độc lập với các giáo phái và thành lập Trường Thánh Kinh Bethel.

Vào đêm tất niên năm 1900, Parham đang giảng cho các sinh viên tại Trường Thánh Kinh Bethel, một nữ sinh viên tên là Agnes Ozman, đã dạn dĩ đứng lên yêu cầu ông đặt tay trên cô và cầu nguyện xin Chúa đổ Thánh Linh xuống trên cô. Parham đáp ứng lời yêu cầu này và lập tức Ozman bắt đầu nói tiếng Trung Hoa. Vài ngày sau, chính Parham cũng nói được một ngoại ngữ mà ông chưa hề biết. Rồi sau đó là các sinh viên khác. Ngày 1 tháng 1 năm 1901, ngày đầu tiên của thế kỷ 20, Parham thành lập Phong Trào Đức Tin Sứ Đồ (Apostolic Faith) và bắt đầu đi khắp nơi rao giảng về sự thánh khiết, sự chữa lành thiên thượng, sự chữa lành bởi đức tin, sự đặt tay cầu nguyện, sự thánh hóa bởi đức tin, và tuyên bố "speak in tongues" (nói ngoại ngữ) là dấu hiệu của sự được báp-tem bằng Thánh Linh và bằng lửa (?) [1]. Đến cuối năm 1901, hiện tượng "speak in tongues" trong Phong Trào Đức Tin Sứ Đồ được báo chí đưa tin, bàn thảo sôi nổi, xem như là dấu hiệu của Lễ Ngũ Tuần lần thứ hai. Điểm cần ghi nhớ: Đây là sự kiện các tín đồ bỗng nhiên nói thông thạo một ngoại ngữ, không phải là sự lấp ba lấp bấp một tràng âm thanh vô nghĩa như những người “nói tiếng lạ” ngày nay.

Năm 1905, Parham mở một Trường Thánh Kinh tại Houston, Texas và một người da đen tên là William Joseph Seymour được đào tạo tại đó. Trong suốt thời gian ở tại Houston, Seymour không biết "speak in tongues." Tháng 2 năm 1906, Seymour được mời giảng tại Los Angeles về đề tài "Phép Báp-tem Bằng Thánh Linh." Buổi giảng đầu của ông gây nên nhiều xáo trộn, là vì ông tuyên bố "speak in tongues" là dấu hiệu của sự đã được báp-tem bằng Thánh Linh, trong khi ông lại không biết "speak in tongues." Đến tháng 4 năm đó, một người nghe ông giảng tên là Edward Lee bỗng nhiên phát ra những tràng âm thanh vô nghĩa và sau đó vài ngày đến lượt Seymour. Họ xem như đó là ân tứ “speak in tongues” mặc dầu đó chỉ là những tràng âm thanh vô nghĩa.

Tháng 5 năm 1906, Seymour trở thành lãnh tụ của Phong Trào "Azusa Street Revival," một phong trào không phân biệt giáo phái, chủng tộc, hoặc giới tính. Thuở ấy, mỗi ngày từ 10 giờ sáng cho đến khoảng hai, ba giờ sáng hôm sau, vô số người từ các nơi kéo về tụ hội ca hát, la hét lớn tiếng, nhảy múa, co giật như bị động kinh, té xuống ngất đi, kêu khóc, tru, rống như thú vật, và "nói tiếng lạ." Các giới lãnh đạo tôn giáo vùng Los Angeles và những nơi khác lập tức lên tiếng phủ nhận hiện tượng đang xảy ra tại Black Holiness Church, 312 Azusa Street, Los Angeles. Họ không công nhận đó là công việc của Đức Thánh Linh, khuyến cáo các tín hữu của họ, rằng phong trào này chạy theo cảm xúc, thông linh, và có Sa-tan tính.

Vào tháng 10 năm 1906, khi Parham đến thăm Seymour và giảng tại Azusa Street, cũng đã sững sốt khi nhìn thấy các hiện tượng xảy ra tại đó. Theo Parham, những hiện tượng đó đến từ xác thịt, hoặc Ma Quỷ. Parham không công nhận phong trào "Azusa Street Revival." Parham đã phát biểu về phong trào này như sau: "God is sick at His stomach!" (Tạm dịch: Đức Chúa Trời đang buồn nôn!) Sau đó, Parham và Seymour đã chia tay nhau và không bao giờ kết hợp trở lại.

Tại đây, chúng ta cần chú ý đến chi tiết quan trọng này: Trong khi Parham và các sinh viên của ông được ơn nói lưu loát các ngoại ngữ mà trước đó họ không hề biết ,thì Seymour và những người theo ông chỉ phát ra những tràng âm thanh vô nghĩa, và có những biểu hiện cười, la, khóc, hú, vật vã thân hình không tự kiểm soát được như những người bị tà linh xâm nhập.

Phong trào "Azusa Street Revival" lắng xuống vào năm 1909 nhưng vẫn còn âm ỉ cho đến năm 1915. Từ phong trào này phát sinh ra nhiều giáo phái Ngũ Tuần khắp nơi trên thế giới. Người từ các nơi khác đến Los Angeles thăm viếng, khi trở về quê hương của họ đã mang theo các tín lý mới của Ngũ Tuần, gieo rắc trong cộng đồng của họ.

Phong Trào Ân Tứ (The Charismatic Movement)

Còn được gọi là Phong Trào Tân Ngũ Tuần (The Neo-Pentecostal Movement). Từ Phong Trào Ngũ Tuần phát sinh ra Phong Trào Ân Tứ. Phong Trào Ân Tứ nhấn mạnh đến các ân tứ của Đức Thánh Linh như: nói ngoại ngữ (nhưng đã bị hiểu lầm thành “nói tiếng lạ” – xin độc giả ghi nhớ, “nói tiếng lạ” tức là phát ra những âm thanh vô nghĩa), nói tiên tri, nói lời khôn ngoan, nói lời thông biết, chữa bệnh, đuổi quỷ, làm phép lạ… (I Cô-rinh-tô 12:8-10). Phong Trào Ân Tứ ảnh hưởng đến Hội Thánh mạnh mẽ hơn Phong Trào Ngũ Tuần. Ban đầu, Phong Trào Ân Tứ không chủ trương cho các thành viên tách rời khỏi các giáo hội, giáo phái như Phong Trào Ngũ Tuần, nhưng chủ trương cho các thành viên ở lại để Ân Tứ hóa toàn bộ giáo hội và giáo phái mà họ đang sinh hoạt với. Chỉ khi nào bị chính các giáo hội hay giáo phái khai trừ thì các thành viên của Phong Trào Ân Tứ mới đi ra lập thành nhóm khác. Về sau, với sự lớn mạnh của phong trào, các nhà lãnh đạo Ân Tứ muốn độc lập điều hành ngân quỹ do các thành viên đóng góp, cho nên, đã lập ra các giáo phái riêng.

Vào năm 1960, Dennis Bennett, linh mục của Saint Mark's Episcopal Church tại Van Nuys, California (thuộc Giáo Phái American Episcopal – Giám Nhiệm Hoa Kỳ) tuyên bố với hội chúng, rằng ông ta đã được báp-tem bằng Thánh Linh. Sau đó, Bennett dẫn thêm 100 tín hữu đến với kinh nghiệm nhận "báp-tem bằng Thánh Linh" và biết "nói tiếng lạ." Hiện tượng "nói tiếng lạ" bùng nổ tại Saint Mark's Episcopal Church khiến cho các tạp chí Times và Newsweek thời bấy giờ làm phóng sự đưa lên bìa báo (cover story). Giáo Phái Giám Nhiệm Hoa Kỳ không công nhận hiện tượng đó đến từ Đức Thánh Linh nên đã bãi nhiệm Bennett. Ông đến Vancouver, Canada thiết lập nhiều lớp huấn luyện, dạy về công vụ của Đức Thánh Linh, gây ảnh hưởng sâu đậm đến tín đồ Anh Giáo khắp nơi trên thế giới, và dẫn đến những cuộc gọi là "phục hưng" trong các hội chúng Giám Nhiệm, Anh Giáo, Lutheran, Công Giáo và Chính Thống Giáo. Đến tháng 10 năm 1962 Phong Trào Tân Ngũ Tuần xâm nhập vào các trường đại học tại Mỹ, sau đó lan vào trong các trường thần học. Chính Phong Trào Tân Ngũ Tuần đi vào Giáo Hội Công Giáo làm phát sinh ra Phong Trào Công Giáo Ân Tứ Phục Hưng. Tính đến năm 1990, phong trào này bao gồm trên 55 triệu tín đồ thuộc các giáo phái trong Giáo Hội Tin Lành.

Phong Trào Lời Đức Tin (Word of Faith Movement) được xem như sự nối dài của Phong Trào Ân Tứ. Ngoài những đặc điểm chung với Phong Trào Ân Tứ, Phong Trào Lời Đức Tin nhấn mạnh đến "quyền năng của đức tin." Những người thuộc phong trào này tin rằng họ có thể dùng lời nói để điều động "quyền năng của đức tin," và như vậy, họ có thể tạo ra những gì mà họ tin rằng Thánh Kinh đã hứa, như: sức khoẻ, sự giàu có… Theo họ, những định luật chi phối "quyền năng của đức tin" vận hành độc lập với ý chỉ siêu việt của Đức Chúa Trời và chính Đức Chúa Trời cũng bị chi phối bởi những định luật này (?) Ngoài ra, Phong Trào Lời Đức Tin còn đưa ra những tín lý như: Mỗi tín nhân là một Đức Chúa Trời Con vì Đức Chúa Trời dựng nên loài người cùng bản thể với Ngài. Tín đồ Đấng Christ phải được khoẻ mạnh và giàu có. Tín đồ Đấng Christ phải luôn có những lời tuyên xưng tích cực (positive confession). Vì Đức Chúa Trời đã dùng lời nói để sáng tạo nên tín nhân cũng có thể dùng những lời nói tích cực để thu đạt những kết quả tích cực. Đấng Christ chết phần thể xác, nhưng cũng chết phần tâm thần trong địa ngục, chịu Ma Quỷ hành hạ, và tâm thần của Ngài đã được tái sinh trong địa ngục…

Sáng lập viên và hiệu trưởng của trường Rhema Bible College tại Tulsa, Oklahoma, USA là Kenneth Hagin (1917-2003), được xem là bố già (Papa Hagin) của Phong Trào Lời Đức Tin. Những giáo sư nổi tiếng khác của phong trào này là: Benny Hinn, Bishop Eddie L. Long, Clarence McClendon, Creflo Dollar, Ed Young, Fred Price, Jesse Duplantis, John Bevere, Joel Osteen, Joyce Meyer, Juanita Bynum, Karl Strader, Kenneth Copeland, Kim Clement, Larry Huch, Marilyn Hickey, Markus Bishop, Mike Murdock, Morris Cerullo, Myles Munroe, Oral Roberts, Paul Crouch, Paula White, Peter Popoff, R.W. Shambach, Robert Schuller, Rod Parsley, Rodney Howard-Browne, Robert Tilton, Steve Munsey, T.D. Jakes…

Phong Trào Công Giáo Ân Tứ Phục Hưng (The Catholic Charismatic Renewal Movement)

Tháng 2 năm 1967, một số nhân viên và nhiều sinh viên của một trường đại học tư, Duquesne University, thuộc Giáo Hội Công Giáo tại Pittsburgh, Pennsylvania, USA trải qua một kinh nghiệm mà họ gọi là "được báp-tem bằng Thánh Linh." Những điều họ kinh nghiệm, là: "nói tiếng lạ," "thánh tiếu" (tiếng cười thánh – Holy laughter), xuất thần, khóc, la, gào, hú, tru như chó… không thể tự kềm chế. Liền sau đó, những hiện tượng này lan tràn sang một trường đại học tư khác, cũng thuộc Giáo Hội Công Giáo, University of Notre Dame, tại Indiana, USA. Notre Dame có nghĩa là "Đức Bà của chúng ta," (chỉ về bà Ma-ri). Đến năm 2003, Phong Trào Công Giáo Ân Tứ Phục Hưng lan rộng đến trên 230 quốc gia và bao gồm trên 119 triệu tín đồ Công Giáo.

Các Giáo Hoàng: Paul VI (nắm quyền: 1963-1978), John Paul II (nắm quyền: 1978-2005), và Benedict XVI (nắm quyền: 2005 – đến nay) đều chấp nhận Phong Trào Công Giáo Ân Tứ Phục Hưng. Giáo Hoàng John Paul II cho rằng, phong trào này thuộc vào sự phục hưng của toàn Giáo Hội Công Giáo. Giáo Hoàng Paul và Benedict khuyến cáo các thành viên của phong trào phải giữ gìn sự thông công giữa họ và Giáo Hội Công Giáo.

Tháng 3 năm 1992, Giáo Hoàng John Paul II đã phát biểu như sau: "Trong khoảnh khắc này của lịch sử giáo hội, sự Phục Hưng Ân Tứ có thể đóng một vai trò thiết yếu trong sự cổ vũ tính tự vệ rất cần thiết cho cuộc sống của người tín đồ Đấng Christ trong những xã hội mà thế tục và vật chất đã làm suy yếu khả năng đáp ứng Đức Thánh Linh và nhận thức tiếng gọi từ Đức Chúa Trời của nhiều người. Sự cống hiến của quý vị vào công cuộc tái phúc âm hóa xã hội sẽ được thực hiện trước hết qua lời chứng cá nhân về sự Đức Thánh Linh ngự trị bên trong và sự chiếu ra sự hiện diện của Ngài qua các công tác thánh khiết và hiệp một."

("At this moment in the Church's history, the Charismatic Renewal can play a significant role in promoting the much-needed defense of Christian life in societies where secularism and materialism have weakened many people's ability to respond to the Spirit and to discern God's loving call. Your contribution to the re-evangelization of society will be made in the first place by personal witness to the indwelling Spirit and by showing forth His presence through works of holiness and solidarity." – Address of Pope John Paul II to the ICCRO Council – March 14, 1992.)

Phần lớn người Công Giáo Ân Tứ tin rằng Phong Trào Công Giáo Ân Tứ Phục Hưng được phát sinh bởi lời cầu nguyện của Giáo Hoàng John XXIII trong Công Đồng Vatican II: "Lạy Đức Thánh Linh… xin tuôn tràn sự đầy dẫy các ân tứ của Ngài… Xin làm mới lại những sự lạ lùng của Ngài trong thời đại này như là một Lễ Ngũ Tuần mới." ("O Holy Spirit… pour forth the fullness of your gifts… Renew your wonders in this day as by a new Pentecost").

Điều đáng chú ý là Phong Trào Công Giáo Ân Tứ Phục Hưng không loại bỏ sự thờ lạy hình tượng của bà Ma-ri, sự lần chuỗi hạt Mân-côi, sự cầu nguyện với bà Ma-ri… cùng nhiều giáo lý phản Thánh Kinh khác của Giáo Hội Công Giáo. Nhiều nhóm Ân Tứ Công Giáo nhận được sự xuất thần và sự "nói tiếng lạ" trong khi kêu cầu bà Ma-ri (!)

Phong Trào Dấu Lạ (The Signs and Wonders Movement)

Phong Trào Dấu Lạ (The Signs and Wonders Movement) hoặc "Làn Sóng Thánh Linh Thứ Ba" (The Third Wave of the Holy Spirit) bắt đầu vào đầu thập niên 1980 và vẫn còn kéo dài cho đến ngày nay. Các phong trào như: Vineyard Christian Fellowship, Global Harvest, Toronto Blessing, Eternal Grace là biến dạng của Phong Trào Dấu Lạ. Những người thuộc Phong Trào Dấu Lạ không chấp nhận họ thuộc về Ngũ Tuần hoặc Ân Tứ.

Điểm khác biệt nổi bật của Phong Trào Dấu Lạ đối với Ân Tứ và Ngũ Tuần là Phong Trào Dấu Lạ có khuynh hướng không nhấn mạnh đến sự kiện "nói tiếng lạ" như là bằng chứng của một người đã được báp-tem bằng Thánh Linh. Nhiều nhà lãnh đạo trong phong trào này không hề có kinh nghiệm "nói tiếng lạ," trái lại, họ quan tâm đến khía cạnh dấu kỳ, phép lạ, các sự hiện thấy, sự nói tiên tri, cùng cái gọi là "lời nói thông biết" (the word of knowledge – được tận dụng trong chương trình truyền hình 700 Club của Pat Robertson trong sự tuyên bố các chi tiết về sự chữa lành xảy ra cho một số khán thính giả đang ngồi tại nhà riêng, xem chương trình 700 Club qua máy truyền hình). Phong Trào Dấu Lạ chấp nhận cả hai quan điểm về sự được báp-tem bằng Thánh Linh:

1. Một người được tái sinh và được báp-tem bằng Thánh Linh khi thật lòng ăn năn tội và tin nhận Đấng Christ, (quan điểm của Tin Lành truyền thống). Những người thuộc Giáo Phái Vineyard Christian Fellowship bảo vệ tích cực quan điểm này.

2. Một người được báp-tem bằng Thánh Linh nếu tìm cầu điều này sau khi tin nhận Chúa, (quan điểm của Ân Tứ và Ngũ Tuần). Báp-tem bằng Thánh Linh không liên quan đến sự cứu rỗi mà chỉ liên quan đến năng lực sống đạo và giảng đạo.

Peter Wagner (Global Havest Ministry) và John Wimber (Vineyard Christian Fellowship) được xem là những nhân vật tiên phong của Phong Trào Dấu Lạ. Vào năm 1977, Carol, vợ của Wimber, vốn xuất thân từ Công Giáo, nằm chiêm bao thấy mình được đầy dẫy Thánh Linh và khi bà thức dậy thì biết "nói tiếng lạ." Mười tháng sau, Wimber kinh nghiệm được một sự chữa lành trong chính thân thể của ông và bắt đầu tin rằng việc chữa bệnh, đuổi quỷ như Đức Chúa Jesus là khả thi. Nhờ quen biết với Peter Wagner, một giảng sư tại Fuller Theological Seminary School of World Missions mà Wimber được mời cùng dạy lớp "Dấu Lạ" (Signs and Wonders) tại Fuller Seminary với Wagner. Lớp học này dạy về sự chữa lành thiên thượng và trở thành lớp học nổi tiếng nhất tại Fuller cho đến khi bị đình chỉ vào năm 1985, vì các viên chức trong trường có những thắc mắc về tính thần học và kinh viện của môn học.

Bên cạnh hiện tượng "bị giết trong Thánh Linh" như trong các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần, có ba hiện tượng nổi bật trong Phong Trào Dấu Lạ được cho là sự thể hiện của Đức Thánh Linh, là: Tiếng Cười Thánh (The Holy Laughter – sự vui mừng khi được đầy dẫy Thánh Linh khiến một người trở thành "say Thánh Linh," không kềm hãm được tiếng cười biểu lộ niềm vui), Tiếng Gầm Tiên Tri (The Prophetic Roar – tiếng rống lớn phát ra từ cổ họng của những người được đầy dẫy Thánh Linh, được cho là dấu hiệu Đức Chúa Trời thông báo sự kiện Ngài bắt đầu chiếm lại quyền tể trị thế giới này từ Satan), và Âm Thanh Của Thú Vật (The Animal Noises – sự tru, hú, gầm gừ như các loài thú, kể cả cục tác như gà, rống như heo, và tru như chó… chưa được những người Ân Tứ định nghĩa) [2]. Gần đây, Wimber đã yêu cầu các hội chúng thuộc giáo phái Vineyard Christian Fellowship do ông sáng lập ngưng chấp nhận hiện tượng Tiếng Cười Thánh.

Các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần trong Hội Thánh Việt Nam

Tin Lành đến Việt Nam vào năm 1911 do các giáo sĩ của Hội Truyền Giáo Phúc Âm Liên Hiệp. Vào giữa thập niên 1960, các Giáo Phái Ngũ Tuần, và Giáo Phái Anh Em (Quaker) đem theo hiện tượng "nói tiếng lạ," theo chân những người lính viễn chinh Hoa Kỳ đến Việt Nam, và tạo ra vài nhóm nhỏ tại Saigon nhưng không gây ảnh hưởng nhiều đến Hội Thánh Việt Nam. Phong Trào Ân Tứ đến Việt Nam vào cuối thập niên 1960 và bắt đầu trong Giáo Hội Công Giáo trước, qua Phong Trào Công Giáo Về Nguồn (do những người Công Giáo chủ trương quay lại với lời Chúa, là Thánh Kinh, khởi xướng). Chính hiện tượng "nói tiếng lạ" trong Phong Trào Công Giáo Về Nguồn gây nhiều chú ý đến các mục sư và tín đồ thuộc Hội Thánh Tin Lành Việt Nam. Có một số sinh viên Tin Lành đã tham dự sinh hoạt với Phong Trào Công Giáo Về Nguồn và nhận được sự "nói tiếng lạ." Nhiều sinh viên Tin Lành khác bắt đầu nghiên cứu về các Giáo Phái Ngũ Tuần. Điều đáng nói là thuở ấy tài liệu biện giáo thì ít, hầu như là không có, trong khi các tài liệu cổ võ về Phong Trào Ngũ Tuần thì tràn ngập, cho nên, các sinh viên chỉ học biết một chiều về những điểm tích cực của Ngũ Tuần. Hội Thánh Việt Nam, vào thời đoạn đó, phần lớn là tín đồ thuộc Giáo Phái Phúc Âm Liên Hiệp (với danh xưng chính thức là: Hội Thánh Tin Lành Việt Nam) đã tích cực chống đối các hiện tượng “đặt tay té ngã” và "nói tiếng lạ." Ít lâu sau, một vài mục sư và tín đồ thuộc Hội Thánh Tin Lành Việt Nam nhận được sự "nói tiếng lạ" trong khi nhóm họp với các nhóm Công Giáo Về Nguồn, hoặc trong khi nhóm họp với các nhóm Anh Em (Quaker). Sau đó, một vài mục sư đã ly khai Hội Thánh Tin Lành Việt Nam, sáng lập các giáo phái Ngũ Tuần Việt Nam.

Năm 1972, tại Việt Nam có sự phục hưng phát sinh từ Thánh Kinh Thần Học Viện tại Nha Trang. Trong cuộc phục hưng đó, không có sự kiện té ngã, không có sự kiện "nói tiếng lạ" nhưng có sự tan vỡ cõi lòng, khóc lóc, ăn năn, xưng tội tập thể, đốt bỏ bùa chú, hình tượng, mọi người làm hòa với nhau, có sự chữa lành bệnh tật tức thì (không phải lành bệnh từ từ), có sự đuổi quỷ, có sự người chết được sống lại… nghĩa là có đầy đủ dấu hiệu Hội Thánh được đầy dẫy Thánh Linh như đã được ghi chép trong Thánh Kinh. (Xin xem "Phép Lạ Rừng Xanh," Bà Phạm Văn Năm; "Việc của Đức Giê-hô-va," Pastor Trương Văn Tốt; "Công Cuộc Truyền Giáo Tin Lành," Pastor Phạm Xuân Tín). Trước khi Hội Thánh Việt Nam bị Phong Trào Ân Tứ xâm nhập và bị cường quyền đàn áp thì Đức Chúa Trời đã thương xót, cho Hội Thánh được nếm trải sự tuôn tràn Thánh Linh, để dựa vào đó mà phân biệt với hiện tượng “nói tiếng lạ” đến từ tà linh.

Sau năm 1975, Phong Trào Ân Tứ bắt đầu lan tràn khắp Miền Nam Việt Nam trong các nhóm Tư Gia, (những nhóm nhỏ nhóm họp thờ phượng Chúa tại nhà riêng để tránh sự đàn áp của chính quyền), và phát triển mạnh mẽ vào cuối thập niên 1990 nhờ các tài liệu về Ân Tứ được dịch ra Việt Ngữ và phổ biến trong các nhóm Tư Gia; đồng thời, có nhiều giáo sĩ Ân Tứ người Việt cũng như người ngoại quốc, từ nước ngoài âm thầm xâm nhập Việt Nam qua hình thức thăm quê hương và du lịch để quảng bá cho Phong Trào Ân Tứ. Trong giai đoạn đó, Hội Thánh Tin Lành Việt Nam một mặt buộc phải hòa hoãn với chính quyền mới để được công nhận tư cách pháp nhân, một mặt các mục sư bị cán bộ và công an tôn giáo theo dõi chặt chẽ, cho nên, sinh hoạt của Hội Thánh dần dần bị giảm thiểu và khô cạn. Trong hoàn cảnh đó, những sứ giả của Ân Tứ và Ngũ Tuần càng nổ lực phát triển mô hình nhóm nhỏ, nhóm tại tư gia và tích cực trong công tác truyền giáo. Có thể nói, số người tuyên xưng đức tin trong Đấng Christ thuộc các Hội Thánh Tư Gia phần lớn là tín đồ mới chứ không phải tín đồ từ Hội Thánh Tin Lành Việt Nam chuyển sang.

Đến cuối thập niên 1990, với sự tiếp sức của các giáo phái Ân Tứ và Ngũ Tuần Nam Hàn, với áp lực của các doanh nhân Nam Hàn trên chính quy

Đọc Tiếp →

Trả Lời Một Số Lý Luận Bảo Vệ Việc Nói Tiếng Lạ

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?mvvinfzpx1twynd

Huỳnh Christian Timothy

Nội Dung Các Lý Luận

Saigon 08.12.2012

Hôm nay, em có gặp một người con cái Chúa, anh này có những đặc điểm là rất giống anh, ở chỗ anh ta không sinh hoạt ở bất kỳ giáo phái nào. Mà chỉ thờ phượng và giảng dạy lời Chúa theo Thánh Kinh, trung thành theo Thánh Kinh và anh cũng bỏ hết việc thế gian mà hầu việc Chúa cách nhiệt thành.

Em có đề cập đến vấn đề nói tiếng lạ ngày nay và ân tứ nói ngoại ngữ đến từ Chúa Thánh Linh. Sau đây là quan điểm hay cách hiểu của anh ấy về vấn đề này. Anh ấy chia sẻ rằng anh ấy là người chống lại vấn đề nói tiếng lạ được trên 20 năm, cho đến khi anh ấy trong một buổi cầu nguyện một mình, đau đớn khi cầu thay cho người bạn tội lỗi, mà nỗi đau đó không diễn tả đầy đủ được, thì đột nhiên âm thanh cầu nguyện của anh không còn là tiếng Việt nữa mà thật sự là bằng tiếng lạ. Sau đó, anh tha thiết xin Chúa Thánh Linh bày tỏ cho anh lẽ thật về vấn đề gây tranh cãi này. Chúa bày tỏ và sau đây là cách anh ấy diễn đạt lại với em. Trước khi đi vào nội dung chính thì anh ấy có nêu một số ý như sau:

  • Ma quỷ luôn gieo sự sợ hãi và nghi ngờ cho những người vận dụng ân tứ : Ví dụ “coi chừng cái này đến từ ma quỷ chứ không phải từ Thánh Linh để vô hiệu hóa hay ngăn cản việc sử dụng ân tứ do Chúa ban cho.”
  • Ma quỷ cũng tạo ra những tranh luận giữa vòng những người có ân tứ để lãng phí thời gian và làm suy yếu đi khả năng liên kết trên đất này của những người con cái Chúa.
  • Satan từng là tổng quản về ngợi khen và thờ phượng trên thiên đàng nên hiểu rất rõ về ân tứ.
  • Ân tứ thay vì là một tiền tố để Cơ Đốc Nhân phối hợp mạnh mẽ thì nay lại là nhân tố gây chia rẻ bậc nhất trong vòng Hội Thánh. Giống như một vị vua cha có 10 hoàng tử, và vua dạy cho mỗi người một thế võ, nhưng bài võ chỉ trọn vẹn khi 10 hoàng tử này biết phối hợp lại với nhau. (Chúa Thánh Linh ban cho ân tứ cho ai là tùy ý Ngài).

Trường hợp 1:Công vụ đoạn 2: Đây là tiếng lạ được hiểu như một ngoại ngữ xác định được với mục đích truyền giảng Tin Lành cho dân tộc khác. Đây phải dịch là tiếng ngoại quốc mới đúng.

Trường hợp 2:là trường hợp bị quở trách của Hội Thánh Cô-rinh-tô: là trường hợp giữa những người được ơn nói với hội chúng đã tin thì bắt buộc phải có sự thông giải. Trường hợp này có thể là tiếng ngoại quốc nhưng cũng có thể là tiếng lạ (tràng âm thanh không hiểu được).

Trường hợp 3:là trường hợp chắc chắn không phải là tiếng của loài người hay dân tộc ngoại quốc, tại sao lại có sự giải thích này là bởi vì: Đây là ngôn ngữ hoàn toàn riêng biệt để tương giao với Chúa trong thế giới linh. Loại tiếng này dùng để gây dựng chính phần linh của cá nhân nói tiếng đó, là một sự bày tỏ “kín nhiệm.”

Phao-lô vừa là người được ân tứ nói nhiều thứ ngoại ngữ và cũng là người được ân tứ nói nhiều “thứ tiếng lạ” này (âm thanh không hiểu được). Ông có sự tương giao với Chúa rất đặc biệt, bằng cớ là Phao-lô không trực tiếp dự Tiệc Thánh lúc Chúa Jesus lập ra, nhưng ông nhận được điều này từ Chúa về nghi thức Tiệc Thánh và viết ra để dạy trong thư Cô-rinh-tô. Ngày hôm nay, những lúc dự Tiệc Thánh thì Hội Thánh luôn đọc đoạn Kinh Thánh do Phao-lô viết dạy dỗ về nghi thức này.( I Cor 11 – Vả, tôi có nhận nơi Chúa…). Ông không hề dự Tiệc Thánh vào lúc Chúa Jesus lập, nhưng ông lại nói là ông nhận nơi Chúa vì ông có sự tương giao đặc biệt bằng linh với Thánh Linh (Nhận trong nơi kín nhiệm khi ông tương giao với Chúa). Vì ông là người nói tiếng lạ nhiều nhất nên ông cũng là người viết Tân Ước nhiều nhất sau khi Chúa Jesus thăng thiên.

Ông cũng nhắc nhở là “cầu nguyện bằng tâm linh nhưng cũng cầu nguyện bằng tâm trí nữa.”

Mục đích ông viết thư Cô-rinh-tô là để Hội Thánh được tổ chức tốt hơn, đặc biệt là trong lĩnh vực sử dụng ân tứ. Ông sắp xếp lại và hướng dẫn Hội Thánh cách vận hành ân tứ.

Tiếng lạ dùng để truyền giảng thì được hiểu là ngoại ngữ (speak other tongues), tiếng lạ dùng để gây dựng chính mình thì được hiểu là cơ quan phát âm (speak a tongue), mà loại âm thanh này không nhất thiết là loại ngôn ngữ thông thường của loài người. Ví dụ:

  • Đứa bé còn bú mẹ, khi nó “nói chuyện” với mẹ nó để xin bú thì nó sẽ không nói là “con muốn bú” mà nó chỉ có thể nói là “măm măm.” Đương nhiên, chữ “măm măm” này không phải là ngôn ngữ thông thường để diễn đạt “con muốn bú.” Việc tương giao với Cha Thiên Thượng cũng thế, có những điều “không nói bằng lời” được khi tâm linh được lớn lên. Nếu một người chưa nên thánh mà “báp tem Thánh Linh” sẽ bị hỏng chân, lúc đó thay vì được đầy dẫy Thánh Linh thì tà linh nhảy vào tương tác. Cho nên, anh ta đồng ý với anh rằng đầy dẫy Thánh Linh là phụ thuộc vào sự nên thánh khi sống đạo chứ không phải đặt tay cầu nguyện để đầy dẫy theo kiểu sai trật của các phong trào hiện nay.
  • Mối quan hệ của những cặp vợ chồng khắng khít, khi họ “gần gủi” nhau thì họ không nói những ngôn ngữ bình thường nhưng là “những âm thanh vô nghĩa” nhưng họ vẫn hiểu nhau. So sánh này hơi bình dân, nhưng dễ hiểu. Khi một con người thánh khiết, khao khát tương giao với Đức Chúa Trời thì Thánh Linh sẽ dẫn dắt để cầu nguyện tương giao với Đức Chúa Trời mà không nhất thiết âm thanh phát ra là loại ngôn ngữ thông thường, nó vẫn có khả năng là một tràng âm thanh vô nghĩa.

Anh ta cũng đồng ý trường hợp tiếng mới của Mác 16:17 Chúa Jesus dạy là ngoại lệ.

Tất cả các phân đoạn Kinh Thánh có nhắc đến vấn đề tiếng lạ ở nhiều ngữ cảnh khác nhau đều nên đổi lại cách dịch là tiếng ngoại quốc cho rõ nghĩa, ngoại trừ I Cor 14:2, 4, 14, 15, 18, 19, 23.

Kết luận:

  • Ân tứ nói ngoại ngữ được vận hành khi Chúa Thánh Linh cần ấn chứng hoặc giảng giải cách rõ ràng bằng một ngôn ngữ ngoại quốc được chuyển sang ngôn ngữ của những người nghe có thể hiểu được một cách siêu nhiên.
  • Ân tứ nói tiếng lạ (âm thanh không hiểu được) chỉ được ban cho những người có nếp sống đạo thánh khiết, khao khát tương giao với Chúa, dành nhiều thời gian cầu nguyện cho Chúa mỗi ngày, khao khát tương giao với Chúa, gầy dựng chính mình.
  • Thực trạng Satan lợi dụng “tiếng lạ” để xâm nhập vào Hội Thánh gây rối là có thật nhưng đó không phải là kết luận để nhận định một tràng âm thanh không hiểu được lúc nào cũng do tà linh gây ra.
  • Thực tế, con cái chân thật của Chúa, khao khát tương giao với Chúa, cầu xin Thánh Linh ban cho “cơ quan phát âm” của họ phát lên những âm thanh ngợi khen thờ phượng thì họ vẫn nhận lãnh. Vì “các ngươi là xấu xa còn biết cho con bánh, huống chi Cha lại không ban Thánh Linh cho những người cầu xin sao…” Vì những người khao khát, họ có tâm tình cầu nguyện nóng cháy với Chúa nên Chúa sẽ không cho phép tà linh nào nhảy vào áp chế khi con cái Chúa khao khát tương giao với Ngài. Điều này có thể nhận thấy những người “tự gầy dựng chính mình” bằng cách cầu nguyện tiếng lạ thì đều nhận được sự bình an chứ không phải bất an. (Điều này thì em có trải nghiệm trước đây).
  • Việc tà linh dùng tiếng lạ để gây rối hoàn toàn có thật, nhưng những âm thanh vô nghĩa lúc tương giao trong mối quan hệ ngọt ngào với Đức Chúa Cha cũng có thật, việc tương giao này được điều khiển bởi phần linh chứ không bị hạn chế bởi phần hồn (tâm trí có ý thức).

Nhận định của em:

  • Cảm giác bình an khi cầu nguyện một mình với Chúa bằng tiếng lạ là trải nghiệm có thật của em.
  • Em không tin rằng tại đa số Hội Thánh đang nói tiếng lạ là loại tiếng lạ được ban để tương giao, là “ tiếng thở than không nói nên lời.” mà chủ yếu họ dùng nhân linh của họ để “ra vẻ” spiritual hoặc rất nhiều trường hợp bị linh lừa dối.
  • Vì theo em nghĩ, một người phải thực sự nên thánh, không phạm tội, ao ước tương giao với Chúa nhưng ngôn ngữ không đủ diễn đạt thì trạng thái tiếng lạ tương giao đó vẫn có thể được ban cho. Ngay cả đối với người bình thường của mình, khi giao tiếp với nhau cũng đôi khi “nói” hay “ kêu” những âm thanh vô nghĩa.
  • Em hiểu liên quan đến vấn đề thờ phượng, đôi khi chúng ta “uu aa ơơ lala huhu hòhơ” đều không có nghĩa nhưng tâm thần chúng ta đang hướng về Chúa thì tà linh cũng không được phép bén mảng tới gần, và nó cũng có thể hiểu là âm thanh của sự thờ phượng, tương giao hay thở than, hoặc khi không thể diễn đạt đầy đủ.
  • Những âm thanh “uu aa ơơ lala huhu hòhơ” ở một cường độ, độ dài nhất định thì sẽ đến lúc nhận được sự thông giải sang ngôn ngữ loài người một cách rõ nghĩa hơn.
  • Đức Chúa Cha tìm kiếm những người thờ phượng bằng “tâm thần” thật sự để tương giao với Ngài.

Anh giúp em xem nội dung em vừa trình bày như thế nào nhé, vì đây là sự hiểu biết vẫn theo em trong mấy ngày qua, vì thực tế kể cả thời gian gần đây, đôi lúc em rất đau đớn khi cầu nguyện cho vấn đề hôn nhân của em, em dâng những tổn thương mà mối quan hệ này gây ra, đôi lúc nó quá đau đớn khi nói đến những chi tiết đó, thì lúc đó em lại diễn đạt bằng “tiếng lạ” để dâng lên cho Chúa, trạng thái thực sự tan vỡ. Sau đó, thì em lại rất bình an. Tuy nhiên, không chỉ lúc đau khổ mới dùng tiếng lạ cầu nguyện, ngay cả khi mừng vui cũng có thể phát lên những âm thanh vô nghĩa.

Nhưng cũng có khi sự cầu nguyện chưa sâu, mà em lại cố dùng “nhân linh” để phát ra tiếng lạ thì chắc chắn nó không đến từ Thánh Linh mà nó chỉ là sự gượng ép của cá nhân em mà thôi. Em tin rằng, Hội Thánh ngày nay có rất nhiều trường hợp như vậy.

 

Các Câu Trả Lời của Huỳnh Christian Timothy

 

Nguyên tắc đầu tiên mà chúng ta cần triệt để vâng theo, đó là: Bất cứ lý luận hay giáo lý nào không có Thánh Kinh hổ trợ thì nó đến từ Sa-tan. Thánh Kinh dạy: "Bất cứ việc gì tựa như điều ác, thì phải tránh đi" (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:22). Chứng cớ bảo vệ cho nguyên tắc nói trên là: Tất cả những lý luận hay giáo lý không có trong Thánh Kinh hổ trợ đó, nếu chúng ta không tin và không thực hành thì không thiệt hại gì cho nếp sống Đạo của chúng ta.

Nguyên tắc thứ hai là chúng ta xét người theo theo sự giảng dạy và làm theo Lời Chúa của người ấy. Một người giảng và thực hành bất cứ một giáo lý nào không có trong Thánh Kinh thì dù cho người đó có "đạo đức" như Phật Thích Ca, bỏ hết mọi sự để đi giảng đạo, thì người đó vẫn đang bị tà linh điều khiển.

Vợ chồng tôi từng bị tà linh áp chế phải cầu nguyện bằng tiếng lạ trong khi chúng tôi đang cầu nguyện đuổi quỷ, nhưng chúng tôi đã nhân danh Chúa để xua đuổi quyền lực khiến chúng tôi nói tiếng lạ ấy, nên nó không bắt phục được chúng tôi. Người bạn của anh thiếu hiểu biết nên đã bị tà linh khống chế.

Dưới đây (trong email của anh) là ý kiến của tôi và những điểm không đúng Thánh Kinh do người bạn của anh nêu ra. Tôi dùng chữ màu đỏ.

Hôm nay, em có gặp một người con cái Chúa, anh này có những đặc điểm là rất giống anh, ở chỗ anh ta không sinh hoạt ở bất kỳ giáo phái nào. Mà chỉ thờ phượng và giảng dạy lời Chúa theo Thánh Kinh, trung thành theo Thánh Kinh và anh cũng bỏ hết việc thế gian mà hầu việc Chúa cách nhiệt thành.

Em có đề cập đến vấn đề nói tiếng lạ ngày nay và ân tứ nói ngoại ngữ đến từ Chúa Thánh Linh. Sau đây là quan điểm hay cách hiểu của anh ấy về vấn đề này. Anh ấy chia sẻ rằng anh ấy là người chống lại vấn đề nói tiếng lạ được trên 20 năm, cho đến khi anh ấy trong một buổi cầu nguyện một mình, đau đớn khi cầu thay cho người bạn tội lỗi, mà nỗi đau đó không diễn tả đầy đủ được, thì đột nhiên âm thanh cầu nguyện của anh không còn là tiếng Việt nữa mà thật sự là bằng tiếng lạ.

Nội dung của ơn nói ngoại ngữ là để tôn vinh Thiên Chúa (Công Vụ Các Sứ Đồ 10:46) không phải để cầu thay cho nhau. Sứ Đồ Phao-lô nhắc nhở con dân Chúa cầu thay cho nhau và cầu thay cho ông rất nhiều nhưng không bao giờ ông bảo họ cầu thay bằng ân tứ nói ngoại ngữ. Mục đích của ơn nói ngoại ngữ là để tự gây dựng lấy mình (nhất là khi chưa có Thánh Kinh Tân Ước) không phải để cầu thay cho người khác (I Cô-rinh-tô 12:4). Thánh Kinh dạy rõ: Khi chúng ta có những nỗi niềm không thể thốt nên lời thì chính Đức Thánh Linh lấy những sự thở than không thể nói ra được mà cầu khẩn thay cho chúng ta: "Cũng một lẽ ấy, Đấng Thần Linh giúp cho sự yếu đuối chúng ta. Vì chúng ta chẳng biết sự mình phải xin đặng cầu nguyện cho xứng đáng; nhưng chính Đấng Thần Linh lấy sự thở than không thể nói ra được mà cầu khẩn thay cho chúng ta. Đấng dò xét lòng người hiểu biết ý tưởng của Đấng Thần Linh là thể nào, vì ấy là theo ý Thiên Chúa mà Ngài cầu thế cho các thánh đồ vậy" (Rô-ma 8:26-27).

Sự kiện người bạn của anh đang tha thiết cầu thay cho một người bạn có tội mà bỗng nhiên phát ra các âm thanh lạ, có thể do một trong hai nguyên nhân sau:

  1. Tương tự như lúc vợ chồng chúng tôi đang cầu nguyện đuổi quỷ thì tà linh thúc giục chúng tôi phát ra những âm thanh vô nghĩa theo kiểu nói tiếng lạ của những người Ân Tứ Ngũ Tuần, người bạn của anh có thể bị tấn công cùng một cách như vậy, nhưng anh ta đã không nắm vững lẽ thật của Chúa để chống trả nên bị mắc vào mưu kế của Sa-tan. Thánh Kinh dạy chúng ta phải lấy lẽ thật làm dây nịt lưng, dùng gươm của Thánh Linh là Lời Chúa để chống trả Ma Quỷ thì chúng ta mới thắng được mưu kế của nó (Ê-phê-sô 6:14-17). Chúng ta không thua sức Sa-tan vì Đấng ở trong chúng ta lớn hơn Sa-tan (I Giăng 4:4), nhưng nếu chúng ta không nắm vững Lời Chúa thì chúng ta sẽ thua mưu kế nó: “Hãy mang lấy mọi khí giới của Đức Chúa Trời, để được đứng vững mà địch cùng mưu kế của Ma Quỷ” (Ê-phê-sô 6:11).
  2. Có thể chính anh ta đang có một tội lỗi thầm kín nào đó, chưa chịu từ bỏ, mà lại cầu thay cho người khác, cho nên, tà linh có thể xâm nhập anh ta.

Sau đó, anh tha thiết xin Chúa Thánh Linh bày tỏ cho anh lẽ thật về vấn đề gây tranh cãi này. Chúa bày tỏ và sau đây là cách anh ấy diễn đạt lại với em. Trước khi đi vào nội dung chính thì anh ấy có nêu một số ý như sau:

Một khi đã để cho tà linh xâm nhập, xem trọng kinh nghiệm và cảm xúc xác thịt hơn lẽ thật của Lời Chúa, thì tà linh sẽ điều khiển và giả làm Chúa Thánh Linh để tiếp tục dẫn dắt người bị nó bắt phục đi sâu vào con đường sai lạc.

  • Ma quỷ luôn gieo sự sợ hãi và nghi ngờ cho những người vận dụng ân tứ : Ví dụ “coi chừng cái này đến từ ma quỷ chứ không phải từ Thánh Linh để vô hiệu hóa hay ngăn cản việc sử dụng ân tứ do Chúa ban cho.”

Câu này sai. Phải nói rằng: Đức Thánh Linh luôn cảnh cáo những người thật lòng tìm kiếm lẽ thật, rằng hiện tượng nói tiếng lạ là đến từ Ma Quỷ. Còn những người chạy theo dấu kỳ phép lạ hơn là lẽ thật của Lời Chúa thì Ma Quỷ đưa ra những lý lẽ bẻ cong Lời Chúa để giúp họ bảo vệ cho sự nói tiếng lạ của họ.

  • Ma quỷ cũng tạo ra những tranh luận giữa vòng những người có ân tứ để lãng phí thời gian và làm suy yếu đi khả năng liên kết trên đất này của những người con cái Chúa.

Câu này sai. Phải nói rằng: Đức Thánh Linh luôn vận hành giữa những người nói tiếng lạ, cáo trách họ, đưa họ đến với những tôi tớ chân thật của Đức Chúa Trời, là những người rao giảng chân thật về Lời Chúa, chỉ ra sự sai trái của hiện tượng nói tiếng lạ, để thức tỉnh những ai thật lòng tìm kiếm lẽ thật của Lời Chúa nhưng đang sa vào mưu kế của tà linh nói tiếng lạ. Đó là cách mà Đức Chúa Trời giải cứu và dạy dỗ những con chiên chân thật của Ngài nhưng còn non yếu về thuộc linh.

  • Satan từng là tổng quản về ngợi khen và thờ phượng trên thiên đàng nên hiểu rất rõ về ân tứ.

Câu này sai. Sa-tan thật có quyền phép của một thiên sứ trưởng nhưng Sa-tan không biết gì về các ân tứ Chúa ban cho Hội Thánh, bởi vì, Hội Thánh là một huyền nhiệm được giấu kín trong Đức Chúa Trời từ thời thượng cổ. Chỉ đến khi Đấng Christ phục sinh, Hội Thánh được thành lập, Sa-tan mới ý thức được sự mầu nhiệm về Hội Thánh và Sa-tan cũng phải học về Hội Thánh và các ân tứ Chúa ban cho Hội Thánh (qua sự rao giảng của các tôi tớ Chúa bởi quyền năng của Đức Thánh Linh) như chúng ta.

Ê-phê-sô 3:9 “và soi sáng cho mọi người biết sự phân phát lẽ mầu nhiệm, từ đời thượng cổ đã giấu kín trong Đức Chúa Trời là Đấng dựng nên muôn vật.”

Ê-phê-sô 5:32 “Sự mầu nhiệm ấy là lớn, tôi nói về Đấng Christ và Hội Thánh vậy.”

Dầu vậy, Sa-tan cũng không thể nào “hiểu rất rõ” về các ân tứ. Bởi vì, Sa-tan không hề nhận lãnh Thánh Linh từ Đức Chúa Trời để hiểu được các ân tứ mà Hội Thánh đã nhận lãnh. Thánh Kinh cho biết, phải dùng sự khôn ngoan do Đức Thánh Linh dạy thì mới có thể hiểu biết được các ân tứ của Ngài. Thật là vô lý nếu cho rằng sau khi Hội Thánh được thành lập và được ban cho các ân tứ của Đức Thánh Linh thì Đức Thánh Linh lại giảng dạy cho Sa-tan hiểu biết về các ân tứ mà Ngài đã ban cho Hội Thánh. “Về phần chúng ta, chúng ta chẳng nhận lấy thần thế gian, nhưng đã nhận lấy Thần từ Đức Chúa Trời đến, hầu cho được hiểu biết những ơn mà chúng ta nhận lãnh bởi Đức Chúa Trời; chúng ta nói về ơn đó, không cậy lời nói mà sự khôn ngoan của loài người đã dạy đâu, song cậy sự khôn ngoan mà Thánh Linh đã dạy, dùng tiếng thiêng liêng để giải bày sự thiêng liêng.” (I Cô-rinh-tô 2:12-13).

  • Ân tứ thay vì là một tiền tố để Cơ Đốc Nhân phối hợp mạnh mẽ thì nay lại là nhân tố gây chia rẻ bậc nhất trong vòng Hội Thánh. Giống như một vị vua cha có 10 hoàng tử, và vua dạy cho mỗi người một thế võ, nhưng bài võ chỉ trọn vẹn khi 10 hoàng tử này biết phối hợp lại với nhau. (Chúa Thánh Linh ban cho ân tứ cho ai là tùy ý Ngài).

Sự so sánh này khập khểnh. Trong khi mười người con phải tổng hợp 10 thế võ để môn võ được nên trọn vẹn thì mỗi một ân tứ của Đức Thánh Linh là một ơn ban toàn vẹn, không một ơn nào dựa trên một ơn nào. Mỗi ơn có mục đích và công dụng riêng, cho mỗi hoàn cảnh, trường hợp. Các ân tứ của Chúa vẫn hiện diện trong Hội Thánh ngày nay, kể cả ân tứ nói ngoại ngữ và thông giải ngoại ngữ (tôi là một trong những người được ơn thông giải ngoại ngữ); nhưng sự kiện nói tiếng lạ không phải là một trong các ân tứ của Đức Thánh Linh và hoàn toàn phản Thánh Kinh. Đó chỉ là một hình thức đọc thần chú của các ngoại giáo mà trong khoảng 100 năm qua, Sa-tan đã dấy lên để tấn công vào trong Hội Thánh Chúa trong những ngày cuối cùng này, dẫn đến sự bội Đạo lớn làm tiền đề cho sự Chúa trở lại: "Luận về sự đến của Đức Chúa Jesus Christ chúng ta, và về sự chúng ta hội hiệp cùng Ngài, thì, hỡi anh em, xin chớ vội bối rối và kinh hoàng hoặc bởi thần cảm giả mạo, hoặc bởi lời nói hay là bởi bức thơ nào tựa như chúng tôi đã gởi mà nói rằng ngày Chúa gần đến. Mặc ai dùng cách nào, cũng đừng để họ lừa dối mình. Vì phải có sự bỏ đạo đến trước, và có người tội ác, con của sự hư mất hiện ra" (II Tê-sa-lô-ni-ca 2:1-3).

Trong suốt lịch sử của Hội Thánh Chúa gần hai ngàn năm qua, chưa bao giờ sự bội đạo thể hiện đều khắp và rộng lớn cho bằng qua phong trào nói tiếng lạ và đặt tay té ngã. Cá nhân tôi xem sự tổng hợp của phong trào nói tiếng lạ, đặt tay té ngã cùng với phong trào chấp nhận đồng tính luyến ái trong Hội Thánh là sự bội Đạo lớn, làm dấu hiệu cho sự Chúa trở lại để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian.

Trường hợp 1: Công vụ đoạn 2: Đây là tiếng lạ được hiểu như một ngoại ngữ xác định được với mục đích truyền giảng Tin Lành cho dân tộc khác. Đây phải dịch là tiếng ngoại quốc mới đúng.

Câu này sai. Đây không phải là tiếng lạ, Thánh Kinh không bao giờ dùng từ ngữ "tiếng lạ," mà đây là các ngôn ngữ. Công Vụ Các Sứ Đồ 2 liệt kê ra ngôn ngữ của 15 dân tộc khác nhau và nhiều lần dùng các từ ngữ sau đây để chỉ định các ngôn ngữ mà Đức Thánh Linh đã ban cho các môn đồ nói ra: “các thứ tiếng khác,” “tiếng xứ mình,” “tiếng riêng của xứ chúng ta sanh đẻ,” “tiếng chúng ta” và nội dung của sự nói đó là “nói những sự cao trọng của Đức Chúa Trời!” (Công Vụ Các Sứ Đồ 2:4, 6, 8, 11).

Mục đích của sự các môn đồ Chúa được ban ơn nói các ngôn ngữ khác nhau của loài người là để chứng minh năng lực của Đức Thánh Linh bắt đầu vận hành trong Hội Thánh của Đức Chúa Trời để Tin Lành sẽ được Hội Thánh giảng ra cho mọi dân tộc, bằng mọi tiếng nói của loài người, báo hiệu thời điểm kết thúc lịch sử tội lỗi của nhân loại.

Trong trường hợp của gia đình Cọt-nây (Công Vụ Các Sứ Đồ 10:46) là để cho các tín đồ người Do-thái biết Đức Chúa Trời tiếp nhận dân ngoại vào trong Hội Thánh và báp-tem Thánh Linh cho họ như là dân Do-thái. Trước khi Đấng Christ phục sinh, Tin Lành chỉ được giảng cho người Do-thái. Sau khi Đấng Christ phục sinh, không có sự phân biệt giữa dân Do-thái và dân ngoại trong Hội Thánh của Chúa (Ga-la-ti 3:28).

Không bao giờ ân tứ nói ngoại ngữ được dùng để truyền giảng mà tất cả các nhà truyền giáo đều phải học ngôn ngữ của dân tộc mà họ muốn đến truyền giảng. Cuối cùng, ơn nói ngoại ngữ là dấu hiệu tỏ ra cho những người không tin để họ nhận biết quyền năng của Đức Thánh Linh đang vận hành trong Hội Thánh (I Cô-rinh-tô 12:22), còn hiện tượng nói tiếng lạ chỉ khiến cho người ngoại chê cười vì họ thấy những kẻ nói tiếng lạ giống những người lên đồng, lên bóng, bị quỷ nhập.

Trường hợp 2: là trường hợp bị quở trách của Hội Thánh Cô-rinh-tô: là trường hợp giữa những người được ơn nói với hội chúng đã tin thì bắt buộc phải có sự thông giải. Trường hợp này có thể là tiếng ngoại quốc nhưng cũng có thể là tiếng lạ (tràng âm thanh không hiểu được).

Chỗ nào trong Thánh Kinh dạy rằng có thể các tín đồ tại Cô-rinh-tô nói ra những tràng âm thanh vô nghĩa? Đây là Sa-tan cưỡng từ đoạt ý để ngụy biện.

Trường hợp 3: là trường hợp chắc chắn không phải là tiếng của loài người hay dân tộc ngoại quốc, tại sao lại có sự giải thích này là bởi vì: Đây là ngôn ngữ hoàn toàn riêng biệt để tương giao với Chúa trong thế giới linh. Loại tiếng này dùng để gây dựng chính phần linh của cá nhân nói tiếng đó, là một sự bày tỏ “kín nhiệm.”

Chỗ nào trong Thánh Kinh dạy như vậy? Sa-tan đã đưa ra một giáo lý không có trong Thánh Kinh.

Phao-lô vừa là người được ân tứ nói nhiều thứ ngoại ngữ và cũng là người được ân tứ nói nhiều “thứ tiếng lạ” này (âm thanh không hiểu được).

Chỗ nào trong Thánh Kinh dạy như vậy? Sa-tan đã đưa ra một giáo lý không có trong Thánh Kinh.

Ông có sự tương giao với Chúa rất đặc biệt, bằng cớ là Phao-lô không trực tiếp dự Tiệc Thánh lúc Chúa Jesus lập ra, nhưng ông nhận được điều này từ Chúa về nghi thức Tiệc Thánh và viết ra để dạy trong thư Cô-rinh-tô. Ngày hôm nay, những lúc dự Tiệc Thánh thì Hội Thánh luôn đọc đoạn Kinh Thánh do Phao-lô viết dạy dỗ về nghi thức này.( I Cor 11 – Vả, tôi có nhận nơi Chúa…). Ông không hề dự Tiệc Thánh vào lúc Chúa Jesus lập, nhưng ông lại nói là ông nhận nơi Chúa vì ông có sự tương giao đặc biệt bằng linh với Thánh Linh (Nhận trong nơi kín nhiệm khi ông tương giao với Chúa). Vì ông là người nói tiếng lạ nhiều nhất nên ông cũng là người viết Tân Ước nhiều nhất sau khi Chúa Jesus thăng thiên.

Đây là ngụy biện, dùng lý trí suy luận của loài người để tạo ra các giáo lý không có trong Thánh Kinh. Vua Đa-vít viết nhiều Thi Thiên nhất. Số câu Thánh Kinh Vua Đa-vít viết nhiều gấp hai lần số câu Phao-lô viết, vậy, có thể nào kết luận rằng Vua Đa-vít là người biết nói nhiều tiếng lạ nhất? Sự kiện Phao-lô được Chúa chọn làm sứ đồ và dạy dỗ ông cách trực tiếp không liên quan gì đến ân tứ nói ngoại ngữ và Phao-lô tuyệt đối không hề nói tiếng lạ, vì, không hề có ân tứ nói tiếng lạ mà chỉ có ân tứ nói ngoại ngữ.

Ông cũng nhắc nhở là “cầu nguyện bằng tâm linh nhưng cũng cầu nguyện bằng tâm trí nữa.”

Cầu nguyện là một hình thức thờ phượng Chúa cho nên phải bằng tâm thần và lẽ thật (Giăng 423-24). Sự cầu nguyện nào của chúng ta cũng phải xuất phát từ trong tâm thần bởi sự cảm động và dẫn dắt của Đức Thánh Linh rồi phát ra bằng ngôn ngữ qua môi miệng của xác thịt. Trong khi đó, linh hồn chúng ta am hiểu điều mình cầu xin. Riêng trường hợp cầu nguyện bằng ngoại ngữ mà chúng ta không hiểu để tự mình thông giải thì chúng ta cần có anh chị em khác đang hiện diện thông giải, nếu không, chúng ta chỉ được phép cầu nguyện bằng tiếng mẹ đẻ hoặc bằng thứ tiếng mà Hội Thánh có thể hiểu được. Dù chúng ta cầu nguyện bằng tiếng mẹ đẻ hay bằng ngoại ngữ thì chúng ta cũng cầu nguyện bằng tâm thần và theo lẽ thật của Lời Chúa. Lý luận cho rằng, cầu nguyện bằng ơn nói ngoại ngữ là cầu nguyện trong tâm thần còn cầu nguyện bằng tiếng mẹ đẻ là cầu nguyện bằng tâm trí là hoàn toàn phản Thánh Kinh.

Ý của Phao-lô là chúng ta phải tìm cầu sự cầu nguyện và tôn vinh mà chúng ta có thể hiểu được, còn nếu sự cầu nguyện và tôn vinh phát xuất từ tâm thần bởi ân tứ nói ngoại ngữ mà không có người thông giải hoặc tự chúng ta không hiểu điều chúng ta cầu nguyện hoặc tôn vinh thì chúng ta không nên thực hành. Trọn vẹn câu nói của Phao-lô là: “Bởi đó, kẻ nói ngoại ngữ, hãy cầu nguyện để được thông giải tiếng ấy. Vì nếu tôi cầu nguyện bằng ngoại ngữ, thì tâm thần tôi cầu nguyện, nhưng trí khôn tôi lơ lửng. Vậy thì tôi sẽ làm thể nào? Tôi sẽ cầu nguyện theo tâm thần, nhưng cũng cầu nguyện bằng trí khôn. Tôi sẽ hát theo tâm thần, nhưng cũng hát bằng trí khôn” (I Cô-rinh-tô 14:13-15).

Không thể có chuyện chỉ cầu nguyện hoặc tôn vinh bằng trí khôn mà không bằng tâm thần, vì mọi sự thờ phượng Chúa đều phải bằng tâm thần và lẽ thật. Cho nên, cầu nguyện và tôn vinh vừa bằng tâm thần vừa bằng trí khôn là ý rõ ràng trong câu nói của Phao-lô.

Sự giải kinh theo kiểu ngắt câu đoạn mạch đã sản xuất ra vô số tà giáo!

Mục đích ông viết thư Cô-rinh-tô là để Hội Thánh được tổ chức tốt hơn, đặc biệt là trong lĩnh vực sử dụng ân tứ. Ông sắp xếp lại và hướng dẫn Hội Thánh cách vận hành ân tứ.

Tiếng lạ dùng để truyền giảng thì được hiểu là ngoại ngữ (speak other tongues), tiếng lạ dùng để gây dựng chính mình thì được hiểu là cơ quan phát âm (speak a tongue), mà loại âm thanh này không nhất thiết là loại ngôn ngữ thông thường của loài người.

Lại thêm một sự ngụy biện của Sa-tan. "Speak a tongue" tức là nói một ngôn ngữ, không thể dịch là phát ra những âm thanh. Để nói đến sự kiện phát ra những âm thanh thì Thánh Kinh dùng: "giving sound" “Vậy, dẫu vật không có sự sống phát ra tiếng (giving sound), như ống tiêu, đờn cầm: nếu không có âm điệu phân biệt nhau, thể nào nhận biết được ống tiêu hay là đờn cầm thổi và khảy cái chi?” (I Cô-rinh-tô 14:7). Điều quan trọng là, Thánh Kinh không hề nói đến ân tứ “phát ra tiếng.”

Ví dụ:

  • Đứa bé còn bú mẹ, khi nó “nói chuyện” với mẹ nó để xin bú thì nó sẽ không nói là “con muốn bú” mà nó chỉ có thể nói là “măm măm.” Đương nhiên, chữ “măm măm” này không phải là ngôn ngữ thông thường để diễn đạt “con muốn bú.” Việc tương giao với Cha Thiên Thượng cũng thế, có những điều “không nói bằng lời” được khi tâm linh được lớn lên. Nếu một người chưa nên thánh mà “báp tem Thánh Linh” sẽ bị hỏng chân, lúc đó thay vì được đầy dẫy Thánh Linh thì tà linh nhảy vào tương tác. Cho nên, anh ta đồng ý với anh rằng đầy dẫy Thánh Linh là phụ thuộc vào sự nên thánh khi sống đạo chứ không phải đặt tay cầu nguyện để đầy dẫy theo kiểu sai trật của các phong trào hiện nay.

Chữ "măm măm" đương nhiên là ngôn ngữ để xin bú của trẻ con. Thánh Kinh khẳng định, con trẻ có ngôn ngữ của con trẻ. Ai quy định rằng "măm măm" không phải là ngôn ngữ của trẻ con để xin bú? Nếu không phải thì sao cả mẹ lẫn con đều hiểu rằng đó là đứa con muốn bú? Chẳng những con trẻ có ngôn ngữ của con trẻ mà còn có nhiều trình độ khác nhau trong sự vận dụng ngôn ngữ nữa. "Khi tôi còn trẻ, tôi nói như con trẻ, tư tưởng như con trẻ, suy xét như con trẻ; khi tôi đã thành nhơn bèn bỏ những điều thuộc về con trẻ" (I Cô-rinh-tô 13:11).

Nếu chưa nên thánh, sao lại được báp-tem bằng Thánh Linh? Nếu đã được báp-tem bằng Thánh Linh thì phải đầy dẫy Thánh Linh chứ sao tà linh lại nhảy vào? Vậy, quyền năng của Đức Thánh Linh ở đâu?

Một người thật lòng ăn năn tội, tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ thì lập tức được Đức Chúa Trời tha tội, được Đức Chúa Jesus Christ làm cho sạch tội và được Đức Thánh Linh tái sinh. Người đó lập tức được đổ đầy Thánh Linh của Chúa (báp-tem bằng Thánh Linh) để có năng lực của Thiên Chúa sống một đời sống mới theo điều răn và luật pháp mà Đức Thánh Linh đã ghi vào lương tâm mới của người ấy. Từ đó, người đã được tái sinh, nếu tiếp tục yêu mến Chúa, tìm kiếm lẽ thật của Lời Chúa để vâng theo thì tiếp tục đầy dẫy Thánh Linh, còn nếu hướng về thế gian yêu mến thế gian thì không còn đầy dẫy Thánh Linh.

Dấu chứng một người đầy dẫy Thánh Linh là sự kiện người ấy không phạm tội, dù chỉ trong tư tưởng, hoặc nếu tội lỗi vừa phát sinh trong tư tưởng thì người ấy lập tức ăn năn và xưng tội với Chúa. Khi tiếp xúc với thế giới bên ngoài, một người đầy dẫy Thánh Linh sẽ nói và hành động theo sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh. Dầu vậy, chính linh hồn người ấy quyết định là

Đọc Tiếp →

Mạng Lệnh của Thiên Chúa về Thức Ăn của Loài Người

Huỳnh Christian Timothy

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?4yvf9157dubb7jn

Bấm vào nối mạng dới đây để nghe và tải xuống MP3 bài giảng này:
http://timhieutinlanh.net/node/1012

 

Dẫn Nhập

Gần đây, có vài anh chị em đang sinh hoạt trong Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm đã đến với khu mạng www.timhieutinlanh.net và đồng thuận về việc chúng tôi rao giảng rằng, con dân Chúa không được vi phạm Mười Điều Răn; nhưng phản đối việc chúng tôi rao giảng rằng, con dân Chúa thời Tân Ước không cần phải kiêng các thức ăn vốn bị xem là không tinh sạch trong thời Cựu Ước.

Vào năm 2007 chúng tôi đã có bài viết giải thích, vì sao con dân Chúa thời Hội Thánh không cần phải kiêng các thức ăn vốn bị xem là không tinh sạch nữa. Bài này được đăng trong mục Hỏi & Đáp của khu mạng www.tinlanhbiengiao.net. Nay chúng tôi xin viết lại đầy đủ hơn để quý con dân Chúa dùng làm tài liệu tham khảo.

Trước hết, chúng ta cần phân biệt các thời kỳ khác nhau về thức ăn trong lịch sử loài người. Từ khi sáng thế đến nay, loài người đã trải qua bốn thời kỳ:

  • Thời kỳ loài người được sống trong vườn Ê-đen.
  • Thời kỳ loài người bị đuổi ra khỏi vườn Ê-đen cho đến khi cơn Nước Lụt.
  • Thời kỳ sau cơn Nước Lụt cho đến khi Thiên Chúa thiết lập Cựu Ước.
  • Thời kỳ Cựu Ước.

Hiện nay, loài người đang ở trong thời kỳ Tân Ước. Thiên Chúa có những mạng lệnh rõ ràng, quy định các thức ăn cho con dân của Ngài trong mỗi thời kỳ.

Thời Kỳ Sống Trong Vườn Ê-đen

Đây là thời kỳ loài người chưa phạm tội, các thánh đồ của Chúa lúc bấy giờ chỉ có A-đam và Ê-va. Mạng lệnh của Thiên Chúa về thức ăn cho loài người và loài thú được Ngài phán truyền rất rõ ràng như sau:

Sáng Thế Ký 1:29-30

29 Thiên Chúa lại phán rằng: Nầy, Ta sẽ ban cho các ngươi mọi thứ cỏ kết hột mọc khắp mặt đất, và các loài cây sanh quả có hột giống; ấy sẽ là đồ ăn cho các ngươi.

30 Còn các loài thú ngoài đồng, các loài chim trên trời, và các động vật khác trên mặt đất, phàm giống nào có sự sống thì Ta ban cho mọi thứ cỏ xanh đặng dùng làm đồ ăn; thì có như vậy.

Trong thời kỳ này không có sự phân biệt giữa loài vật tinh sạch và loài vật không tinh sạch. Loài người ăn các loại cỏ (rau) có hột và các loại trái cây có hột. Loài thú ăn mọi thứ cỏ xanh. Thánh Kinh không cho chúng ta biết thời kỳ này kéo dài bao lâu.

Thời Kỳ Bị Đuổi Khỏi Vườn Ê-đen cho đến khi Cơn Nước Lụt

Sau khi A-đam và Ê-va phạm tội thì họ bị đuổi ra khỏi vườn Ê-đen. Từ đó, tội lỗi ngày càng gia tăng, cho đến khi Thiên Chúa dùng một cơn nước lụt toàn cầu để hủy diệt các loài thú và loài người, ngoại trừ gia đình tám người của Nô-ê và những thú vật cùng ông lánh nạn trên chiếc tàu, mà ông đã vâng lời Thiên Chúa xây dựng trong 120 năm. Thời kỳ này kéo dài khoảng 1,700 năm. Dù trong thời kỳ này đã có sự phân biệt giữa các loài vật tinh sạch với các loài vật không tinh sạch (Sáng Thế Ký 7:2) nhưng sự phân biệt này chỉ áp dụng cho việc dâng sinh tế lên Thiên Chúa (Sáng Thế Ký 8:20), không áp dụng cho thực phẩm của loài người. Trong suốt thời kỳ này, Thiên Chúa không hề cho phép loài người ăn thịt. Vì thế, thức ăn của loài người và loài thú vẫn như trong thời kỳ trước, lúc loài người còn sống trong vườn Ê-đen: Loài người ăn các loại cỏ (rau) có hột và các loại trái cây có hột. Loài thú ăn mọi thứ cỏ xanh.

Thời Kỳ sau Cơn Nước Lụt cho đến khi Thiên Chúa Thiết Lập Cựu Ước

Sau cơn Nước Lụt, liền sau khi gia đình Nô-ê và các loài thú vật ra khỏi tàu, thì Thiên Chúa đã truyền cho Nô-ê mạng lệnh thay đổi về thức ăn của loài người, như sau:

Sáng Thế Ký 9:3-4

3 Phàm vật chi hành động và có sự sống thì dùng làm đồ ăn cho các ngươi. Ta cho mọi vật đó như ta đã cho thứ cỏ xanh.

4 Song các ngươi không nên ăn thịt còn hồn sống, nghĩa là có máu.

So sánh Sáng Thế Ký 9:3 với nguyên ngữ Hê-bơ-rơ và Bản Dịch King James có kèm theo mã số Strong, chúng ta sẽ thấy ý nghĩa của từng chữ được dùng trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ của Thánh Kinh:

Gen 9:3
כלH3605רמשׂH7431אשׁרH834הואH1931חיH2416לכם יהיהH1961לאכלהH402כירקH3418עשׂבH6212נתתיH5414לכם אתH853כל׃H3605

Gen 9:3
EveryH3605moving thingH7431thatH834livethH2416shall beH1961meatH402for you; even as the greenH3418herbH6212have I givenH5414you(H853)all things.H3605

  • “kôl,” H3605 = Mỗi một, tất cả (every).
  • “remeś,” H7431 = bò, lướt tới: như chim bay trên trời, như cá lội dưới nước (moving).
  • “'ăsher,” H834 = vật chi (thing that).
  • “chay,” H2416 = sống (live, living).
  • “hâyâh,” H1961 = là (be).
  • “'ôklâh,” H402 = thức ăn, đồ ăn (food, meat).

Rõ ràng, mạng lệnh của Thiên Chúa bao gồm mọi loài thú vật sống động, không ngoại trừ những loài thú vật không tinh sạch, nhưng ngoại trừ loài thú vật đã chết (không sống động) và ngoại trừ việc ăn huyết. Vì thế, thức ăn của loài người trong thời kỳ này bao gồm các loài cỏ có hột, các loài trái cây có hột, và thịt các loài thú đang sống được làm cho ráo huyết khi xẻ thịt. Thời kỳ này kéo dài khoảng 1,100 năm.

Thời Kỳ Cựu Ước

Thời kỳ này bắt đầu từ khi Thiên Chúa ban hành Mười Điều Răn và luật pháp tại núi Si-na-i (năm 1446 TCN) và kéo dài cho đến khi Đức Chúa Jesus Christ hoàn thành sự chuộc tội cho nhân loại trên thập tự giá (năm 30) [1]. Trong thời kỳ này, Thiên Chúa một lần nữa phán truyền mệnh lệnh thay đổi về thức ăn của loài người (Lê-vi Ký 7:22-27; Lê-vi Ký 11). Loài người vẫn được ăn thịt nhưng ngoài việc kiêng cử thịt thú vật đã chết ngột và kiêng cử huyết, thì có thêm việc kiêng cử mỡ và thịt các loài thú vật không tinh sạch. Thời kỳ này kéo dài khoảng 1475 năm (không có năm 0 giữa năm 1 TCN và năm 1 CN).

Thời Kỳ Tân Ước

Thời kỳ này bắt đầu liền sau khi Đức Chúa Jesus Christ hoàn thành sự chuộc tội cho nhân loại trên thập tự giá vào năm 30 và kéo dài cho đến ngày hôm nay. Trong thời kỳ này, thức ăn dành cho loài người giống như trước thời Cựu Ước, bao gồm các loài cỏ có hột, các loài trái cây có hột, và thịt các loài thú vật đang sống được xẻ thịt và làm cho ráo huyết, chỉ ngoại trừ huyết, thịt thú vật chết ngột, và các thức ăn đã được dâng cúng cho thần tượng (Công Vụ Các Sứ Đồ 10:9-16; 15:29).

Công Vụ Các Sứ Đồ 10:9-16

9 Bữa sau, trong lúc ba người ấy đương đi đường và đã đến gần thành, vừa nhằm giờ thứ sáu Phi-e-rơ leo lên mái nhà để cầu nguyện.

10 người đói và thèm ăn; khi người ta đương dọn cho ăn, thì người bị ngất trí đi.

11 Người thấy trời mở ra, và có vật chi giống như một bức khăn lớn níu bốn chéo lên, giáng xuống và sa đến đất:

12 thấy trong đó có những thú bốn cẳng, đủ mọi loài, côn trùng bò trên đất, và chim trên trời.

13 Lại có tiếng phán cùng người rằng: Hỡi Phi-e-rơ, hãy dậy, làm thịt và ăn.

14 Song Phi-e-rơ thưa rằng: Lạy Chúa, chẳng vậy; vì tôi chẳng ăn giống gì dơ dáy chẳng sạch bao giờ.

15 Tiếng đó lại phán cùng người lần thứ hai rằng: Phàm vật chi Đức Chúa Trời đã làm cho sạch, thì chớ cầm bằng dơ dáy.

16 Lời đó lặp lại ba lần; rồi vật ấy liền bị thâu lên trên trời.

Công Vụ Các Sứ Đồ 15:28-29

29 ấy là Đức Thánh Linh và chúng ta đã ưng rằng chẳng gán gánh nặng nào khác cho anh em ngoài những điều cần dùng,

29 tức là anh em phải kiêng ăn của cúng thần tượng, máu, thú vật chết ngột, và chớ tà dâm; ấy là mọi điều mà anh em khá kiêng giữ lấy vậy. Kính chúc bình an.

Trong khải tượng Chúa ban cho Sứ Đồ Phi-e-rơ, được ghi lại trong Công Vụ Các Sứ Đồ 10:9-16 chúng ta nhận thấy những ý nghĩa sau đây:

  • Đức Chúa Trời đã làm sạch mọi thứ không tinh sạch, từ loài vật cho đến loài người. Đức Chúa Trời ba lần lập lại cùng một lời phán với Phi-e-rơ: “Phàm vật chi Đức Chúa Trời đã làm cho sạch, thì chớ cầm bằng dơ dáy.”
  • Từ đó trở đi, người Do-thái không được coi khinh các dân tộc khác là ô-uế, không tinh sạch vì cớ họ không chịu cắt bì.
  • Cũng không còn sự phân biệt các loài thú vật tinh sạch hoặc không tinh sạch. Các loài thú vật đều được dùng làm thực phẩm cho loài người như trước thời kỳ Cựu Ước.

Thẩm Quyền Tuyệt Đối của Đức Chúa Trời

Qua sự hiện thấy của Phi-e-rơ chúng ta học được một điều là: Khi Đức Chúa Trời muốn, Ngài có thể làm bất cứ điều gì, kể cả thay đổi các định luật, các quy chế… Nói cho cùng, Ngài là Đức Chúa Trời toàn năng cho nên Ngài muốn làm gì thì làm. Nhưng Ngài là tình yêu, cho nên bất cứ những gì Ngài làm đều không đi ngược lại thuộc tính yêu thương của Ngài, vì thế, Đức Chúa Trời là "thiện, sự nhân từ Ngài còn đến đời đời!" Đức Chúa Trời tùy theo từng giai đoạn trong lịch sử loài người mà ban hành những mệnh lệnh khác nhau về cùng một sự việc. Thánh Kinh dạy rõ những điều sau đây:

  • Trong các thời kỳ trước thời kỳ Cựu Ước, không hề có chuyện ngăn cấm anh chị em ruột kết hôn lẫn nhau; nhưng từ thời kỳ Cựu Ước đến nay thì anh chị em ruột không được kết hôn lẫn nhau.
  • Trong các thời kỳ trước cơn Nước Lụt, loài người không được ăn thịt; nhưng từ sau cơn Nước Lụt loài người được phép ăn thịt.
  • Trong thời kỳ Cựu Ước, loài người không được phép ăn thịt các loài thú vật không tinh sạch, thú vật chết ngột, mỡ và huyết. Trong thời kỳ Tân Ước, loài người chỉ bị cấm ăn huyết, thú vật chết ngột ,và thức ăn đã dâng cúng thần tượng.
  • Trong thời kỳ Cựu Ước, ai vi phạm trầm trọng luật pháp của Thiên Chúa thì bị dân chúng ném đá cho đến chết; nhưng trong thời kỳ Tân Ước thì Đấng Christ đã gánh thay án chết cho mọi tội nhân
  • Trong thời kỳ Cựu Ước, chỉ có thầy tế lễ thượng phẩm của dân I-sơ-ra-ên mới có thể mỗi năm một lần vào nơi chí thánh trong đền thờ dưới đất, để làm lễ chuộc tội cho con dân Chúa, ngoài ra, không một ai có thể vào trong nơi chí thánh. Trong thời kỳ Tân Ước, sau khi Đức Chúa Jesus Christ, là thầy tế lễ thượng phẩm đời đời, đã vào nơi chí thánh trên trời một lần để làm lễ chuộc tội cho toàn thể nhân loại, thì tất cả những ai tin nhận sự chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ đều được tự do vào trong nơi chí thánh trên trời (trong tâm thần).

Hê-bơ-rơ 10:19 “Hỡi anh em, vì chúng ta nhờ máu Đức Chúa Jesus được dạn dĩ vào nơi rất thánh.”

Vì Sao Có Sự Khác Biệt Về Các Loài Thú Vật Tinh Sạch và Không Tinh Sạch?

Dù Thánh Kinh không nói rõ nhưng chúng ta có thể hiểu rằng, sau khi loài người phạm tội, tội lỗi vào trong thế gian làm cho mọi loài xác thịt bị thoái hóa và dẫn đến sự chết. Hậu quả là, có những loài thú vật mang nhiều mầm bệnh, nhất là những loài ăn tạp, ăn cả phân hoặc xác chết các loài khác. Những loài thú đó bị xem là không tinh sạch, không thể dâng làm sinh tế lên Thiên Chúa.

Đến khi Thiên Chúa cho phép loài người được ăn thịt trong thời kỳ sau cơn Nước Lụt thì Ngài vẫn chưa ban hành lệnh cấm ăn thịt các loài thú vật không tinh sạch, có lẽ, vì lúc đó hệ thống miễn nhiễm của loài người chưa bị thoái hóa nhiều. Đến thời kỳ Cựu Ước thì mọi loài xác thịt đã bị suy thoái nhiều, các loài thú vật không tinh sạch thì càng mang thêm những mầm bệnh, còn loài người thì hệ thống miễn nhiễm cũng đã quá suy yếu. Vì thế, luật cấm anh chị em ruột kết hôn lẫn nhau và luật cấm ăn thịt các loài thú vật không tinh sạch được ban hành. Ngày nay, y khoa biết được: anh chị em ruột kết hôn lẫn nhau sẽ sinh ra con cái bị nhược trí, rối loạn thần kinh hoặc dị tật; các sinh vật mà Thánh Kinh xếp loại không tinh sạch là những sinh vật có chứa nhiều mầm bệnh, như: sán sơ-mít trong thịt heo, chất cholesterol xấu trong các loài tôm, cua…

Tuy nhiên, thời Tân Ước, Chúa đã phán rõ ràng ba lần về các loài thú vật không tinh sạch, rằng Ngài đã làm cho chúng trở nên tinh sạch. Vì thế, con dân Chúa có thể dùng “vật chi hành động và có sự sống” làm thức ăn theo tinh thần của Sáng Thế Ký 9:3; Công Vụ Các Sứ Đồ 10:15 và 15:29; nghĩa là: ăn mọi thứ thịt nhưng không ăn thịt chưa ráo máu, không ăn thịt thú vật chết ngột, không ăn huyết, và không ăn các thức ăn đã dâng cúng cho thần tượng.

Nhờ Đâu Các Loài Thú Vật Không Tinh Sạch Được Trở Nên Tinh Sạch?

Đức Chúa Trời đã làm điều đó qua sự Ngài chấp nhận huyết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ. Ví cớ loài người phạm tội mà muôn vật dưới quyền cai trị của loài người bị họa lây, cho nên, khi sự cứu chuộc tội lỗi của loài người được hoàn tất thì muôn vật cũng được tinh sạch:

Rô-ma 8:22 “Vì chúng ta biết rằng muôn vật đều than thở và chịu khó nhọc cho đến ngày nay.”

Cô-lô-se 1:20 “và qua Ngài mà phục hòa muôn vật với chính Ngài, dầu là những vật dưới đất hoặc những vật trong các tầng trời; bởi Ngài đã làm nên sự hòa bình thông qua máu của thập tự giá Ngài.”

Muôn vật, trong đó có loài người, được trở nên tinh sạch nhờ vào huyết của Đức Chúa Jesus Christ, nhờ đó mà muôn vật mới có thể phục hòa với Đấng Christ. Tuy nhiên, với loài người, thì mỗi người phải tiếp nhận sự thánh hóa và phục hòa mà Đấng Christ đã ban cho. Ngài đã ban cho sự tha tội, Ngài đã làm cho mỗi người được tinh sạch khỏi tội lỗi, nhưng mỗi người phải nhận lãnh cho chính mình.

Lý Luận của Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm

Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm và một vài giáo hội khác cho rằng khải tượng của Sứ Đồ Phi-e-rơ chỉ có ý nghĩa, rằng Đức Chúa Trời đã làm cho dân ngoại được tinh sạch chứ không phải các loài thú vật. Tuy nhiên, câu hỏi được đặt ra là: Nếu Đức Chúa Trời vẫn không cho phép loài người ăn thịt các loài thú vật không tinh sạch thì tại sao Đức Chúa Trời lại bảo Phi-e-rơ hãy làm thịt và ăn các loài thú vật không tinh sạch. Nếu Đức Chúa Trời chỉ muốn truyền lệnh cho Phi-e-rơ đừng kỳ thị dân ngoại, xem họ là ô uế nữa, thì Ngài không cần bảo Phi-e-rơ hãy làm thịt và ăn các loài thú không tinh sạch. Ngài chỉ cần trực tiếp phán bảo ông hãy đi giảng Tin Lành cho dân ngoại, như Đức Chúa Jesus Christ đã phán cùng toàn thể môn đồ trong Ma-thi-ơ 28:19 “Vậy, hãy đi khiến cho muôn dân trở nên môn đồ, trong danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh hãy làm phép báp-tem cho họ;” hoặc cho ông có sự mạc khải tương tự như Ngài đã ban cho Sứ Đồ Phao-lô, được ghi lại trong Công Vụ Các Sứ Đồ 16:9-10 “Đương ban đêm, Phao-lô thấy sự hiện thấy; có một người Ma-xê-đoan đứng trước mặt mình, nài xin rằng: Hãy qua xứ Ma-xê-đoan mà cứu giúp chúng tôi. Phao-lô vừa thấy sự hiện thấy đó rồi, chúng ta liền tìm cách qua xứ Ma-xê-đoan, vì đã định rằng Chúa gọi chúng ta rao truyền Tin Lành ở đó.” Hơn nữa, Phi-e-rơ nhận được khải tượng trong khi ông đang đói và thèm ăn.

Đức Chúa Trời đã dùng cơ hội đó để dạy cho Hội Thánh, thông qua Phi-e-rơ, rằng huyết của Đấng Christ đã làm cho muôn vật được tinh sạch để muôn vật có thể phục hòa cùng Đấng Christ. Phủ nhận sự kiện các loài thú không tinh sạch đã được Đức Chúa Trời làm cho tinh sạch là phủ nhận ba lần lời phán của Đức Chúa Trời: “Phàm vật chi Đức Chúa Trời đã làm cho sạch, thì chớ cầm bằng dơ dáy” (Công Vụ Các Sứ Đồ 10:15-16), đồng thời phủ nhận luôn các câu Thánh Kinh sau đây:

Ma-thi-ơ 15:11 “Chẳng phải điều chi vào miệng làm dơ dáy người; nhưng điều chi ở miệng ra, ấy mới là điều làm dơ dáy người vậy!”

Cô-lô-se 1:19-20 “Vì chưng, mọi sự đầy dẫy được vui mà ở trong Ngài, và qua Ngài mà phục hòa muôn vật với chính Ngài, dầu là những vật dưới đất hoặc những vật trong các tầng trời; bởi Ngài đã làm nên sự hòa bình thông qua máu của thập tự giá Ngài.”

Tít 1:15 “Mọi sự là tinh sạch cho những người tinh sạch, nhưng, cho những kẻ dơ dáy và chẳng tin, thì không sự gì là tinh sạch cả; trái lại, tâm thần và lương tâm họ là dơ dáy nữa."

I Ti-mô-thê 4:4 “Vả, mọi vật Đức Chúa Trời đã dựng nên đều là tốt lành cả, không một vật chi đáng bỏ, miễn là mình cảm ơn mà ăn lấy thì được.”

Nếu trong thời Tân Ước vẫn còn phân biệt các loài thú vật tinh sạch hoặc không tinh sạch thì trong Công Vụ Các Sứ Đồ 15:29 Đức Thánh Linh đã phán rằng: Anh em phải kiêng ăn của cúng thần tượng, máu, thú vật chết ngột cùng các loài thú vật không tinh sạch… Nếu quả thật vẫn còn có sự phân biệt tinh sạch và không tinh sạch thì không có lý do gì Đức Thánh Linh nhắc đến máu và thú vật chết ngột mà lại không nhắc đến các loài thú vật không tinh sạch. Chúng ta cũng nhận thấy, trong thời kỳ Tân Ước mỡ cũng không còn bị cấm ăn, bởi vì, trong thời kỳ Tân Ước sự biệt riêng mỡ để dâng lên Thiên Chúa cũng không còn nữa. Huyết vẫn bị cấm ăn vì trong huyết có sự sống và thú vật bị chết ngột vẫn bị cấm ăn vì khi thú vật bị chết ngột thì huyết vẫn còn trong thân thể chúng.

Thái Độ Nên Có của Con Dân Chúa Đối Với Các Thức Ăn

Thánh Kinh đã dạy rõ cho con dân Chúa thái độ nên có đối với các thức ăn:

  • Không được ăn huyết.
  • Không được ăn thịt thú vật chết ngột.
  • Không được ăn các thức ăn đã dâng cúng cho thần tượng.
  • Ngoài ra, mọi sự là tinh sạch cho những người tinh sạch, tức là, đối cới con dân Chúa, không còn sự phân biệt tinh sạch và không tinh sạch đối với các loài thú vật dùng làm thức ăn: "Mọi sự là tinh sạch cho những người tinh sạch, nhưng, cho những kẻ dơ dáy và chẳng tin, thì không sự gì là tinh sạch cả; trái lại, tâm thần và lương tâm họ là dơ dáy nữa." (Tít 1:15)

Về sau, trong các thư tín, Sứ Đồ Phao-lô cũng dạy rằng, luật phân biệt các thức ăn tinh sạch với thức ăn không tinh sạch chẳng còn áp dụng cho tín đồ nữa. Tuy nhiên, nếu ai muốn tiếp tục kiêng cử thì cứ kiêng cử nhưng đừng xét đoán người không kiêng cử. Theo Phao-lô, người kiêng cử là người có đức tin yếu đuối (vì không dám tin vào khải tượng Chúa đã tỏ ra cho Phi-e-rơ):

Rô-ma 14:1-6

1 Hãy bằng lòng tiếp lấy kẻ kém đức tin, chớ cãi lẫy về sự nghi ngờ.

2 Người nầy tin có thể ăn được cả mọi thứ; người kia là kẻ yếu đuối, chỉ ăn rau mà thôi.

3 Người ăn chớ khinh dể kẻ không ăn; và người không ăn chớ xét đoán kẻ ăn, vì Đức Chúa Trời đã tiếp lấy người.

4 Ngươi là ai mà dám xét đoán tôi tớ của kẻ khác? Nó đứng hay ngã, ấy là việc chủ nó; song nó sẽ đứng, vì Chúa có quyền cho nó đứng vững vàng.

5 Người nầy tưởng ngày nầy hơn ngày khác, kẻ kia tưởng mọi ngày đều bằng nhau; ai nấy hãy tin chắc ở trí mình.

6 Kẻ giữ ngày là giữ vì Chúa; kẻ ăn là ăn vì Chúa, vì họ tạ ơn Đức Chúa Trời; kẻ chẳng ăn cũng chẳng ăn vì Chúa, họ cũng tạ ơn Đức Chúa Trời.

(Sự giữ ngày nói đến trong những câu trên đây không phải là sự giữ ngày Sa-bát theo điều răn của Đức Chúa Trời mà con dân Chúa trong mọi thời đại phải vâng giữ, kể cả thời ngàn năm bình an, nhưng là sự giữ ngày kiêng ăn, là điều Thánh Kinh không quy định, cho nên, ai muốn kiêng ăn vào ngày nào thì cứ kiêng ăn vào ngày đó. Ngay cả sự kiêng ăn, Thánh Kinh cũng không đặt thành điều răn, ngoại trừ việc kêu gọi tội nhân kiêng ăn trong sự ăn năn tội và kêu gọi con dân Chúa kiêng ăn để đuổi những thứ quỷ dữ.)

I Ti-mô-thê 4:1-5

1 Vả, Đức Thánh Linh phán tỏ tường rằng, trong đời sau rốt, có mấy kẻ sẽ bội đạo mà theo các thần lừa dối, và đạo lý của quỷ dữ,

2 bị lầm lạc bởi sự giả hình của giáo sư dối, là kẻ có lương tâm đã lì,

3 họ sẽ cấm cưới gả, và biểu kiêng các thức ăn Đức Chúa Trời đã dựng nên cho kẻ có lòng tin và biết lẽ thật, tạ ơn mà dùng lấy.

4 Vả, mọi vật Đức Chúa Trời đã dựng nên đều là tốt lành cả, không một vật chi đáng bỏ, miễn là mình cảm ơn mà ăn lấy thì được;

5 vì nhờ Lời Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được nên thánh.

Nhờ Lời Đức Chúa Trời tức là nhờ lời Ngài đã phán ba lần cùng Sứ Đồ Phi-e-rơ: “Phàm vật chi Đức Chúa Trời đã làm cho sạch, thì chớ cầm bằng dơ dáy” (Công Vụ Các Sứ Đồ 10:15). Nhờ lời cầu nguyện tức là nhờ lời mà chúng ta cảm tạ Chúa khi nhận lãnh thức ăn.

Kết Luận

Mỗi con dân Chúa là một đền thờ của Đức Chúa Trời có Đức Thánh Linh ngự trong thân thể mình. Vì là đền thờ của Chúa, đã được rưới bằng huyết của Chúa rồi (Khải Huyền 1:6), nên thân thể của chúng ta trở nên rất thánh. Vật chi đụng vào chúng ta thì cũng trở nên thánh:

Xuất Ê-díp-tô Ký 29:37 “…bàn thờ sẽ trở nên rất thánh, phàm vật chi đụng đến đều sẽ được nên thánh vậy.”

Các thức ăn không thể làm ô uế chúng ta. Chính Đức Chúa Jesus Christ đã phán dạy như vậy:

Ma-thi-ơ 15:11 “Chẳng phải điều chi vào miệng làm dơ dáy người; nhưng điều chi ở miệng ra, ấy mới là điều làm dơ dáy người vậy!”

Ngay cả người chồng hay người vợ chưa tin Chúa mà bằng lòng sống chung với chúng ta sau khi chúng ta tin nhận Chúa, và con cái của chúng ta có với họ, cũng đều nhờ chúng ta mà được nên thánh:

I Cô-rinh-tô 7:14 “Bởi vì, chồng không tin Chúa, nhơn vợ mình được nên thánh, vợ không tin Chúa, nhơn chồng mình tin Chúa được nên thánh; bằng chẳng vậy, con cái anh em nên chẳng sạch, song nay đều là thánh.”

(Sự nên thánh này không phải là sự nên thánh để được cứu rỗi, tức là sự được tha tội và làm cho sạch tội, mà là sự được Đức Chúa Trời biệt riêng [2] họ ra để chúng ta có thể sống chung với họ. Nếu họ không ăn năn tội và tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời thì họ vẫn ở trong địa vị bị hư mất đời đời. Câu Thánh Kinh này cũng không hàm ý cho phép con dân Chúa được kết hôn với người chưa tin Chúa. Đây là trường hợp của những cặp vợ chồng không tin Chúa, nhưng sau đó, một trong hai người tin nhận Chúa.)

Dầu trong thời Tân Ước, các loài thú vật đều đã được Đức Chúa Trời làm cho tinh sạch, nhưng không phải thức ăn nào cũng có ích cho chúng ta. Có người bị dị ứng với một số thức ăn và tham ăn thì sẽ làm hại sức khỏe. Vậy, chúng ta kiêng cử một số thức ăn là vì nó không hợp với khẩu vị của chúng ta hoặc không hợp với thể chất của chúng ta, chứ không phải vì tin rằng ăn thức ăn đó là vi phạm luật pháp của Thiên Chúa.

Nguyện Đức Thánh Linh luôn dắt chúng ta vào trong mọi lẽ thật của Lời Chúa. A-men!

Huỳnh Christian Timothy
09.10.2012

Ghi Chú

[A] Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012. Quý bạn có thể đọc trên mạng: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.netwww.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

[B] Dùng hai nối mạng dưới đây để tra xem ý nghĩa trong Anh ngữ và nghe cách phát âm của một từ ngữ Hê-bơ-rơ trên Internet:

[C] Dùng hai nối mạng dưới đây để tra xem ý nghĩa trong Anh ngữ và nghe cách phát âm của một từ ngữ Hy-lạp trên Internet:

[1] Xem bài “Ngày Chúa Chết và Ngày Chúa Phục Sinh” tại đây: http://timhieutinlanh.net/node/579 hoặc tải xuống tại đây: http://www.divshare.com/download/15657691-93e

[2] Chữ thánh ngoài nghĩa tinh sạch còn có nghĩa là biệt riêng ra cho một mục đích nào đó.


Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry.
Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Đọc Tiếp →

Một Sự Lừa Dối Lớn Trong Lịch Sử Phấn Hưng của Hội Thánh

Bấm vào đây để download bài viết này

[730]

Một Sự Lừa Dối Lớn Trong Lịch Sử Phấn Hưng của Hội Thánh

Các anh chị em trong Chúa Cứu Thế Giê-xu thân mến, 

Tôi viết nên việc nầy để cho mọi người tỉnh thức và đề phòng. Vì sự việc đã diễn ra trong hội thánh mà tôi đang sinh hoạt tại Tampa, FL. Tôi xin được phép không nêu tên của hội thánh và những người mà tôi sẽ đề cập.  

Hội Thánh chúng tôi đã cầu nguyện hơn một năm nay là xin Chúa phấn hưng vùng đất Tampa nầy để nhiều người (nhất là người Việt) được cứu. Lòng ao ước nóng cháy của mọi anh chị em đã gom lại cầu nguyện mõi tối thứ 6 từ 9:00 tối cho đến 11 giờ tối rồi sau nầy chuyển sang tối thứ 7 và kéo dài có khi đến 2 giờ sáng.  

Tôi và những anh chị em khác cũng giống nhau một điểm là những người khao khát Đức Thánh Linh và mong cho được điều mình muốn là được báptem ĐTL để hầu việc Chúa có hiệu quả. Có 3 chị em được nhận báptem ĐTL, tôi sẽ kể chi tiết hơn.  

Tôi đi dự Đại Hội Phục Hưng vừa rồi tại Texas, trên đường về tôi có cảm nhận một việc gì đó sẽ xẫy ra cho chúng tôi khi về lại Tampa. Cô Th., cô L. , và chị S.là những người được báptem ĐTL mạnh mẽ trước khi đi đại hội vài tháng. Sự việc xẫy ra trong một buổi tối thứ 7 cách đây 3 tuần lễ, như thường lệ chúng tôi gòm những anh chị em trong ca đoàn tập hát cho buổi thờ phượng sáng CN hôm sau. Cô Th. là người coi như được báp tem ĐTL mạnh mẽ đã đến nói với tôi là một lát nữa đây anh sẽ thấy việc lạ thường thì đừng ngại nhiên…cô cho biết là quyền lực bóng tối đã tấn công cô và cô đã thắng.  Khi chúng tôi bắt đầu tập hát bài Thánh Thay (Holy holy) thì cô Th. đã cầu nguyện lớn tiếng và hát rất to vài rõ và cô bắt đầu nói “Chúa đến đây các con hãy nghe ta”…và cô cứ tiếp tục hát lớn đến nỗi không ai tập hát được…Tôi cảm nhận trong lòng là đây là sự phá rối chớ Chúa gì kỳ vậy. Tôi bèn bỏ đi ra phía sau nhà để uống nước và hỏi rằng “lại Chúa, có phải là Ngài không?” Khi tôi trở ra thì ông và bà mục sư (là người hướng dẫn về Thánh Linh cho chúng tôi) dẫn cô Th. ra phía sau đễ cầu nguyện hay là làm gì đó thì tôi không rõ.  Chúng tôi tập hát xong là vào phần buổi nhóm cầu nguyện phấn hưng…sau khi tôn vinh Chúa vài bài thì cô Th. bắt đầu nói tiên tri (thông thường thì bà mục sư hay nói tiên tri), nói to và lớn cho những người đứng xung quanh “Jp., con hãy êm lặng nghe ta nói đây: con là sự vinh hiển của ta, ta thương con vì con sốt sắng với ta” “L. con, sao con cứ buồn hoài vậy con, con có biết là ta rất buồn khi thấy con buồn không con” “con (người phụ nữ mới đến Mỹ thăm con gái của bà) muốn ở lại Mỹ phải không, được ta cho con điều lòng mình ao ước” “M. à, con là con gái cưng của ta, ta thương con lắm vì con thật là hiền, con là đứa con duy nhất của ta, đừng có ai đụng đến nó”  

Cô Th. chỉ đi ngang qua tôi và tiến đến những người vừa kể trên để nói tiên tri. Tôi cảm thấy không ổn có gì đó không đúng. Ông bà mục sư thì ngồi yên tôi không biết ông bà cầu nguyện hay là làm gì tôi không biết (vì tôi không nghe ông bà nói gì hết).  Tôi bỏ đi và một chỗ kín để cầu nguyện “Lạy Chúa, con không hiểu chuyện gì đây, con không biết đâu là thật đâu là giả, xin Ngài bày tỏ…” Tôi đang tiếp tục cầu nguyện mà vẫn còn cô Th. nói lớn tiếng “ta rất giận thế gian nầy, vì nó đầy dẫy tội lỗi, ta ghét S.T (chúa kẽ lừa dối)” Tôi không muốn viết thẳng ra cái tên của nó thì anh em chị đọc phải hiểu chúa kẻ lừa dối là ai.  Không phải tôi sợ cái tên đó nhưng tôi không muốn môi miệng của tôi xưng tên nó, vì nó không đáng “Khi các ngươi vào đất hứa thì môi miệng của các ngươi chớ xưng danh thần của chúng nó”

Cô Th. tiếp tục “vì thì giờ ta chưa đến, ta sẽ tiêu diệt S.T” cô Th. nói với âm thanh lớn cộng thêm tiếng khóc bi thương.

Vài phút sau khi tôi cầu nguyện thì cô Stp. (người Mỹ) từ trên lầu đi xuống nói lớn tiếng lại với cô Th. là “spirit of God is spirit of love not spirit of yelling” cô Th. chỉ cô Stp.  nói nó đó là S.T. Cô Stp. nói lại một tràn tiếng lạ rồi tuyên bố “In the name of Jesus Chirst, you (cô Th.) sit down and quiet!”

Cô Th. nói “ta rất giận các con vì các con không tin ta, thôi ta đi đây, bye”. Cô Th. ngồi yên. Tôi vẫn còn nghe ông mục sư nói Chúa đang rèn tập con (cô Th.) để nói tiên tri nhưng mà con không biết điều khiển nhân linh của mình vì Thánh Linh làm việc rất mạnh trên con…ông mục sư tiếp “Chúa phán rất êm diệu, con phải cầu xin Chúa cho con biết điều khiển nhân linh của mình”.  Cô Th. liền nguyện lớn tiếng “lạy Chúa xin cho con biết điều khiển nhân linh của con để con nói lời êm diệu…” cô Th. tiếp tục nói trong khi cầu nguyện “…ừ đúng rồi con, con hãy nghe lời đầy tớ ta nó nói đúng”  

Tôi trở lại ngồi chung bàn với mọi người…thật sự tôi cũng chưa hiểu rỏ sự việc nầy là như thế nào…rồi trên đường về nhà tôi suy nghĩ…có lẽ nên đuổi quỉ thì đúng hơn chớ sao ông mục sư lại đồng tình với nó? Tôi băng khoăn trong lòng vô cùng vì ông bà mục sư là người gây dựng anh em chúng tôi tăng trưởng thuộc linh nhiều lắm. Đặc biệt là về ĐTL.

Khi buổi thờ phượng Chúa ngày CN vừa xong (4 giờ chiều) thì bà mục sư chạy lại hỏi tôi là tôi có thể nán ở lại một chút để cầu nguyện được không. “Chuyện gì vậy bà mục sư” tôi hỏi. “con Th. bị S.T ám hôm nay nó xưng ta là Đức Giêhôva và gọi ông bà mục sư bằng con”.  Tôi để ý cô Th. ngay lúc bắt đầu giờ thờ phượng vì cô chẳng hề bước lên hát chung với ca đoàn bao giờ, hôm nay thật là mạnh mẽ. Tuy nhiên, tôi nhìn con mắt của cô thì con mắt ấy đã đỏ ngầu rồi không còn thần sắc của con người nữa.  

Tôi nhờ người chỡ vợ con của tôi về rồi quay vào nhà thờ thì ông bà mục sư và một số anh chị em đã đang cầu nguyện rồi. Cô Th. vẫn tiếp tục gọi tên và nói tiên tri. Ông bà mục sư vạch trần bộ mặt của nó và nhân Chúa Giê-xu để trục đuổi S.T ra khỏi cô Th…không có chuyện gì thay đổi “hãy cầu nguyện cho con Th. đi con” cô Th. nói với bà mục sư. Ông mục sư kêu mọi người hát thánh ca. Tôi bắt đầu với bài “quyền trong huyết”. Nó cũng hát theo y như mọi người mà còn giơ cao tay lên để thờ phượng Chúa và miệng luôn nói halêlugia…cô Th. quỳ xuống và giơ tay lên “lạy Chúa của cả trời đất con thờ phượng Ngài con tôn vinh Ngài là Chúa của 9 tần trời…” tôi thấy không có gì thay đổi…thật là một sự ngạc nhiên lớn cho tôi vì những con người đang cầu nguyện đuổi quỉ cho cô Th. là những được báp tem ĐTL và ông bà mục sư là người hướng dẫn chúng tôi về ĐTL (chị S., cô L., người anh em J.p, và tôi là những người đã đi dự đại hội phục hưng vừa rồi…mọi người ai nấy được đầy dãy lữa ĐTL!) tôi cảm thấy có cái gì đó không đúng trong việc đuổi quỉ nầy và đây cũng là lần đầu tiên trong cuộc theo Chúa của tôi chứng kiến cảnh nầy. Chúng tôi không đối diện với những loại tà linh nhỏ mà là chúa của kẻ lừa dối S.T thứ thiệt…nó gạt hết tất cả mọi người từ ông bà mục sư cho đến một tín đồ bình thường như tôi…và nó chẳng ngán một ai. Tôi cảm thấy khó chịu và bỏ đi về nhà. Lúc đó thì cô Th. muốn nói chuyện riêng với ông bà mục sư, chị S. cũng ở lại để theo dõi tiếp.  

Suốt một tuần lễ sau buổi CN đó tôi liên tục kêu cầu với Chúa cho cô Th. vì lòng tôi cảm thương cho gia đình cô vì con trai của cô mới 4 tuổi, chồng cô Th. rất là bàn hoàn. Chiều thứ 6 sau khi đi làm về, tôi gọi hỏi thăm vợ chồng cô Th. thì người chồng vui vẽ cho biết là cô Th. được giải cứu, anh ta đưa điện thoại cho cô Th. để nói chuyện với tôi. “anh T. em được Chúa đến để giải cứu em. Tuy nhiên, em rất là bất mản ông bà mục sư lắm.” “ủa, sao vậy cô Th.” tôi hỏi. “những gì ông bà mục sư chứng kiến ra sao mà bây giờ lại nói ngược lại về em hết…ông bà hoàn toàn không biết được nó ám vào em cho đến chiều ngày CN. Vì buổi sáng CN hôm đó em cảm thấy sợ quá không biết phân biệt Chúa hay tà linh em mau mau gọi cho ông mục sư để giúp đỡ thì nó đến và khống chế em” “ em hoàn toàn nói theo sự điều khiển của nó.” “Dg. con (tên của mục sư) con có muốn hội thánh phát triển không?” cô Th. hỏi. “dạ có Chúa” ông mục sư trả lời. “con phải đuổi S.T ra khỏi hội thánh con thì mới phát triển được…” cô Th. tiếp tục. “anh T. biết không, ông mục sư dạ thưa Chúa liên hồi vậy mà bây giờ ông bà nói tại con Th. không có lời Chúa nhiều!” Thứ Hai hôm sau ông bà đến thăm cô Th. để cầu nguyện giải cứu. “nó không đi anh T. ơi! Ông bà mục đi về rồi em sợ quá vì nó nói là nó sẽ giết em” nó nói “mầy đừng tưởng mầy được ơn trước mặt Chúa”.  

CN trước đó, chị S. đến với tôi là nhờ tôi cầu nguyện phụ với chị vì chị bị đau đầu quá. Tôi cầu nguyện cho chị S. trong tuần đó và gọi hỏi thăm thử chị S. ra sao thì chị cho biết là cô Th. cầu nguyện cho chị được lành rồi. Cô Th. cầu nguyện bằng tiếng lạ lớn tiếng lắm.  

Bây giờ cô Th. được hoàn toàn giãi cứu và tỉnh táo. Cô kể lại nhiều sự việc cho tôi nghe. S.T nó làm cho chị S. đau đầu rồi dùng cô Th. cầu bằng tiếng lạ rồi cũng chính nó làm cho chị hết đau. “nó chỉ cho em câu kinh thánh nào để đọc nữa kìa” cô Th. kể. “CN hôm đó, em hoàn toàn bị nó điều khiển đi lê ban ca đoàn ngay cả cánh tay của em cũng bị đưa lên”. Một người chưa hề gặp những trường hợp như thế thì cho là người ấy (cô Th.) đầy dãy ĐTL. Chị S. nghi ngờ là làm bộ tiếp tục hỏi về mình ra làm sao ngay khi về nhà CN hôm đó. Chị S. tiếp tục gọi cho cô Th. và hỏi “chúa” về mình thì nó trả lời sai hết và bị chị S. chỉ ra “mầy là S.T”. Nó trả lời “đúng tao là S.T”…cho đến lúc nó đòi giết cô Th. thì cô sợ quá kêu cầu cùng Chúa và Chúa Giê-xu đã đến để đuổi nó đi.  

Phần Bình luận:  

Tôi được dạy rằng khi mình hát tôn vinh Chúa thì quyền của sự tối tăm không dám đến! Tôi không biết phải giãi thích như thế nào đây vì chính nó là chúa kẻ lừa dối là S.T cũng ca hát tôn vinh Chúa, cảm tạ Chúa, halêlugia. Nó có ngán ai đâu!?  

Tôi được dạy rằng mình cầu nguyện bằng tiếng ĐTL (tiếng lạ) thì quyền sự tối tăm sợ bỏ chạy! Chính nó là S.T cũng cầu nguyện bằng tiếng lạ của nó ngay trong buổi nhóm phấn hưng gồm những con người được báp têm ĐTL. Nó có sợ ai đâu?  

Tôi được dạy rằng dấu chỉ (khẳng định) được báp tem ĐTL là phải nói tiếng lạ. Tôi hỏi lại một người đang được Chúa dùng mạnh mẽ ở Texas là điều tôi được dạy như vậy có đúng không thì người ấy trả lời rằng tôi được báp tem ĐTL mạnh mẽ và làm những việc rất tốt cho Chúa mà đâu có nói tiếng lạ. Không phải lúc nào được báp tem ĐTL là nói tiếng lạ hết đâu.  

Tôi để ý là cô Th. trong lúc ấy không hề nhắc đến tên Chúa Giê-xu mà chỉ nói chúa chúa…hoặc là ta đây các con, Đức Giêhôva. “cái tên Đức Chúa Giê-xu Christ người Nazarét” quả thật tên để cho chúng ta đánh bại kẻ thù địch gớm ghiếc đó.

Học lời của Chúa kỹ lưỡng sẽ giúp chúng ta khôn ngoan. Tôi quả là một tên ngốc nghe lời dạy mà không tra xét kinh thánh lại cho kỹ càng. Tôi cần phải giống như con vật ăn cỏ rồi nhơi lại. “Chớ vội tin tuyên bố vật nầy thánh rồi sau khi cầu nguyện thì không phải”  

Cách đây 4 năm, tôi có thấy trong một giấc mơ là một người đàn ông đến với tôi xưng là thiên sứ Mi-ca-ên muốn nói chuyện với tôi. “xin lỗi thiên sứ, tôi được dạy là phải thử mọi việc ngay cả thiên sứ, vậy thì xin thiên sứ đọc thi thiên 90 cho tôi nghe đi” tôi hỏi. Tôi thấy người ấy bối rối tìm KT (không được) rồi đọc cho tôi nghe mấy câu đầu thì đúng nhưng rồi những câu sau sai hết. “Tôi không tin ông là thiên sứ Mi-ca-ên” tôi đáp lại và rồi thấy người ấy bỏ đi.  

Anh chị em thân mến, lời tiên tri nghe bùi tai thì coi chừng đó. Có ai đó đến nói tiên tri cho người nầy hay cho người kia thì anh chị em phải thử cho biết thần của Chúa Giê-xu hay là thần giả mạo hoặc là nhân linh của người đó. Vì chỉ có ĐCT toàn năng mới biết chúng ta đang suy nghĩ gì và sẽ nghĩ gì, ngoài ra thì không có quyền nào biết được. Vậy hãy nghĩ trong tư tưởng mình một đoạn hay câu KT nào đó rồi đến thử người nói tiên tri thì sẽ được tỏ từơng. Thí dụ tôi chọn thi thiên23 và câu cuối cùng  tôi sẽ nói ra trước rồi đến gặp người được mọi người nói là người ấy là tiên tri của Chúa. “xin lổi ông; bà nếu quả thật thần của Chúa ở cùng ông;bà thì sẽ biết tôi đang suy nghĩ đoạn nào trong KT và câu nào tôi sẽ nói ra trước” Đó chỉ là thí dụ điển hình mà thôi. Xin đừng dùng đoạn KT và câu KT tôi thí dụ mà thử thì không có hiệu quả đâu, vì nó-tên lừa đảo đã biết tôi đang viết câu nầy rồi.  

Có những người nói tiên tri làm cho lòng người nghe khoái chí và người ấy cứ mơ mộng về điều đó. Xin anh chị em đừng nằm mộng về việc người đó nói mà hãy mở kinh thánh ra xem xét kỹ lưỡng lời của ĐCT. Khi nào ai đó nói tiên tri cho anh chị em hoặc cho hội thánh thì nên mạnh dạng hỏi lại là việc ông/bà vừa nói đó có thật là ông/bà đã nghe chính Chúa Giê-xu đã phán dạy? Câu hỏi nầy luôn bị cho là người hỏi không có đức tin nhưng là một việc rún động tâm linh cho người nói tiên tri nếu không phải đã nghe Chúa nói vì tự người đó đã biết mình dùng cái bụng đoán mò của mình mà tiên tri.

Hoặc có ai đó nói “Chúa nói như vầy như thế kia” thì phải mạnh dạng hỏi lại cho kỹ để xem thử giả hay thật.  

Phải suy xét cho kỹ những lời tiếng lạ có phải được ban cho từ ĐTL không hay là giã bộ nói (hãy nhớ rằng tên lường gạt đó cũng nói tiếng lạ nữa).  Cái gì đến từ ĐTL thì phải có trái được kết quả đi kèm. Có người tự cho hay được nói tiên tri cho biết thì trái Thánh Linh chỉ là trái giả không đậu bao giờ. Có bao giờ anh chị em và tôi hôm nay trồng một loại cây ăn trái rồi ngày hôm sau ra hái trái liền được không?  

Nếu nói là Chúa ở giữa sự ngợi khen của dân sự Ngài và chính Chúa Giê-xu nói khi có đôi ba người nhân danh Ta mà nhóm lại thì Ta ở giữa họ. Vậy thì trong buổi nhóm của chúng tôi thật là không có Chúa thật ngự đến mà là tên lường gạt đó nó giả Chúa nói tiên tri cho người nầy cho người kia bắt đầu từ người lãnh đạo thuộc linh (vì vậy mà tôi đã tin trọn gói-đúng là ngốc thật). Chúa là sự sáng trong Ngài không hề có sự tối tăm nào! Chúa không ở trong buổi nhóm chúng tôi vì tôi nghĩ ngay cả chính tôi hoặc có nhiều người sống không ngay thật trước mặt Chúa hoặc là có người đã thuộc về nó mà tôi không biết.  

Tôi được dạy bảo rằng nơi nào có Chúa thì quyền tối tăm sẽ lộ diện và được bảo là S.T ở kế bên Chúa Giê-xu qua Phierơ bảo Chúa đừng vào thành Giêrusalem! Trong thời đại bây giờ, khi có sự hiện diện của Chúa Giê-xu thì tôi tin chắc là tên lường gạt kia không dám đến gần. Tôi tin rằng khi Chúa Giê-xu được vinh hiển trong sự sống lại của Ngài thì tên lừa đão kia làm sao ở kế bên được? Có lẽ nào sự sáng của Chúa có bóng tối trong đó? Không bao giờ có chuyện đó. Vì khi còn trên đất Chúa Giê-xu cũng là nhân cho nên S.T nó mới ám vào Phierơ để nói sạo.  

Tôi được dạy là âm nhạc của chúng ta đang thờ phượng Chúa ngày nay là đến từ S.T (Luciphe) bây giờ con cái Chúa dành lại để tôn vinh Chúa. Quí vị là những người rành về âm nhạc hoặc đang thờ phượng Chúa thì trả lời xem thử, chớ tôi chẳng có thể nào tin cho được! Luciphe được Chúa dựng nên làm nghề ống tiêu thổi sáo hướng dẫn thiên binh thờ phượng Chúa thì không có nghĩa là nó sáng tạo được âm nhạc! Vì chỉ có ĐCT là Đấng Sáng Tạo mới tạo ra âm nhạc. Âm nghĩa là âm thanh là phần tử không khí được run động ra những sóng âm…Luciphe làm được phân tử không khí à? Nhạc là chuỗi âm thanh kết hợp đúng thời điểm. Nếu Chúa không ban sự khôn ngoan cho Luciphe thì nó tự biết gom lại những chuỗi âm thanh thành âm nhạc được sao?  

Cũng cách đây 4 năm có một người tên là Loan chồng là Terry (tôi không dấu tên hai người nầy vì họ đã không còn sinh họat trong hội thánh lâu rồi). Cô Loan nói đã được báptem ĐTL và luôn cầu nguyện bằng tiếng lạ cho nên vợ tôi là D. rất là ngưỡng mộ và thích vì cô Loan luôn miệng nói về Chúa và những công việc Chúa. Vợ tôi là người non nớt trong Chúa nên tin những gì cô Loan nầy nói. Ngay cả tôi cũng cảm động thật vì thấy hoàn cảnh của cô đáng thương là sắp sanh nỡ mà chồng lại thất nghiệp đã lâu, cô Loan cũng không có việc làm. Cô Loan hỏi mượn chúng tôi $700.00 để cho chồng xuống Miami để làm việc gì đó…rồi hai vợ chồng nầy biến mất không biết tôn tích…đối với tôi $700.00 thì không sao cho một người hoạn nạn cũng được thôi. Tuy nhiên, vợ tôi bảo là cô Loan nói tiếng lạ sạo để dựt $700. và không đời nào tin ai nói tiếng lạ nữa.  

Không phải ca hát thánh ca hay cầu nguyện kêu cầu với Chúa Giê-xu như vũ bão mà tên lường gạt đó sợ anh chị em hay tôi đâu mà nó thật sự run sợ khi chúng ta sống ngay thật trước mặt Chúa, khiêm nhường và hạ mình luôn luôn thì lúc ấy chỉ cần lời cầu nguyện đơn sơ thôi thì nó phải rút lui.  

Tôi bắt chước Samuên, Chúa gọi đến lần thứ ba thì ông mới thưa lại. Hoặc là Ghi-đi-ôn thử sương móc và đất khô. Hay là nói như Nathanaêm là đặc ngón tay vào hông Chúa Giê-xu.  

Qua sự việc trên, tôi mong rằng chính tôi và mọi con dân Chúa dè chừng trong mọi việc vì những điều dối trá lừa đão chẳng bao giờ hết cho đến khi chúng ta được gặp chính Chúa Giê-xu.  

Thân ái trong Chúa Cứu Thế Giê-xu.

Xin hãy phổ biến việc tôi nói đây để chúng ta không bị lừa gạt nữa.   

T.D

Đọc Tiếp →

Hỏi & Đáp: Ví Dụ về Tiệc Cưới

Copyright Notice:Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry – All Rights Reserved © 2007 Vietnamese Christian Mission Ministry, Inc. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức với điều kiện giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Mục Tử
Bấm vào đây để download bài viết này

[951]

Hỏi:

Diễn giả chia sẻ Lời Chúa sáng nay ở chi Hội mà tôi sinh hoạt chung. Đến giờ chia sẻ Lời Chúa, thì ông chọn chương Ma-thi-ơ 22 làm nền tảng. Vì trong lúc chưa đến giờ giảng thì tôi thấy ông mục sư này nhiều lần mở đọc quyển 'Hội Thánh theo đúng mục đích,' nên tôi chú ý rất kỹ đến những điều giảng dạy của ông. Phần lớn thì tôi đồng tình với những gì ông phân tích và áp dụng, nhưng có phần sau thì tôi không chắc, xin tinlanhbiengiao.net cho ý kiến ngắn gọn về phần này của ông:

Ma-thi-ơ 22:2: "nước thiên đàng giống như một vua kia làm tiệc cưới cho con mình"

– Diễn giả giới thiệu các cách tổ chức buổi tiệc và đặc biệt là tiệc buffet, tiệc mà mọi người được đối xử công bằng với nhau, các món được dọn ra thì ai cũng có thể được ăn.

– Diễn giả đồng nhất tiệc của Chúa với tiệc của vị vua đó với tiệc buffet.
– Diễn giả đưa ra bài học áp dụng: Trong Hội Thánh, nếu tín đồ muốn có ân "nói, cầu nguyện tiếng lạ; chữa lành; đuổi quỷ; biện biệt…"' thì cứ yêu cầu Chúa, thì sẽ được, vì Chúa "đã dọn ra rồi". Ông trích dẫn câu Thánh Kinh "anh em chẳng được chi vì không cầu xin"

(Andy)

Đáp:

Chào bạn Andy,

Trong Ma-thi-ơ 22:1-14 Đức Chúa Jesus dùng hình ảnh một tiệc cưới hoàng gia để nêu lên một số đặc điểm về nước thiên đàng. Có hai điểm nổi bật trong thí dụ này:

1. Khách danh dự được mời đã từ chối đến dự tiệc cho nên nhiều người khác đã được mời thế vào.
2. Trong số những khách dự tiệc có một người không mặc lễ phục nên bị đuổi ra khỏi bửa tiệc.

Câu 14 đúc kết ý nghĩa thật sự của thí dụ này: "Bởi vì có nhiều kẻ được gọi, mà ít người được chọn."

Ngay từ buổi ban đầu của mục vụ, Đức Chúa Jesus đã liên kết mục vụ của Ngài với hình ảnh của một tiệc cưới mà Ngài là chàng rễ (Mác 2:19,20). Thí dụ tiệc cưới nhằm nói lên có nhiều người được mời gọi đến với sự cứu rỗi của Thiên Chúa nhưng có ít người tiếp nhận. Trong tiệc cưới, sự mời gọi tùy thuộc vào chủ tiệc nhưng sự được chọn tùy thuộc vào khách được mời. Trong nước trời, sự mời gọi tùy thuộc vào Đức Chúa Cha nhưng sự được chọn tùy thuộc vào những người tiếp nhận sự mời gọi ấy.

Bài học trong thí dụ tiệc cưới đối với dân tộc Israel là:

1. Nước thiên đàng bị khưóc từ bởi những người lẽ ra phải hân hoan đón nhận. Những người này là các nhà lãnh đạo Do-thái giáo, những người được gần gũi, bảo tồn, và truyền đạt lời Chúa.

2. Nước thiên đàng được mở rộng ra cho"những kẻ thu thuế, phường đĩ điếm," những người gian ác không có cơ hội gần gũi lời Chúa như các nhà lãnh đạo Do-thái giáo.

3. Dù đã được mời gọi, đã tiếp nhận lời mời gọi, đã được quyền vào trong nước trời, nhưng nếu người nào không mặc lấy Đấng Christ (sự công chính do huyết báu của Đấng Chris đổ ra trên thập tự giá) thì sẽ bị ném ra khỏi nước trời.

Trong Ma-thi-ơ 5:20 Đức Chúa Jesus nói rõ, nếu sự công bình của một người không trổi hơn của những người Pha-ri-si, những giáo sư dạy Thánh Kinh của Do-thái Giáo thì người ấy không thể vào thiên đàng. Sự công bình mà Đức Chúa Jesus nói đến đó, chỉ có thể có do sự chuộc tội của Ngài. Muốn trở nên công bình hơn tiêu chuẩn của các nhà lãnh đạo Do-thái giáo chỉ có một phương cách duy nhất là hạ mình ăn năn tội và tiếp nhận ơn cứu rỗi của Thiên Chúa. Một người muốn dựa vào sự công bình cá nhân của mình (tu trì, làm việc công đức, "hầu việc Chúa…") sẽ không thể nào vào được thiên đàng. Sự công bình của loài người chỉ là áo nhớp trước mặt Thiên Chúa (Ê-sai 64:6), vì không có một người công bình nào trên đất (Thi Thiên 14:3).

Bài học trong thí dụ tiệc cưới đối với Hội Thánh ngày nay là:

1. Nước thiên đàng bị khước từ bởi những người cao trọng trong hàng ngũ lãnh đạo của các giáo hội, những Pha-ri-si và thầy thông giáo thời đại, suốt hơn ngàn năm nay (Cô-lô-se 2:16-23; II Ti-mô-thê 3:6-9); điển hình là Giáo Hội Công Giáo La-mã.

2. Nước thiên đàng được mở rộng ra cho tất cả mọi dân tộc (Lu-ca 24:47).

3. Nhiều người tin nhận Chúa nhưng cậy vào công đức của mình thay vì cậy vào sự thương xót của Thiên Chúa, họ kiêu căng, ngạo mạn, tìm kiếm quyền lực và vinh hiển cá nhân nên sập bẫy ma quỷ. Họ ngày càng lún sâu hơn trong sự kiêu ngạo và những quyền năng, phép lạ đến từ ma quỉ, tự lừa gạt chính mình và lừa gạt người khác. Họ sẵn lòng bẻ cong lời Chúa, giải thích, rao giảng Thánh Kinh theo ý riêng sao cho phù hợp với mục đích riêng của mình; điển hình là các phong trào Ân Tứ/Ngũ Tuần. Về những người này, lời Chúa đã phán tỏ tường trong Ma-thi-ơ 7:

21 Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng Ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì đều được vào nước thiên đàng đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha Ta ở trên trời mà thôi.
22 Ngày đó, sẽ có nhiều người thưa cùng Ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng tôi chẳng từng nhơn danh Chúa mà nói tiên tri sao? nhơn danh Chúa mà trừ quỉ sao? và lại nhơn danh Chúa mà làm nhiều phép lạ sao?
23 Khi ấy, Ta sẽ phán rõ ràng cùng họ rằng: Hỡi kẻ làm gian ác, Ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi Ta!

Thí dụ tiệc cưới là thí dụ về nước thiên đàng, không phải thí dụ về sự ban cho ân tứ của Đức Thánh Linh.

Cho là thí dụ tiệc cưới nói về sự ban cho ân tứ của Đức Thánh Linh đi chăng nữa, thì tín đồ cũng không cần "cầu xin" gì cả, vì Chúa "đã dọn ra rồi." Không một người nào xin Vua mời mình dự tiệc cưới. Không một chỗ nào trong thí dụ cho thấy là người dự tiệc phải "cầu xin được ăn."

Câu Thánh Kinh Gia-cơ 4:2,3 thường được trích dẫn để nói rằng: một người không nhận lãnh Đức Thánh Linh hoặc ân tứ của Đức Thánh Linh là vì không cầu xin. Sự áp dụng này hoàn toàn sai lạc:

– Thứ nhất, Gia-cơ 4:2,3 không nói đến việc cầu xin Đức Thánh Linh hay cầu xin ân tứ của Đức Thánh Linh. Muốn hiểu rõ ý nghĩa của những câu này, chúng ta cần phải xem xét toàn bộ văn cảnh (context), bắt đầu từ Gia-cơ 3:13:

13 Trong anh em có người nào khôn ngoan thông sáng chăng: Hãy lấy cách ăn ở tốt của mình mà bày tỏ việc mình làm bởi khôn ngoan nhu mì mà ra.
14 Nhưng nếu anh em có sự ghen tương cay đắng và sự tranh cạnh trong lòng mình, thì chớ khoe mình và nói dối nghịch cùng lẽ thật.
15 Sự khôn ngoan đó không phải từ trên mà xuống đâu; trái lại, nó thuộc về đất, về xác thịt và về ma quỉ.
16 Vì ở đâu có những điều ghen tương tranh cạnh ấy, thì ở đó có sự lộn lạo và đủ mọi thứ ác.
17 Nhưng sự khôn ngoan từ trên mà xuống thì trước hết là thanh sạch, sau lại hòa thuận, tiết độ, nhu mì, đầy dẫy lòng thương xót và bông trái lành, không có sự hai lòng và giả hình.
18 Vả bông trái của điều công bình thì gieo trong sự hòa bình, cho những kẻ nào làm sự hòa bình vậy.

Gia-cơ 4:

1 Những điều chiến đấu tranh cạnh trong anh em bởi đâu mà đến? Há chẳng phải từ tình dục anh em vẫn hay tranh chiến trong quan thể mình sao?
2 Anh em tham muốn mà chẳng được chi; anh em giết người và ghen ghét mà chẳng được việc gì hết; anh em có sự tranh cạnh và chiến đấu; anh em chẳng được chi, vì không cầu xin.
3Anh em cầu xin mà không nhận lãnh được, vì cầu xin trái lẽ, để dùng trong tư dục mình.
4 Hỡi bọn tà dâm kia, anh em há chẳng biết làm bạn với thế gian tức là thù nghịch với Đức Chúa Trời sao? Cho nên, ai muốn làm bạn với thế gian, thì người ấy trở nên kẻ nghịch thù cùng Đức Chúa Trời vậy.
5 Hay là anh em tưởng Kinh Thánh nói vô ích sao? Đức Thánh Linh mà Đức Chúa Trời khiến ở trong lòng chúng ta, ham mến chúng ta đến nỗi ghen tương,
6 nhưng Ngài lại ban cho ta ơn lớn hơn nữa. Vì vậy, Thánh Kinh chép rằng: Đức Chúa Trời chống cự kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường.
7 Vậy hãy phục Đức Chúa Trời; hãy chống trả ma quỉ, thì nó sẽ lánh xa anh em.
8 Hãy đến gần Đức Chúa Trời, thì Ngài sẽ đến gần anh em. Hỡi kẻ có tội, hãy lau tay mình, có ai hai lòng, hãy làm sạch lòng đi;
9 hãy cảm biết sự khốn nạn mình, hãy đau thương khóc lóc; hãy đổi cười ra khóc, đổi vui ra buồn.
10 Hãy hạ mình xuống trước mặt Chúa, thì Ngài sẽ nhắc anh em lên.

Rõ ràng Gia-cơ nhắc đến việc Đức Thánh Linh đã ở trong lòng người tin Chúa cho nên tín đồ không cần thiết phải cầu xin Chúa ban Đức Thánh Linh cho mình (câu 5). Chính Đức Chúa Jesus khẳng định, hễ ai tin nhận Ngài thì được nhận lãnh Đức Thánh Linh (Giăng 7:38,39):

38 Kẻ nào tin ta thì sông nước hằng sống sẽ chảy từ trong lòng mình, y như Kinh Thánh đã chép vậy.
39 Ngài phán điều đó chỉ về Đức Thánh Linh mà người nào tin Ngài sẽ nhận lấy; bởi bấy giờ Đức Thánh Linh chưa ban xuống, vì Đức Chúa Jêsus chưa được vinh hiển.

Đức Chúa Jesus đã được vinh hiển qua sự sống lại và thăng thiên, ĐứcThánh Linh đã được ban xuống trong ngày Lễ Ngũ Tuần cách nay gần hai ngàn năm, cho nên kể từ đó, hễ ai tin nhận Đấng Christ và tuyên xưng đức tin qua lễ báp-tem nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi, thì đương nhiên nhận lãnh Đức Thánh Linh và Thánh Linh mà không cần cầu xin gì cả (Công Vụ 2:38):

38 Phi-e-rơ trả lời rằng: Hãy hối cải, ai nấy phải nhơn danh Đức Chúa Jêsus chịu phép báp-tem, để được tha tội mình, rồi sẽ được lãnh sự ban cho Đức Thánh Linh.

– Thứ nhì, điều mà Gia-cơ nói tín đồ không nhận lãnh vì không cầu xin không phải là Đức Thánh Linh hay ân tứ của Ngài, mà là "sự khôn ngoan thông sáng từ Thiên Chúa" dẫn đến nếp sống đạo tràn đầy "bông trái của sự công bình" (Gia-cơ 3:13, 17). Thật vậy, ngay trong phần mở đầu của lá thư, Gia-cơ đã khuyên tín đồ cầu xin sự khôn ngoan thông sáng từ Thiên Chúa (Gia-cơ 1:1-3):

5 Ví bằng trong anh em có kẻ kém khôn ngoan, hãy cầu xin Đức Chúa Trời, là Đấng ban cho mọi người cách rộng rãi, không trách móc ai, thì kẻ ấy sẽ được ban cho.
6 Nhưng phải lấy đức tin mà cầu xin, chớ nghi ngờ; vì kẻ hay nghi ngờ giống như sóng biển, bị gió động và đưa đi đây đi đó.
7 Người như thế chớ nên tưởng mình lãnh được vật chi từ nơi Chúa:

Nhiều người trong Hội Thánh thời bấy giờ cũng như thời nay kiêu ngạo dựa vào sự khôn ngoan của thế gian (triết học, tâm lý học, văn hóa dân tộc, đạo đức tôn giáo, mưu kế, thủ đoạn…) để "hầu việc Chúa" nhưng bị thất bại, không kết quả thì lại ganh tỵ, nói xấu, hãm hại những người biết nương cậy nơi sự khôn ngoan từ Thiên Chúa mà hầu việc Ngài.

Toàn bộ thư Gia-cơ không hề nói đến sự tín đồ cầu xin cho được nhận lãnh Đức Thánh Linh hoặc ân tứ của Ngài. Việc sử dụng câu "anh em chẳng được chi vì không cầu xin" trong Gia-cơ 4:2 để cho rằng một người muốn nhận lãnh Đức Thánh Linh hay ân tứ của Ngài thì phải cầu xin là một việc làm giải kinh tùy tiện và gượng ép, bóp méo lẽ thật của Lời Chúa.

Đức Thánh Linh đương nhiên ngự vào lòng những ai tin nhận sự cứu rỗi của Thiên Chúa và vâng theo lời phán dạy của Chúa để làm ấn chứng cho sự cứu rỗi mà tín đồ không cần phải cầu xin. Một đứa bé được sinh ra đời, đương nhiên có sự sống mà không cần phải cầu xin cha mẹ ban sự sống cho mình. Một người tin nhận và đầu phục Chúa, được tái sinh, đương nhiên có Đức Thánh Linh và Đức Cha, Đức Con ngự trong lòng mà không cần cầu xin.

Ân tứ của Đức Thánh Linh đương nhiên được ban cho mỗi người tùy theo ý muốn của Đức Thánh Linh để gây dựng Hội Thánh của Đấng Christ mà không cần phải cầu xin.Nếu chúng ta không cần cầu xin sự sống đời đời thì chúng ta cũng không cần cầu xin ân tứ của Đức Thánh Linh, vì sự sống đời đời và ân tứ của Đức Thánh Linh đều là quà tặng của Thiên Chúa cho những ai đã được ban cho quyền phép trở nên con cái của Đức Chúa Trời. Một thân thể có sự sống thì mỗi chi thể đương nhiên tiếp nhận những gì cần thiết do sự sống đem lại mà không cần cầu xin gì cả. Ân tứ của Đức Thánh Linh là sự ban cho đương nhiên, tín đồ không cần cầu xin:

38 Kẻ nào tin ta thì sông nước hằng sống sẽ chảy từ trong lòng mình, y như Kinh Thánh đã chép vậy.
39 Ngài phán điều đó chỉ về Đức Thánh Linh mà người nào tin Ngài sẽ nhận lấy; bởi bấy giờ Thánh Linh chưa ban xuống, vì Đức Chúa Jêsus chưa được vinh hiển.
(Giăng 7:38-39).

4 Lúc ở với các sứ đồ, Ngài dặn rằng đừng ra khỏi thành Giê-ru-sa-lem, nhưng phải ở đó chờ điều Cha đã hứa, là điều các ngươi đã nghe ta nói.
8 Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi, thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép, và làm chứng về ta tại thành Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến cùng trái đất.
(Công Vụ 1:4,8).

Chúa bảo các môn đồ chờ đợi để nhận lãnh Đức Thánh Linh và ân tứ (quyền phép) của Đức Thánh Linh, Chúa không bảo họ kêu cầu.

17 Đức Chúa Trời phán: Trong những ngày sau rốt, Ta sẽ đổ Thần ta khắp trên mọi xác-thịt; Con trai và con gái các ngươi đều sẽ nói lời tiên tri, Bọn trai trẻ sẽ thấy điềm lạ, Và các người già cả sẽ có chiêm bao,
18 Phải, trong những ngày đó, ta sẽ đổ Thần ta khắp trên các đầy tớ trai và gái ta, Chúng nó đều nói lời tiên tri;
(Công Vụ 2:17-18).

Không hề có điều kiện cầu xin được nêu lên. Đức Chúa Cha ban Con Một của Ngài cho thế gian mà không cần thế gian phải cầu xin. Đức Chúa Cha ban Đức Thánh Linh cho Hội Thánh mà không cần Hội Thánh phải cầu xin.

37 Chúng nghe bấy nhiêu lời, trong lòng cảm động, bèn hỏi Phi-e-rơ và các sứ đồ khác rằng: Hỡi anh em, chúng ta phải làm chi?
38 Phi-e-rơ trả lời rằng: Hãy hối cải, ai nấy phải nhơn danh Đức Chúa Jêsus chịu phép báp-tem, để được tha tội mình, rồi sẽ được lãnh sự ban cho Đức Thánh Linh.

(Công Vụ 2:37-38).

Điều kiện nhận lãnh sự ban cho của Đức Thánh Linh là: Ăn năn, chứng tỏ sự ăn năn qua sự chịu lễ báp-tem Chúa dạy. Không hề có điều kiện cầu xin.

4 Vả, có các sự ban cho khác nhau, nhưng chỉ có một Đức Thánh Linh.
5 Có các chức vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa.
6 Có các việc làm khác nhau, nhưng chỉ có một Đức Chúa Trời, là Đấng làm mọi việc trong mọi người.
7 Đức Thánh Linh tỏ ra trong mỗi một người, cho ai nấy đều được sự ích chung.
8 Vả, người nầy nhờ Đức Thánh Linh, được lời nói khôn ngoan; kẻ kia nhờ một Đức Thánh Linh ấy, cũng được lời nói có tri thức.
9 Bởi một Đức Thánh Linh, cho người nầy được đức tin; cũng bởi một Đức Thánh Linh ấy, cho kẻ kia được ơn chữa tật bịnh;
10 người thì được làm phép lạ; kẻ thì được nói tiên tri; người thì được phân biệt các thần; kẻ thì được nói nhiều thứ tiếng khác nhau, người thì được thông giải các thứ tiếng ấy.
11 Mọi điều đó là công việc của đồng một Đức Thánh Linh mà thôi, theo ý Ngài muốn, phân phát sự ban cho riêng cho mỗi người.

(1 Cô-rinh-tô 12:4-11).

Lời Chúa dạy rõ ràng, ân tứ của Đức Thánh Linh là do Đức Thánh Linh ban cho mỗi người tùy theo ý ngài muốn, không phải tùy theo sự cầu xin của chúng ta. Làm sao chúng ta biết ân tứ nào thích hợp cho mình để gây dựng Hội Thánh mà cầu xin?

Trên một phương diện khác, một người thật lòng tin nhận Chúa, đã được ban cho Đức Thánh Linh làm ấn chứng và ân tứ của Đức Thánh Linh để gây dựng Hội Thánh nhưng không tin điều đó, cho rằng mình chưa có Đức Thánh Linh, chưa có ân tứ Đức Thánh Linh, lại cầu xin Đức Thánh Linh và ân tứ Đức Thánh Linh qua các tổ chức Ân Tứ/Ngũ Tuần là một sự mắc bẫy của Sa-tan, khiến cho tà linh thừa cơ xâm nhập thân thể của mình.

Chúa phán:"Dân ta bị diệt vì thiếu sự thông biết" (Ô-sê 4:6). Dân Chúa thiếu sự thông biết vì không tra cứu lời Chúa xem những sự giảng dạy của người khác có đúng với lời Chúa hay không (ví dụ như lời giảng của người mục sư về thí dụ tiệc cưới trên đây) mà cứ tin theo vì thấy những "dấu kỳ phép lạ."

Cái gọi là "ân tứ" mà một người có được do "cầu xin," chắc chắn không phải đến từ Đức Thánh Linh, vì Đức Thánh Linh không hề ban ân tứ cho chúng ta theo sự cầu xin của chúng ta mà là theo ý Ngài muốn. Quyền năng, phép lạ không đến từ Đức Chúa Trời hẳn nhiên đến từ Satan.

Mục Tử
09.03.2007

Đọc Tiếp →

Hỏi & Đáp: Đặt Tay Té Ngã

[2100]

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài này:
http://www.mediafire.com/view/?obtn39dr3euu0kd

Huỳnh Christian Timothy

Hỏi

Vào ngày kỷ niệm lễ Ngũ Tuần gần đây nhất (2007) vào cuối giờ thờ phượng, ông mục sư P.Đ.N có mời gọi các tín đồ tiến lên phía trên để được ông đặt tay cầu nguyện (đầy dẫy Thánh Linh), có hai ba người lên để được cầu nguyện. Khi được đặt tay cầu nguyện, ông mục sư có cầm micro và cầu nguyện bằng tiếng lạ, đa phần những người được đặt tay đều té ngã… Theo phân tích của Huỳnh Christian Timothy, việc làm của ông là sai với Thánh Kinh, và sai với Thánh Kinh thì có kẻ hở để Satan chen vào, suy ra những việc làm ra từ đây đều đến từ ma quỷ.

Về phần mục sư này, tôi cũng biết về ông hơi nhiều: càng ngày ông càng ít nóng tính, ông dâng hiến 6/10, ông hay giúp đỡ người nghèo, theo cách nhìn của tôi thì ông là một người rất tốt, lộ ra bông trái của Thánh Linh (nhưng tôi không biết về thời gian cầu nguyện của ông). Điều này có gì trái ngược với phân tích của Huỳnh Christian Timothy trong tinlanhbiengiao.net hay không?

Đáp

Như bạn đã biết, trong Thánh Kinh không hề có ghi lại một trường hợp nào một người được người khác đặt tay cầu nguyện, hoặc được đầy dẫy Thánh Linh, thì té ngã. Dưới đây là những trường hợp được báp-tem bằng Thánh Linh và đầy dẫy Thánh Linh mà Thánh Kinh ghi chép rõ ràng:

  • Trường hợp 1:Các môn đồ, bao gồm các sứ đồ, khoảng 120 người, vâng lời Chúa, chờ đợi tại Giê-ru-sa-lem để được báp-tem bằng Thánh Linh (Công Vụ 1:4-5). Khi Đức Thánh Linh giáng lâm, Ngài đổ đầy Thánh Linh trên họ, họ được đầy dẫy Thánh Linh và khởi nói các thứ tiếng ngoại quốc theo như sự ban cho của Đức Thánh Linh (Công Vụ 2:4). Không một người nào bị té ngã. Không một người nào xin được nói tiếng lạ. Không một người nào tập nói tiếng lạ. Không một ai đặt tay trên họ!
  • Trường hợp 2:Những người Sa-ma-ri từ bỏ phép thuật của thuật sĩ Si-môn, và tin nhận Đấng Christ (Công Vụ 8:4-25). Đây là một trưòng hợp đặc biệt. Dân Sa-ma-ri vốn là một sắc dân lai chủng giữa dân I-sơ-ra-ên và các dân tộc khác. Người I-sơ-ra-ên chính gốc khinh rẽ và không giao tiếp với dân Sa-ma-ri (Giăng 4:9). Sau khi Hội Thánh bị Sau-lơ bách hại nặng nề, dẫn đến sự tuẫn đạo của Ê-tiên thì các môn đồ (ngoại trừ các sứ đồ) đều phải lánh nạn khỏi thành Giê-ru-sa-lem (Công Vụ Các Sứ Đồ 8:1). Phi-líp là một trong những môn đồ lánh nạn, và ông đã đi đến thành Sa-ma-ri. Có lẽ, vì dân Sa-ma-ri vốn có dòng máu I-sơ-ra-ên, và trước đó cũng đã có cả làng tin nhận Đấng Christ, cho nên, Phi-líp tự nhiên rao giảng về Chúa cho họ. Cũng có lẽ, Phi-líp ghi nhớ lòi Chúa dạy là hãy rao giảng về Chúa khắp Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri… (Công Vụ Các Sứ Đồ 1:8) cho nên ông chọn đến Sa-ma-ri.

Kết quả truyền giáo của Phi-líp rất là độc đáo. Đức Thánh Linh qua Phi-líp đã thi hành nhiều phép lạ, đánh bại sự tôn thờ của người Sa-ma-ri đối với tà thuật của Si-môn, (họ tin rằng quyền phép của Si-môn đến từ Đức Chúa Trời – Công Vụ Các Sứ Đồ 8:10), và bắt phục luôn cả Si-môn, khiến Si-môn cùng với dân thành Sa-ma-ri tin nhận Đấng Christ và chịu phép báp-tem.

Điều lạ lùng ở đây là, mặc dù dân Sa-ma-ri đã tin nhận Chúa, đã chịu lễ báp-tem, nhưng Đức Thánh Linh vẫn chưa giáng trên họ (Công Vụ Các Sứ Đồ 8:16). Khi nghe tin những người Sa-ma-ri đã tin nhận Chúa thì các sứ đồ tại thành Giê-ru-sa-lem cử Phi-e-rơ và Giăng, là hai nhân vật mà sau này Phao-lô xác nhận rằng là cột trụ của Hội Thánh (Ga-la-ti 2:9), đến để cầu nguyện cho những môn đồ người Sa-ma-ri được nhận lãnh Thánh Linh.

Lý do sự nhận lãnh Đức Thánh Linh và được báp-tem trong Thánh Linh bị trì hoãn đối với những người Sa-ma-ri có thể được trình bày như sau:

a) Chúa muốn những sứ đồ, cột trụ của Hội Thánh, đại diện cho Hội Thánh, đích thân và công khai tìm đến tiếp nhận những người Sa-ma-ri vào trong Hội Thánh, từ đó xóa đi hàng rào ngăn cách lâu đời giữa dân I-sơ-ra-ên và dân Sa-ma-ri.

b) Đức Thánh Linh giáng xuống trên các môn đồ Sa-ma-ri trước sự hiện diện và đặt tay của các sứ đồ cột trụ trong Hội Thánh khiến cho không một ai trong Hội Thánh có thể chống đối việc hội nhập những người Sa-ma-ri vào trong Hội Thánh.

Nhận xét:Chính Phi-líp là một nhà truyền giáo đầy ơn của Chúa, qua Phi-líp, Đức Thánh Linh đã làm nhiều phép lạ để thu phục thuật sĩ Si-môn cùng dân thành Sa-ma-ri, thì không có lý do gì Phi-líp không thể đặt tay cầu nguyện cho những người Sa-ma-ri nhận lãnh Đức Thánh Linh và Thánh Linh, như sau này Phao-lô đã làm đối với các môn đồ tại thành Ê-phê-sô. Nếu Phi-líp không có tư cách để đặt tay cầu nguyện cho những người Sa-ma-ri thì e rằng ngày nay chẳng có một mục sư Ân Tứ hay Ngũ Tuần nào có tư cách, vì trong lịch sử 100 năm của các phong trào Ân Tứ và Ngũ Tuần chưa hề có người nào được đầy ơn và làm ra các phép lạ như Phi-líp, người được chính Thánh Kinh làm chứng là đầy dẫy Thánh Linh. Vậy, hai lý do nêu ra trên đây là khả dĩ. Trường hợp tại Sa-ma-ri là một biệt lệ. Trong trường hợp này cũng không có sự té ngã nào.

  • Trường hợp 3:Gia đình Cọt-nây (Công Vụ Các Sứ Đồ 10). Trong khi Phi-e-rơ đang giảng Đạo thì gia đình Cọt-nây được báp-tem bằng Thánh Linh, mặc dù họ chưa nhân danh Ba Ngôi Thiên Chúa để làm báp-tem bằng nước, và cũng chưa xưng nhận ra miệng đức tin của mình. Đây là trường hợp biệt lệ thứ nhì, là một "phép lạ" để bắt phục các sứ đồ và những tín đồ gốc Do-thái, rằng Tin Lành cũng được ban cho dân ngoại, rằng phép cắt bì không là điều kiện để được cứu rỗi, rằng ngay cả phép báp-tem bằng nước cũng không phải là điều kiện để được cứu rỗi (ngày nay có tà thuyết "tái sinh bởi phép báp-tem"). Gia-đình Cọt-nây đã tin Chúa từ trước khi Phi-e-rơ đến giảng (Công Vụ Các Sứ Đồ 10:2). Vì vậy, điều kiện duy nhất để nhận sự cứu rỗi, được nhận lãnh Đức Thánh Linh, được báp-tem bằng Thánh Linh là tin nhận Chúa và kính sợ, vâng phục Ngài. Không một ai đặt tay trên gia đình Cọt-nây, không một ai trong gia đình Cọt-nây té ngã khi được báp-tem bằng Thánh Linh, không một ai trong gia đình Cọt-nây nài xin nhận lãnh Đức Thánh Linh, không một ai trong gia đình Cọt-nây cầu xin được nói tiếng lạ.
  • Trường hợp 4:Một số môn đồ tại thành Ê-phê-sô (Công Vụ Các Sứ Đồ 19:1-7). Khi Phao-lô gặp khoảng 12 người tin Chúa tại thành Ê-phê-sô, có lẽ ông nhận biết họ chưa được báp-tem bằng Thánh Linh, cho nên, ông hỏi họ: "Từ khi anh em tin, có lãnh được Thánh Linh chăng?" và những người đó thưa rằng: "Chúng tôi cũng chưa nghe có Thánh Linh nào!" (Công Vụ Các Sứ Đồ 19:2).

Nhận xét:Phao-lô không hỏi "Từ khi anh em tin, có cầu xin cho được nhận lãnh Thánh Linh chưa?" Phao-lô cũng không hỏi "Anh em có muốn nhận lãnh Thánh Linh hay không?" Phao-lô cũng không hỏi "Từ khi anh em tin, có sứ đồ nào đặt tay trên anh em chưa?". Nhưng Phao-lô hỏi: "Từ khi anh em tin, có lãnh được Thánh Linh chăng?" Khi nghe họ trả lời rằng chưa hề nghe nói đến Thánh Linh thì Phao-lô biết ngay họ chưa được báp-tem bằng Thánh Linh, cho nên, ông hỏi tiếp: "Vậy thì anh em đã chịu phép báp-tem nào?" Các môn đồ trả lời: "Phép báp-tem của Giăng." Phao-lô liền giải thích phép báp-tem của Giăng dạy chỉ là phép báp-tem ăn năn tội, và ngay sau đó họ bằng lòng làm báp-tem trở lại theo mệnh lệnh của Đức Chúa Jesus Christ, nghĩa là phép báp-tem nhân danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh, là phép báp-tem ăn năn tội, phép báp-tem vào trong sự sống lại và sự sống đời đời của Đấng Christ, và phép báp-tem vào trong quyền phép của Đức Thánh Linh. Câu 6: "Sau khi Phao-lô đặt tay lên, thì có Đức Thánh Linh giáng trên họ…" cũng có thể hàm ý Phao-lô là người làm báp-tem cho họ, và như vậy, không phải vì Phao-lô đặt tay mà họ được đầy dẫy Thánh Linh, nhưng vì họ vừa nhận lãnh lễ báp-tem trong danh Thiên Chúa Ba Ngôi, tức vừa được báp-tem bằng Thánh Linh. Trong trường hợp này cũng không có sự té ngã, sự cầu xin.

Việc tôi tớ Chúa cầu nguyện, đặt tay khiến cho con dân Chúa được nhận lãnh Đức Thánh Linh và được báp-tem bằng Thánh Linh là một thực tế xảy ra trong Hội Thánh lúc ban đầu trong hai trường hợp đặc biệt đã nêu trên, (2) và (4). Ngày nay, Hội Thánh của Chúa đã lớn mạnh, đạo Tin Lành đã vững, nguyên tắc nhận lãnh Đức Thánh Linh là ăn năn tội, chịu lễ báp-tem trong danh Thiên Chúa Ba Ngôi; nguyên tắc để được đầy dẫy Thánh Linh là "đừng say rượu" (đừng để cho sự ham mến thế gian điều khiển lòng mình). Khi một người không còn yêu mến thế gian và những sự thuộc về thế gian thì đương nhiên chỉ còn lại sự hết lòng yêu kính Chúa và yêu thương tội nhân. Một người như vậy không thể không đầy dẫy Thánh Linh.

Nhận lãnh Đức Thánh Linh là được Đức Thánh Linh ngự vào lòng, ấn chứng cho sự cứu chuộc. Báp-tem bằng Thánh Linh là được dầm thấm, đổ đầy trong năng lực và quyền quép của Đức Thánh Linh. Năng lực và quyền phép của Đức Thánh Linh được gọi là Thánh Linh, khác với Đức Thánh Linh là thân vị của Thiên Chúa Ngôi Thánh Linh.

Bông trái của Đức Thánh Linh không phải là hành vi đạo đức bên ngoài của một người. Dâng hiến 6/10 cũng không phải là biểu hiệu của sự đầy dẫy Thánh Linh, lại càng không phải là bông trái của Đức Thánh Linh (nhưng làm sao bạn biết là ông dâng 6/10?) Nhiều người không hề tin nhận Chúa, không hề có Đức Thánh Linh trong lòng nhưng đời sống đạo đức trong xã hội đáng làm gương cho con dân Chúa.

Bông trái của Đức Thánh Linh là hành vi đạo đức bên ngoài đúng theo Lời Chúa, phát xuất từ sự biến đổi bên trong bởi Đức Thánh Linh. Một người có Đức Thánh Linh thì không thể rao giảng nghịch lại lẽ thật của Thánh Kinh. Một người được đầy dẫy Thánh Linh thì không còn yêu mến thế gian và những sự thuộc về thế gian.

 

Huỳnh Christian Timothy
03.09.2007
Hiệu Đính Lần Thứ Nhất 14.12.2012


Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry.
Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

 

 

Đọc Tiếp →