Thánh Kinh Không Hủy Bỏ Cũng Không Thay Đổi Điều Răn Thứ Tư

  Huỳnh Christian Timothy Bài Biện Giáo với Mục Sư Nguyễn Quốc Ấn Bài của Mục Sư Ấn được đăng tại đây: http://biengiao.timhieutinlanh.net/?p=534#comment-30 Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống và in ra bài viết này: https://www.mediafire.com/folder/1ygvtd6r8mvtn//pdf_biengiao Bấm … Đọc Tiếp →

Linh Hồn và Sự Chết Đời Đời

Huỳnh Christian Timothy Vào ngày 1.6.2013, tôi nhận được email của một tín hữu, nội dung là các lý luận nhằm bài bác tín lý “linh hồn tồn tại ngoài thân thể xác thịt” và bài bác tín lý “những … Đọc Tiếp →

Hướng Dẫn

      Mến chào quý bạn đọc trong tình yêu của Đức Chúa Trời và trong ân điển của Đức Chúa Jesus Christ. Tin Lành Biện Giáo là khu mạng trình bày những bài biện luận bảo vệ sự chân thật … Đọc Tiếp →

Sự Thật về Hiện Tượng Nói Tiếng Lạ và Đặt Tay Té Ngã

Xin trân trọng giới thiệu đến quý bạn đọc tác phẩm: "Sự Thật về Hiện Tượng Nói Tiếng Lạ và Đặt Tay Té Ngã" của Pastor Huỳnh Christian Timothy.

  • Phiên bản in sẽ phát hành vào ngày 1 tháng 1 năm 2013:

    • Khổ 5.5 X 8.5
    • Dày 146 trang
    • Bìa tráng nhựa
    • Ấn phí và cước phí trong Hoa Kỳ: $10.00 USD một cuốn – ngoài Hoa Kỳ $15.00 USD một cuốn.
    • Ấn phí và cước phí trong Hoa Kỳ: $300.00 USD cho 50 cuốn hoặc $500.00 USD cho 100 cuốn.

Quý bạn đọc muốn đặt mua sách in, xin gửi thư và money order hoặc check về:

Timothy Christian Huynh
Three Sixteen Family
501 N Robinson Dr
Robinson TX 76706

Thời gian nhận sách qua bưu điện khoảng từ 1 đến 2 tuần, kể từ ngày chúng tôi nhận được thư đặt mua.

Chúng tôi có thể gửi tặng miễn phí 1 sách (trong Hoa Kỳ) cho quý bạn nào muốn nhận sách in nhưng không thể chi trả ấn phí và chi phí.

Dưới đây là phần "Lời Nói Đầu" được trích ra từ tác phẩm:

Lời Nói Đầu

Cuốn sách nhỏ này là một tổng hợp bài biên khảo và các bài giải đáp thắc mắc của tôi về các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần.

Trong giai đoạn từ 2001 đến 2006, tôi chung đụng và cùng làm việc với rất nhiều người Ân Tứ và Ngũ Tuần. Vào lúc đầu, khi chứng kiến các hiện tượng “đặt tay té ngã,” “nói tiếng lạ,” “say Thánh Linh…” tôi cảm thấy rất là lạ lùng vì không thấy những điều này được nói đến trong Thánh Kinh. Tuy nhiên, sự nóng cháy của những người Ân Tứ và Ngũ Tuần trong sự cầu nguyện, thờ phượng, chứng Đạo, và truyền giảng khiến cho tôi không dám nghĩ rằng, những hiện tượng đó không đến từ Chúa.

Tôi dành một thời gian dài, cầu nguyện, xin Chúa bày tỏ cho mình. Thậm chí, tôi xin với Chúa rằng: “Con biết ân tứ của Đức Thánh Linh được ban cho tùy theo thánh ý của Ngài, nhưng con cầu xin điều này, nếu sự “nói tiếng lạ” của những người Ân Tứ và Ngũ Tuần là ân tứ của Đức Thánh Linh, thì xin Chúa ban cho con được một lần có thể “nói tiếng lạ” để ấn chứng rằng, nó đến từ Chúa, rồi Chúa cất nó ra khỏi con, nếu ý của Chúa là không ban cho con ân tứ đó, chỉ để con được yên tâm mà hầu việc Chúa chung với những người Ân Tứ và Ngũ Tuần…”

Tôi không bao giờ nhận được sự “nói tiếng lạ” từ nơi Chúa, mà trong tâm thần tôi chỉ có một sự nhắc nhở rõ ràng: “Chớ tin cậy mọi thần, nhưng hãy thử cho biết các thần có phải đến bởi Đức Chúa Trời chăng?” (I Giăng 4:1). Tôi tự hỏi, làm sao để thử các thần? Câu trả lời đến trong tâm trí tôi: “Cả Thánh Kinh đều là bởi Thiên Chúa hà hơi, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình, hầu cho người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành” (II Ti-mô-thê 3:16-17).

Sau khi xét thấy rõ các hiện tượng: “đặt tay té ngã,” “nói tiếng lạ,” “say Thánh Linh…” hoàn toàn không được nói đến trong Thánh Kinh, ngược lại, có hình thức như dân ngoại giáo lên đồng, lên bóng, đọc thần chú hoặc bị quỷ nhập, đồng thời, qua một thời gian chung đụng, cùng làm việc với những người tự xưng là đầy dẫy Thánh Linh, tôi nhận ra họ đang sống trong tội lỗi cách thầm kín (đủ các thói: kiêu ngạo, tham lam, dối trá, thất tín, ganh tỵ, nói xấu, vu khống… và tà dâm), thì tôi chấm dứt sự giao tiếp với họ và tránh xa tất cả các tổ chức giáo hội nào công nhận việc “nói tiếng lạ.”

Đến tháng 6 năm 2006, trong khi đang quản nhiệm Hội Thánh của Chúa tại Tucson, Arizona, và phụ trách tổ chức ngày kiêng ăn cầu nguyện cho Việt Nam, thì tôi thực sự bị tà linh nói tiếng lạ tấn công. Trong dịp đó, có một mục sư Việt Nam sơ giao với tôi, dẫn theo bảy tín đồ từ California đến tham dự nhóm cầu nguyện, trong đó có một người Mỹ. Họ là những người “nói tiếng lạ.” Vì họ xin phép được tham dự cầu nguyện cho Việt Nam và hứa là sẽ vâng theo các quy định của ban tổ chức, nên tôi đồng ý cho họ đến tham dự.

Họ lái xe từ California đến Tucson, Arizona vào lúc nửa đêm, nên tôi thu xếp cho họ ngủ qua đêm trong nhà của tôi. Căn nhà chúng tôi thuê lúc đó có ba phòng ngủ và một phòng khách rộng, nên có đủ chỗ cho mọi người.

Sáng hôm sau là thứ bảy, ngày đầu tiên kiêng ăn cầu nguyện, mọi người cùng đến nơi nhóm họp thờ phượng. Nhóm tám người “nói tiếng lạ” đó cũng đến nhóm với chúng tôi nhưng có một điểm kỳ lạ nơi họ mà tôi không bao giờ quên được. Đó là: không một người nào trong số họ mang theo Thánh Kinh, kể cả người mục sư. Họ phải hỏi mượn Thánh Kinh từ nơi tôi. Chúng tôi tổ chức nhóm liên tục suốt hai ngày, với những buổi nghỉ giải lao. Dưới đây là một vài hiện tượng đã xảy ra với nhóm tám người nói tiếng lạ:

·         Có một lúc, tôi đang hướng dẫn Hội Thánh tôn vinh Chúa thì một phụ nữ trong nhóm họ đứng lên, bắt giọng hát một bài thánh ca khác mà cả nhóm họ hát theo. Tôi và cả hội chúng yên lặng, chờ cho họ hát xong thì chúng tôi tiếp tục chương trình thờ phượng của mình. Tôi dự định, nếu họ còn tiếp tục quấy rối như vậy thì tôi sẽ mời họ ra khỏi phòng nhóm. Nhưng sau đó, họ đã ngồi yên, đắm chìm trong sự lâm râm cầu nguyện tiếng lạ của họ.

·         Khi đến giờ cầu nguyện thì họ cùng nhau lớn tiếng cầu nguyện tiếng lạ, người thì ngồi xếp bằng trên sàn nhà, lắc lư thân hình, người thì quỳ mọp trên sàn, người thì lăn lộn trên mặt sàn, người thì nằm ngữa trên sàn, gác cả hai chân lên vách tường. Trong số họ, có nhiều người là phụ nữ nhưng đã thể hiện nhiều tư thế thật là hớ hênh, khó coi… Những âm thanh do họ phát ra làm cho toàn thể hội chúng đều bị nhức đầu và khiếp sợ, hầu hết phải bỏ ra khỏi phòng nhóm, chỉ còn lại những người trong ban tổ chức và vài chấp sự trong Hội Thánh. Chính cá nhân tôi cũng bị nhức đầu rất là lạ lùng. Chúng tôi đã nhân danh của Đức Chúa Jesus Christ để truyền cho các tà linh đang hiện diện phải lui ra khỏi phòng nhóm thì cơn nhức đầu mới lui đi và nhóm tám người nói tiếng lạ đó mới dịu lại.

·         Sau đó, nhóm tám người kéo ra ngoài, đứng cầu nguyện tiếng lạ trong bãi đậu xe, và kể cho nhau nghe các “khải tượng” mà họ đang thấy. Họ không chịu vào phòng nhóm, trừ khi tôi cho phép mục sư của họ đứng lên điều khiển buổi nhóm. Họ đòi đặt tay trên tôi để tôi được báp-tem bằng Thánh Linh. Họ nói tà linh đang hiện diện trong phòng nhóm nên họ không vào trong đó. Họ nói, họ thấy khải tượng có rất nhiều con rắn lớn trong phòng nhóm, đồng thời, có nhiều chim bồ câu trắng bay đến nhưng không vào trong phòng nhóm được vì có quá nhiều rắn. Họ giải thích với tôi, rắn là tà linh còn bồ câu là Đức Thánh Linh. Họ yêu cầu tôi để cho mục sư của họ đứng lên điều khiển buổi nhóm để trục xuất hết các tà linh thì Đức Thánh Linh mới vào phòng nhóm, và Hội Thánh mới được đầy dẫy Thánh Linh và một cuộc phục hưng lớn sẽ xảy ra.

Dĩ nhiên, tôi khước từ tất cả các đề nghị của họ, và sự kiện đó khiến cho tôi nhớ lại Chúa đã báo trước cho tôi rằng Sa-tan sẽ vào trong phòng nhóm trong kỳ kiêng ăn cầu nguyện cho Việt Nam này. Trước đó khoảng một tuần, liên tục ba đêm, tôi nằm mơ nghe tiếng Chúa phán với tôi là Sa-tan sẽ vào trong phòng nhóm trong ngày kiêng ăn cầu nguyện cho Việt Nam. Tôi nghĩ, có lẽ Sa-tan sẽ hiện diện trong thân thể thuộc linh của nó để cản trở sự cầu nguyện của chúng tôi. Mục đích chính trong sự cầu nguyện của chúng tôi vào năm đó, là xin Chúa cất đi quyền lực của Sa-tan trên đất nước và dân tộc Việt Nam, đã được biểu hiện qua hình ảnh con rồng và truyền thuyết “con rồng cháu tiên” của dân tộc Việt Nam.

Trước đó khoảng một tháng, nhà tôi đang cầu nguyện xin Chúa thương xót, giải cứu dân tộc Việt Nam ra khỏi sự thờ lạy hình tượng, thì bà nghe Chúa phán: “Dân tộc con phạm thượng, kêu “Trời” vô cớ. Dân tộc con đã nhận rồng làm Cha. Các con đã mời nó vào thì phải đuổi nó ra, thì các linh sợ hãi sẽ không còn cai trị trên họ. Hình tượng bị vô hiệu hóa thì Tin Lành sẽ được tiếp nhận dễ dàng. Hai mươi lăm năm trước Ta đã cho con thấy hình ảnh hai con rồng. Chính nó là chúa quỷ. Chính nó đã dẫn dụ dân tộc con thờ phượng nó. Hãy kiêng ăn cầu nguyện, vì có những thứ quỷ cần phải kiêng ăn cầu nguyện mới đuổi được chúng.”

Vợ chồng chúng tôi hết lòng cầu nguyện xin sự bảo vệ của Chúa và có nghĩ đến việc, Sa-tan có thể tấn công hai con chúng tôi để phá vỡ ngày kiêng ăn cầu nguyện của chúng tôi. Chúng tôi dâng trình sự an toàn của hai con mình lên Chúa và hứa nguyện rằng, dầu cho có bất cứ chuyện gì xảy đến cho hai con chúng tôi: bệnh tật, tai nạn, và ngay cả sự chết, thì chúng tôi vẫn cậy ơn và sức của Chúa để hoàn tất hai ngày kiêng ăn, cầu nguyện cho Việt Nam, rồi mới giải quyết những vấn đề liên quan đến con mình.

Thế nhưng, Sa-tan không thể dùng sức để tấn công chúng tôi, vì Đấng ở trong chúng tôi mạnh hơn nó, mà chỉ có thể dùng kế, và nó đã sai các sứ giả của nó đến, tìm cách phá rối chương trình nhóm họp của chúng tôi.

Cảm tạ Chúa, hai ngày kiêng ăn và cầu nguyện cho dân tộc Việt Nam vào tháng 6 năm 2006 đã hoàn tất một cách tốt đẹp, dầu có sự tấn công của Sa-tan. Chiều chủ nhật, sau khi kết thúc sự nhóm họp, ban tổ chức mời tất cả mọi người tham dự, ra nhà hàng ăn uống và thông công với nhau. Trong bữa ăn và vào lúc chia tay, nhóm tám người nói tiếng lạ đã trở nên hết sức hiền hòa, thân ái với chúng tôi, và còn khen rằng, chúng tôi là những người đầy ơn Chúa.

Tối hôm đó, khi về đến nhà, vợ chồng chúng tôi có cái cảm giác rất là khác thường. Hình như có những cái bóng đen thoát hiện, thoát ẩn, lẫn quất trong nhà chúng tôi và có một mùi hôi lạ lùng, thoang thoảng. Nhưng sau hai ngày kiêng ăn cầu nguyện, thân thể chúng tôi đã mệt mõi và vì mới được ăn no, nên chúng tôi vội tắm rửa rồi đi ngủ, không bận tâm lắm về cảm giác và mùi hôi khác thường.

Đến khoảng ba giờ sáng thì tôi giật mình thức giấc vì tiếng kêu khóc của nhà tôi. Dưới đây là lời làm chứng của nhà tôi:

Lời làm chứng của Huỳnh Christian Priscilla (Mỹ Linh):

Tôi đang ngủ thì nằm mơ thấy những người phụ nữ trong nhóm tám người nói tiếng lạ, từ trong bóng tối âm u tiến ra. Họ hỏi tôi người phụ nữ trong Hội Thánh Tucson mà trong buổi nhóm đã chống đối sự nói tiếng lạ của họ, ở đâu? Tôi cảm thấy dường như những người này có ý muốn kiếm người tín đồ đó để làm khó, cho nên, tôi mới nói, người đó không có ở đây, các chị có điều gì thì hãy nói với chồng tôi, là người quản nhiệm Hội Thánh. Nghe tôi nói vậy thì họ bèn bỏ đi. Liền sau đó, một người đàn ông xuất hiện ngay đầu giường của tôi, thân thể cao lớn lạ thường, mặt thì đỏ bầm. Tôi nhận ra khuôn mặt đó chính là của người mục sư cầm đầu bảy người nói tiếng lạ từ California.

Ông ta tiến đến chỗ tôi nằm. Tôi cảm nhận là ông ta muốn làm hại tôi, nên tôi sợ hãi. Ông ta ngồi xuống trên giường và đưa hai tay ra bóp lấy cổ tôi. Dù ông ta không nói gì, nhưng tôi có cảm nhận là ông ta đang muốn tôi phải phát ra những tiếng lạ như những người Ân Tứ và Ngũ Tuần. Tôi ú ớ, chống đối và kêu cầu Chúa: Chúa ơi! xin cứu con. Con không muốn nói thứ tiếng lạ đến từ quỷ. Lúc đó, chồng tôi nghe tôi ú ớ nên lay tôi thức dậy. Tôi kể cho chồng tôi nghe giấc mơ và chồng tôi nói: Mình hãy cầu nguyện, xin Chúa bày tỏ. Nếu đây là tà linh muốn ép em nói tiếng lạ thì xin Chúa ấn chứng, bằng cách cho phép sự kiện này tái diễn.

Chúng tôi cầu nguyện và nằm ngủ lại. Tôi vừa nằm xuống thì lập tức một quyền lực xâm hãm tôi, buộc tôi phải buộc miệng phát ra những âm thanh lạ. Quyền lực này cố mở miệng tôi ra, ép tôi phát ra những âm thanh lạ, trong khi tôi cố hết sức để chống lại và kêu cầu danh Chúa. Tôi bật ngồi dậy và khẩn thiết kêu cầu danh Chúa. Lúc đó, chồng tôi cũng ngồi bật dậy và ôm lấy tôi, cầu nguyện cho tôi.

Khi tôi nghe nhà tôi vừa khóc vừa kêu cầu Chúa: “Chúa ơi, con không muốn nói thứ tiếng lạ của quỷ, xin cất ra khỏi con sự thúc giục nói tiếng lạ này!” Thì tôi lập tức ngồi dậy, ôm nhà tôi vào lòng và cất tiếng cầu nguyện xin Chúa giải cứu. Vừa khi tôi chạm tay vào người của nhà tôi thì lập tức có một điều gì giống như một luồng điện từ thân thể nhà tôi chuyền sang tôi, lan tràn khắp người tôi và đầy cả bụng tôi, làm cho tôi bị ớn lạnh. Rồi, có một sức mạnh đi từ dưới bụng của tôi, dâng tràn lên cổ họng tôi, làm cho cứng cả quai hàm của tôi, khiến cho lời cầu nguyện của tôi không còn được phát ra cách rõ ràng nữa. Tôi biết quyền lực của tà linh đang tìm cách khống chế mình. Tôi không cảm thấy sợ hãi mà chỉ cố cầu nguyện ra tiếng, xin Chúa giải cứu chúng tôi ra khỏi quyền lực của tà linh.

Bỗng nhiên, tôi cảm nhận rất rõ ràng một sự thúc giục trong tôi là tôi phải mở miệng ra để nói tiếng lạ. Lúc đó, tôi vẫn lập cà lập cập kêu cầu Chúa, vì quai hàm tôi bị tê cứng khó phát âm. Nhưng tôi cảm nhận rất rõ ràng là, nếu tôi để cho miệng tôi phát ra một tràng âm thanh lạ thì tôi sẽ phát thanh một cách thông suốt. Tôi lập tức ý thức là tà linh nói tiếng lạ đang xúi giục tôi nói tiếng lạ nên tôi chuyển lời cầu nguyện sang: “Lạy Chúa, xin đừng để chúng con nói thứ tiếng lạ không đến từ Chúa.” Và, trong danh của Đức Chúa Jesus Christ, tôi ra lệnh cho tà linh nói tiếng lạ phải ra khỏi chúng tôi, ra khỏi căn nhà của chúng tôi.

Lập tức, mọi áp lực tan biến, vợ chồng chúng tôi trở lại bình thường. Chúng tôi cảm tạ Chúa và nằm ngủ lại, bình an cho tới sáng.

Sáng hôm sau, vì cái mùi hôi thoang thoảng lạ lùng vẫn còn trong nhà, cho nên, chúng tôi gom tất cả các mền, và khăn trải giường đã đưa cho tám người nói tiếng lạ sử dụng, đem đi bỏ. Sau đó, thì mùi hôi biến mất, cảm giác có những bóng đen lãng vãng trong nhà cũng biến mất. Chúng tôi không bao giờ quên được mùi hôi đó. Nó giống như mùi tử khí trong nhà xác, tanh tanh và làm cho ớn lạnh, nổi da gà. Từ đó, chúng tôi càng vững tin: hiện tượng nói tiếng lạ và đặt tay té ngã là đến từ Sa-tan.

Trong danh của Đức Chúa Jesus Christ và bởi ơn ban cho từ Ngài, chúng tôi đã giúp cho nhiều người nhận thức được sự thật về hiện tượng nói tiếng lạ và đặt tay té ngã. Chúng tôi đã cầu nguyện hoặc hướng dẫn cho nhiều người cầu nguyện để trục xuất tà linh nói tiếng lạ ra khỏi thân thể của họ. Ngày nay, họ đã trở nên những người lớn mạnh trong Chúa và là những chứng nhân về sự Sa-tan giả mạo ân tứ nói ngoại ngữ của Đức Thánh Linh trong các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần.

Quý bạn đọc có thể xem thêm các video clips sau đây trên Youtube:

Tôi cầu xin Đức Chúa Trời sẽ dùng cuốn sách nhỏ này, và những lời chứng trong các video clips nói trên đem lẽ thật của Lời Chúa đến cho những người đang bị tà linh nói tiếng lạ kiềm chế, để họ được lẽ thật của Lời Chúa giải phóng họ ra khỏi sự lừa gạt của Sa-tan, và có được một đời sống sung mãn trong Đức Chúa Jesus Christ. A-men!

Huỳnh Christian Timothy
21.12.2012

 

Đọc Tiếp →

Sự Thật Hiển Nhiên về Christmas

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?4plxbd3up4t7up6

Nguyên Tác: “The Plain Truth About Christmas” by David J. Stewart
Chuyển Ngữ: Huỳnh Christian Timothy

Có phải Christmas thật sự kỷ niệm sinh nhật của Đức Chúa Jesus? Có phải Ngài đã được sinh ra vào ngày 25 tháng mười hai? Phao-lô, các sứ đồ, và Hội Thánh ban đầu của Tân Ước có kỷ niệm Christmas hay không? Bạn có biết Thánh Kinh nói gì về cây Christmas không?

Hãy dừng lại và suy nghĩ! Rất ít người biết tại sao chúng ta làm những điều mà chúng ta làm hoặc các thói tục của chúng ta đến từ đâu! Chúng ta lớn lên, thực hành chúng, đương nhiên tiếp nhận chúng, nhưng không bao giờ hỏi tại sao!

Một Lễ Hội của Ngoại Giáo Không Phải của Cơ-đốc Nhân

Chúng ta cho rằng Christmas là ngày lễ chính của các lễ hội Cơ-đốc. Chúng ta không hề thắc mắc khi chúng ta giả định sự giữ nó phải là một trong các giáo lý chính và các mạng lệnh của Tân Ước. Chúng ta cho rằng Đức Chúa Jesus đã được sinh ra vào ngày 25 tháng mười hai, và rằng, Tân Ước đã biệt riêng ngày này như là ngày lễ chính của Cơ-đốc nhân. Chúng ta cho rằng, chúng ta trao đổi quà bởi vì các nhà thông thái đã tặng quà cho hài nhi Christ.

Nhưng, đừng cho rằng nữa, mà hãy nhìn vào lịch sử và Thánh Kinh để tìm hiểu các dữ kiện!

Chữ “Christmas” có nghĩa là “Mass of Christ” (có nghĩa là lễ tái diễn sự chết của Đấng Christ) hay là, về sau được rút ngắn thành, “Christ-Mass.” Chữ đó đến với chúng ta với ý nghĩa là một lễ tế (mass) của Công Giáo La-mã. Từ đâu mà họ có chữ đó? Từ sự kỷ niệm ngày 25 tháng mười hai như ngày sinh của mặt trời, tức thần mặt trời, bởi dân ngoại Đạo. Thật ra, nó là nghi thức cổ thờ phượng thần Ba-anh của ngoại giáo, mà Thánh Kinh lên án là sự đáng gớm ghiếc nhất trong tất cả các sự thờ lạy thần tượng.

Lễ ấy không hề được nói đến chút nào trong Tân Ước. Lễ ấy không hề được giữ bởi Phao-lô, các sứ đồ hay Hội Thánh chân thật lúc ban đầu.

Ý tưởng cho rằng Đức Chúa Jesus được sinh ra vào ngày 25 tháng 12, là một trong các chuyện huyển mà Sứ Đồ Phao-lô đã tiên tri rằng sẽ lừa gạt thế gian trong những ngày cuối cùng này (Ti-mô-thê 4:4).

Lẽ thật rõ ràng là, Christmas không phải là sinh nhật của Christ! Và lễ hội này, dầu được xem là quan trọng đối với nhiều người, nhưng nó không thuộc về Cơ-đốc nhân, nhưng thuộc về ngoại giáo – bắt nguồn từ Ba-by-lôn! Nhưng điều đó có gây ra sự khác biệt gì không? Có thể nào chúng ta cứ thản nhiên mà kỷ niệm nó? Không phải tinh thần của Christmas là điều tốt lành và đẹp đẻ, bất kể là nó đã được bắt đầu như thế nào hay sao? Chúng ta sẽ xem xét điều này!

Đức Chúa Jesus Không Được Sinh Ra vào Ngày 25 Tháng Mười Hai

Bây giờ, chúng ta hãy nhìn vào các chứng cớ đáng chú ý! Đức Chúa Jesus được sinh ra khi nào?

Đức Chúa Jesus không hề được sinh ra trong mùa đông. Khi hài nhi Christ được sinh ra “có mấy kẻ chăn chiên trú ngoài đồng, thức đêm canh giữ bầy chiên” (Lu-ca 2:8). Điều này không bao giờ có thể xảy ra tại xứ Palestin trong tháng mười hai. Những người chăn luôn đem các bầy của họ từ các triền núi và các đồng cỏ về và cho vào chuồng không trể hơn ngày 15 tháng mười, để bảo vệ chúng khỏi mùa mưa lạnh sẽ theo sau ngày đó. Hãy để ý là chính Thánh Kinh chứng minh trong Nhã Ca 2:11 và E-xơ-ra 10:9, 13 rằng, mùa đông là mùa mưa khiến cho những kẻ chăn không thể ở ngoài đồng trống vào ban đêm.

Sách Giải Kinh của Adam Clark, cuốn 5, chương 386 (và 370), cho biết: Theo phong tục cổ truyền của người Do-thái thời ấy, họ đưa chiên ra đồng và hoang mạc vào khoảng Lễ Vượt Qua (đầu mùa xuân), và mang chúng về lại nhà vào lúc bắt đầu cơn mưa đầu mùa.”

Tác giả nói tiếp: “trong suốt thời gian chúng ở bên ngoài, những người chăn canh giữ chúng ngày đêm. Khi… cơn mưa đầu mùa bắt đầu vào đầu tháng Marchesvan, là tháng tương đương với tháng mười và tháng mười một của chúng ta [bắt đầu vào giữa tháng mười], chúng ta thấy rằng, những con chiên được giữ ngoài trời ở miền quê trong suốt mùa hè. Và, bởi vì những người chăn chiên này chưa đem bầy của họ về lại nhà, chúng ta có thể lý luận cách giả định rằng, tháng mười chưa bắt đầu, và như vậy, dẫn đến việc Chúa của chúng ta không được sinh ra vào ngày 25 tháng mười hai, là lúc mà không có bầy chiên nào còn ở ngoài đồng. Ngài cũng không thể được sinh ra sau tháng chín, là tháng mà các bầy chiên vẫn còn ở ngoài đồng vào lúc ban đêm. Trên chính nền tảng này, câu chuyện Chúa giáng sinh vào tháng mười hai cần phải được loại bỏ. Sự cho các bầy chiên ăn vào ban đêm trên các đồng cỏ là một dữ kiện lịch sử…”

Bất cứ một bộ bách khoa từ điển nào hay một thẩm quyền nào khác, sẽ nói cho bạn biết rằng Đấng Christ không được sinh vào ngày 25 tháng mười hai. Bộ Công Giáo Bách Khoa Từ Điển nói rõ sự kiện này.

Sinh nhật chính xác của Đức Chúa Jesus là điều hoàn toàn không biết được như các nhà có thẩm quyền đã xác nhận – Tuy nhiên, nếu tôi có đủ chỗ trong cuốn sách nhỏ này, tôi có thể chỉ cho bạn những câu Thánh Kinh ít nhất cho thấy cách mạnh mẽ rằng, nó phải vào đầu mùa thu – có thể là tháng chín – khoảng chừng sáu tháng sau Lễ Vượt Qua.

Nếu Đức Chúa Trời muốn chúng ta giữ và kỷ niệm sinh nhật của Đấng Christ thì Ngài đã không dấu đi ngày chính xác ấy.

Các Bộ Bách Khoa Từ Điển Nói Gì?

Không hề có một chữ nào trong Tân Ước hoặc trong bất cứ nơi nào của Thánh Kinh bảo chúng ta phải kỷ niệm Christmas. Các Cơ-đốc nhân trong thế kỷ thứ nhất, dưới sự giảng dạy thần cảm của Phi-e-rơ và Phao-lô cùng các sứ đồ khác, không hề kỷ niệm nó. Thật lạ lùng, không hề có thẩm quyền Thánh Kinh nào cho sự giữ nó.

Thế thì, từ đâu mà chúng ta có “Christmas?” Vì nó đến với chúng ta qua Giáo Hội Công Giáo La-mã và không bởi thẩm quyền nào ngoài thẩm quyền của Giáo Hội Công Giáo La-mã, chúng ta hãy xem xét bộ Công Giáo Bách Khoa Từ Điển, phát hành bởi giáo hội. Dưới tựa đề “Christmas,” bạn sẽ tìm thấy:

“Christmas không thuộc về các lễ hội đầu tiên của Hội Thánh… Chứng cớ đầu tiên về lễ hội này là từ Ai-cập… Các thói tục ngoại giáo tập trung vào ngày đầu tháng Giêng dồn lại thành Christmas.” Và, khi đọc thêm, chúng ta sẽ tìm thấy lời xác nhận này: “… trong Thánh Kinh, chỉ có các tội nhân, chứ không phải các thánh đồ, kỷ niệm sinh nhật của họ.”

Bộ Britannica Bách Khoa Từ Điển chép: “Christmas (tức là: the Mass of Christ). Christmas không thuộc về các lễ hội đầu tiên của Hội Thánh…” Nó không được thiết lập bởi Đấng Christ hay các sứ đồ hay bởi thẩm quyền của Thánh Kinh – Nó được thu nhận sai này từ sự thờ phượng của ngoại giáo.

Bộ Americana Bách Khoa Từ Điển chép: “Christmas. Theo nhiều thẩm quyền, nó không hề được kỷ niệm trong các thế kỷ đầu của Hội Thánh Cơ-đốc, bởi vì, thói quen chung của các Cơ-đốc nhân là kỷ niệm sự chết của những người đáng nhớ hơn là kỷ niệm sự sinh ra của họ…” (“Tiệc Thánh” là lễ được thiết lập bởi thẩm quyền của Thánh Kinh, là sự nhớ đến sự chết của Đấng Christ.”)… một lễ hội đã được thiết lập vào thế kỷ thứ tư để ghinhớ sự kiện này [sự sinh ra của Đấng Christ]. Vào thế kỷ thứ năm, Giáo Hội Tây Phương ra lệnh nó phải được kỷ niệm đời đời vào ngày lễ cũ của dân La-mã mừng sinh nhật thần mặt trời, vì không ai biết chắc sinh nhật của Đấng Christ nhằm ngày nào.

Bằng Cách Nào Thói Tục Ngoại Giáo Này Đã Vào Trong Hội Thánh?

Hãy lưu ý rằng, Những thẩm quyền được xác nhận này đã cho thấy Christmas không hề được các Cơ-đốc nhân giữ trong hai hay ba trăm năm đầu – đó là một thời gian lâu dài hơn cả toàn chiều dài lịch sử lập quốc của Hoa Kỳ. Nó thâm nhập vào Giáo Hội Tây Phương, còn gọi là Giáo Hội La-mã, vào thế kỷ thứ tư. Mãi đến thế kỷ thứ năm thì Giáo Hội La-mã mới ra lệnh cho nó được kỷ niệm như một lễ hội chính thức của Cơ-đốc nhân!

Thế thì, thói tục này của dân ngoại đã len vào cái gọi là Cơ-đốc Giáo như thế nào?

Bộ Schaff-Herzog Bách Khoa Từ Điển giải thích cách rõ ràng trong tiết mục về “Christmas:” “Ngày của lễ hội tùy thuộc vào ngày Brumalia của ngoại giáo (25 tháng 12) theo sau ngày Saturnalia (17-24 tháng 12) và sự kỷ niệm ngày ngắn nhất trong năm cùng với 'mặt trời mới' như thế nào… không thể xác định. Các lễ hội Saturnalia và Brumalia của ngoại giáo đã quá chìm sâu trong các thói tục phổ thông để mà có thể bị dẹp bỏ bởi sự ảnh hưởng của Cơ-đốc nhân… Lễ hội của ngoại giáo cùng với sự náo loạn và vui chơi của nó đã quá phổ thông đến nỗi các Cơ-đốc nhân vui mà viện cớ để tiếp tục sự kỷ niệm nó với một chút thay đổi trong tinh thần và hình thức. Các nhà truyền giảng Cơ-đốc của Phương Tây và Cận Đông phản đối, chống lại sự phù phiếm không chính đáng mà sinh nhật của Đấng Christ đã được kỷ niệm với, trong khi đó, các Cơ-đốc nhân ở Mesopotamia thì lên án anh em của họ ở Phương Tây về tội thờ lạy thần tượng và mặt trời, vì là Cơ-đốc nhân mà đã tiếp nhận lễ hội này của ngoại giáo.”

Hãy nhớ rằng, thế giới La-mã thuộc về ngoại giáo. Trước thế kỷ thứ tư, Cơ-đốc nhân chỉ là số ít, dầu có gia tăng, và bị bách hại bởi chính quyền và những người ngoại giáo. Nhưng, khi Constanrine trở thành hoàng đế, xưng mình theo Cơ-đốc Giáo, vào thế kỷ thứ tư, đặt Cơ-đốc Giáo ngang hàng với ngoại giáo, hàng trăm ngàn dân chúng trong thế giới La-mã bắt đầu tiếp nhận Cơ-đốc Giáo đang thịnh hành.

Nhưng cũng hãy nhớ rằng, những người này đã lớn lên trong các thói tục ngoại giáo, mà đứng đầu là lễ hội thờ lạy thần tượng vào ngày 25 tháng 12. Đó là một lễ hội vui chơi với tinh thần đặc biệt của nó. Họ vui hưởng nó! Họ không muốn bỏ nó! Cũng trong cùng một chủ đề, bộ Schaff-Herzog Bách Khoa Từ Điển giải thích rằng: chủ nhật, vốn là ngày dân ngoại giáo thờ lạy mặt trời, đã được Constantine công nhận như thế nào, và sự ảnh hưởng của Manichaeism ngoại giáo khiến cho Con của Đức Chúa Trời đã bị đồng hóa với chính mặt trời vật chất như thế nào, khiến cho những dân ngoại giáo của thế kỷ thứ tư, cùng gia nhập tập thể vào Cơ-đốc Giáo, có được lý do để gọi ngày lễ hội ngoại giáo của họ 25 tháng 12 (sinh nhật của thần mặt trời) là sinh nhật của Con Đức Chúa Trời.

Và đó là cách thức mà “Christmas” đã đi vào trong cái gọi là Cơ-đốc Giáo của chúng ta! Chúng ta có thể gọi nó bằng một tên khác, nhưng nó vẫn là lễ hội cũ của ngoại giáo thờ lạy mặt trời! Điều duy nhất thay đổi là cách mà chúng ta gọi nó. Bạn có thể gọi một con thỏ là một con “sư tử,” nhưngnó vẫn là con thỏ, y nguyên.

Một lần nữa, từ bộ Britannica Bách Khoa Từ Điển: “Có lẽ những người La-tinh, vào khoảng năm 354, đã chuyển sinh nhật 6 tháng Giêng sang 25 tháng 12, lúc ấy là lễ hội Mithraic… hay sinh nhật của mặt trời bất khuất… Dân Syrians và Armenians, những người bám vào ngày 6 tháng Giêng, lên án dân La-mã về tội thờ mặt trời thờ lạy thần tượng, cho rằng, lễ hội 25 tháng 12 do các môn đồ của Cerinthus lập ra…”

Nguồn Gốc Thật của Christmas

Nhưng nếu chúng ta nhận Christmas từ Công Giáo La-mã, và họ nhận nó từ ngoại giáo, thì ngoại giáo nhận nó từ đâu? Ở đâu, khi nào, và cái gì là nguồn gốc thật của nó?

Nó là thói tục đứng đầu của một hệ thống hủ bại dưới tên Ba-by-lôn, bị lên án trong suốt các lời tiên tri và các giáo lý của Thánh Kinh. Nó bắt đầu và có nguồn gốc từ Ba-by-lôn nguyên thỉ của Nim-rốt thời cổ. Vâng, nó phát sinh từ gốc rể của kẻ xuất hiện không bao lâu sau Cơn Nước Lụt.

Nim-rốt là cháu của Cham, Cham là con của Nô-ê. Nim-rốt là người thật sự xây dựng hệ thống Ba-by-lôn nắm bắt cả thế gian kể từ thời bấy giờ – một hệ thống ganh đua có tổ chức – của các chính quyền và đế quốc do loài người cai trị, dựa trên hệ thống kinh tế cạnh tranh và thủ lợi. Nim-rốt xây dựng tháp Ba-bên, là Ba-by-lôn nguyên thỉ, cổ thành Ni-ni-ve, và nhiều thành phố khác. Ông tổ chức vương quốc đầu tiên của thế giới. Tên Nim-rốt trong tiếng Hê-bơ-rơ ra từ chữ “Marad,” và có nghĩa là “kẻ phản nghịch” (Sáng Thế Ký 10:6, 8-12).

Từ các bản thảo xa xưa, có nhiều điểm giúp cho chúng ta biết về Nim-rốt, người khởi đầu một tổ chức của thế gian, bội bạc Thiên Chúa và thống trị thế giới cho tới ngày nay. Nim-rốt rất là gian ác, ông ta đã kết hôn với chính mẹ mình, bà tên là Semiramis. Sau cái chết bất kỳ của Nim-rốt, thì Semiramis, người được gọi là vợ-và-mẹ của Nim-rốt rao truyền tà giáo về sự Nim-rốt vẫn còn sống như là một thần linh. Bà ta xưng rằng, một cây thông đã nảy sinh ra từ một gốc cây chết, qua một đêm, đã trở thành cao lớn, tiêu biểu cho sự nảy sinh từ sự chết vào trong một đời sống mới của Nim-rốt. Bà xưng rằng, hàng năm, vào sinh nhật của Nim-rốt, ông sẽ viếng thăm cây thông và lưu các món quà lại trên cây. Ngày 25 tháng 12 là sinh nhật của Nim-rốt. Đây là nguồn gốc thật của cây Christmas (còn gọi là cây Nô-en).

Qua mưu kế và sắp xếp của mình, Semiramis đã trở thành “Nữ Vương Trên Trời” của Ba-by-lôn, và Nim-rốt, dưới nhiều tên khác nhau, đã trở thành “con thánh của Trời.” Trải qua nhiều thế hệ, trong sự thờ lạy tà thần này, Nim-rốt cũng trở thành Đấng Mê-si-a giả, con của thần mặt trời Ba-anh. Trong hệ thống Ba-by-lôn giả dối này, “Mẹ và Con,” (Semiramis và Nim-rốt được phục sinh), trở thành đối tượng được thờ phượng. Sự thờ phượng “Mẹ và Con” này lan truyền khắp thế gian. Tên gọi của nó đổi khác theo từng ngôn ngữ ở mỗi quốc gia. Tại Ai-cập, nó là “Iris và Osiris.” Tại Á-châu, nó là Cybele và Deoius.” Tại ngoại giáo La-mã, nó là “Fortuna và Jupiterpuer.” Ngay cả tại Hy-lạp, Trung Quốc (“Quan Âm và Na-tra”), Nhật Bản, và Tibet, các hình thức tương tự Madonna (bà Ma-ri) cũng được tìm thấy từ lâu đời, trước khi Đấng Christ giáng sinh.

Như vậy, trong thế kỷ thứ tư và thứ năm, khi hàng trăm ngàn dân ngoại giáo của thế giới La-mã bắt đầu “tiếp nhận” một Cơ-đốc Giáo mới được thịnh hành, thì họ đã mang theo các thói tục và niềm tin ngoại giáo cũ của họ, mà chỉ cần khoác cho nó những cái tên có tính Cơ-đốc. Các ý tưởng “Madonna” và “Mẹ và Hài Nhi” cũng trở nên thịnh hành, đặc biệt là vào thời điểm Christmas. Mỗi mùa Christmas bạn sẽ nghe hát và tụng hàng chục lần bài thánh ca “Đêm Yên Lặng, Đêm Thánh” với chủ đề quen thuộc “Mẹ và Hài Nhi.” Chúng ta, những người được sinh ra trong thế giới Ba-by-lôn như vậy, được nuôi dưỡng và nhúng chìm trong những điều này suốt cả đời sống của chúng ta, được dạy rằng phải tôn những điều ấy là thánh và xem chúng là thiêng liêng. Chúng ta không bao giờ thắc mắc để tìm hiểu xem chúng đến từ đâu – Có phải chúng đến từ Thánh Kinh hay chúng đến từ sự thờ lạy thần tượng của ngoại giáo?

Chúng ta bị sững sốt khi học biết được lẽ thật – buồn thay, một số người chống nghịch lại lẽ thật rõ ràng! Nhưng Thiên Chúa truyền cho các tôi tớ trung tín của Ngài, Hãy kêu to lên, đừng dứt; hãy cất tiếng lên như cái loa; rao bảo tội lỗi dân ta cho nó…”(Ê-sai 58:1). Dầu những dữ kiện này gây sững sốt nhưng chúng là những dữ kiện rõ ràng của lịch sử và Thánh Kinh.

Nguồn gốc thật của Christmas đi ngược về Ba-by-lôn thời cổ. Nó được gói gọn trong cái tổ chức bội Đạo mà Sa-tan đã dùng để kiềm chế thế gian bị lừa dối trong suốt bao nhiêu thế kỷ qua. Tại Ai-cập, người ta vẫn luôn tin rằng con của Iris (Tên trong tiếng Ai-cập của “Nữ Vương Trên Trời”) được sinh ra vào ngày 25 tháng 12. Dân ngoại giáo kỷ niệm sinh nhật danh tiếng này trong hầu hết thế giới biết được suốt hàng nhiều thế kỷ trước khi Đấng Christ giáng sinh.

Ngày 25 tháng 12 không phải là sinh nhật của Đức Chúa Jesus, Đấng Christ thật! Các sứ đồ và Hội Thánh ban đầu không hề kỷ niệm sinh nhật của Đấng Christ bao giờ. Không có một mạng lệnh hay chỉ thị nào trong Thánh Kinh bảo phải kỷ niệm nó – ngược lại, tin hay không thì sự kỷ niệm sinh nhật là của những người không tin Chúa, không phải là phong tục của Cơ-đốc nhân.

Không một chỗ nào trong Thánh Kinh dạy chúng ta thờ phượng “Mẹ và Hài Nhi.” Các sứ đồ và các Cơ-đốc nhân chân thật buổi ban đầu không hề làm điều đó. Thánh Kinh cho thấy, một thiên sứ báo với Ma-ri: “Hỡi người được ơn, mừng cho ngươi; Chúa ở cùng ngươi.” Ê-li-sa-bét nói với Ma-ri: “Ngươi có phước trong đám đàn bà, thai trong lòng ngươi cũng được phước,” và Ma-ri đáp lời: “Nầy, từ rày về sau, muôn đời sẽ khen tôi là có phước” (Lu-ca 1:28, 42, 48).

Ma-ri được Thiên Chúa ban phước nhiều và điều này được công nhận bởi mọi thế hệ kể từ ngày ấy – nhưng điều này không có nghĩa là bà phải được thần hóa, được thờ phượng, được làm cho thành một thần linh khi bà chỉ là một con người. Sự thờ phượng bà Ma-ri một cách rộng khắp như là “Mẹ Thiên Chúa,” giáo lý dạy rằng bà Ma-ri là vô nhiễm nguyên tội, xem bà như một Đấng Trung Bảo giữa loài người và Đức Chúa Trời chính là sự tiếp diễn của sự thờ lạy thần tượng từ người Ba-by-lôn thời cổ, bắt đầu bởi sự lường gạt xảo trá của Semiramis, vợ của Nim-rốt! Nó được ràng buộc chằng chịt với ý tưởng “Christmas.”

Như vậy, sự thờ lạy thần tượng thời cổ “Huyền Nhiệm của Người Canh-đê” được thành lập bởi vợ của Nim-rốt, được lưu truyền qua các tín ngưỡng ngoại giáo vào trong Giáo Hội Công Giáo dưới những cái tên mới mang tính Cơ-đốc, và từ đó, vào trong các giáo phái Tin Lành, rồi đến với tất cả chúng ta ngày nay.

Nguồn Gốc của Vòng Lá Thánh (Holly Wreath), Cây Tầm Gửi (Mistletoe), và Khúc Củi (Yule Log)

Từ đâu mà chúng ta có thói tục làm vòng cây chùm gửi (mistletoe) này? Trong thế giới của các dân ngoại giáo thời cổ thì cây chùm gửi được dùng trong ngày lễ hội đông chí, bởi vì, nó được xem là thiêng liêng đối với mặt trời, được cho là có năng lực chữa lành cách lạ lùng. Thói tục hôn nhau dưới cây chùm gửi của ngoại giáo là bước khởi đầu cho một đêm vui chơi và say sưa dâm dật – kỷ niệm sự chết của “mặt trời cũ” và sự sinh ra của mặt trời mới vào ngày đông chí (ngày ngắn nhất trong năm). Cây chùm gửi, thiêng liêng trong các lễ hội ngoại giáo, là một loại ký sinh (ăn bám, sống bám)!

Những trái dâu thánh cũng được xem là thiêng liêng đối với thần mặt trời. Khúc củi “Yule” thật ra, chính là “khúc củi mặt trời.” “Yule” có nghĩa là “vòng khung,” một biểu tượng của ngoại giáo dành cho mặt trời. Thế nhưng, những người xưng mình là Cơ-đốc nhân ngày nay lại nói đến “Mùa Yule thiêng liêng!”

Ngay cả việc đốt lửa và thắp nến như là một nghi thức của Cơ-đốc Giáo cũng chỉ là một sự kế tục của thói tục ngoại giáo để khích lệ thần mặt trời xế tàn khi nó xuống đến điểm thấp nhất trên vùng trời phương nam.

Bộ Americana Bách Khoa Từ Điển cho biết: “Vòng thánh, cây chùm gửi, khúc củi Yule… là những giáo tích của thời tiền Cơ-đốc.” Cuốn sách “Ngoại Giáo,” Trả Lời Các Câu Hỏi, được biên soạn bởi Frederick J. Haskins, có thể tìm thấy trong các thư viện công cộng, cho biết: “Sự sử dụng các vòng Christmas được các nhà có thẩm quyền tin rằng, có thể truy ngược về các thói tục trang trí nhà cửa và những nơi thờ phượng của ngoại giáo vào lúc lễ hội được diễn ra cùng một thời điểm với Christmas. Cây Christmas đến từ Ai-cập, và nguồn gốc của nó được tính ra là một thời điểm rất lâu dài trước thời đại Cơ-đốc.

Ngay Cả Ông Già Nô-en (Santa Claus)

Nhưng phải chăng, Ông Già Nô-en (Santa Claus) thân thương không phải là một sản phẩm của ngoại giáo? Ông ta chính là sản phẩm của ngoại giáo và tính chất thật của ông ta không nhân ái và thánh thiện như nhiều người nghĩ.

Cái tên “Santa Claus” là một cái tên đã bị biến thể từ tên “Thánh Nicholas,” một giám mục Công Giáo La-mã sống vào thế kỷ thứ năm. Xem trong bộ Britannica Bách Khoa Từ Điển, cuốn 19, trang 648-649, ấn bản thứ 11, bạn sẽ đọc thấy: “Thánh Nicholas, giám mục thành Myra… là một vị thánh được tôn kính bởi người Hy-lạp và La-tinh vào ngày 6 tháng 12… Có một huyền thoại về sự ông kín đáo tặng của hồi môn cho ba cô con gái của một người dân nghèo… được cho rằng làm phát sinh phong tục cổ về việc tặng quà cách bí mật vào đêm kỷ niệm Thánh Nicholas [6 tháng 12], rồi sau đó được chuyển sang ngày Christmas. Đó là sự liên kết giữa Christmas với Ông Già Nô-en (Santa Claus).

Trong suốt năm, các bậc cha mẹ trừng phạt con cái mình về tội nói dối. Thế rồi, vào thời điểm Christmas, chính họ lại nói dối với con cái của họ về Ông Già Nô-en. Điều đáng suy nghĩ là, có khi nào nhiều đứa trẻ lúc lớn lên, biết được sự thật thì cũng bắt đầu nghi ngờ Đức Chúa Trời cũng là một huyền thoại?

Có một em bé bị vỡ mộng về Ông Già Nô-en đã nói với bạn mình rằng: “Vậy, mình cũng sẽ xem xét lại câu chuyện về Đức Chúa Jesus Christ.” Có phải chính các Cơ-đốc nhân đã dạy cho trẻ em về những huyền thoại và những sự dối trá? Đức Chúa Trời phán: “Các ngươi chớ làm chứng dối!” Có lẽ theo lý luận loài người thì việc đó không sao, có thể làm được, nhưng Đức Chúa Trời phán “Có một con đường, xem dường chánh đáng cho loài người; nhưng cuối cùng, nó thành ra những nẻo của sự chết! “Ông Già Nick” (Old Nick) cũng là một tên của Ma Quỷ. Có sự liên kết nào chăng? Sa-tan giả làm “thiên sứ sáng láng” để lường gạt (II Cô-rinh-tô 11:4 và Khải Huyền 12:9).

Và khi chúng ta xem xét các dữ kiện, chúng ta ngạc nhiên biết rằng, rốt cuộc, sự thực hành kỷ niệm Christmas không phải là một sự thực hành chân thật của Cơ-đốc nhân nhưng là một thói tục ngoại giáo – một trong những nẻo của Ba-by-lôn mà chúng ta đã rơi vào.

Thánh Kinh nói gì về cây Christmas?

Nhưng nếu Thánh Kinh im lặng về việc dạy chúng ta kỷ niệm Christmas hoặc ghi lại sự kỷ niệm nó bởi các sứ đồ của Hội Thánh thật lúc ban đầu, thì Thánh Kinh có nói đến cây Christmas.

Điều này sẽ khiến cho nhiều người ngạc nhiên nhưng đây là điều Thánh Kinh nói:

Giê-rê-mi 10:2-4 “Đức Giê-hô-va phán như vầy: Chớ tập theo tục của các dân ngoại, chớ sợ các dấu trên trời, mặc dầu dân ngoại nghi sợ các dấu ấy. Vì thói quen của các dân ấy chỉ là hư không. Người ta đốn cây trong rừng, tay thợ lấy búa mà đẽo; rồi lấy bạc vàng mà trang sức; dùng búa mà đóng đinh vào, đặng khỏi lung lay.”

Trên đây là lời mô tả chính xác cây Christmas, bị Đấng Hằng Hữu gọi là “tục của các dân ngoại.” Chúng ta được truyền lệnh là chớ tập hoặc theo các tục ấy. Trong phân đoạn này, nó được xem như là thần tượng. Câu thứ năm cho thấy những cây này không thể nói, không thể đi, phải được khiêng vác. “Đừng sợ các thần ấy, vì không có quyền làm họa hay làm phước.” Chúng chẳng phải là các thần để bị sợ. Nhiều người cho rằng phân đoạn Thánh Kinh này dạy rằng không có gì nguy hiểm trong việc dựng cây Christmas, nhưng đó không phải là điều Thánh Kinh dạy.

Việc Trao Đổi Quà Có Hợp Thánh Kinh Không?

Nhưng khi đến phần quan trọng nhất trong tất cả các phần của sự kỷ niệm Christmas – mùa mua sắm Christmas – sự mua sắm và trao đổi quà – nhiều người sẽ kêu lên cách đắc thắng rằng: “Ít ra thì Thánh Kinh cũng dạy chúng ta làm như vậy. Không phải những nhà thông thái đã tặng quà khi Chúa giáng sinh đó sao?”

Một lần nữa, chúng ta lại sẽ ngạc nhiên khi chúng ta biết được lẽ thật hiển nhiên. Trước hết, chúng ta hãy xem lại lịch sử nguồn gốc của việc trao đổi quà, rồi chúng ta sẽ xem Thánh Kinh nói gì về việc đó.

Từ bộ Bibliotheca Sacra, cuốn 12, trang 153-155, chúng ta đọc được: “Sự trao đổi quà giữa bạn bè là đặc tính giống nhau giữa Christmas và Saturnalia, và đã được tiếp nhận bởi các Cơ-đốc nhân từ những dân ngoại giáo, theo sự cáo trách mà Tertullian đã tỏ ra cách rõ ràng.”

Sự thực là, thói quen trao đổi quà giữa bạn bè và bà con vào mùa Christmas không hề có một chút dấu tích nào về nó trong Cơ-đốc Giáo. Dầu có vẻ lạ lùng nhưng thói tục này không kỷ niệm sinh nhật của Đấng Christ mà cũng không tôn kính ngày ấy hay tôn kính Chúa. Giả sử như vào dịp sinh nhật của một người thân yêu của bạn. Bạn muốn tôn trọng sinh nhật của người ấy. Có khi nào bạn tốn kém tiền bạc mua sắm quà cho tất cả những người khác, trao đổi quà qua lại với tất cả các bạn bè và người thân khác của bạn, nhưng hoàn toàn quên lãng tặng quà cho chính người có sinh nhật mà bạn đang tôn trọng? Ngược lại, điều đó thật là lố bịch khi được xem xét như vậy, có phải không?

Nhưng đó chính xác là điều mà người ta đang làm khắp nơi trên thế giới. Họ tôn trọng một ngày không phải là sinh nhật của Đấng Christ, bằng cách tiêu phí hết từng xu mà họ dành dụm được để mua các món quà trao đổi qua lại giữa bạn bè và bà con. Tôi có thể nói theo kinh nghiệm nhiều năm của mình, như tôi tin rằng hầu hết các người chăn và người hầu việc Chúa có thể nói, rằng khi tháng 12 đến gần, hầu như tất cả những người xưng mình là Cơ-đốc nhân cùng nhau quên lãng việc tặng quà cho Đấng Christ và mục vụ của Ngài.

Bây giờ, hãy xem Thánh Kinh nói gì về việc tặng quà khi Đấng Christ giáng sinh. Ma-thi-ơ 2:1-11 chép: “Khi Đức Chúa Jesus đã sanh tại thành Bết-lê-hem, xứ Giu-đê, đang đời vua Hê-rốt, có mấy thầy bác sĩ ở đông phương đến thành Giê-ru-sa-lem, mà hỏi rằng: Vua dân Giu-đa mới sanh tại đâu? Vì chúng ta đã thấy ngôi sao Ngài bên đông phương, nên đến đặng thờ lạy Ngài… Khi vào đến nhà, thấy con trẻ cùng Ma-ri, mẹ Ngài, thì sấp mình xuống mà thờ lạy Ngài; rồi bày của báu ra, dâng cho Ngài những lễ vật, là vàng, nhũ hương, và một dược.”

Tại Sao Quà Được Tặng Đấng Christ?

Chúng ta chú ý đến điều này: Họ hỏi thăm về hài nhi Jesus, Đấng được sinh ra để làm vua của dân Giu-đa. Tại sao họ tặng quà Ngài? Có phải bởi vì đó là sinh nhật của Ngài? Không hề như vậy, bởi vì khi họ tìm đến nơi thì đã là nhiều ngày hay nhiều tuần sau khi Ngài được sinh ra. Sự kiện đó có là tấm gương để chúng ta noi theo mà trao đổi quà với nhau? Không! Hãy để ý kỷ: họ không trao đổi quà lẫn nhau nhưng họ “dâng cho Ngài!” Họ dâng quà của họ cho Đấng Christ chứ không phải cho bạn bè, thân thuộc hay cho lẫn nhau.

Tại sao?Tôi xin trích từ bộ giải kinh của Adam Clarke, cuốn 5, trang 46: “Câu 11. (Họ dâng quà lên Ngài). Dân đông phương không bao giờ đến gần các vua hay các bậc quyền quý mà không có quà trong tay của mình. Phong tục này thường được ghi nhận trong Cựu Ước và vẫn tồn tại ở đông phương, và trong một vài hải đảo mới được khám phá tại Nam Dương.

Sự việc là như vậy. Họ không thiết lập một phong tục Cơ-đốc mới về việc trao đổi quà để tôn vinh sinh nhật của Đấng Christ. Họ chỉ theo phong tục cũ từ thời cổ của đông phương trong việc tặng quà cho một vì vua Khi họ đến ra mắt Ngài. Họ đang ra mắt Ngài, Đấng được sinh ra để làm vua của dân Giu-đa. Vì vậy, phong tục khiến họ phải tặng quà – như khi khi Nữ Vương nước Sheba ra mắt Vua Sa-lô-môn – như nhiều người ngày nay mang quà theo khi họ viếng thăm tòa Bạch Ốc để gặp tổng thống.

Không, thói tục trao đổi quà qua lại không hề phát xuất từ sự kiện này trong Thánh Kinh, ngược lại, như đã trích từ lịch sử trên đây, nó là sự tiếp nối của một thói tục ngoại giáo. Thay vì tôn kính Đấng Christ, nó luôn luôn làm cho cản trở công việc của Ngài, thường làm cho chậm trể, vào mùa Christmas mỗi năm.

Chúng Ta Đang ở Trong Ba-by-lôn Mà Không Biết!

Christmas đã trở thành một mùa thương mãi. Những kẻ bảo trợ nó, giữ cho nó sống còn bằng những chiến dịch quảng cáo bán hàng tưng bừng nhất trong năm. Bạn sẽ thấy những hóa trang “Ông Già Nô-en” trong nhiều cửa tiệm. Các quảng cáo giữ cho chúng ta bị dẫn dắt sai lạc và bị lường gạt về “sự đẹp đẻ của tinh thần Christmas.” Các báo chí, đăng các quảng cáo, in những ấn bản sặc sở đề cao và tán tụng mùa ngoại giáo và “tinh thần” của nó. Những kẻ khờ dại đã bị tiêm nhiễm quá nặng, đến nỗi chống đối kịch liệt khi được nghe nói về lẽ thật. Nhưng “tinh thần Christmas” được tạo ra mỗi năm không phải để tôn kính Đấng Christ, mà để bán hàng hóa. Giống như tất cả các sự lường gạt của Sa-tan, nó hiện ra như “thiên sứ sáng láng,” nó được làm cho thể hiện như tốt lành. Hàng tỷ đô-la đã bị tốn phí trong cơn dịch mua sắm hàng năm, trong khi mục vụ của Đấng Christ phải chịu tổn thất. Nó chính là một phần trong hệ thống kinh tế của Ba-by-lôn.

Chúng ta là tuyển dân của Đức Chúa Trời. Nhưng chúng ta đang ở trong Ba-by-lôn, như Thánh Kinh đã tiên tri, mà chúng ta không biết. Hãy ra khỏi nó, hỡi dân ta, để các ngươi không dự phần trong tội lỗi của nó, và các ngươi sẽ không cùng chịu sự đoán phạt của nó – sẽ đến cách nhanh chóng – là tiếng cảnh báo của Khải Huyền 18:4.

Nguyên Tác: “The Plain Truth About Christmas” by David J. Stewart
Chuyển Ngữ: Huỳnh Christian Timothy
12.12.2012

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry.
Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

 

Đọc Tiếp →

Trả Lời Một Số Câu Hỏi Liên Quan Đến Loạt Bài Giảng về Loài Người

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?26lx0dplqcx58vh

Huỳnh Christian Timothy

Chúng tôi nhận được qua email một số câu hỏi liên quan đến loạt bài giảng về loài người. Chúng tôi xin tóm lược và trả lời trong bài này.

Xin vào nối mạng dưới đây để đọc và tải xuống các bài giảng về loài người:
http://thanhoc.timhieutinlanh.net/taxonomy/term/70

Xin vào nối mạng dưới đây để nghe và tải xuống mp3 các bài giảng về loài người:
http://timhieutinlanh.net/node/1034

Các Câu Hỏi

1. Loài người cũng ra từ Thiên-Chúa Cha, nhưng ra bởi lời phán của Ngài. Kinh thánh biểu tượng cho sự “ra” đó như sau : “7 GIA-VÊ là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật.” Như vậy loài người muốn hằng hữu phải có Thần-linh sự sống của chính bản thể Thiên-Chúa-Cha.

2. Nếu giải nghĩa kinh thánh hoàn toàn theo nghĩa đen tôi nhận thấy không hoàn toàn đúng và có khi còn sai trật nguy hiểm cho người đọc.

3. Kinh thánh biểu tượng cho sự “ra” đó là tôi muốn nhấn mạnh rằng nếu cứ nhất mực hiểu : “7 GIA-VÊ là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật.” theo nghĩa mặt chữ như vậy; vô tình, người viết đã biến Thiên-Chúa vốn toàn năng thành một Thiên-Chúa hữu hạn, nghĩa là Ngài phải : Ngài gom bụi của đất để làm nên một hình thể giống như hình thể vật chất của Ngài; theo như cách mà Anh đã viết.

4. Để khỏi dài dòng tôi xin nêu một ví dụ sau đây : “9 Giê-hô-va Đức Chúa Trời khiến đất mọc lên các thứ cây đẹp mắt, và trái thì ăn ngon; giữa vườn lại có cây sự sống cùng cây biết điều thiện và điều ác.” (St 2:9)

Nếu giải nghĩa câu trên theo nghĩa mặt chữ, nghĩa là hai cây đó có thực !!!

Chúng ta đã biến một Thiên-Chúa bản chất Ngài là đấng siêu-việt thành ra một Thiên-Chúa hữu hạn; nghĩa là, Ngài cũng sợ hãi, ích kỷ, tham lam….

5. Vì sao ??? Xin đọc kỹ lời Chúa sau đây :

22 Giê-hô-va Đức Chúa Trời phán rằng: Nầy, về sự phân biệt điều thiện và điều ác, loài người đã thành một bực như chúng ta; vậy bây giờ, ta hãy coi chừng, e loài người giơ tay lên cũng hái trái cây sự sống mà ăn và được sống đời đời chăng. (St 3:22)

Thiên-Chúa sợ. Và một điều vô lý nữa : Trước khi Adam chưa vi phạm ông ta đã từng ăn trái cây sự sống. Vậy sau khi ông ta vi phạm Chúa lại e ông ta ăn trái cây đó để sống mãi !!!

6. Chúa sợ, Ngài phải đuổi Adam ra khỏi Eden?

7. Tôi xin chứng minh về hai cây trong St 3:9 chỉ là biểu tượng mà Chúa dùng để nói đến hai sự chọn lựa trong lòng Adam đối với lệnh truyền trong St 1:28 như sau : “9 Giê-hô-va Đức Chúa Trời khiến đất mọc lên các thứ cây đẹp mắt,và trái thì ăn ngon; giữa vườn lại có cây sự sống cùng cây biết điều thiện và điều ác”.

8. Tóm tắt : Nếu hiểu hoàn toàn nghĩa đen từ câu số 8 cho đến câu số 24 của chương ba chúng ta sẽ biến một Thiên-Chúa toàn năng, toàn ái thành một Thiên-Chúa đầy thù hận, ghen tương, ích kỷ như loài người hữu hạn hôm nay.

Như chúng ta biết, sau khi Adam vi phạm, Thiên-Chúa phải công bố một loạt những vấn đề cần thiết cho sự sống đời đời của loài người.

Nếu giải nghĩa nội dung St 3:22-24 theo mặt chữ, thì ý nghĩa của câu số 22 như sau : Ngài nhận thấy Adam ngang bằng với mình rồi thì Ngài SỢ . Sợ, rồi Ngài ĐUỔI Adam ra khỏi vườn (St 3:23); chưa đủ, để cho yên chí Ngài lại phải cho các Thiên-sứ CANH GIỮ đường dẫn đến cây sự sống (St 3:24). Như vậy chúng ta thấy một loạt những hành động sau của một Thiên Chúa “toàn năng” bao gồm : Sợ, Đuổi, Canh giữ. Nếu theo nghĩa đen giải nghĩa chúng ta thấy sao ???

9. Một mâu thuẫn nữa không thể giải nghĩa được mà nếu có cố tình giải nghĩa thì cũng sẽ làm cho vấn đề đã sai lại càng thêm sai. Đó là trước khi Adam vi phạm ông ta đã từng ăn trái của “cây sự sống”. Vậy tại sao khi ông ta ăn trái của “cây cho biết thiện-ác” ông ta lại phải chết ???

Các Câu Trả Lời

1. Thánh Kinh chép: “Giê-hô-va Thiên Chúa bèn lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sanh khí vào lỗ mũi; thì người trở nên một loài sanh linh” (Sáng Thế Ký 2:7).

Thánh Kinh chép: “Vả, hơi sống của Thiên Chúa dầu có dư dật, chỉ làm nên một người mà thôi. Nhưng vì sao chỉ làm một người? Ấy là vì tìm một dòng dõi thánh. Vậy các ngươi khá cẩn thận trong tâm thần mình; chớ đãi cách phỉnh dối với vợ mình lấy lúc tuổi trẻ” (Ma-la-chi 2:15).

Vậy, có phải hơi sống của Đấng Hằng Hữu đã tạo nên loài người hằng hữu hay không? Nếu hơi sự sống này không phải là sự sống bản thể của Thiên Chúa thì nó là sự sống của bản thể gì? Anh lẫn lộn giữ linh hồn là bản thể của loài người với thân thể xác thịt là áo mặc, là nhà trọ của linh hồn.

Khi linh hồn của người có Chúa ra khỏi thân thể xác thịt thì sẽ đi ở với Đấng Christ. Thánh Kinh chép: “Ví thử tôi cứ sống trong xác thịt, là ích lợi cho công khó tôi, thì tôi chẳng biết nên lựa điều chi. Tôi bị ép giữa hai bề muốn đi ở với Đấng Christ, là điều rất tốt hơn; nhưng tôi cứ ở trong xác thịt, ấy là sự cần hơn cho anh em” (Phi-líp 1:22-24). Cái gì đi ở với Đấng Christ? Cái gì sống trong hay ở trong xác thịt?

Thánh Kinh chép: “Vậy tôi nói, chúng ta đầy lòng tin cậy, muốn lìa bỏ thân thể nầy đặng ở cùng Chúa thì hơn. Cho nên chúng ta dầu ở trong thân thể nầy, dầu ra khỏi, cũng làm hết sức để được đẹp lòng Chúa” (II Cô-rinh-tô 5:8-9). Cái gì lìa bỏ thân thể này đặng đi ở với Chúa?

Thân thể xác thịt có thể biến cải (phân rã thành các nguyên tố hóa học) nhưng vẫn còn lại đời đời vì mọi loài Thiên Chúa sáng tạo đều hằng hữu.

Thánh Kinh chép về sự hằng hữu của trái đất:

Thi Thiên 78:69 “Ngài xây đền thánh Ngài giống như nơi rất cao, Khác nào trái đất mà Ngài đã sáng lập đời đời.”

Thánh Kinh chép về sự hằng hữu của muôn loài thọ tạo(Thi Thiên 148):

1 Ha-lê-lu-gia! Từ các từng trời hãy tôn vinh Đức Giê-hô-va! Hãy tôn vinh Ngài trong nơi cao cả!

2 Hỡi hết thảy các thiên sứ Ngài, hãy tôn vinh Ngài! Hỡi cả cơ binh Ngài, hãy tôn vinh Ngài!

3 Hỡi mặt trời, mặt trăng, hãy tôn vinh Ngài! Hỡi hết thảy ngôi sao sáng, hãy tôn vinh Ngài!

4 Hỡi trời của các từng trời, hỡi nước trên các từng trời, Hãy tôn vinh Ngài!

5 Cả thảy khá tôn vinh danh Đức Giê-hô-va; Vì Ngài ra lịnh, thảy bèn được sáng tạo.

6 Ngài lập cho vững các vật ấy đến đời đời vô cùng; Cũng đã định mạng, sẽ không có ai vi phạm mạng ấy.

2. Dĩ nhiên, Thánh Kinh phải có lúc giải theo nghĩa bóng, nhưng chỉ khi nào văn mạch cho phép. Thí dụ: Ta là người chăn. Ta là đường đi. Ta là cửa của chiên. Hãy chăn chiên Ta. Sông nước hằng sống…

3. Đó là anh ý kiến của anh, còn Thánh Kinh thì khẳng định: thân thể xác thịt của loài người là bụi của đất và sau khi phạm tội thì sẽ trở về bụi đất.

Sáng Thế Ký 3: 17-19 chép:

17 Ngài lại phán cùng A-đam rằng: Vì ngươi nghe theo lời vợ mà ăn trái cây ta đã dặn không nên ăn, vậy, đất sẽ bị rủa sả vì ngươi; trọn đời ngươi phải chịu khó nhọc mới có vật đất sanh ra mà ăn.

18 Đất sẽ sanh chông gai và cây tật lê, và ngươi sẽ ăn rau của đồng ruộng;

19 ngươi sẽ làm đổ mồ hôi trán mới có mà ăn, cho đến ngày nào ngươi trở về đất, là nơi mà có ngươi ra; vì ngươi là bụi, ngươi sẽ trở về bụi.

Nếu anh muốn giải thích chữ đất trong câu 19 theo "nghĩa bóng" thì anh cũng phải giải thích các chữ đất trong câu 17 và 18 theo nghĩa bóng. Vậy, theo anh, nghĩa bóng của chữ đất là gì?

4. Mời anh nghe ba bài giảng của tôi về hai cây này tại đây: http://timhieutinlanh.net/node/962

5. Sự sống đời đời khác với sự thực hữu và hằng hữu. Loài người thực hữu vì được Thiên Chúa sáng tạo. Loài người hằng hữu vì ra từ Đấng Hằng Hữu. Thánh Kinh định nghĩa rõ ràng: Sự sống đời đời là thực hữu trong sự nhìn biết Đức Cha và Đức Con: "Vả, sự sống đời đời là nhìn biết Ngài, tức là Thiên Chúa có một và thật, cùng Jesus Christ, là Đấng Ngài đã sai đến" (Giăng 17:3 ), tức là thực hữu trong sự mãi mãi hiểu biết Thiên Chúa trong một thân thể vật chất không bị băng hoại và không có khả năng phạm tội vì không biết điều ác, mà chỉ biết điều thiện.

Sự chết đời đời là sự thực hữu mà không được tiếp tục hiểu biết Thiên Chúa trong một thân thể bị băng hoại bởi sự hình phạt của Thiên Chúa. Thánh Kinh cũng định nghĩa rõ ràng sự chết đời đời (Ma-thi-ơ 25:41, 46; Khải Huyền 20:10, 14-15; 21:8). Lý do của sự chết đời đời là vì không vâng phục Thiên Chúa, tức không nhận biết Ngài. Vì không nhận biết Ngài nên mới dám phản nghịch Ngài.

Khi A-đam được dựng nên, ông chưa có sự sống đời đời (tức chưa có sự mãi mãi nhận biết Thiên Chúa). Ông phải chọn ham muốn được sự sống đời đời bằng cách ăn trái của cây sự sống. Tuy nhiên, ông chưa kịp ăn trái cây sự sống đời đời thì ông đã ăn trái cây biết điều thiện và điều ác, nghịch lại thánh ý của Thiên Chúa và dẫn đến hậu quả là ông không còn được cơ hội để mãi mãi nhận biết Thiên Chúa. Chúng ta biết A-đam chưa ăn trái cây sự sống vì nếu ông đã ăn thì ông đã mãi mãi nhận biết Thiên Chúa và sẽ không có khả năng phạm tội, không biết điều ác. Khi đó Thiên Chúa sẽ hủy diệt cây biết điều thiện và điều ác.

Trái của cây sự sống đời đời (đạt được bằng sự vâng lời Thiên Chúa: ăn nó và không ăn trái của cây biết điều thiện điều ác – loài người chỉ có thể làm một trong hai lựa chọn: ăn trái của cây sự sống thì trái của cây biết điều thiện và điều ác sẽ bị cất đi, và ngược lại) có tính chất giúp cho loài người được đời đời nhận biết Thiên Chúa và tương giao với Thiên Chúa trong hạnh phúc khi loài người không nhiễm tội. Sự nhận biết Thiên Chúa và tương giao với Thiên Chúa là một tiến trình kéo dài cho đến đời đời. Mỗi lúc chúng ta càng hiểu biết Chúa hơn và càng khắng khít với Chúa hơn.

Một khi loài người phạm tội thì sự nhận biết Thiên Chúa bị chấm dứt ngay, họ không thể nào tiếp tục nhận biết Ngài cho đến khi được Ngài ban cho cơ hội ăn năn và họ tiếp nhận sự ban cho ấy. Nếu đã phạm tội mà vẫn đời đời ở trong sự nhận biết Thiên Chúa, tức sự sống đời đời, thì đó sẽ là một hình phạt kinh khủng còn hơn là hồ lửa. Vì càng nhận biết Thiên Chúa càng hơn, thì càng lộ ra sự ô uế, xấu xa, gian ác của mình càng hơn, và càng đau khổ hơn. Vì thế, Thiên Chúa đã không để cho A-đam có thể ăn trái cây của sự sống, sau khi ông phạm tội, tức là không cho phép ông tiếp tục hiểu biết Thiên Chúa ngày càng hơn trong khi ông đang ở trong địa vị bị mãi mãi xa cách Ngài.

6. Đó là sự kết luận chủ quan của anh. Thánh Kinh không hề có chỗ nào nói Chúa sợ! Ngài thương xót, không muốn A-đam mất cơ hội được tái sinh phải đau khổ đời đời trong sự mãi mãi nhận biết Chúa mà bản thân mình chưa được tha tội và sạch tội, nên Ngài không cho ông ăn trái của cây sự sống sau khi ông phạm tội. Nói cách này để cho dễ hiểu. Đối với một người bình thường, khi đang đói mà được ai cho một nồi đậu phụng luộc nóng hổi, thì người ấy sẽ tận hưởng sự thơm ngon của đậu luộc và được no lòng. Nhưng, đối với người bất bình thường, có sự khiếm khuyết trong cơ thể, bị dị ứng với chất đậu phụng, thì nồi đậu phụng luộc đối với anh ta không còn công dụng giúp cho anh ta no nê, thỏa lòng mà sẽ là nguồn của sự đau khổ khủng khiếp khi anh ta ăn vào.

7. Chính câu Thánh Kinh anh trích dẫn đã chứng minh, cả hai: cây sự sống và cây biết điều thiện điều ác đều là những cây theo nghĩa đen như các cây khác.

8. Đó chỉ là những suy luận chủ quan của anh hoàn toàn không có trong Thánh Kinh. Tôi không thấy Thiên Chúa sợ hay ích kỷ mà tôi chỉ thấy Thiên Chúa đầy lòng thương xót và ý định khôn ngoan của Ngài. Lý luận quy chụp theo kiểu trên đây là ngụy biện, gán ghép những điều Thánh Kinh không nói cho Thánh Kinh.

9. Xin cho tôi biết chỗ nào Thánh Kinh nói A-đam ăn trái của cây sự sống trước khi ăn trái của cây biết điều thiện và điều ác? Vả lại, các chữ "sống" và "chết" phải hiểu theo định nghĩa của Thánh Kinh:

  • Xác thịt sống: linh hồn và tâm thần ở trong xác thịt.
  • Tâm thần sống: linh hồn ở trong tâm thần và tâm thần giúp linh hồn tương giao với Thiên Chúa, nhận biết Thiên Chúa ngày càng hơn; luật pháp và điều răn của Thiên Chúa được ghi chép trong tâm thần; năng lực của Đức Thánh Linh tuôn đổ trong tâm thần, giúp cho linh hồn có những quyết định đúng theo thánh ý của Thiên Chúa và có năng lực làm tròn những việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn cho linh hồn.
  • Linh hồn sống: linh hồn nhận biết Thiên Chúa và vâng phục Thiên Chúa.
  • Sự sống đời đời: linh hồn đã được tái sinh ở trong một tâm thần đã được tái sinh và ở trong một xác thịt đã được phục sinh hoặc đã được biến hóa, mãi mãi ở trong trạng thái và địa vị nhận biết Thiên Chúa và hạnh phúc bên Ngài. Sự nhận biết Thiên Chúa cứ tăng tiến mãi, không ngừng nghỉ, cho đến đời đời.
  • Sự chết xác thịt: linh hồn và tâm thần rời khỏi xác thịt, xác thịt trở về cùng bụi đất.
  • Sự chết tâm thần: tâm thần không còn tương giao với Thiên Chúa, sẽ trở về cùng Thiên Chúa khi sự chết của xác thịt xảy ra.
  • Sự chết linh hồn: linh hồn không được tiếp tục nhận biết Thiên Chúa (nhưng vẫn duy trì sự nhận thức về Thiên Chúa mà Ngài đã đặt để trong linh hồn loài người khi Ngài sáng tạo loài người); hành động thiếu sự dẫn dắt của Thiên Chúa, khi sự chết của thể xác xảy ra thì rời khỏi thể xác, rời khỏi tâm thần, đi vào âm phủ, chờ ngày xác thịt được sống lại để chịu phán xét.
  • Sự chết đời đời của loài người: linh hồn ở trong thân thể xác thịt đã được phục sinh, đời đời không còn được tiếp tục nhận biết Thiên Chúa, (nhưng vẫn duy trì sự nhận thức về Thiên Chúa mà Ngài đã đặt để trong linh hồn loài người khi Ngài sáng tạo loài người), chịu hình phạt đời đời trong hỏa ngục.

Qua đó, chúng ta thấy rõ ràng: sự hằng hữu khác với sự sống đời đời và khác với sự chết đời đời. Hay nói cách khác, sự sống đời đời là hằng hữu trong sự tiếp tục nhận biết Thiên Chúa không ngừng nghỉ. Sự chết đời đời là hằng hữu trong sự không còn được tiếp tục nhận biết Thiên Chúa mà phải chịu khổ vì sự lựa chọn không vâng phục Thiên Chúa của mình [1].

Tôi nhận thấy, anh theo trường phái thần học biểu tượng cho nên anh đã hiểu Thánh Kinh theo phong cách của họ. Với tôi, hiểu cây sự sống và cây biết điều thiện điều ác theo nghĩa đen hay nghĩa bóng không liên quan gì đến sự cứu rỗi của một người. Hễ ai công nhận mình là tội nhân, vì mình sống nghịch lại điều răn và luật pháp của Thiên Chúa như đã soi sáng trong lương tâm và ghi chép trong Thánh Kinh, thật lòng ăn năn, từ bỏ tội, tin nhận chỉ một mình sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ, và hết lòng làm những gì Thánh Kinh bảo làm, tránh những gì Thánh Kinh bảo tránh thì người đó sẽ nhận được sự sống đời đời. Khi đó, họ sẽ biết sự sống đời đời là gì!

Tôi mạn phép chấm dứt thảo luận về đề tài này vì những điều tôi trình bày trên đây và trong các bài giảng của tôi là những điều tôi tin. Tôi không muốn tốn thì giờ để tranh biện điều tôi đã tin và tôi cũng đã trình bày hết những gì tôi có thể trình bày về đề tài này.

Cám ơn anh đã dành thời gian để chia sẻ và thảo luận.

Trong ân điển của Đức Chúa Jesus Christ.

Huỳnh Christian Timothy
12.12.2012

[1] Xin xem thêm bài “Sự Sống Đời Đời và Sự Chết Đời Đời” tại đây: http://thanhoc.timhieutinlanh.net/node/303


Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry.
Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Đọc Tiếp →

Tiếng Mới và Ân Tứ Nói Ngoại Ngữ Không Phải Là Hiện Tượng Nói Tiếng Lạ

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?93rqt3ac144dve3

Huỳnh Christian Timothy

Dẫn Nhập

Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống đã dùng bốn từ ngữ: "tiếng mới," "tiếng lạ," "các thứ tiếng," và "tiếng ngoại quốc" để dịch hai từ ngữ hoàn toàn khác nhau trong nguyên ngữ Hy-lạp. Sự dùng từ ngữ “tiếng lạ” trong Bản Dịch Truyền Thống đã khiến cho rất nhiều người hiểu lầm hiện tượng “nói tiếng lạ” trong các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần, là ân tứ nói ngoại ngữ do Đức Thánh Linh ban cho Hội Thánh. Chắc chắn là “tiếng mới” khác với ân tứ “nói ngoại ngữ” và cả hai hoàn toàn không phải là sự “nói tiếng lạ” của những người Ân Tứ và Ngũ Tuần.

Trong bài này, chúng tôi nêu lên tất cả những câu Thánh Kinh trong Bản Dịch Truyền Thống có những từ ngữ: "tiếng mới," "tiếng lạ," "các thứ tiếng," và "tiếng ngoại quốc,” đối chiếu với Bản Hiệu Đính 2012. Bản Hiệu Đính 2012 là bản hiệu đính Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống (1926), còn được gọi là Bản Dịch Phan Khôi, do chúng tôi đang tiến hành mà bạn đọc có thể tham khảo trên mạng tại đây: http://www.tt2012.thanhkinhvietngu.net/. Sau đó, chúng tôi sẽ nêu lên phần nhận xét.

Dữ kiện

Trước hết, xin liệt kê các câu Thánh Kinh Việt ngữ có các từ ngữ "tiếng mới," "tiếng lạ," "các thứ tiếng" và "tiếng ngoại quốc." Kèm theo các từ ngữ đó là nguyên ngữ Hy-lạp và từ Anh ngữ tương đương được đặt trong hai dấu ngoặc vuông [ ]. Xin chú ý, cách dùng số ít "language" và số nhiều "languages" trong tiếng Anh là phản ánh trung thực từ nguyên ngữ:

1. Tiếng mới

Mác 16:17 "Vậy những kẻ tin sẽ được các dấu lạ nầy: lấy danh Ta mà trừ quỉ; dùng tiếng [γλωσσαις, glōssa – languages] mới [καιναις, kainos – new] mà nói." Bản Hiệu Đính 2012: "Và những dấu hiệu này sẽ theo những kẻ tin: Trong danh Ta họ sẽ đuổi quỷ, họ sẽ nói những thứ tiếng mới."

2. Tiếng lạ

I Cô-rinh-tô 12:30"Cả thảy đều được ơn chữa bịnh sao? Cả thảy đều nói tiếng lạ [γλωσσαις, glōssa – languages] sao? Cả thảy đều thông giải tiếng lạ [trong nguyên ngữ chỉ có chữ "diermēneuō" nghĩa là phiên dịch, không có chữ "glōssa"] sao?" Bản Hiệu Đính 2012: "Cả thảy đều được ơn chữa bịnh sao? Cả thảy đều nói các ngoại ngữ sao? Cả thảy đều thông giải sao?"

I Cô-rinh-tô 13:8"Tình yêu thương chẳng hề hư mất bao giờ. Các lời tiên tri sẽ hết, sự ban cho nói tiếng lạ [γλωσσαι, glōssa – languages] sẽ thôi, sự thông biết hầu bị bỏ." Bản Hiệu Đính 2012: "Tình yêu thương chẳng hề hư mất bao giờ. Các lời tiên tri sẽ hết, sự ban cho nói các ngoại ngữ sẽ thôi, sự thông biết hầu bị bỏ."

I Cô-rinh-tô 14:2"Vì người nào nói tiếng lạ [γλωσση,glōssa – languages], thì không phải nói với người ta, bèn là với Đức Chúa Trời, bởi chẳng có ai hiểu (ấy là trong tâm thần mà người kia nói lời mầu nhiệm)." Bản Hiệu Đính 2012: "Vì người nào nói các ngoại ngữ, thì không phải nói với người ta, bèn là với Đức Chúa Trời, bởi chẳng có ai hiểu (ấy là trong tâm thần mà người kia nói lời mầu nhiệm)."

I Cô-rinh-tô 14:4"Kẻ nói tiếng lạ [γλωσση, glōssa – language], tự gây dựng lấy mình; song kẻ nói tiên tri, gây dựng cho Hội thánh." Bản Hiệu Đính 2012: "Kẻ nói ngoại ngữ, tự gây dựng lấy mình; song kẻ nói tiên tri, gây dựng cho Hội thánh."

I Cô-rinh-tô 14:5"Tôi ước ao anh em đều nói tiếng lạ [γλωσσαις,glōssa – languages] cả, song tôi còn ước ao hơn nữa là anh em nói tiên tri. Người nói tiên tri là trọng hơn kẻ nói tiếng lạ [γλωσσαις, glōssa – languages] mà không giải nghĩa để cho Hội thánh được gây dựng." Bản Hiệu Đính 2012: "Tôi ước ao anh em đều nói các ngoại ngữ cả, song tôi còn ước ao hơn nữa là anh em nói tiên tri. Người nói tiên tri là trọng hơn kẻ nói các ngoại ngữ mà không giải nghĩa để cho Hội thánh được gây dựng."

I Cô-rinh-tô 14:6"Hỡi anh em, ví bằng tôi đến cùng anh em, nói các thứ tiếng lạ [γλωσσαις, glōssa – languages], mà lời nói tôi chẳng tỏ sự mầu nhiệm, chẳng có sự thông biết, chẳng có lời tiên tri, chẳng có sự khuyên dạy, thì ích gì đến anh em?" Bản Hiệu Đính 2012: "Hỡi anh em, ví bằng tôi đến cùng anh em, nói các thứ ngoại ngữ, mà lời nói tôi chẳng tỏ sự mầu nhiệm, chẳng có sự thông biết, chẳng có lời tiên tri, chẳng có sự khuyên dạy, thì ích gì đến anh em?"

I Cô-rinh-tô 14:13"Bởi đó, kẻ nói tiếng lạ [γλωσση, glōssa – language], hãy cầu nguyện để được thông giải tiếng ấy." Bản Hiệu Đính 2012: "Bởi đó, kẻ nói ngoại ngữ, hãy cầu nguyện để được thông giải tiếng ấy."

I Cô-rinh-tô 14:14"Vì nếu tôi cầu nguyện bằng tiếng lạ [γλωσση, glōssa – language], thì tâm thần tôi cầu nguyện, nhưng trí khôn tôi lơ lửng." Bản Hiệu Đính 2012: "Vì nếu tôi cầu nguyện bằng ngoại ngữ, thì tâm thần tôi cầu nguyện, nhưng trí khôn tôi lơ lửng."

I Cô-rinh-tô 14:18"Tôi tạ ơn Đức Chúa Trời, vì đã được ơn nói tiếng lạ [γλωσσαις, glōssa – languages] nhiều hơn hết thảy anh em." Bản Hiệu Đính 2012: "Tôi tạ ơn Đức Chúa Trời, vì đã được ơn nói các ngoại ngữ nhiều hơn hết thảy anh em."

I Cô-rinh-tô 14:19"nhưng thà tôi lấy năm lời bằng trí khôn mình mà rao giảng trong Hội thánh, để được dạy bảo kẻ khác, hơn là lấy một vạn lời bằng tiếng lạ [γλωσση, glōssa – language]." Bản Hiệu Đính 2012: "nhưng thà tôi lấy năm lời bằng trí khôn mình mà rao giảng trong Hội thánh, để được dạy bảo kẻ khác, hơn là lấy một vạn lời bằng ngoại ngữ."

I Cô-rinh-tô 14:21"Trong luật pháp có chép rằng: Chúa phán: Ta sẽ nhờ những người nói tiếng lạ [ετερογλωσσοις, heteroglōssos – foreign languages], và môi miệng người ngoại quốc mà phán cho dân nầy; dầu vậy họ cũng chẳng nghe ta." Bản Hiệu Đính 2012: "Trong luật pháp có chép rằng: Chúa phán: Ta sẽ bởi các ngoại ngữ và môi miệng những người ngoại quốc mà phán cho dân nầy; dầu vậy họ cũng chẳng nghe Ta."

I Cô-rinh-tô 14:23"Vậy thì cả Hội thánh nhóm lại một nơi, nếu ai nấy đều nói tiếng lạ [γλωσσαις, glōssa – languages], mà có kẻ tầm thường hoặc người chẳng tin vào nghe, họ há chẳng nói anh em là điên cuồng sao?" Bản Hiệu Đính 2012: "Vậy thì cả Hội Thánh nhóm lại một nơi, nếu ai nấy đều nói các ngoại ngữ, mà có kẻ tầm thường hoặc người chẳng tin vào nghe, họ há chẳng nói anh em là điên cuồng sao?"

I Cô-rinh-tô 14:26"Hỡi anh em, nên nói thể nào? Khi anh em nhóm lại với nhau, trong anh em, ai có bài ca, hoặc bài giảng dạy, hoặc lời tỏ sự kín nhiệm, hoặc nói tiếng lạ [γλωσσαν, glōssa – languages], hoặc giải tiếng lạ [trong nguyên ngữ chỉ có chữ "hermēneia" nghĩa là thông giải, không có chữ "glōssa"] chăng? Hãy làm hết thảy cho được gây dựng." Bản Hiệu Đính 2012: "Hỡi anh em, nên nói thể nào? Khi anh em nhóm lại với nhau, trong anh em, ai có bài ca, hoặc bài giảng dạy, hoặc lời tỏ sự kín nhiệm, hoặc nói các ngoại ngữ, hoặc thông giải chăng? Hãy làm hết thảy cho được gây dựng."

I Cô-rinh-tô 14:27"Ví bằng có người nói tiếng lạ [γλωσση, glōssa – language], chỉ nên hai hoặc ba người là cùng; mỗi người phải nói theo lượt mình, và phải có một người thông giải." Bản Hiệu Đính 2012: "Ví bằng có người nói ngoại ngữ, chỉ nên hai hoặc ba người là cùng; mỗi người phải nói theo lượt mình, và phải có một người thông giải."

I Cô-rinh-tô 14:39"Ấy vậy, hỡi anh em, hãy trông mong ơn nói tiên tri, và đừng ngăn trở chi về điều nói tiếng lạ [γλωσσαις, glōssa – languages]." Bản Hiệu Đính 2012: "Ấy vậy, hỡi anh em, hãy trông mong ơn nói tiên tri, và đừng ngăn trở chi về điều nói các ngoại ngữ."

3. Các thứ tiếng

Công Vụ Các Sứ Đồ 2:4"Hết thảy đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh, khởi sự nói các thứ tiếng [γλωσσαις, glōssa – languages] khác [ετεραις, heteros – other], theo như Đức Thánh Linh cho mình nói." Bản Hiệu Đính 2012: "Hết thảy đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh, khởi sự nói các ngoại ngữ khác, theo như Đức Thánh Linh cho mình nói."

I Cô-rinh-tô 14:22"Thế thì, các thứ tiếng [γλωσσαι, glōssa – languages] là một dấu, chẳng cho người tin Chúa, song cho người chẳng tin; còn như lời tiên tri là một dấu, chẳng phải cho người không tin, song cho người tin Chúa." Bản Hiệu Đính 2012: "Thế thì, các ngoại ngữ là một dấu, chẳng cho người tin Chúa, song cho người chẳng tin; còn như lời tiên tri là một dấu, chẳng phải cho người không tin, song cho người tin Chúa."

4. Tiếng ngoại quốc

Công Vụ Các Sứ Đồ 10:46"Vì các tín đồ nghe họ nói tiếng ngoại quốc [γλωσσαις, glōssa – languages] và khen ngợi Đức Chúa Trời." Bản Hiệu Đính 2012: "Vì các tín đồ nghe họ nói các ngoại ngữ và tôn vinh Đức Chúa Trời."

Công Vụ Các Sứ Đồ 19:6 "Sau khi Phao-lô đã đặt tay lên, thì có Đức Thánh Linh giáng trên chúng, cho nói tiếng ngoại quốc[γλωσσαις, glōssa – languages] và lời tiên tri." Bản Hiệu Đính 2012: "Sau khi Phao-lô đã đặt tay lên, thì có Đức Thánh Linh giáng trên chúng, cho nói các ngoại ngữ và lời tiên tri."

Nhận Xét

1. Ân tứ ngoại ngữ không phải là hiện tượng “nói tiếng lạ”

Trước hết, chúng ta cần xác định ý nghĩa của chữ "glōssa" trong nguyên tác Hy-lạp. Theo Thayer’s Greek Definitions (Bộ Định Nghĩa Tiếng Hy-lạp của Thayer) thì "glōssa" bao gồm các nghĩa như sau:

(1) cái lưỡi, một chi thể của thân thể, một cơ quan của sự nói

(2) một ngôn ngữ: ngôn ngữ hay thổ ngữ được dùng bởi một sắc dân khác với [ngôn ngữ hay thổ ngữ] của các quốc gia khác.

Như vậy, chữ "glōssa" được dùng trong tất cả các câu Thánh Kinh trưng dẫn trên đây dù là số ít hay số nhiều cũng đều mang nghĩa thứ (2), tức là ngôn ngữ. Khi chữ "glōssa" được dùng ghép với động từ "laleō" (nói) thành "laleō glōssa" thì luôn luôn mang ý nghĩa: "nói tiếng ngoại quốc" hay gọn hơn: “nói ngoại ngữ.” Chúng ta thấy trong các câu Thánh Kinh được trích dẫn không hề có tính từ "xenos" (lạ) kèm theo "glōssa" cho nên không thể dịch là "tiếng lạ." Điển hình về việc dùng tính từ "xenos" (lạ) là:

"Vì Ta đói, các ngươi đã cho Ta ăn; Ta khát, các ngươi đã cho Ta uống; Ta là khách lạ [ξενος, xenos – strange], các ngươi tiếp rước Ta." (Ma-thi-ơ 25:35)

"Rồi họ bàn với nhau dùng bạc đó mua ruộng của kẻ làm đồ gốm để chôn những khách lạ [ξενοις, xenos – strange]." (Ma-thi-ơ 27:7)

"Anh em chớ để cho mọi thứ đạo lạ [ξεναις, xenos – strange] dỗ dành mình; vì lòng nhờ ân điển được vững bền, ấy là tốt, chớ không phải nhờ đồ ăn, là sự chẳng ích chi cho kẻ làm như vậy." (Hê-bơ-rơ 13:9)

Như vậy, trừ trường hợp của Mác 16:17 mà chúng ta sẽ bàn tiếp dưới đây, tất cả các câu Thánh Kinh còn lại có từ ngữ "laleō glōssa" nên dịch thành "nói tiếng ngoại quốc" hoặc "nói ngoại ngữ."

Sách Công Vụ Các Sứ Đồ ghi lại ba trường hợp các môn đồ được đầy dẫy Thánh Linh và được ơn nói tiếng ngoại quốc mà chúng ta có thể dùng đó để xác chứng chỉ có ân tứ nói ngoại ngữ chứ không hề có ân tứ “nói tiếng lạ!" Điểm cần chú ý là, mỗi khi ân tứ nói ngoại ngữ được thể hiện thì đều có sự ấn chứng của những người chứng kiến, rằng người đang nói ngoại ngữ đó nói lên những sự cao trọng của Đức Chúa Trời mà tôn vinh Ngài hoặc nói tiên tri. Đây là điểm rất quan trọng để phân biệt giữa ân tứ nói ngoại ngữ do Đức Thánh Linh ban cho con dân Chúa với sự "nói tiếng lạ" đến từ tà linh. Chúng tôi đã từng chứng kiến cảnh một tín đồ gốc Ân Tứ bị quỷ ám "nói tiếng lạ" và sau đó "nói ngoại ngữ" (tiếng Anh) một cách lưu loát để giảng Tin Lành. Người này trước đó không thông thạo Anh ngữ. Mặc dù người ấy giảng Tin Lành một cách thông suốt, đúng Thánh Kinh, nhưng lại tự xưng là Đức Chúa Jesus và lại nói rằng rất yêu người nữ tín đồ đang bị nhập xác đó, muốn có con với người nữ tín đồ đó… thì rõ ràng là hiện tượng quỷ nhập, chưa kể các biểu hiện nói lãm nhảm, cười, khóc, trợn trắng, thè lưỡi, sùi nước bọt rất là bất bình thường. Chính nạn nhân vào lúc tỉnh cũng biết mình bị quỷ nhập.

2. Tiếng mới

Từ ngữ này chỉ được dùng có một lần trong Mác 16:17. Sự nói các thứ tiếng mới của người tin nhận Chúa chắc chắn là khác hẵn với ân tứ nói ngoại ngữ. Trong khi ân tứ nói ngoại ngữ là một trong các ân tứ do Đức Thánh Linh "theo ý Ngài muốn, phân phát sự ban cho riêng cho mỗi người" không phải tín đồ nào cũng nhận được (I Cô-rinh-tô 12:11), thì sự nói các thứ tiếng mới là dấu hiệu đi theo tất cả những ai là môn đồ thật của Chúa:

Mác 16:17"Vậy những kẻ tin sẽ được các dấu lạ nầy: lấy danh Ta mà trừ quỷ; dùng tiếng [γλωσσαις, glōssa – languages] mới [καιναις, kainos – new] mà nói."

Trong nguyên ngữ Hy-lạp, tính từ "kainos" có nghĩa là "mới," được dùng chung với danh từ "glōssa" số nhiều. Nếu dịch câu trên cho sát với nguyên ngữ thì sẽ như sau: "Và những dấu hiệu này sẽ theo những kẻ tin: Trong danh Ta họ sẽ đuổi quỷ, họ sẽ nói những thứ tiếng mới."

Tiếng mới hay ngôn ngữ mới ở đây khác với ngoại ngữ hay tiếng ngoại quốc được dùng trong những câu Thánh Kinh chúng ta vừa bàn đến phía trên. Tiếng mới này là tiếng của những người đã được dựng nên mới sử dụng: Tiếng của sự yêu thương! Ngôn ngữ của những người thật sự ở trong Chúa! Hễ những ai đã được dựng nên mới trong Đức Chúa Jesus Christ thì tự nhiên họ sẽ dùng thứ tiếng mới này. Khi một người đã được dựng nên mới thì "những sự cũ đã qua đi" trong đó có luôn thứ ngôn ngữ cũ của hận thù, cay đắng, châm chọc, mỉa mai, thô tục, kiêu ngạo… Các thứ tiếng mới chính là các thứ tiếng mẹ đẻ đã được đổi mới trong Chúa của những người đã được dựng nên mới trong Chúa.

"Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới."(II Cô-rinh-tô 5:17)

Chúng tôi xin lập lại điều quan trọng này: Trong khi "nói ngoại ngữ" là một trong các ân tứ do Đức Thánh Linh "theo ý Ngài muốn, phân phát sự ban cho riêng cho mỗi người," nghĩa là không phải con dân Chúa nào cũng nhận được, thì "nói tiếng mới" là một dấu hiệu đi theo tất cả những kẻ tin! Nghĩa là, bất cứ ai thực lòng tin nhận Chúa, được tái sinh thì đều nói tiếng mới! Từ ngữ "tiếng mới" được dùng trong Mác 16:17 dưới hình thức số nhiều cho chúng ta biết người thuộc dân tộc nào, ngôn ngữ nào, khi được đổi mới sẽ dùng tiếng mới của chính dân tộc đó, ngôn ngữ đó. Nếu tôi là người Việt Nam được dựng nên mới trong Đấng Christ thì tôi sẽ nói một thứ tiếng Việt Nam mới, là thứ tiếng Việt Nam thể hiện sự thương xót, công bình và thánh khiết của Đức Chúa Trời.

Người không thật lòng tin Chúa thì không có được các dấu hiệu "nói tiếng mới," và không thể nào "trong danh Chúa trừ quỷ…" cho nên, họ vẫn còn nói năng thô tục, giả ngộ tầm phào, bàn chuyện huyễn, và không ngại thốt ra những lời cay độc, kiêu căng, ngạo mạn… Những người như thế dễ dàng bị sập bẫy của Sa-tan để khoác cho mình những thứ ân tứ giả như: "nói tiếng lạ," "chữa bệnh," "đuổi quỷ," "nói tiên tri," thậm chí làm ra các “phép lạ” trong danh Chúa (Ma-thi-ơ 7:21-23). Con dân chân thật của Chúa có thể nhìn ra họ cách dễ dàng, vì họ không có được một trong các dấu hiệu thật của những người đã thật sự "tự bỏ mình đi, mỗi ngày vác thập tự giá mình mà theo" Chúa, là dùng “tiếng mới” mà nói!

Kết Luận

Ngày nay, hiện tượng "nói tiếng lạ" là một trong những động cơ phá tán Hội Thánh Chúa một cách đáng sợ nhất. Nhiều người chăn bầy thiếu khôn ngoan (mà lại không cầu xin Chúa – Gia-cơ 1:5) để phân biệt ân tứ nói ngoại ngữ đến từ Đức Thánh Linh với hiện tượng "nói tiếng lạ" đến từ tà linh, cho nên, đã dung chứa các sứ giả của Sa-tan trong Hội Thánh (II Cô-rinh-tô 11:14, 15). Hậu quả là trong vòng ba năm, Hội Thánh địa phương bị phá tán và biến thành hội của Sa-tan (Khải Huyền 2:9)!

Hy vọng rằng, trong các bản hiệu đính hoặc trong các bản dịch tương lai, Thánh Kinh Việt ngữ sẽ không còn những thiếu sót về thuật ngữ khiến gây ra những hiểu lầm, ảnh hưởng tai hại đến sự hiểu biết và áp dụng Lời Chúa vào trong cuộc sống của con dân Chúa người Việt.

 

Huỳnh Christian Timothy
28.12.2009
Hiệu Đính Lần Thứ Nhất 14.12.2012


Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry.
Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Đọc Tiếp →

Nguồn Gốc và Tín Lý Các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?u2ld9mi6cmzf976

Huỳnh Christian Timothy

Dẫn Nhập

Kể từ thập niên 1960 cho đến nay, một phong trào phát sinh từ trong các Giáo Hội Tin Lành và Công Giáo được gọi là "Phong Trào Ân Tứ," đã trở nên lớn mạnh và xâm nhập sâu rộng vào trong Hội Thánh của Chúa ở khắp nơi. Phong Trào Ân Tứ (Charismatic Movement – 1906) thoát thai từ Phong Trào Ngũ Tuần (Pentecostal Movement – 1901). Theo thống kê vào năm 2003, số người thuộc hai phong trào này lên đến khoảng 700 triệu, nghĩa là chiếm khoảng 33% tổng số những người xưng nhận có đức tin trong Đấng Christ (Christians – bao gồm Chính Thống Giáo, Công Giáo, Anh Giáo, và Tin Lành Giáo) trên toàn thế giới. Các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần mang lại nhiều tranh luận cũng như phân rẽ trong Hội Thánh. Nhiều giáo phái lớn trong các Giáo Hội Tin Lành và Công Giáo đã thành lập những ban nghiên cứu. Ngay cả, người ngoại đạo cũng thành lập các ban nghiên cứu về hiệu ứng tâm lý trong sự kiện chữa bệnh và nói tiếng lạ của các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần.

Nếu nhìn một cách khách quan thì có thể nói Ân Tứ với Ngũ Tuần chỉ là một. Ngũ Tuần như là gốc và thân chính của một cây với vài nhánh lớn, Ân Tứ như là những nhánh nhỏ phát sinh từ những nhánh lớn của Ngũ Tuần. Những hoa, lá, cành nhiều khi che lấp cả thân cây, vì thế, ngày nay thế giới biết nhiều đến Ân Tứ hơn là Ngũ Tuần.

Dấu hiệu đặc trưng của Phong Trào Ân Tứ là sự "đặt tay té ngã" và "nói tiếng lạ." Người Ân Tứ tin rằng, khi một người nhận được báp-tem bằng Thánh Linh thì phải biết "nói tiếng lạ" và khi một người được đầy dẫy Thánh Linh thì bị té ngã mà họ gọi là "bị giết trong Thánh Linh" (slain in the Spirit). Hiện tượng "té ngã" khi được đầy dẫy Thánh Linh là điều không hề được ghi lại trong Thánh Kinh. Tiếng lạ mà những người Ân Tứ và Ngũ Tuần nói không phải là ngôn ngữ có người hiểu được, như Thánh Kinh đã ghi lại trong Công Vụ Các Sứ Đồ chương hai, mà là một thứ âm thanh không có cấu trúc của ngôn ngữ và cũng không có ai hiểu.

Từ ngữ "nói các thứ tiếng khác" trong Công Vụ Các Sứ Đồ 2:4 được dịch sang tiếng Anh là “speak in other tongues.” Trong nguyên tác tiếng Hy-lạp (Greek) của Thánh Kinh là:

  • λαλειν, G2980, phiên âm quốc tế /laleō/, phiên âm tiếng Việt [la-lé-ồ], có nghĩa là: phát âm, nói.
  • ετεραις, G2087, phiên âm quốc tế /heteros/, phiên âm tiếng Việt [hé-tơ-ro-s], có nghĩa là: khác.
  • γλωσσαις,G1100, phiên âm quốc tế /glōssa/, phiên âm tiếng Việt [g-lố-xà], có nghĩa là: các ngôn ngữ.

Thánh Kinh không bao giờ nói đến một thứ “tiếng lạ.” Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống đã dịch không chuẩn khi dịch γλωσσαις(các ngôn ngữ) thành “tiếng lạ.”

Lược sử các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần

Các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần dấy lên trong lịch sử của Hội Thánh kể từ ngày đầu tiên của thế kỷ 20 và kéo dài cho đến nay đã tạo ra nhiều ảnh hưởng sâu đậm cả bên trong lẫn bên ngoài Hội Thánh. Sự tìm hiểu về các phong trào này thường khiến cho người ta đối diện với hai vấn đề:

1. Lẫn lộn giữa Phong Trào Ân Tứ và Phong Trào Ngũ Tuần.

2. Lẫn lộn giữa Phong Trào Ân Tứ, Phong Trào Ngũ Tuần, và các giáo phái Tin Lành truyền thống.

Để giảm thiểu những khó khăn dẫn đến sự rối trí trong khi theo dõi bài này, độc giả cần ghi nhớ các điểm quan trọng sau đây:

  • Danh từ Phong Trào Ngũ Tuần được dùng để gọi sự kiện "nói tiếng lạ" xuất hiện trong một cộng đồng Cơ-đốc nhân thuộc Giáo Hội Tin Lành, làm phát sinh ra một giáo phái mới trong Giáo Hội Tin Lành gọi là Giáo Phái Ngũ Tuần. Giáo Phái Ngũ Tuần theo thời gian phân nhánh ra thành nhiều tiểu giáo phái. Có thể ví Phong Trào Ngũ Tuần như một trong những cây con nảy ra từ gốc của cây mẹ (Giáo Hội Tin Lành), sau đó, từ gốc của cây con đó lại nảy ra nhiều cây con khác nữa.
  • Danh từ Phong Trào Ân Tứ được dùng để gọi sự kiện “đặt tay té ngã” và "nói tiếng lạ" xuất hiện trong tất cả các giáo hội và giáo phái của Cơ-đốc Giáo. Phong trào này thoạt đầu không tách rời khỏi các giáo phái như Phong Trào Ngũ Tuần, nhưng khi đã phát triển mạnh mẽ thì tự hình thành các giáo phái. Phong Trào Ân Tứ ví như những trái cây phát sinh ra trên khắp các nhánh của một thân cây (Cơ-đốc Giáo, bao gồm các giáo hội Chính Thống Giáo, Anh Giáo, Công Giáo, Tin Lành…) khi chín mùi thì rụng xuống và mọc lên thành những cây mới.
  • Danh từ Phong Trào Dấu Lạ được dùng để gọi sự kiện những dấu kỳ, phép lạ xuất hiện trong tất cả các giáo hội và giáo phái của Cơ-đốc Giáo mà không nhất thiết phải có hiện tượng “té ngã” và “nói tiếng lạ” kèm theo. Trên một phương diện, Phong Trào Dấu Lạ cũng chính là một Phong Trào Ân Tứ nhưng không chủ trương đề cao việc “đặt tay té ngã” và “nói tiếng lạ” cho bằng việc đề cao dấu kỳ, phép lạ xuất hiện trong khi giảng đạo.
  • Danh từ "trường phái" nói đến những khuynh hướng khác nhau trong cùng một phong trào. Thí dụ: Phong Trào Ngũ Tuần có mẫu số chung là "nói tiếng lạ" và tin rằng hiện tượng "nói tiếng lạ" là dấu hiệu của một người được báp-tem bằng Thánh Linh. Tuy nhiên, có ba khuynh hướng khác nhau về ý nghĩa của hiện tượng "nói tiếng lạ," khiến cho phân chia thành ba trường phái khác nhau. Có thể nói, phong trào là gốc cây chính, trường phái là các cây khác nảy ra từ gốc cây chính.
  • Danh từ "làn sóng" do Phong Trào Dấu Lạ đặt ra để tự phân biệt với các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần. Theo họ, từ đầu thế kỷ 20 đến nay, Đức Thánh Linh đã ba lần phục hưng Hội Thánh mà họ gọi là "những làn sóng phục hưng" (the revival waves). Họ xem Phong Trào Ngũ Tuần là làn sóng thứ nhất, Phong Trào Ân Tứ là làn sóng thứ hai, và họ là làn sóng thứ ba.

Nhìn theo quan điểm của những người Ân Tứ và Ngũ Tuần Tin Lành thì Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần được phân biệt như sau:

1. Làn sóng thứ nhất:Phong Trào Ngũ Tuần (The Pentecostal Movement) khởi động bởi Charles Fox Parham tại Topeka, Kansas, USA vào năm 1901 và phát triển bởi William Joseph Seymour tại Los Angeles, California, USA vào năm 1906.

2. Làn sóng thứ nhì:Phong Trào Ân Tứ (The Charismatic Movement) còn được gọi là Phong Trào Ân Tứ Phục Hưng (Charismatic Renewal Movement) khởi động bởi Dennis Bennett tại Van Nuys, California, USA vào năm 1960.

3. Làn sóng thứ ba:Phong Trào Dấu Lạ (The Signs and Wonders Movement) khởi động bởi John Wimber từ Trường Thần Học Fuller (Fuller Theological Seminary) tại Pasadena, California, USA vào năm 1981.

Nhìn khách quan về lịch sử của Cơ-đốc Giáo thì Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần phải được chia ra làm bốn làn sóng, bao gồm Phong Trào Công Giáo Ân Tứ Phục Hưng (The Catholic Charismatic Renewal Movement) khởi động giữa các sinh viên và nhân sự của Trường Đại Học DuQuesne tại Pittsburgh, Pennsylvania, USA vào năm 1967.

Phong Trào Ngũ Tuần (The Pentecostal Movement)

Còn được gọi là Phong Trào Ngũ Tuần Cổ Điển (The Classical Pentecostal Movement). Ngũ Tuần (Pentecostalism) phát xuất từ Giáo Hội Tin Lành như một phong trào nhấn mạnh đến kinh nghiệm cá nhân của một người với Đức Chúa Trời thông qua cái gọi là "báp-tem bằng Thánh Linh" (the baptism of the Holy Spirit). Có ba trường phái Ngũ Tuần chính:

Trường phái thứ nhất chiếm đa số, có tín lý tương tự như các giáo phái trong Giáo Hội Tin Lành, như tín lý về Thiên Chúa Ba Ngôi, tín lý về sự cứu rỗi, tín lý về thẩm quyền của Thánh Kinh. Điều khác biệt là họ tin rằng "nói tiếng lạ" là dấu hiệu phải có của một người đã được báp-tem bằng Thánh Linh. Hai trường phái còn lại (một làm lễ báp-tem chỉ trong danh của Đức Chúa Jesus Christ, một làm lễ báp-tem trong danh của Ba Ngôi Thiên Chúa) dùng Công Vụ Các Sứ Đồ 2:38 làm nền tảng cho tín lý: Một người cần phải ăn năn tội, nhận báp-tem trong danh Đức Chúa Jesus Christ, rồi nhận lãnh Đức Thánh Linh. Nhận lãnh Đức Thánh Linh là điều cần thiết cho sự cứu rỗi và (theo hai trường phái này) có nghĩa là phải biết "nói tiếng lạ." Như vậy, theo họ, nếu một người tin Chúa mà không biết "nói tiếng lạ" là chưa được báp-tem bằng Thánh Linh và có nghĩa là chưa được cứu rỗi. Hai trường phái này chia ra thành các giáo phái: "Jesus Name," "First," "United," và "Oneness." Từ trong bốn giáo phái chính này lại phát sinh ra nhiều tiểu giáo phái khác nữa.

Phong trào Ngũ Tuần phát sinh với George Fox (1624-1691, England), một tín đồ thuộc Giáo Phái Giám Lý (Methodist) và thành viên của phong trào Thánh Khiết (Holliness Movement), là một phong trào cũng bắt nguồn từ Giám Lý. Vào năm 19 tuổi, George Fox ly khai giáo hội vì không chịu nỗi sự hâm hẫm của nó. Chàng thanh niên trẻ khao khát một đời sống thuộc linh phong phú và nóng cháy. Tuy nhiên, thay vì dựa trên nền tảng muôn đời là Lời Chúa để sống đạo, chàng đã dựa trên cảm giác và kinh nghiệm. Chàng nghe một giọng nói phán với chàng, như sau: "Không phải Lời Thánh Kinh bên ngoài, không phải sự giảng dạy của giáo hội, không phải Đấng Christ bên ngoài có thể hướng dẫn con, nhưng là ánh sáng bên trong, là Đấng Christ nội tại." (Not the outward Word of Scripture, not the teaching of the church, not the outward Christ can lead you, but only the inner light, the inward Christ.)

Fox trở thành người sáng lập nhóm Con Cái của Sự Sáng (Children of Light) còn gọi là Xã Đoàn Thân Hữu (Society of Friends). Về sau, các đối thủ của ông gọi nhóm của ông là Quakers. (Quake = rung động, quakers = những người hay vật bị rung động. Có lẽ các đối thủ của Fox muốn chế nhạo sự kiện run rẩy trong khi xuất thần của những người thuộc nhóm ông. Tại Việt Nam, Quaker được gọi là Giáo Phái Anh Em). Danh xưng Quaker không bao giờ được Fox và những người theo ông chấp nhận nhưng vẫn được những người ngoài nhóm của ông sử dụng và vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Dù trong thuở ban đầu phái Quaker bị bách hại tàn bạo tại Anh nhưng đã phát triển đi khắp nơi, mạnh mẽ nhất là tại Hoa Kỳ và Đông Phi Châu. Điểm quan trọng cần chú ý trong quan điểm cực đoan của phái Quaker ngay từ nguyên thỉ, là: Họ xem ánh sáng nội tại (tâm thức, sự hiểu biết đến từ bên trong) và tiếng phán từ trên cao quan trọng hơn là Lời của Chúa trong Thánh Kinh. (Đối với Phong Trào Ân Tứ sau này thì dấu kỳ và phép lạ quan trọng hơn là Thánh Kinh). Điều đó là cánh cửa mở rộng cho đủ mọi thứ tà giáo xâm nhập. Ngay từ buổi sơ khai của phái Quaker đã có hiện tượng "nói tiếng lạ" xuất hiện trong nhiều nhóm.

Vào những năm 1800, phái Irvinggian được thành lập bởi Edward Irving (1792-1834), vốn là một pastor thuộc Giáo Hội Trưởng Lão (Presbyterian), với danh xưng là Giáo Hội Công Giáo Sứ Đồ (Catholic Apostolic Church) xứ Scotland. Phái này thực hành, giảng dạy sự "nói tiếng lạ" cùng những hình thức xuất thần và các hiện tượng chữa bệnh, khải tượng, nói tiên tri… nên thu hút rất đông tín đồ từ các giáo hội truyền thống vốn đã quá khô cạn sự sống thuộc linh vì sự tắc trách của những người chăn bầy. Phái Irvingian phát triển nhanh chóng sang Anh, Hòa Lan, Hoa Kỳ, và đặc biệt là Đức, với trung tâm chính tại Augsburg, và nơi có đông tín đồ nhất là Stuttgart.

Giữa những phong trào xuất thần có phái Mormon, còn được biết dưới danh xưng Latter Day Saints, do Joseph Smith (1805-1844) thành lập. Người Mormon cũng được biết đến qua những hiện tượng về khải tượng, mạc khải, "nói tiếng lạ," và chữa bệnh. Smith xưng rằng, ông nhận được khải tượng đến từ thiên sứ Moroni. Theo Smith, thiên sứ Moroni đã cho ông thấy những tấm bảng bằng vàng trên có viết chữ tại Mount Cumorah và ông đã nhận lãnh những bảng này vào năm 1827. Đối với những người Mormon, những chữ viết trên các tấm bảng vàng này có cùng một thẩm quyền như Thánh Kinh. Smith còn tuyên bố ông đã được phong chức tế lễ theo dòng A-rôn bởi Giăng Báp-tít. Về sau, ông tuyên bố rằng: các Sứ Đồ Phi-e-rơ, Gia-cơ, và Giăng đã phong chức tế lễ cho ông theo dòng Mên-chi-xê-đéc. Smith bị giết vào năm 1844.

Ngay cả vùng cực Bắc của Liên Xô cũ cũng có hiện tượng "nói tiếng lạ" trong một làng nhỏ tên là Kara Kala của dân tộc Armenian, vốn theo Chính Thống Giáo Nga. Vì bị giáo hội khủng bố, cho nên, vào năm 1900, những người Armenian "nói tiếng lạ" này lánh nạn sang Hoa Kỳ và định cư tại Los Angeles. Vài năm sau, nhóm này kết hợp với một nhóm "nói tiếng lạ" khác tại Azusa Street, Los Angeles.

Tại Hoa Kỳ, mặc dù hiện tượng "nói tiếng lạ" (không phải là một ngôn ngữ) đã xảy ra từ trước, nhưng đến năm 1901 mới thành phong trào dấy lên khi ân tứ “nói ngoại ngữ” phát sinh từ Trường Thánh Kinh Bethel ở Thủ Đô TopeKa của Tiểu Bang Kansas, do Charles Fox Parham (1873-1929) dẫn đầu. Parham xuất thân từ Giáo Phái Giám Lý (Methodist), là một người sốt sắng trong sự kêu gọi người theo Chúa phải sống thánh khiết. Ông phản đối lối tổ chức giáo quyền hàng dọc của Giám Lý, ly khai giáo hội này, tự lập ra một mục vụ riêng, độc lập với các giáo phái và thành lập Trường Thánh Kinh Bethel.

Vào đêm tất niên năm 1900, Parham đang giảng cho các sinh viên tại Trường Thánh Kinh Bethel, một nữ sinh viên tên là Agnes Ozman, đã dạn dĩ đứng lên yêu cầu ông đặt tay trên cô và cầu nguyện xin Chúa đổ Thánh Linh xuống trên cô. Parham đáp ứng lời yêu cầu này và lập tức Ozman bắt đầu nói tiếng Trung Hoa. Vài ngày sau, chính Parham cũng nói được một ngoại ngữ mà ông chưa hề biết. Rồi sau đó là các sinh viên khác. Ngày 1 tháng 1 năm 1901, ngày đầu tiên của thế kỷ 20, Parham thành lập Phong Trào Đức Tin Sứ Đồ (Apostolic Faith) và bắt đầu đi khắp nơi rao giảng về sự thánh khiết, sự chữa lành thiên thượng, sự chữa lành bởi đức tin, sự đặt tay cầu nguyện, sự thánh hóa bởi đức tin, và tuyên bố "speak in tongues" (nói ngoại ngữ) là dấu hiệu của sự được báp-tem bằng Thánh Linh và bằng lửa (?) [1]. Đến cuối năm 1901, hiện tượng "speak in tongues" trong Phong Trào Đức Tin Sứ Đồ được báo chí đưa tin, bàn thảo sôi nổi, xem như là dấu hiệu của Lễ Ngũ Tuần lần thứ hai. Điểm cần ghi nhớ: Đây là sự kiện các tín đồ bỗng nhiên nói thông thạo một ngoại ngữ, không phải là sự lấp ba lấp bấp một tràng âm thanh vô nghĩa như những người “nói tiếng lạ” ngày nay.

Năm 1905, Parham mở một Trường Thánh Kinh tại Houston, Texas và một người da đen tên là William Joseph Seymour được đào tạo tại đó. Trong suốt thời gian ở tại Houston, Seymour không biết "speak in tongues." Tháng 2 năm 1906, Seymour được mời giảng tại Los Angeles về đề tài "Phép Báp-tem Bằng Thánh Linh." Buổi giảng đầu của ông gây nên nhiều xáo trộn, là vì ông tuyên bố "speak in tongues" là dấu hiệu của sự đã được báp-tem bằng Thánh Linh, trong khi ông lại không biết "speak in tongues." Đến tháng 4 năm đó, một người nghe ông giảng tên là Edward Lee bỗng nhiên phát ra những tràng âm thanh vô nghĩa và sau đó vài ngày đến lượt Seymour. Họ xem như đó là ân tứ “speak in tongues” mặc dầu đó chỉ là những tràng âm thanh vô nghĩa.

Tháng 5 năm 1906, Seymour trở thành lãnh tụ của Phong Trào "Azusa Street Revival," một phong trào không phân biệt giáo phái, chủng tộc, hoặc giới tính. Thuở ấy, mỗi ngày từ 10 giờ sáng cho đến khoảng hai, ba giờ sáng hôm sau, vô số người từ các nơi kéo về tụ hội ca hát, la hét lớn tiếng, nhảy múa, co giật như bị động kinh, té xuống ngất đi, kêu khóc, tru, rống như thú vật, và "nói tiếng lạ." Các giới lãnh đạo tôn giáo vùng Los Angeles và những nơi khác lập tức lên tiếng phủ nhận hiện tượng đang xảy ra tại Black Holiness Church, 312 Azusa Street, Los Angeles. Họ không công nhận đó là công việc của Đức Thánh Linh, khuyến cáo các tín hữu của họ, rằng phong trào này chạy theo cảm xúc, thông linh, và có Sa-tan tính.

Vào tháng 10 năm 1906, khi Parham đến thăm Seymour và giảng tại Azusa Street, cũng đã sững sốt khi nhìn thấy các hiện tượng xảy ra tại đó. Theo Parham, những hiện tượng đó đến từ xác thịt, hoặc Ma Quỷ. Parham không công nhận phong trào "Azusa Street Revival." Parham đã phát biểu về phong trào này như sau: "God is sick at His stomach!" (Tạm dịch: Đức Chúa Trời đang buồn nôn!) Sau đó, Parham và Seymour đã chia tay nhau và không bao giờ kết hợp trở lại.

Tại đây, chúng ta cần chú ý đến chi tiết quan trọng này: Trong khi Parham và các sinh viên của ông được ơn nói lưu loát các ngoại ngữ mà trước đó họ không hề biết ,thì Seymour và những người theo ông chỉ phát ra những tràng âm thanh vô nghĩa, và có những biểu hiện cười, la, khóc, hú, vật vã thân hình không tự kiểm soát được như những người bị tà linh xâm nhập.

Phong trào "Azusa Street Revival" lắng xuống vào năm 1909 nhưng vẫn còn âm ỉ cho đến năm 1915. Từ phong trào này phát sinh ra nhiều giáo phái Ngũ Tuần khắp nơi trên thế giới. Người từ các nơi khác đến Los Angeles thăm viếng, khi trở về quê hương của họ đã mang theo các tín lý mới của Ngũ Tuần, gieo rắc trong cộng đồng của họ.

Phong Trào Ân Tứ (The Charismatic Movement)

Còn được gọi là Phong Trào Tân Ngũ Tuần (The Neo-Pentecostal Movement). Từ Phong Trào Ngũ Tuần phát sinh ra Phong Trào Ân Tứ. Phong Trào Ân Tứ nhấn mạnh đến các ân tứ của Đức Thánh Linh như: nói ngoại ngữ (nhưng đã bị hiểu lầm thành “nói tiếng lạ” – xin độc giả ghi nhớ, “nói tiếng lạ” tức là phát ra những âm thanh vô nghĩa), nói tiên tri, nói lời khôn ngoan, nói lời thông biết, chữa bệnh, đuổi quỷ, làm phép lạ… (I Cô-rinh-tô 12:8-10). Phong Trào Ân Tứ ảnh hưởng đến Hội Thánh mạnh mẽ hơn Phong Trào Ngũ Tuần. Ban đầu, Phong Trào Ân Tứ không chủ trương cho các thành viên tách rời khỏi các giáo hội, giáo phái như Phong Trào Ngũ Tuần, nhưng chủ trương cho các thành viên ở lại để Ân Tứ hóa toàn bộ giáo hội và giáo phái mà họ đang sinh hoạt với. Chỉ khi nào bị chính các giáo hội hay giáo phái khai trừ thì các thành viên của Phong Trào Ân Tứ mới đi ra lập thành nhóm khác. Về sau, với sự lớn mạnh của phong trào, các nhà lãnh đạo Ân Tứ muốn độc lập điều hành ngân quỹ do các thành viên đóng góp, cho nên, đã lập ra các giáo phái riêng.

Vào năm 1960, Dennis Bennett, linh mục của Saint Mark's Episcopal Church tại Van Nuys, California (thuộc Giáo Phái American Episcopal – Giám Nhiệm Hoa Kỳ) tuyên bố với hội chúng, rằng ông ta đã được báp-tem bằng Thánh Linh. Sau đó, Bennett dẫn thêm 100 tín hữu đến với kinh nghiệm nhận "báp-tem bằng Thánh Linh" và biết "nói tiếng lạ." Hiện tượng "nói tiếng lạ" bùng nổ tại Saint Mark's Episcopal Church khiến cho các tạp chí Times và Newsweek thời bấy giờ làm phóng sự đưa lên bìa báo (cover story). Giáo Phái Giám Nhiệm Hoa Kỳ không công nhận hiện tượng đó đến từ Đức Thánh Linh nên đã bãi nhiệm Bennett. Ông đến Vancouver, Canada thiết lập nhiều lớp huấn luyện, dạy về công vụ của Đức Thánh Linh, gây ảnh hưởng sâu đậm đến tín đồ Anh Giáo khắp nơi trên thế giới, và dẫn đến những cuộc gọi là "phục hưng" trong các hội chúng Giám Nhiệm, Anh Giáo, Lutheran, Công Giáo và Chính Thống Giáo. Đến tháng 10 năm 1962 Phong Trào Tân Ngũ Tuần xâm nhập vào các trường đại học tại Mỹ, sau đó lan vào trong các trường thần học. Chính Phong Trào Tân Ngũ Tuần đi vào Giáo Hội Công Giáo làm phát sinh ra Phong Trào Công Giáo Ân Tứ Phục Hưng. Tính đến năm 1990, phong trào này bao gồm trên 55 triệu tín đồ thuộc các giáo phái trong Giáo Hội Tin Lành.

Phong Trào Lời Đức Tin (Word of Faith Movement) được xem như sự nối dài của Phong Trào Ân Tứ. Ngoài những đặc điểm chung với Phong Trào Ân Tứ, Phong Trào Lời Đức Tin nhấn mạnh đến "quyền năng của đức tin." Những người thuộc phong trào này tin rằng họ có thể dùng lời nói để điều động "quyền năng của đức tin," và như vậy, họ có thể tạo ra những gì mà họ tin rằng Thánh Kinh đã hứa, như: sức khoẻ, sự giàu có… Theo họ, những định luật chi phối "quyền năng của đức tin" vận hành độc lập với ý chỉ siêu việt của Đức Chúa Trời và chính Đức Chúa Trời cũng bị chi phối bởi những định luật này (?) Ngoài ra, Phong Trào Lời Đức Tin còn đưa ra những tín lý như: Mỗi tín nhân là một Đức Chúa Trời Con vì Đức Chúa Trời dựng nên loài người cùng bản thể với Ngài. Tín đồ Đấng Christ phải được khoẻ mạnh và giàu có. Tín đồ Đấng Christ phải luôn có những lời tuyên xưng tích cực (positive confession). Vì Đức Chúa Trời đã dùng lời nói để sáng tạo nên tín nhân cũng có thể dùng những lời nói tích cực để thu đạt những kết quả tích cực. Đấng Christ chết phần thể xác, nhưng cũng chết phần tâm thần trong địa ngục, chịu Ma Quỷ hành hạ, và tâm thần của Ngài đã được tái sinh trong địa ngục…

Sáng lập viên và hiệu trưởng của trường Rhema Bible College tại Tulsa, Oklahoma, USA là Kenneth Hagin (1917-2003), được xem là bố già (Papa Hagin) của Phong Trào Lời Đức Tin. Những giáo sư nổi tiếng khác của phong trào này là: Benny Hinn, Bishop Eddie L. Long, Clarence McClendon, Creflo Dollar, Ed Young, Fred Price, Jesse Duplantis, John Bevere, Joel Osteen, Joyce Meyer, Juanita Bynum, Karl Strader, Kenneth Copeland, Kim Clement, Larry Huch, Marilyn Hickey, Markus Bishop, Mike Murdock, Morris Cerullo, Myles Munroe, Oral Roberts, Paul Crouch, Paula White, Peter Popoff, R.W. Shambach, Robert Schuller, Rod Parsley, Rodney Howard-Browne, Robert Tilton, Steve Munsey, T.D. Jakes…

Phong Trào Công Giáo Ân Tứ Phục Hưng (The Catholic Charismatic Renewal Movement)

Tháng 2 năm 1967, một số nhân viên và nhiều sinh viên của một trường đại học tư, Duquesne University, thuộc Giáo Hội Công Giáo tại Pittsburgh, Pennsylvania, USA trải qua một kinh nghiệm mà họ gọi là "được báp-tem bằng Thánh Linh." Những điều họ kinh nghiệm, là: "nói tiếng lạ," "thánh tiếu" (tiếng cười thánh – Holy laughter), xuất thần, khóc, la, gào, hú, tru như chó… không thể tự kềm chế. Liền sau đó, những hiện tượng này lan tràn sang một trường đại học tư khác, cũng thuộc Giáo Hội Công Giáo, University of Notre Dame, tại Indiana, USA. Notre Dame có nghĩa là "Đức Bà của chúng ta," (chỉ về bà Ma-ri). Đến năm 2003, Phong Trào Công Giáo Ân Tứ Phục Hưng lan rộng đến trên 230 quốc gia và bao gồm trên 119 triệu tín đồ Công Giáo.

Các Giáo Hoàng: Paul VI (nắm quyền: 1963-1978), John Paul II (nắm quyền: 1978-2005), và Benedict XVI (nắm quyền: 2005 – đến nay) đều chấp nhận Phong Trào Công Giáo Ân Tứ Phục Hưng. Giáo Hoàng John Paul II cho rằng, phong trào này thuộc vào sự phục hưng của toàn Giáo Hội Công Giáo. Giáo Hoàng Paul và Benedict khuyến cáo các thành viên của phong trào phải giữ gìn sự thông công giữa họ và Giáo Hội Công Giáo.

Tháng 3 năm 1992, Giáo Hoàng John Paul II đã phát biểu như sau: "Trong khoảnh khắc này của lịch sử giáo hội, sự Phục Hưng Ân Tứ có thể đóng một vai trò thiết yếu trong sự cổ vũ tính tự vệ rất cần thiết cho cuộc sống của người tín đồ Đấng Christ trong những xã hội mà thế tục và vật chất đã làm suy yếu khả năng đáp ứng Đức Thánh Linh và nhận thức tiếng gọi từ Đức Chúa Trời của nhiều người. Sự cống hiến của quý vị vào công cuộc tái phúc âm hóa xã hội sẽ được thực hiện trước hết qua lời chứng cá nhân về sự Đức Thánh Linh ngự trị bên trong và sự chiếu ra sự hiện diện của Ngài qua các công tác thánh khiết và hiệp một."

("At this moment in the Church's history, the Charismatic Renewal can play a significant role in promoting the much-needed defense of Christian life in societies where secularism and materialism have weakened many people's ability to respond to the Spirit and to discern God's loving call. Your contribution to the re-evangelization of society will be made in the first place by personal witness to the indwelling Spirit and by showing forth His presence through works of holiness and solidarity." – Address of Pope John Paul II to the ICCRO Council – March 14, 1992.)

Phần lớn người Công Giáo Ân Tứ tin rằng Phong Trào Công Giáo Ân Tứ Phục Hưng được phát sinh bởi lời cầu nguyện của Giáo Hoàng John XXIII trong Công Đồng Vatican II: "Lạy Đức Thánh Linh… xin tuôn tràn sự đầy dẫy các ân tứ của Ngài… Xin làm mới lại những sự lạ lùng của Ngài trong thời đại này như là một Lễ Ngũ Tuần mới." ("O Holy Spirit… pour forth the fullness of your gifts… Renew your wonders in this day as by a new Pentecost").

Điều đáng chú ý là Phong Trào Công Giáo Ân Tứ Phục Hưng không loại bỏ sự thờ lạy hình tượng của bà Ma-ri, sự lần chuỗi hạt Mân-côi, sự cầu nguyện với bà Ma-ri… cùng nhiều giáo lý phản Thánh Kinh khác của Giáo Hội Công Giáo. Nhiều nhóm Ân Tứ Công Giáo nhận được sự xuất thần và sự "nói tiếng lạ" trong khi kêu cầu bà Ma-ri (!)

Phong Trào Dấu Lạ (The Signs and Wonders Movement)

Phong Trào Dấu Lạ (The Signs and Wonders Movement) hoặc "Làn Sóng Thánh Linh Thứ Ba" (The Third Wave of the Holy Spirit) bắt đầu vào đầu thập niên 1980 và vẫn còn kéo dài cho đến ngày nay. Các phong trào như: Vineyard Christian Fellowship, Global Harvest, Toronto Blessing, Eternal Grace là biến dạng của Phong Trào Dấu Lạ. Những người thuộc Phong Trào Dấu Lạ không chấp nhận họ thuộc về Ngũ Tuần hoặc Ân Tứ.

Điểm khác biệt nổi bật của Phong Trào Dấu Lạ đối với Ân Tứ và Ngũ Tuần là Phong Trào Dấu Lạ có khuynh hướng không nhấn mạnh đến sự kiện "nói tiếng lạ" như là bằng chứng của một người đã được báp-tem bằng Thánh Linh. Nhiều nhà lãnh đạo trong phong trào này không hề có kinh nghiệm "nói tiếng lạ," trái lại, họ quan tâm đến khía cạnh dấu kỳ, phép lạ, các sự hiện thấy, sự nói tiên tri, cùng cái gọi là "lời nói thông biết" (the word of knowledge – được tận dụng trong chương trình truyền hình 700 Club của Pat Robertson trong sự tuyên bố các chi tiết về sự chữa lành xảy ra cho một số khán thính giả đang ngồi tại nhà riêng, xem chương trình 700 Club qua máy truyền hình). Phong Trào Dấu Lạ chấp nhận cả hai quan điểm về sự được báp-tem bằng Thánh Linh:

1. Một người được tái sinh và được báp-tem bằng Thánh Linh khi thật lòng ăn năn tội và tin nhận Đấng Christ, (quan điểm của Tin Lành truyền thống). Những người thuộc Giáo Phái Vineyard Christian Fellowship bảo vệ tích cực quan điểm này.

2. Một người được báp-tem bằng Thánh Linh nếu tìm cầu điều này sau khi tin nhận Chúa, (quan điểm của Ân Tứ và Ngũ Tuần). Báp-tem bằng Thánh Linh không liên quan đến sự cứu rỗi mà chỉ liên quan đến năng lực sống đạo và giảng đạo.

Peter Wagner (Global Havest Ministry) và John Wimber (Vineyard Christian Fellowship) được xem là những nhân vật tiên phong của Phong Trào Dấu Lạ. Vào năm 1977, Carol, vợ của Wimber, vốn xuất thân từ Công Giáo, nằm chiêm bao thấy mình được đầy dẫy Thánh Linh và khi bà thức dậy thì biết "nói tiếng lạ." Mười tháng sau, Wimber kinh nghiệm được một sự chữa lành trong chính thân thể của ông và bắt đầu tin rằng việc chữa bệnh, đuổi quỷ như Đức Chúa Jesus là khả thi. Nhờ quen biết với Peter Wagner, một giảng sư tại Fuller Theological Seminary School of World Missions mà Wimber được mời cùng dạy lớp "Dấu Lạ" (Signs and Wonders) tại Fuller Seminary với Wagner. Lớp học này dạy về sự chữa lành thiên thượng và trở thành lớp học nổi tiếng nhất tại Fuller cho đến khi bị đình chỉ vào năm 1985, vì các viên chức trong trường có những thắc mắc về tính thần học và kinh viện của môn học.

Bên cạnh hiện tượng "bị giết trong Thánh Linh" như trong các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần, có ba hiện tượng nổi bật trong Phong Trào Dấu Lạ được cho là sự thể hiện của Đức Thánh Linh, là: Tiếng Cười Thánh (The Holy Laughter – sự vui mừng khi được đầy dẫy Thánh Linh khiến một người trở thành "say Thánh Linh," không kềm hãm được tiếng cười biểu lộ niềm vui), Tiếng Gầm Tiên Tri (The Prophetic Roar – tiếng rống lớn phát ra từ cổ họng của những người được đầy dẫy Thánh Linh, được cho là dấu hiệu Đức Chúa Trời thông báo sự kiện Ngài bắt đầu chiếm lại quyền tể trị thế giới này từ Satan), và Âm Thanh Của Thú Vật (The Animal Noises – sự tru, hú, gầm gừ như các loài thú, kể cả cục tác như gà, rống như heo, và tru như chó… chưa được những người Ân Tứ định nghĩa) [2]. Gần đây, Wimber đã yêu cầu các hội chúng thuộc giáo phái Vineyard Christian Fellowship do ông sáng lập ngưng chấp nhận hiện tượng Tiếng Cười Thánh.

Các Phong Trào Ân Tứ và Ngũ Tuần trong Hội Thánh Việt Nam

Tin Lành đến Việt Nam vào năm 1911 do các giáo sĩ của Hội Truyền Giáo Phúc Âm Liên Hiệp. Vào giữa thập niên 1960, các Giáo Phái Ngũ Tuần, và Giáo Phái Anh Em (Quaker) đem theo hiện tượng "nói tiếng lạ," theo chân những người lính viễn chinh Hoa Kỳ đến Việt Nam, và tạo ra vài nhóm nhỏ tại Saigon nhưng không gây ảnh hưởng nhiều đến Hội Thánh Việt Nam. Phong Trào Ân Tứ đến Việt Nam vào cuối thập niên 1960 và bắt đầu trong Giáo Hội Công Giáo trước, qua Phong Trào Công Giáo Về Nguồn (do những người Công Giáo chủ trương quay lại với lời Chúa, là Thánh Kinh, khởi xướng). Chính hiện tượng "nói tiếng lạ" trong Phong Trào Công Giáo Về Nguồn gây nhiều chú ý đến các mục sư và tín đồ thuộc Hội Thánh Tin Lành Việt Nam. Có một số sinh viên Tin Lành đã tham dự sinh hoạt với Phong Trào Công Giáo Về Nguồn và nhận được sự "nói tiếng lạ." Nhiều sinh viên Tin Lành khác bắt đầu nghiên cứu về các Giáo Phái Ngũ Tuần. Điều đáng nói là thuở ấy tài liệu biện giáo thì ít, hầu như là không có, trong khi các tài liệu cổ võ về Phong Trào Ngũ Tuần thì tràn ngập, cho nên, các sinh viên chỉ học biết một chiều về những điểm tích cực của Ngũ Tuần. Hội Thánh Việt Nam, vào thời đoạn đó, phần lớn là tín đồ thuộc Giáo Phái Phúc Âm Liên Hiệp (với danh xưng chính thức là: Hội Thánh Tin Lành Việt Nam) đã tích cực chống đối các hiện tượng “đặt tay té ngã” và "nói tiếng lạ." Ít lâu sau, một vài mục sư và tín đồ thuộc Hội Thánh Tin Lành Việt Nam nhận được sự "nói tiếng lạ" trong khi nhóm họp với các nhóm Công Giáo Về Nguồn, hoặc trong khi nhóm họp với các nhóm Anh Em (Quaker). Sau đó, một vài mục sư đã ly khai Hội Thánh Tin Lành Việt Nam, sáng lập các giáo phái Ngũ Tuần Việt Nam.

Năm 1972, tại Việt Nam có sự phục hưng phát sinh từ Thánh Kinh Thần Học Viện tại Nha Trang. Trong cuộc phục hưng đó, không có sự kiện té ngã, không có sự kiện "nói tiếng lạ" nhưng có sự tan vỡ cõi lòng, khóc lóc, ăn năn, xưng tội tập thể, đốt bỏ bùa chú, hình tượng, mọi người làm hòa với nhau, có sự chữa lành bệnh tật tức thì (không phải lành bệnh từ từ), có sự đuổi quỷ, có sự người chết được sống lại… nghĩa là có đầy đủ dấu hiệu Hội Thánh được đầy dẫy Thánh Linh như đã được ghi chép trong Thánh Kinh. (Xin xem "Phép Lạ Rừng Xanh," Bà Phạm Văn Năm; "Việc của Đức Giê-hô-va," Pastor Trương Văn Tốt; "Công Cuộc Truyền Giáo Tin Lành," Pastor Phạm Xuân Tín). Trước khi Hội Thánh Việt Nam bị Phong Trào Ân Tứ xâm nhập và bị cường quyền đàn áp thì Đức Chúa Trời đã thương xót, cho Hội Thánh được nếm trải sự tuôn tràn Thánh Linh, để dựa vào đó mà phân biệt với hiện tượng “nói tiếng lạ” đến từ tà linh.

Sau năm 1975, Phong Trào Ân Tứ bắt đầu lan tràn khắp Miền Nam Việt Nam trong các nhóm Tư Gia, (những nhóm nhỏ nhóm họp thờ phượng Chúa tại nhà riêng để tránh sự đàn áp của chính quyền), và phát triển mạnh mẽ vào cuối thập niên 1990 nhờ các tài liệu về Ân Tứ được dịch ra Việt Ngữ và phổ biến trong các nhóm Tư Gia; đồng thời, có nhiều giáo sĩ Ân Tứ người Việt cũng như người ngoại quốc, từ nước ngoài âm thầm xâm nhập Việt Nam qua hình thức thăm quê hương và du lịch để quảng bá cho Phong Trào Ân Tứ. Trong giai đoạn đó, Hội Thánh Tin Lành Việt Nam một mặt buộc phải hòa hoãn với chính quyền mới để được công nhận tư cách pháp nhân, một mặt các mục sư bị cán bộ và công an tôn giáo theo dõi chặt chẽ, cho nên, sinh hoạt của Hội Thánh dần dần bị giảm thiểu và khô cạn. Trong hoàn cảnh đó, những sứ giả của Ân Tứ và Ngũ Tuần càng nổ lực phát triển mô hình nhóm nhỏ, nhóm tại tư gia và tích cực trong công tác truyền giáo. Có thể nói, số người tuyên xưng đức tin trong Đấng Christ thuộc các Hội Thánh Tư Gia phần lớn là tín đồ mới chứ không phải tín đồ từ Hội Thánh Tin Lành Việt Nam chuyển sang.

Đến cuối thập niên 1990, với sự tiếp sức của các giáo phái Ân Tứ và Ngũ Tuần Nam Hàn, với áp lực của các doanh nhân Nam Hàn trên chính quy

Đọc Tiếp →

Trả Lời Một Số Lý Luận Bảo Vệ Việc Nói Tiếng Lạ

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?mvvinfzpx1twynd

Huỳnh Christian Timothy

Nội Dung Các Lý Luận

Saigon 08.12.2012

Hôm nay, em có gặp một người con cái Chúa, anh này có những đặc điểm là rất giống anh, ở chỗ anh ta không sinh hoạt ở bất kỳ giáo phái nào. Mà chỉ thờ phượng và giảng dạy lời Chúa theo Thánh Kinh, trung thành theo Thánh Kinh và anh cũng bỏ hết việc thế gian mà hầu việc Chúa cách nhiệt thành.

Em có đề cập đến vấn đề nói tiếng lạ ngày nay và ân tứ nói ngoại ngữ đến từ Chúa Thánh Linh. Sau đây là quan điểm hay cách hiểu của anh ấy về vấn đề này. Anh ấy chia sẻ rằng anh ấy là người chống lại vấn đề nói tiếng lạ được trên 20 năm, cho đến khi anh ấy trong một buổi cầu nguyện một mình, đau đớn khi cầu thay cho người bạn tội lỗi, mà nỗi đau đó không diễn tả đầy đủ được, thì đột nhiên âm thanh cầu nguyện của anh không còn là tiếng Việt nữa mà thật sự là bằng tiếng lạ. Sau đó, anh tha thiết xin Chúa Thánh Linh bày tỏ cho anh lẽ thật về vấn đề gây tranh cãi này. Chúa bày tỏ và sau đây là cách anh ấy diễn đạt lại với em. Trước khi đi vào nội dung chính thì anh ấy có nêu một số ý như sau:

  • Ma quỷ luôn gieo sự sợ hãi và nghi ngờ cho những người vận dụng ân tứ : Ví dụ “coi chừng cái này đến từ ma quỷ chứ không phải từ Thánh Linh để vô hiệu hóa hay ngăn cản việc sử dụng ân tứ do Chúa ban cho.”
  • Ma quỷ cũng tạo ra những tranh luận giữa vòng những người có ân tứ để lãng phí thời gian và làm suy yếu đi khả năng liên kết trên đất này của những người con cái Chúa.
  • Satan từng là tổng quản về ngợi khen và thờ phượng trên thiên đàng nên hiểu rất rõ về ân tứ.
  • Ân tứ thay vì là một tiền tố để Cơ Đốc Nhân phối hợp mạnh mẽ thì nay lại là nhân tố gây chia rẻ bậc nhất trong vòng Hội Thánh. Giống như một vị vua cha có 10 hoàng tử, và vua dạy cho mỗi người một thế võ, nhưng bài võ chỉ trọn vẹn khi 10 hoàng tử này biết phối hợp lại với nhau. (Chúa Thánh Linh ban cho ân tứ cho ai là tùy ý Ngài).

Trường hợp 1:Công vụ đoạn 2: Đây là tiếng lạ được hiểu như một ngoại ngữ xác định được với mục đích truyền giảng Tin Lành cho dân tộc khác. Đây phải dịch là tiếng ngoại quốc mới đúng.

Trường hợp 2:là trường hợp bị quở trách của Hội Thánh Cô-rinh-tô: là trường hợp giữa những người được ơn nói với hội chúng đã tin thì bắt buộc phải có sự thông giải. Trường hợp này có thể là tiếng ngoại quốc nhưng cũng có thể là tiếng lạ (tràng âm thanh không hiểu được).

Trường hợp 3:là trường hợp chắc chắn không phải là tiếng của loài người hay dân tộc ngoại quốc, tại sao lại có sự giải thích này là bởi vì: Đây là ngôn ngữ hoàn toàn riêng biệt để tương giao với Chúa trong thế giới linh. Loại tiếng này dùng để gây dựng chính phần linh của cá nhân nói tiếng đó, là một sự bày tỏ “kín nhiệm.”

Phao-lô vừa là người được ân tứ nói nhiều thứ ngoại ngữ và cũng là người được ân tứ nói nhiều “thứ tiếng lạ” này (âm thanh không hiểu được). Ông có sự tương giao với Chúa rất đặc biệt, bằng cớ là Phao-lô không trực tiếp dự Tiệc Thánh lúc Chúa Jesus lập ra, nhưng ông nhận được điều này từ Chúa về nghi thức Tiệc Thánh và viết ra để dạy trong thư Cô-rinh-tô. Ngày hôm nay, những lúc dự Tiệc Thánh thì Hội Thánh luôn đọc đoạn Kinh Thánh do Phao-lô viết dạy dỗ về nghi thức này.( I Cor 11 – Vả, tôi có nhận nơi Chúa…). Ông không hề dự Tiệc Thánh vào lúc Chúa Jesus lập, nhưng ông lại nói là ông nhận nơi Chúa vì ông có sự tương giao đặc biệt bằng linh với Thánh Linh (Nhận trong nơi kín nhiệm khi ông tương giao với Chúa). Vì ông là người nói tiếng lạ nhiều nhất nên ông cũng là người viết Tân Ước nhiều nhất sau khi Chúa Jesus thăng thiên.

Ông cũng nhắc nhở là “cầu nguyện bằng tâm linh nhưng cũng cầu nguyện bằng tâm trí nữa.”

Mục đích ông viết thư Cô-rinh-tô là để Hội Thánh được tổ chức tốt hơn, đặc biệt là trong lĩnh vực sử dụng ân tứ. Ông sắp xếp lại và hướng dẫn Hội Thánh cách vận hành ân tứ.

Tiếng lạ dùng để truyền giảng thì được hiểu là ngoại ngữ (speak other tongues), tiếng lạ dùng để gây dựng chính mình thì được hiểu là cơ quan phát âm (speak a tongue), mà loại âm thanh này không nhất thiết là loại ngôn ngữ thông thường của loài người. Ví dụ:

  • Đứa bé còn bú mẹ, khi nó “nói chuyện” với mẹ nó để xin bú thì nó sẽ không nói là “con muốn bú” mà nó chỉ có thể nói là “măm măm.” Đương nhiên, chữ “măm măm” này không phải là ngôn ngữ thông thường để diễn đạt “con muốn bú.” Việc tương giao với Cha Thiên Thượng cũng thế, có những điều “không nói bằng lời” được khi tâm linh được lớn lên. Nếu một người chưa nên thánh mà “báp tem Thánh Linh” sẽ bị hỏng chân, lúc đó thay vì được đầy dẫy Thánh Linh thì tà linh nhảy vào tương tác. Cho nên, anh ta đồng ý với anh rằng đầy dẫy Thánh Linh là phụ thuộc vào sự nên thánh khi sống đạo chứ không phải đặt tay cầu nguyện để đầy dẫy theo kiểu sai trật của các phong trào hiện nay.
  • Mối quan hệ của những cặp vợ chồng khắng khít, khi họ “gần gủi” nhau thì họ không nói những ngôn ngữ bình thường nhưng là “những âm thanh vô nghĩa” nhưng họ vẫn hiểu nhau. So sánh này hơi bình dân, nhưng dễ hiểu. Khi một con người thánh khiết, khao khát tương giao với Đức Chúa Trời thì Thánh Linh sẽ dẫn dắt để cầu nguyện tương giao với Đức Chúa Trời mà không nhất thiết âm thanh phát ra là loại ngôn ngữ thông thường, nó vẫn có khả năng là một tràng âm thanh vô nghĩa.

Anh ta cũng đồng ý trường hợp tiếng mới của Mác 16:17 Chúa Jesus dạy là ngoại lệ.

Tất cả các phân đoạn Kinh Thánh có nhắc đến vấn đề tiếng lạ ở nhiều ngữ cảnh khác nhau đều nên đổi lại cách dịch là tiếng ngoại quốc cho rõ nghĩa, ngoại trừ I Cor 14:2, 4, 14, 15, 18, 19, 23.

Kết luận:

  • Ân tứ nói ngoại ngữ được vận hành khi Chúa Thánh Linh cần ấn chứng hoặc giảng giải cách rõ ràng bằng một ngôn ngữ ngoại quốc được chuyển sang ngôn ngữ của những người nghe có thể hiểu được một cách siêu nhiên.
  • Ân tứ nói tiếng lạ (âm thanh không hiểu được) chỉ được ban cho những người có nếp sống đạo thánh khiết, khao khát tương giao với Chúa, dành nhiều thời gian cầu nguyện cho Chúa mỗi ngày, khao khát tương giao với Chúa, gầy dựng chính mình.
  • Thực trạng Satan lợi dụng “tiếng lạ” để xâm nhập vào Hội Thánh gây rối là có thật nhưng đó không phải là kết luận để nhận định một tràng âm thanh không hiểu được lúc nào cũng do tà linh gây ra.
  • Thực tế, con cái chân thật của Chúa, khao khát tương giao với Chúa, cầu xin Thánh Linh ban cho “cơ quan phát âm” của họ phát lên những âm thanh ngợi khen thờ phượng thì họ vẫn nhận lãnh. Vì “các ngươi là xấu xa còn biết cho con bánh, huống chi Cha lại không ban Thánh Linh cho những người cầu xin sao…” Vì những người khao khát, họ có tâm tình cầu nguyện nóng cháy với Chúa nên Chúa sẽ không cho phép tà linh nào nhảy vào áp chế khi con cái Chúa khao khát tương giao với Ngài. Điều này có thể nhận thấy những người “tự gầy dựng chính mình” bằng cách cầu nguyện tiếng lạ thì đều nhận được sự bình an chứ không phải bất an. (Điều này thì em có trải nghiệm trước đây).
  • Việc tà linh dùng tiếng lạ để gây rối hoàn toàn có thật, nhưng những âm thanh vô nghĩa lúc tương giao trong mối quan hệ ngọt ngào với Đức Chúa Cha cũng có thật, việc tương giao này được điều khiển bởi phần linh chứ không bị hạn chế bởi phần hồn (tâm trí có ý thức).

Nhận định của em:

  • Cảm giác bình an khi cầu nguyện một mình với Chúa bằng tiếng lạ là trải nghiệm có thật của em.
  • Em không tin rằng tại đa số Hội Thánh đang nói tiếng lạ là loại tiếng lạ được ban để tương giao, là “ tiếng thở than không nói nên lời.” mà chủ yếu họ dùng nhân linh của họ để “ra vẻ” spiritual hoặc rất nhiều trường hợp bị linh lừa dối.
  • Vì theo em nghĩ, một người phải thực sự nên thánh, không phạm tội, ao ước tương giao với Chúa nhưng ngôn ngữ không đủ diễn đạt thì trạng thái tiếng lạ tương giao đó vẫn có thể được ban cho. Ngay cả đối với người bình thường của mình, khi giao tiếp với nhau cũng đôi khi “nói” hay “ kêu” những âm thanh vô nghĩa.
  • Em hiểu liên quan đến vấn đề thờ phượng, đôi khi chúng ta “uu aa ơơ lala huhu hòhơ” đều không có nghĩa nhưng tâm thần chúng ta đang hướng về Chúa thì tà linh cũng không được phép bén mảng tới gần, và nó cũng có thể hiểu là âm thanh của sự thờ phượng, tương giao hay thở than, hoặc khi không thể diễn đạt đầy đủ.
  • Những âm thanh “uu aa ơơ lala huhu hòhơ” ở một cường độ, độ dài nhất định thì sẽ đến lúc nhận được sự thông giải sang ngôn ngữ loài người một cách rõ nghĩa hơn.
  • Đức Chúa Cha tìm kiếm những người thờ phượng bằng “tâm thần” thật sự để tương giao với Ngài.

Anh giúp em xem nội dung em vừa trình bày như thế nào nhé, vì đây là sự hiểu biết vẫn theo em trong mấy ngày qua, vì thực tế kể cả thời gian gần đây, đôi lúc em rất đau đớn khi cầu nguyện cho vấn đề hôn nhân của em, em dâng những tổn thương mà mối quan hệ này gây ra, đôi lúc nó quá đau đớn khi nói đến những chi tiết đó, thì lúc đó em lại diễn đạt bằng “tiếng lạ” để dâng lên cho Chúa, trạng thái thực sự tan vỡ. Sau đó, thì em lại rất bình an. Tuy nhiên, không chỉ lúc đau khổ mới dùng tiếng lạ cầu nguyện, ngay cả khi mừng vui cũng có thể phát lên những âm thanh vô nghĩa.

Nhưng cũng có khi sự cầu nguyện chưa sâu, mà em lại cố dùng “nhân linh” để phát ra tiếng lạ thì chắc chắn nó không đến từ Thánh Linh mà nó chỉ là sự gượng ép của cá nhân em mà thôi. Em tin rằng, Hội Thánh ngày nay có rất nhiều trường hợp như vậy.

 

Các Câu Trả Lời của Huỳnh Christian Timothy

 

Nguyên tắc đầu tiên mà chúng ta cần triệt để vâng theo, đó là: Bất cứ lý luận hay giáo lý nào không có Thánh Kinh hổ trợ thì nó đến từ Sa-tan. Thánh Kinh dạy: "Bất cứ việc gì tựa như điều ác, thì phải tránh đi" (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:22). Chứng cớ bảo vệ cho nguyên tắc nói trên là: Tất cả những lý luận hay giáo lý không có trong Thánh Kinh hổ trợ đó, nếu chúng ta không tin và không thực hành thì không thiệt hại gì cho nếp sống Đạo của chúng ta.

Nguyên tắc thứ hai là chúng ta xét người theo theo sự giảng dạy và làm theo Lời Chúa của người ấy. Một người giảng và thực hành bất cứ một giáo lý nào không có trong Thánh Kinh thì dù cho người đó có "đạo đức" như Phật Thích Ca, bỏ hết mọi sự để đi giảng đạo, thì người đó vẫn đang bị tà linh điều khiển.

Vợ chồng tôi từng bị tà linh áp chế phải cầu nguyện bằng tiếng lạ trong khi chúng tôi đang cầu nguyện đuổi quỷ, nhưng chúng tôi đã nhân danh Chúa để xua đuổi quyền lực khiến chúng tôi nói tiếng lạ ấy, nên nó không bắt phục được chúng tôi. Người bạn của anh thiếu hiểu biết nên đã bị tà linh khống chế.

Dưới đây (trong email của anh) là ý kiến của tôi và những điểm không đúng Thánh Kinh do người bạn của anh nêu ra. Tôi dùng chữ màu đỏ.

Hôm nay, em có gặp một người con cái Chúa, anh này có những đặc điểm là rất giống anh, ở chỗ anh ta không sinh hoạt ở bất kỳ giáo phái nào. Mà chỉ thờ phượng và giảng dạy lời Chúa theo Thánh Kinh, trung thành theo Thánh Kinh và anh cũng bỏ hết việc thế gian mà hầu việc Chúa cách nhiệt thành.

Em có đề cập đến vấn đề nói tiếng lạ ngày nay và ân tứ nói ngoại ngữ đến từ Chúa Thánh Linh. Sau đây là quan điểm hay cách hiểu của anh ấy về vấn đề này. Anh ấy chia sẻ rằng anh ấy là người chống lại vấn đề nói tiếng lạ được trên 20 năm, cho đến khi anh ấy trong một buổi cầu nguyện một mình, đau đớn khi cầu thay cho người bạn tội lỗi, mà nỗi đau đó không diễn tả đầy đủ được, thì đột nhiên âm thanh cầu nguyện của anh không còn là tiếng Việt nữa mà thật sự là bằng tiếng lạ.

Nội dung của ơn nói ngoại ngữ là để tôn vinh Thiên Chúa (Công Vụ Các Sứ Đồ 10:46) không phải để cầu thay cho nhau. Sứ Đồ Phao-lô nhắc nhở con dân Chúa cầu thay cho nhau và cầu thay cho ông rất nhiều nhưng không bao giờ ông bảo họ cầu thay bằng ân tứ nói ngoại ngữ. Mục đích của ơn nói ngoại ngữ là để tự gây dựng lấy mình (nhất là khi chưa có Thánh Kinh Tân Ước) không phải để cầu thay cho người khác (I Cô-rinh-tô 12:4). Thánh Kinh dạy rõ: Khi chúng ta có những nỗi niềm không thể thốt nên lời thì chính Đức Thánh Linh lấy những sự thở than không thể nói ra được mà cầu khẩn thay cho chúng ta: "Cũng một lẽ ấy, Đấng Thần Linh giúp cho sự yếu đuối chúng ta. Vì chúng ta chẳng biết sự mình phải xin đặng cầu nguyện cho xứng đáng; nhưng chính Đấng Thần Linh lấy sự thở than không thể nói ra được mà cầu khẩn thay cho chúng ta. Đấng dò xét lòng người hiểu biết ý tưởng của Đấng Thần Linh là thể nào, vì ấy là theo ý Thiên Chúa mà Ngài cầu thế cho các thánh đồ vậy" (Rô-ma 8:26-27).

Sự kiện người bạn của anh đang tha thiết cầu thay cho một người bạn có tội mà bỗng nhiên phát ra các âm thanh lạ, có thể do một trong hai nguyên nhân sau:

  1. Tương tự như lúc vợ chồng chúng tôi đang cầu nguyện đuổi quỷ thì tà linh thúc giục chúng tôi phát ra những âm thanh vô nghĩa theo kiểu nói tiếng lạ của những người Ân Tứ Ngũ Tuần, người bạn của anh có thể bị tấn công cùng một cách như vậy, nhưng anh ta đã không nắm vững lẽ thật của Chúa để chống trả nên bị mắc vào mưu kế của Sa-tan. Thánh Kinh dạy chúng ta phải lấy lẽ thật làm dây nịt lưng, dùng gươm của Thánh Linh là Lời Chúa để chống trả Ma Quỷ thì chúng ta mới thắng được mưu kế của nó (Ê-phê-sô 6:14-17). Chúng ta không thua sức Sa-tan vì Đấng ở trong chúng ta lớn hơn Sa-tan (I Giăng 4:4), nhưng nếu chúng ta không nắm vững Lời Chúa thì chúng ta sẽ thua mưu kế nó: “Hãy mang lấy mọi khí giới của Đức Chúa Trời, để được đứng vững mà địch cùng mưu kế của Ma Quỷ” (Ê-phê-sô 6:11).
  2. Có thể chính anh ta đang có một tội lỗi thầm kín nào đó, chưa chịu từ bỏ, mà lại cầu thay cho người khác, cho nên, tà linh có thể xâm nhập anh ta.

Sau đó, anh tha thiết xin Chúa Thánh Linh bày tỏ cho anh lẽ thật về vấn đề gây tranh cãi này. Chúa bày tỏ và sau đây là cách anh ấy diễn đạt lại với em. Trước khi đi vào nội dung chính thì anh ấy có nêu một số ý như sau:

Một khi đã để cho tà linh xâm nhập, xem trọng kinh nghiệm và cảm xúc xác thịt hơn lẽ thật của Lời Chúa, thì tà linh sẽ điều khiển và giả làm Chúa Thánh Linh để tiếp tục dẫn dắt người bị nó bắt phục đi sâu vào con đường sai lạc.

  • Ma quỷ luôn gieo sự sợ hãi và nghi ngờ cho những người vận dụng ân tứ : Ví dụ “coi chừng cái này đến từ ma quỷ chứ không phải từ Thánh Linh để vô hiệu hóa hay ngăn cản việc sử dụng ân tứ do Chúa ban cho.”

Câu này sai. Phải nói rằng: Đức Thánh Linh luôn cảnh cáo những người thật lòng tìm kiếm lẽ thật, rằng hiện tượng nói tiếng lạ là đến từ Ma Quỷ. Còn những người chạy theo dấu kỳ phép lạ hơn là lẽ thật của Lời Chúa thì Ma Quỷ đưa ra những lý lẽ bẻ cong Lời Chúa để giúp họ bảo vệ cho sự nói tiếng lạ của họ.

  • Ma quỷ cũng tạo ra những tranh luận giữa vòng những người có ân tứ để lãng phí thời gian và làm suy yếu đi khả năng liên kết trên đất này của những người con cái Chúa.

Câu này sai. Phải nói rằng: Đức Thánh Linh luôn vận hành giữa những người nói tiếng lạ, cáo trách họ, đưa họ đến với những tôi tớ chân thật của Đức Chúa Trời, là những người rao giảng chân thật về Lời Chúa, chỉ ra sự sai trái của hiện tượng nói tiếng lạ, để thức tỉnh những ai thật lòng tìm kiếm lẽ thật của Lời Chúa nhưng đang sa vào mưu kế của tà linh nói tiếng lạ. Đó là cách mà Đức Chúa Trời giải cứu và dạy dỗ những con chiên chân thật của Ngài nhưng còn non yếu về thuộc linh.

  • Satan từng là tổng quản về ngợi khen và thờ phượng trên thiên đàng nên hiểu rất rõ về ân tứ.

Câu này sai. Sa-tan thật có quyền phép của một thiên sứ trưởng nhưng Sa-tan không biết gì về các ân tứ Chúa ban cho Hội Thánh, bởi vì, Hội Thánh là một huyền nhiệm được giấu kín trong Đức Chúa Trời từ thời thượng cổ. Chỉ đến khi Đấng Christ phục sinh, Hội Thánh được thành lập, Sa-tan mới ý thức được sự mầu nhiệm về Hội Thánh và Sa-tan cũng phải học về Hội Thánh và các ân tứ Chúa ban cho Hội Thánh (qua sự rao giảng của các tôi tớ Chúa bởi quyền năng của Đức Thánh Linh) như chúng ta.

Ê-phê-sô 3:9 “và soi sáng cho mọi người biết sự phân phát lẽ mầu nhiệm, từ đời thượng cổ đã giấu kín trong Đức Chúa Trời là Đấng dựng nên muôn vật.”

Ê-phê-sô 5:32 “Sự mầu nhiệm ấy là lớn, tôi nói về Đấng Christ và Hội Thánh vậy.”

Dầu vậy, Sa-tan cũng không thể nào “hiểu rất rõ” về các ân tứ. Bởi vì, Sa-tan không hề nhận lãnh Thánh Linh từ Đức Chúa Trời để hiểu được các ân tứ mà Hội Thánh đã nhận lãnh. Thánh Kinh cho biết, phải dùng sự khôn ngoan do Đức Thánh Linh dạy thì mới có thể hiểu biết được các ân tứ của Ngài. Thật là vô lý nếu cho rằng sau khi Hội Thánh được thành lập và được ban cho các ân tứ của Đức Thánh Linh thì Đức Thánh Linh lại giảng dạy cho Sa-tan hiểu biết về các ân tứ mà Ngài đã ban cho Hội Thánh. “Về phần chúng ta, chúng ta chẳng nhận lấy thần thế gian, nhưng đã nhận lấy Thần từ Đức Chúa Trời đến, hầu cho được hiểu biết những ơn mà chúng ta nhận lãnh bởi Đức Chúa Trời; chúng ta nói về ơn đó, không cậy lời nói mà sự khôn ngoan của loài người đã dạy đâu, song cậy sự khôn ngoan mà Thánh Linh đã dạy, dùng tiếng thiêng liêng để giải bày sự thiêng liêng.” (I Cô-rinh-tô 2:12-13).

  • Ân tứ thay vì là một tiền tố để Cơ Đốc Nhân phối hợp mạnh mẽ thì nay lại là nhân tố gây chia rẻ bậc nhất trong vòng Hội Thánh. Giống như một vị vua cha có 10 hoàng tử, và vua dạy cho mỗi người một thế võ, nhưng bài võ chỉ trọn vẹn khi 10 hoàng tử này biết phối hợp lại với nhau. (Chúa Thánh Linh ban cho ân tứ cho ai là tùy ý Ngài).

Sự so sánh này khập khểnh. Trong khi mười người con phải tổng hợp 10 thế võ để môn võ được nên trọn vẹn thì mỗi một ân tứ của Đức Thánh Linh là một ơn ban toàn vẹn, không một ơn nào dựa trên một ơn nào. Mỗi ơn có mục đích và công dụng riêng, cho mỗi hoàn cảnh, trường hợp. Các ân tứ của Chúa vẫn hiện diện trong Hội Thánh ngày nay, kể cả ân tứ nói ngoại ngữ và thông giải ngoại ngữ (tôi là một trong những người được ơn thông giải ngoại ngữ); nhưng sự kiện nói tiếng lạ không phải là một trong các ân tứ của Đức Thánh Linh và hoàn toàn phản Thánh Kinh. Đó chỉ là một hình thức đọc thần chú của các ngoại giáo mà trong khoảng 100 năm qua, Sa-tan đã dấy lên để tấn công vào trong Hội Thánh Chúa trong những ngày cuối cùng này, dẫn đến sự bội Đạo lớn làm tiền đề cho sự Chúa trở lại: "Luận về sự đến của Đức Chúa Jesus Christ chúng ta, và về sự chúng ta hội hiệp cùng Ngài, thì, hỡi anh em, xin chớ vội bối rối và kinh hoàng hoặc bởi thần cảm giả mạo, hoặc bởi lời nói hay là bởi bức thơ nào tựa như chúng tôi đã gởi mà nói rằng ngày Chúa gần đến. Mặc ai dùng cách nào, cũng đừng để họ lừa dối mình. Vì phải có sự bỏ đạo đến trước, và có người tội ác, con của sự hư mất hiện ra" (II Tê-sa-lô-ni-ca 2:1-3).

Trong suốt lịch sử của Hội Thánh Chúa gần hai ngàn năm qua, chưa bao giờ sự bội đạo thể hiện đều khắp và rộng lớn cho bằng qua phong trào nói tiếng lạ và đặt tay té ngã. Cá nhân tôi xem sự tổng hợp của phong trào nói tiếng lạ, đặt tay té ngã cùng với phong trào chấp nhận đồng tính luyến ái trong Hội Thánh là sự bội Đạo lớn, làm dấu hiệu cho sự Chúa trở lại để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian.

Trường hợp 1: Công vụ đoạn 2: Đây là tiếng lạ được hiểu như một ngoại ngữ xác định được với mục đích truyền giảng Tin Lành cho dân tộc khác. Đây phải dịch là tiếng ngoại quốc mới đúng.

Câu này sai. Đây không phải là tiếng lạ, Thánh Kinh không bao giờ dùng từ ngữ "tiếng lạ," mà đây là các ngôn ngữ. Công Vụ Các Sứ Đồ 2 liệt kê ra ngôn ngữ của 15 dân tộc khác nhau và nhiều lần dùng các từ ngữ sau đây để chỉ định các ngôn ngữ mà Đức Thánh Linh đã ban cho các môn đồ nói ra: “các thứ tiếng khác,” “tiếng xứ mình,” “tiếng riêng của xứ chúng ta sanh đẻ,” “tiếng chúng ta” và nội dung của sự nói đó là “nói những sự cao trọng của Đức Chúa Trời!” (Công Vụ Các Sứ Đồ 2:4, 6, 8, 11).

Mục đích của sự các môn đồ Chúa được ban ơn nói các ngôn ngữ khác nhau của loài người là để chứng minh năng lực của Đức Thánh Linh bắt đầu vận hành trong Hội Thánh của Đức Chúa Trời để Tin Lành sẽ được Hội Thánh giảng ra cho mọi dân tộc, bằng mọi tiếng nói của loài người, báo hiệu thời điểm kết thúc lịch sử tội lỗi của nhân loại.

Trong trường hợp của gia đình Cọt-nây (Công Vụ Các Sứ Đồ 10:46) là để cho các tín đồ người Do-thái biết Đức Chúa Trời tiếp nhận dân ngoại vào trong Hội Thánh và báp-tem Thánh Linh cho họ như là dân Do-thái. Trước khi Đấng Christ phục sinh, Tin Lành chỉ được giảng cho người Do-thái. Sau khi Đấng Christ phục sinh, không có sự phân biệt giữa dân Do-thái và dân ngoại trong Hội Thánh của Chúa (Ga-la-ti 3:28).

Không bao giờ ân tứ nói ngoại ngữ được dùng để truyền giảng mà tất cả các nhà truyền giáo đều phải học ngôn ngữ của dân tộc mà họ muốn đến truyền giảng. Cuối cùng, ơn nói ngoại ngữ là dấu hiệu tỏ ra cho những người không tin để họ nhận biết quyền năng của Đức Thánh Linh đang vận hành trong Hội Thánh (I Cô-rinh-tô 12:22), còn hiện tượng nói tiếng lạ chỉ khiến cho người ngoại chê cười vì họ thấy những kẻ nói tiếng lạ giống những người lên đồng, lên bóng, bị quỷ nhập.

Trường hợp 2: là trường hợp bị quở trách của Hội Thánh Cô-rinh-tô: là trường hợp giữa những người được ơn nói với hội chúng đã tin thì bắt buộc phải có sự thông giải. Trường hợp này có thể là tiếng ngoại quốc nhưng cũng có thể là tiếng lạ (tràng âm thanh không hiểu được).

Chỗ nào trong Thánh Kinh dạy rằng có thể các tín đồ tại Cô-rinh-tô nói ra những tràng âm thanh vô nghĩa? Đây là Sa-tan cưỡng từ đoạt ý để ngụy biện.

Trường hợp 3: là trường hợp chắc chắn không phải là tiếng của loài người hay dân tộc ngoại quốc, tại sao lại có sự giải thích này là bởi vì: Đây là ngôn ngữ hoàn toàn riêng biệt để tương giao với Chúa trong thế giới linh. Loại tiếng này dùng để gây dựng chính phần linh của cá nhân nói tiếng đó, là một sự bày tỏ “kín nhiệm.”

Chỗ nào trong Thánh Kinh dạy như vậy? Sa-tan đã đưa ra một giáo lý không có trong Thánh Kinh.

Phao-lô vừa là người được ân tứ nói nhiều thứ ngoại ngữ và cũng là người được ân tứ nói nhiều “thứ tiếng lạ” này (âm thanh không hiểu được).

Chỗ nào trong Thánh Kinh dạy như vậy? Sa-tan đã đưa ra một giáo lý không có trong Thánh Kinh.

Ông có sự tương giao với Chúa rất đặc biệt, bằng cớ là Phao-lô không trực tiếp dự Tiệc Thánh lúc Chúa Jesus lập ra, nhưng ông nhận được điều này từ Chúa về nghi thức Tiệc Thánh và viết ra để dạy trong thư Cô-rinh-tô. Ngày hôm nay, những lúc dự Tiệc Thánh thì Hội Thánh luôn đọc đoạn Kinh Thánh do Phao-lô viết dạy dỗ về nghi thức này.( I Cor 11 – Vả, tôi có nhận nơi Chúa…). Ông không hề dự Tiệc Thánh vào lúc Chúa Jesus lập, nhưng ông lại nói là ông nhận nơi Chúa vì ông có sự tương giao đặc biệt bằng linh với Thánh Linh (Nhận trong nơi kín nhiệm khi ông tương giao với Chúa). Vì ông là người nói tiếng lạ nhiều nhất nên ông cũng là người viết Tân Ước nhiều nhất sau khi Chúa Jesus thăng thiên.

Đây là ngụy biện, dùng lý trí suy luận của loài người để tạo ra các giáo lý không có trong Thánh Kinh. Vua Đa-vít viết nhiều Thi Thiên nhất. Số câu Thánh Kinh Vua Đa-vít viết nhiều gấp hai lần số câu Phao-lô viết, vậy, có thể nào kết luận rằng Vua Đa-vít là người biết nói nhiều tiếng lạ nhất? Sự kiện Phao-lô được Chúa chọn làm sứ đồ và dạy dỗ ông cách trực tiếp không liên quan gì đến ân tứ nói ngoại ngữ và Phao-lô tuyệt đối không hề nói tiếng lạ, vì, không hề có ân tứ nói tiếng lạ mà chỉ có ân tứ nói ngoại ngữ.

Ông cũng nhắc nhở là “cầu nguyện bằng tâm linh nhưng cũng cầu nguyện bằng tâm trí nữa.”

Cầu nguyện là một hình thức thờ phượng Chúa cho nên phải bằng tâm thần và lẽ thật (Giăng 423-24). Sự cầu nguyện nào của chúng ta cũng phải xuất phát từ trong tâm thần bởi sự cảm động và dẫn dắt của Đức Thánh Linh rồi phát ra bằng ngôn ngữ qua môi miệng của xác thịt. Trong khi đó, linh hồn chúng ta am hiểu điều mình cầu xin. Riêng trường hợp cầu nguyện bằng ngoại ngữ mà chúng ta không hiểu để tự mình thông giải thì chúng ta cần có anh chị em khác đang hiện diện thông giải, nếu không, chúng ta chỉ được phép cầu nguyện bằng tiếng mẹ đẻ hoặc bằng thứ tiếng mà Hội Thánh có thể hiểu được. Dù chúng ta cầu nguyện bằng tiếng mẹ đẻ hay bằng ngoại ngữ thì chúng ta cũng cầu nguyện bằng tâm thần và theo lẽ thật của Lời Chúa. Lý luận cho rằng, cầu nguyện bằng ơn nói ngoại ngữ là cầu nguyện trong tâm thần còn cầu nguyện bằng tiếng mẹ đẻ là cầu nguyện bằng tâm trí là hoàn toàn phản Thánh Kinh.

Ý của Phao-lô là chúng ta phải tìm cầu sự cầu nguyện và tôn vinh mà chúng ta có thể hiểu được, còn nếu sự cầu nguyện và tôn vinh phát xuất từ tâm thần bởi ân tứ nói ngoại ngữ mà không có người thông giải hoặc tự chúng ta không hiểu điều chúng ta cầu nguyện hoặc tôn vinh thì chúng ta không nên thực hành. Trọn vẹn câu nói của Phao-lô là: “Bởi đó, kẻ nói ngoại ngữ, hãy cầu nguyện để được thông giải tiếng ấy. Vì nếu tôi cầu nguyện bằng ngoại ngữ, thì tâm thần tôi cầu nguyện, nhưng trí khôn tôi lơ lửng. Vậy thì tôi sẽ làm thể nào? Tôi sẽ cầu nguyện theo tâm thần, nhưng cũng cầu nguyện bằng trí khôn. Tôi sẽ hát theo tâm thần, nhưng cũng hát bằng trí khôn” (I Cô-rinh-tô 14:13-15).

Không thể có chuyện chỉ cầu nguyện hoặc tôn vinh bằng trí khôn mà không bằng tâm thần, vì mọi sự thờ phượng Chúa đều phải bằng tâm thần và lẽ thật. Cho nên, cầu nguyện và tôn vinh vừa bằng tâm thần vừa bằng trí khôn là ý rõ ràng trong câu nói của Phao-lô.

Sự giải kinh theo kiểu ngắt câu đoạn mạch đã sản xuất ra vô số tà giáo!

Mục đích ông viết thư Cô-rinh-tô là để Hội Thánh được tổ chức tốt hơn, đặc biệt là trong lĩnh vực sử dụng ân tứ. Ông sắp xếp lại và hướng dẫn Hội Thánh cách vận hành ân tứ.

Tiếng lạ dùng để truyền giảng thì được hiểu là ngoại ngữ (speak other tongues), tiếng lạ dùng để gây dựng chính mình thì được hiểu là cơ quan phát âm (speak a tongue), mà loại âm thanh này không nhất thiết là loại ngôn ngữ thông thường của loài người.

Lại thêm một sự ngụy biện của Sa-tan. "Speak a tongue" tức là nói một ngôn ngữ, không thể dịch là phát ra những âm thanh. Để nói đến sự kiện phát ra những âm thanh thì Thánh Kinh dùng: "giving sound" “Vậy, dẫu vật không có sự sống phát ra tiếng (giving sound), như ống tiêu, đờn cầm: nếu không có âm điệu phân biệt nhau, thể nào nhận biết được ống tiêu hay là đờn cầm thổi và khảy cái chi?” (I Cô-rinh-tô 14:7). Điều quan trọng là, Thánh Kinh không hề nói đến ân tứ “phát ra tiếng.”

Ví dụ:

  • Đứa bé còn bú mẹ, khi nó “nói chuyện” với mẹ nó để xin bú thì nó sẽ không nói là “con muốn bú” mà nó chỉ có thể nói là “măm măm.” Đương nhiên, chữ “măm măm” này không phải là ngôn ngữ thông thường để diễn đạt “con muốn bú.” Việc tương giao với Cha Thiên Thượng cũng thế, có những điều “không nói bằng lời” được khi tâm linh được lớn lên. Nếu một người chưa nên thánh mà “báp tem Thánh Linh” sẽ bị hỏng chân, lúc đó thay vì được đầy dẫy Thánh Linh thì tà linh nhảy vào tương tác. Cho nên, anh ta đồng ý với anh rằng đầy dẫy Thánh Linh là phụ thuộc vào sự nên thánh khi sống đạo chứ không phải đặt tay cầu nguyện để đầy dẫy theo kiểu sai trật của các phong trào hiện nay.

Chữ "măm măm" đương nhiên là ngôn ngữ để xin bú của trẻ con. Thánh Kinh khẳng định, con trẻ có ngôn ngữ của con trẻ. Ai quy định rằng "măm măm" không phải là ngôn ngữ của trẻ con để xin bú? Nếu không phải thì sao cả mẹ lẫn con đều hiểu rằng đó là đứa con muốn bú? Chẳng những con trẻ có ngôn ngữ của con trẻ mà còn có nhiều trình độ khác nhau trong sự vận dụng ngôn ngữ nữa. "Khi tôi còn trẻ, tôi nói như con trẻ, tư tưởng như con trẻ, suy xét như con trẻ; khi tôi đã thành nhơn bèn bỏ những điều thuộc về con trẻ" (I Cô-rinh-tô 13:11).

Nếu chưa nên thánh, sao lại được báp-tem bằng Thánh Linh? Nếu đã được báp-tem bằng Thánh Linh thì phải đầy dẫy Thánh Linh chứ sao tà linh lại nhảy vào? Vậy, quyền năng của Đức Thánh Linh ở đâu?

Một người thật lòng ăn năn tội, tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ thì lập tức được Đức Chúa Trời tha tội, được Đức Chúa Jesus Christ làm cho sạch tội và được Đức Thánh Linh tái sinh. Người đó lập tức được đổ đầy Thánh Linh của Chúa (báp-tem bằng Thánh Linh) để có năng lực của Thiên Chúa sống một đời sống mới theo điều răn và luật pháp mà Đức Thánh Linh đã ghi vào lương tâm mới của người ấy. Từ đó, người đã được tái sinh, nếu tiếp tục yêu mến Chúa, tìm kiếm lẽ thật của Lời Chúa để vâng theo thì tiếp tục đầy dẫy Thánh Linh, còn nếu hướng về thế gian yêu mến thế gian thì không còn đầy dẫy Thánh Linh.

Dấu chứng một người đầy dẫy Thánh Linh là sự kiện người ấy không phạm tội, dù chỉ trong tư tưởng, hoặc nếu tội lỗi vừa phát sinh trong tư tưởng thì người ấy lập tức ăn năn và xưng tội với Chúa. Khi tiếp xúc với thế giới bên ngoài, một người đầy dẫy Thánh Linh sẽ nói và hành động theo sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh. Dầu vậy, chính linh hồn người ấy quyết định là

Đọc Tiếp →

Hồi Đáp Email Góp Ý về Bài: “Mạng Lệnh của Thiên Chúa về Thức Ăn của Loài Người”

Kính thưa quý bạn đọc.

Chúng tôi vừa nhận được email góp ý của một con dân Chúa về bài: “Mạng Lệnh của Thiên Chúa về Thức Ăn của Loài Người,” http://biengiao.timhieutinlanh.net/node/44. Chúng tôi xin đăng tải nơi đây email góp ý và hồi đáp của chúng tôi để quý con dân Chúa cùng tham khảo.

Huỳnh Christian Timothy
13.10.2012


 

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?1nbfid5s582hyy1

______ thân mến,

Mỗi ngày, lời cầu nguyện đầu ngày và cuối ngày của tôi luôn có lời cầu xin Cha dạy cho tôi và gia đình tôi Lời của Ngài, vì tôi rất yêu mến sự hiểu biết Lời Chúa. Chính vì thế mà lời cầu nguyện cuối ngày của tôi cũng có lời xin Cha dạy tôi và gia đình tôi trong giấc ngủ. Nếu thân thể xác thịt của chúng ta không thể nào thiếu không khí quá 3 phút thì thân thể thiêng liêng của chúng ta là tâm thần cũng không thể nào thiếu Lời Chúa quá 3 phút. Gia đình tôi có thói quen khi xem TV cũng thảo luận và suy ngẫm đến Lời Chúa, liên kết những gì mình đang thấy trên màn ảnh với Lời Chúa.

Vì tôi bắt đầu một ngày với lời cầu nguyện xin Cha dạy dỗ lời Ngài cho tôi và gia đình, cho nên, tôi tin rằng, suốt một ngày, những gì chúng tôi đọc và suy ngẫm, dù không phải là Thánh Kinh, thì qua đó Cha cũng dạy cho chúng tôi Lời của Ngài, lẽ thật từ Lời Ngài. Mà thật vậy! Tuy nhiên, vì ______ bắt đầu email với ước mong là tôi cầu nguyện rồi hãy đọc những gì ______ viết, cho nên, tôi dừng lại cầu nguyện xin Cha soi dẫn cho tôi nhìn thấy những lẽ thật trong email của ______. Còn nếu có điều gì không đúng thì xin Cha cũng cho tôi nhìn thấy và giải bày với ______. Tôi cũng cầu nguyện xin Cha giúp ______ nhìn thấy lẽ thật trong Lời Cha. Tôi tin ______ là người yêu kính Chúa và chỉ muốn sống theo Lời Chúa, nhưng tôi không tin một số giáo lý của Cơ-đốc Phục Lâm và phương cách giải kinh của họ. Tôi đã nghiên cứu về Cơ-đốc Phục Lâm từ hàng chục năm trước.

Khi tôi đang viết những dòng này cho ______ thì tôi vẫn chưa đọc phần còn lại của email ______. Một lần nữa, tôi mở lòng để đọc những lời chân tình của ______ và xin ghi lại những ý nghĩ của tôi tiếp liền theo các ý tưởng mà ______ trình bày. Tôi sẽ dùng chữ màu đỏ. Tôi hứa với ______ là tôi đọc với tấm lòng rộng mở, không thành kiến, và sự hồi đáp của tôi chỉ hoàn toàn dựa trên Lời Chúa.

Nguyện Đức Thánh Linh dẫn chúng con vào lẽ thật của Lời Chúa. A-men.

Huỳnh Christian Timothy

Xin ______ đọc tiếp phần ý kiến của tôi được viết liền sau các ý tưởng ______ trình bày, dưới đây.

On 10/13/2012 5:42 AM, ______ wrote:

Nhu toi da viet truoc day,

Toi chi mong anh cau nguyen roi hay doc nhung gi toi viet , chuyen con lai thi xin nhuong lai giua Thien Chua va anh Tim thoi! Toi cung se ko noi lai sau nay nua, mong nhung dieu duoi day a doc va cau nguyen, vi toi tin mot nguoi ko the lam cho mot nguoi khac tin , nhung doi voi Thien Chua thi moi viec deu co the, toi da lang nghe nhung audio cua anh va doc nhung bai viet cua anh voi 1 tam long rong mo, toi hy vong anh cung vay.

Cac nha nghien cuu da noi bat cu nhung gi Kt viet co lien quan den khoa hoc, loai nguoi tu tu kham pha ra nhung van de co lien quan ma Kt da de cap. Kt noi cach day may ngan nam, va con nguoi ngay nay tung buoc da kham pha ra qua nhung bang chung khoa hoc hien dai, va dc ket luan rang nhung gi Kt de cap deu co ly do. Kt ko giai thich ly do tai sao Chua muon con nguoi fai lam nhu vay. Nhung ngay nay, Trong thu vien Luver devis France, co ba dam ruoi nhung quyen sach giao khoa khoa hoc bi loi thoi, nhung nhung gi Kt da de cap luon dung vung

Điều này là đúng. Tri thức của loài người là tiến trình dò tìm lẽ thật trong khi Thánh Kinh là lẽ thật.

1864 , France Academy Science san xuat danh sach gom 51 bang chung khoa hoc phan nghich lai voi Kt, nhung ngay hom nay 51 bang chung nay da ko con dc chap nhan voi nen van minh khoa hoc hien tai. The Science of Food of the American Association vao 2002, Phd nghien cuu ve dinh duong khoa hoc am thuc thuoc truong dai hoc Merryland the Richard arrange da khai mac chuong trinh hoi nghi va mo dau bai dien van bang cach ong da doc Leviky doan 11. Theo nha dinh duong hoc David Mence , "eating by the Book " du chung ta ko hieu het ta ca nhung ly do ve luat am thuc o trong Kt nhung cach khon ngoan nhat la vang theo Kt.

Cách khôn ngoan nhất là vâng theo Thánh Kinh cho dù chúng ta có hiểu hay là không hiểu. Đó là đức tin. Phần lớn thì chỉ sau khi chúng ta vâng theo Thánh Kinh chúng ta mới hiểu và càng trung tín vâng theo Thánh Kinh thì chúng ta càng khôn ngoan, hiểu biết càng hơn.

Nhieu su bay to khon ngoan trong Kt dc chung minh la phu hop voi van minh hien dai, dieu nay giup cho chung ta vang theo nhung dieu luat ma khoa hoc chua chung minh dc o trong Kt. Viec cam an mo da dc neu ro trong Kt va ngay nay thi khoa hoc da hoan toan dong tinh ve dieu nay, David Mence noi bietdau 50 nam nua ngta se chung minh dc su nguy hiem trong viec con nguoi an tom hum , tai sao kt ko cho an? Cach hay nhat la vang loi!

Đúng vậy, ăn mỡ nhiều có hại cho sức khỏe. Ăn tôm cua nhiều sẽ khiến cho trong máu có nhiều chất cholesterol xấu làm cho chết vì nghẽn mạch máu.

Leviky 11:46 ,47 Chua phan biet con thu sach va ko sach , thu an dc va ko an dc, Chua ban luat am thuc trong Kt la van de suc khoe cua chung ta! Nhung chung ta an se anh huong den dsong, skhoe cua chung ta.

Theo tu dien bach khoa the gioi, dong vat an co la an la cay vidu; bo truu nai, son duong va loai an co nay co he thong tieu hoa dac biet, bao tu cua chung ngan ra lam 4 ngan de bien doi nhung cay co ma chung an vao va bien nhung Amino Acid ma loai nguoi ko tieu thu dc ra nhung proteins day chat dinh duong cho con nguoi nen Chua cho chung ta an nhung con nay! Theo nhung nha nghien cuu, dong vat an co va la cay thuoc nhom nay, thit cua chung it mo hon nhung loai dong vat an ngu coc hay an thit. Theo phuong dien moi sinh nhung laoi dong vat an co nay se giup bien doi nhung vung dat tren the gioi tro thanh dat trong trot cho con nguoi.

Có lẽ vì vậy mà trong Cựu Ước Chúa gọi những loài vật trên đây là loài tinh sạch, vì chúng không đem mầm bệnh đến cho người ăn.

Con nhung loai dong vat ko dc phep an, theo khoa hoc thi nhung loai vat Chua cam an rat hop ly, co nhung con Chua tao ra de cung cap am thuc cho con nguoi, nhung cung co nhung con vat Chua tao ra voi nhung muc dich khac vdu loai dong vat an thit Chua tao ra de kiem saot ti so cua cac laoi dong vat khac va hau nhu tat ca chung la nhung dong vat an ban dem va nhu con heo la loai an hon tap la laoi dc Chua tao dung de don rac cho thien nhien, cho moi truong va phan nguoi.O trong nhieu the ky, nhieu noi o tren the gioi, nguoi ta da nuoi heo de tieu thu rac ruoi, xac thu vat chet va phan nguoi va ngay ngay hom nay nhung nong gia Hoa Ky da lay nhung con ga nuoi bi chet de cho con heo tieu thu roi sau do nguoi ta an lai heo! Do la cach tuan hoan ma nguoi ta nghi la rat la hop ly, nhung do ko fai la chuong trinh cua DCT, ngay hom nay nguoi ta nuoi heo bang bap va ngu coc ko nhu ngay xua nen Chua da ko cho an, dung quen rang he thong tieu hoa cua heo ko dc tao ra de lam viec do, cho nen heo an bap va ngu coc, chung se bi thieu chat dinh duong trong co the chung va se sinh ra nhung tat benh. Ngay nay , tai Hoa Ky 20% so bap va ngu coc moi nam nam dc dung de nuoi heo, trong khi bao nhieu quoc gia tren the gioi song trong canh doi khat ko du luong thuc cho con nguoi. Khi con nguoi an thit heo vi chung dc an ngu coc nhu da de cap o tren co the chung ko day du chat dinh duong , chung ta an vao se mang benh truyen nhiem trichinosis, day la loai ky sinh nho neu thit heo ko dc nau chin , nhung ky sinh trung nay se vao song trong bap thit cua con nguoi, tape worm trong thit heo rat nguy hiem mot khi da vao o trong nguoi roi, chung co the di chuyen vao trong te bao tim, te bao mat, te bao oc , va co the se dan den tu vong.

Không cần chứng minh bằng khoa học, chúng ta cũng có thể suy luận rằng những loài vật ăn thịt và ăn tạp không phải là thức ăn lý tưởng.

Theo nhung nha microbiologist cua Phap thi nhung quoc gia hay an thit heo nay la Mexico, South America, Spain, Portigal, Africa, India, South East Asia ( trong do co Vn, Compodia, Lao va China ) la nhung quoc gia co ti le benh nay rat nhieu. Ngay nay, nguoi ta noi rang neu nau thit heo cho chin thi se ko bi nhung benh tren, nhung theo thong ke cu moi nam nhu vay co khoang 180 trieu nguoi bi benh boi thit heo gay ra nhu tape worm, trichinosis o tren the gioi, va cach hay nhat la hay vang theo loi cua Chua Troi

Khi đã có suy luận hay sự hiểu biết cụ thể về mức độ nguy hiểm của sự ăn thịt heo hoặc tôm cua, vv… thì tự nhiên không ai muốn ăn những thức ăn có thể làm hại cho sức khỏe của mình, không cần phải chờ cho Đức Chúa Trời có cấm lệnh. Nếu tôi bị dị ứng với đậu phụng thì chắc chắc tôi không ăn đậu phụng mà không cần ai cấm đoán cả.

Dr. Jack Russel viet su khac biet giua nhung con vat sach va ko sach duong nhu lien he den loai thuc an ma chung an va he thong tieu hoa cua chung, nhung nhung con ko he an thit nhung van bi Kt xep vao loai ko sach nhu loai tho, loai ngua vi chung ko co mong re ra. Theo khoa hoc ngay nay, thit ngua chua nhieu vi khuan va ki sinh trung, va thit tho gay ra benh tho rung.

Cho nen Dct luon sap dat chuong trinh cua Nguoi , con heo la loai don rac , VA CHUNG TA KO AN RAC VAO CO THE CUA CHUNG TA. loai vat o duoi nuoc Leviky 11: 9 -12 : noi ve loai vat o duoi nuoc, vi Chua co ly do chinh dang laoi vat ko vay ko vay thuong song o duoi day dai duong , thuong la nhung loai an thit bang cach san moi, theo tai lieu US Navy Manual: thi tat ca nhung loai ca quan trong co thit doc theo nhu thong thuong thi la nhung loai ca ko co vay, thay vao do chung dc che boi nhung vay nhu gai cung lom chom , hay dc boc trong nhung bo xuong giong nhu cai hop , co nhung loai ko vay cung ko vay ( naked skin) nhu ca map, 58 loai sting rays( ca duoi), 47 cat fish ( ca bong lau, ca me), 57 scopion fish( ca bo cap) ect… Eels la loai an thit ban dem , an bat ky thuc an nao chet no cung an, trong mau cua eels(luon) co chua nhieu chat doc nguy hiem, neu dinh vao mat , mucus membrane se gay doc hai cho chung ta. Kt cho chung ta biet loai thuc an nao an toan de an, voi tinh trang nhu hien nay du la thuc an sach ma Chua cho phep an cung fai dc che bien 1 cach an toan fai nau chin,

Tom cua so hen la loai ko vay va ko vay, ro rang la ko dc an tom hum la loai pha hoai ve ban dem, chung di lai duoi day nuoc , chung san moi ,an thit xac chet va rac ruoi o duoi day bien. Thuong nguoi ta bat dc nhung con tom hum cung voi nhung con ca chet, tom hum dc Chua tao dung co he thong aten rat ben nhay du trong bong dem chung co the phat hien noi nao co xac chet de tim den de an. Tom hum khi tieu thu thuc an du thua , chung thuong chon phan thuc an con lai duoi cat, vai ngay sau chung quay lai de tim nhung xac chet thuc an ma chung da giau cach day vai ngay de an.

Cua dc cho la professional garbish hunter, chung thich ca chet. Con nhung tom nho( thuong song trong bun do de lam sach moi truong cua nuoc). Nhung con vat nay dc Chua tao dung de lam sach thien nhien , chung an rac , xac chet, thu hoi neu minh an nhung con vat tren vao cothe, thi se nhu the nao????

Như đã nói, Thiên Chúa có lý do khi Ngài cấm con dân Chúa trong thời Cựu Ước không được ăn các loài vật kể trên, và Ngài chỉ tóm gọn trong một lời là bởi vì chúng không tinh sạch.

Ai neu thay do an gom giec minh deu ko muon an het. Chung ta thuoc ve Chua, ma minh biet ro rang day la nhung con don rac! Ko fai de chung ta an, ngheu so oc hen, la laoi ko vay ko vay , va 1 lan nua nhung con vat nay giu mot nhiem vu dac biet cho thien nhien, chung la vacuum cleaners cua thien nhien o duoi nuoc. Chung ta an chung vao co phai chung ta an nhung chat do do ko? Vi trung, vi khuan , rac ren, ki sinh trung, neu thu hoi mot nguoi mo may hut bui cua nha minh ra, va nau 1 bua an thinh soan tu nhung rac ren cua may hut bui ra thi ban nghi ntn? Hay ban thu thu thap nhung gi trong he thong ong cong lam 1 bua an cao luong mi vi tu nhung gi lay trong ong cong ra thi ban nghi ntn?

So sánh như trên là không hợp lý. Không ai lấy rác từ trong máy hút bụi hoặc ống cống ra để làm thức ăn nhưng người ta có thể lấy rác bón cho rau cải và ăn rau cải, sau khi rau cải đã chế biến rác thành thực phẩm. Tất cả đều là vật chất do Đức Chúa Trời sáng tạo, trong một môi trường nhất định hoặc trong một sự kết hợp hóa học nhất định nào đó có những thứ gây hại cho loài ngườ, nhưng trong một môi trường khác hoặc với một cấu trúc hỗn hợp hóa học khác thì chúng trở thành ích lợi cho loài người.

Nhung loai tom cua so hen nay, tap trung 1 so luong vi khuan benh tatchat doc rat cao o trong co the cua chung, theo International Wild Life encyclopedia theo co quan American Food and Drug Adminitration thi trai so oc hen giu 85% nguyen nhan gay ra benh do an do an bien, nhung vu boc phat benh nhu dich ta,, thuong han , virus , salmonola, fish poisoning

Nhung loai chim Leviky 11: 13-17 bay tren ko ma ko dc an, vi chung thuoc vao laoi vat Chua tao dung de kiem soat ti so va he thong don sach thien nhien, chung san moi, an thit xac chet… Nhu con kenh kenh vi chung an thit va huyetcua con moi nen co the cua chung day nhung benh truyen nhiem v anhieu chat doc ma Chua ko muon cho chung ta an, an het nhung con do thi lay gi de lau don thien nhien? Ma ko lau don thien nhien thi benh tat lan tran trong thien nhien va chuyen gi xay ra cho con nguoi?no se lan tran den con nguoi.

Bac si David Match tai John Hopkins University School of Medicine lam 1 cuoc thi nghiem co dien goi la cuoc thu nghiem ve gia tri duoc ly cua Leviky doan 11 va Phuc Truyen Luat Le Ky doan 11 , ong dung nuoc rut ra tu 54 loai ca khac nhau ( co vay va ko vay) roi sau do , ong dung so nuoc rut ra tu nhung loai ca nay de tuoi cay. Ong cho biet ket qua nuoc ep ra tu nhung loai ca ko sach( ko vay va ko vi) deu lam hai cho cay coi, dr. Jack Russel cho biet nhung loai ko dc an thuoc nhung loai don dep rac ren o trong thien nhien cho nen chung ta ko nen an, thi du nhu Cat Fish nguoi ta nuoi no bang nhung thu phong ue tu con nguoi, roi con nguoi bat Cat Fish ( ca bong lau)len an lai, theo luat tuan hoan do , ngta nghi rang se do ton kem, nhung da dem lai biet bao nhieu benh trong co the

Tôi không có gì để phủ nhận những khám phá và thử nghiệm của khoa học như được trình bày trên đây.

Voi tinh hinh the gioi ngay hom nay, Kt cho chung ta an nhung loai thit sach nhung voi dkien nhung loai thit do fai dc nuoi theo organic ways ( tu nhien) ngay hom nay nguoi ta cho qua nhieu thuoc hoa chat trong thuc an gia suc, nhung con bo ngay nay ko con dc an co nua ma con nguoi nuoi chung bang thit luon , nen vi do dan den biet bao nhieu benh ko tot cho co the con nguoi.

Thế giới ngày nay đã đi vào kỳ cuối cùng, nhân loại chỉ biết chạy theo lợi nhuận và hủy phá các định luật thiên nhiên, cho nên, muốn tìm thức ăn tinh sạch đúng nghĩa của thời Cựu Ước hầu như là không thể, trừ khi tự mình chăn nuôi. Làm sao chúng ta có thể tin các nhãn "organic" dán trên các thực phẩm?

Tot het 95% fai la rau cai, trai cay, con lai 5% la thit ,

1- ly do thu nhat Chua ko chung ta an nhung loai thuc an do vi ly do suc khoe cua chung ta.

2- leviki 11:44-45 vi ta la Gie Ho Va DCT cua cac nguoi, Ta la Thanh nen cac nguoi fai nen thanh thi se dc thanh, …. Dung vi mot con vat o ue tren dat ma gay o ue cho than minh…. Dang da dem cac nguoi ra khoi xu Edipto Dang lam DCT cua cac Nguoi. , cac nguoi fai nen Thanh vi Ta la Thanh."

Chữ nên thánh trong Lê-vi Ký 11:44-45 sau này được nhắc lại trong I Phi-e-rơ 1:15-16 có nghĩa là "biệt riêng ra cho Thiên Chúa." Chúng ta được "nên thánh" bởi Thiên Chúa vì Ngài chọn chúng ta. Chúng ta tự mình "nên thánh" tức là tự mình "biệt riêng ra cho Thiên Chúa" bằng cách chúng ta vâng theo Lời Ngài.

Trong thời Cựu Ước, về thức ăn, chúng ta phải vâng lời Ngài mà kiêng các thức ăn không tinh sạch. Trong thời Tân Ước, về thức ăn, chúng ta phải vâng lời Ngài mà chớ cầm bằng dơ dáy vật chi đã được Đức Chúa Trời làm cho sạch (Công Vụ Các Sứ Đồ 10:15), nghĩa là đừng gọi một loài thú vật nào là không tinh sạch nữa.

Vấn đề tôi đưa ra ở đây là theo chính lời phán của Chúa, Ngài đã làm cho các loài thú không tinh sạch trở nên tinh sạch. Chữ sạch và không sạch trong nghĩa ban đầu từ thời Cựu Ước là "ăn được" và "không ăn được." Dù chúng ta có hiểu hay không hiểu lời phán của Chúa thì khi Chúa đã phán, chớ cầm bằng dơ dáy vật chi Đức Chúa Trời đã làm cho tinh sạch, thì chúng ta phải TIN và vâng theo lời Ngài.

Không ai múc nước dùng để rửa chân để đải khách dự tiệc cưới. Chúng ta sẽ có hàng trăm lý do về vệ sinh và hàng trăm thí nghiệm từ khoa học để chứng minh rằng không thể và không nên dùng nước chứa trong một chậu đá cho mục đích rửa chân làm thức uống trong tiệc cưới. Nhưng khi Chúa đã phán, hãy múc và đem đi cho người coi tiệc thì điều tốt nhất và nên làm của những người hầu bàn là TIN và VÂNG THEO Lời Chúa. Giả sử như, có một vị khách nào đó, chứng kiến từ khi những người hầu bàn đổ nước vào chậu cho đến khi họ múc đem ra mời khách trên bàn tiệc, cảm thấy ghê tởm và sợ hãi không muốn uống thứ mà theo họ là "không tinh sạch" đó, thì đó là quyền tự do của người ấy, nhưng người ấy đừng phủ nhận lời phán của Chúa đã làm cho nước dùng rửa chân trong chậu đá trở thành tinh sạch, uống được.

Tôi không bác bỏ những khám phá và chứng minh của khoa học về sự độc hại của tất cả các loài vật mà Thánh Kinh Cựu Ước đã liệt kê là không tinh sạch, không thể làm thức ăn cho loài người; cũng như tôi không bác bỏ lý luận cho rằng nước dùng để rửa chân là không tinh sạch, không nên dùng làm thức uống trong tiệc cưới. Tuy nhiên, tôi càng không thể bác bỏ rằng, trong thời Tân Ước chính Chúa đã ba lần phán, Ngài đã làm cho các loài thú không tinh sạch trở nên tinh sạch, bên cạnh ba lần phán đó, còn có sự khẳng định từ Đức Chúa Jesus và Đức Thánh Linh, rằng không còn có sự phân biệt các loài thú tinh sạch hoặc không tinh sạch, mọi loài đều có thể làm thức ăn cho loài người:

Ma-thi-ơ 15:11 “Chẳng phải điều chi vào miệng làm dơ dáy người; nhưng điều chi ở miệng ra, ấy mới là điều làm dơ dáy người vậy!”

Tít 1:15 “Mọi sự là tinh sạch cho những người tinh sạch, nhưng, cho những kẻ dơ dáy và chẳng tin, thì không sự gì là tinh sạch cả; trái lại, tâm thần và lương tâm họ là dơ dáy nữa."

I Ti-mô-thê 4:4 “Vả, mọi vật Đức Chúa Trời đã dựng nên đều là tốt lành cả, không một vật chi đáng bỏ, miễn là mình cảm ơn mà ăn lấy thì được.”

Tôi không thể nào giải thích hay hiểu khác đi ý nghĩa của ba câu Thánh Kinh trên đây. Vì thế, dù cá nhân tôi không thích ăn những loại thịt bị kể là không tinh sạch trong thời Cựu Ước, nhưng tôi không thể vì sở thích hay quan điểm cá nhân của mình mà giảng nghịch lại lẽ thật của Lời Chúa.

Tinh thần của sự tinh sạch (tức là sự tinh sạch thật theo ý của Đức Chúa Trời) nằm trong Tít 1:15. Đối với người chưa được tinh sạch vì không tin sự cứu chuộc của Đấng Christ thì dù họ có ăn chay trường thì cũng chẳng có món ăn nào là tinh sạch cho họ. Đối với người đã tinh sạch vì tin nhận sự cứu chuộc của Đấng Christ thì "mọi sự là tinh sạch," kể cả "uống giống chi độc, cũng không hại gì" (Mác 16:18).

Thịt các loài thú không tinh sạch trở nên tinh sạch đối với con dân Chúa không phải vì chúng nó không còn ăn tạp, không còn dọn rác cho địa cầu mà là vì lời phán của Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện của chúng ta mà chúng trở nên tinh sạch. I Ti-mô-thê 4:5 "vì nhờ Lời Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được nên thánh." Vì thế, không thể đem các xác minh của khoa học ra để chứng minh là con dân Chúa không được ăn các thức ăn mà chính Chúa đã làm cho tinh sạch.

Su thong cong giua chung ta voi lai Chua! Chua la Thanh, Chua ko the ngu o noi o ue, Chua da cuu chung ta ra khoi noi o ue boi su chet thay cua Ngai tren thap tu gia, Chua chet la de lau sach toi cho chung ta, chung ta la den tho cua Chua va Chua muon thong cong voi chung ta , neu ban nghi lai xem , ban cu dem rac ruoi vao co the hoai, thi chuyen gi xay ra voi noi thong cong giua Chua va ban? Lam sao Chua co the noi o ue , noi rac ren, noi ma Chua noi rang dung an ma chung ta cu tiep tuc an vao? Chua da goi chung ta noi thanh khiet de chung ta thong cong voi Chua, con nguoi cua chung ta la den tho cua DCT, Chua ngu o trong ta de chung ta thong cong voi Nguoi! Vi Chua da lam chung ta nen thanh nen chung ta fai tiep tuc song o trong su thanh do va tiep tuc thong cong voi Dct

Co nguoi noi rang day la cuu uoc, ko con gia tri nua, ban nen nho ca Kt la loi cua DCT , VA KHI KINH THANH DA VIET VA LIET KE LA LOAI O UE THI LUAT NAY KO BAO GIO THAY DOI TRONG SUOT TOAN BO KT!

Như đã nói, nên thánh tức là tin và vâng phục Chúa. Khi Chúa đã ba lần phán, Ngài đã làm cho các loài thú không tinh sạch trở nên tinh sạch và " mọi vật Đức Chúa Trời đã dựng nên đều là tốt lành cả,không một vật chi đáng bỏ, miễn là mình cảm ơn mà ăn lấy thì được;" thì tại sao chúng ta cứ khư khư cho rằng ngày nay vẫn còn có những thú vật không tinh sạch? Câu "KHI KINH THANH DA VIET VA LIET KE LA LOAI O UE THI LUAT NAY KO BAO GIO THAY DOI TRONG SUOT TOAN BO KT!" là câu nói của loài người, câu này hoàn toàn có tính phỉ báng những câu Thánh Kinh sau đây:

Công Vụ Các Sứ Đồ 10:15-16 "Tiếng đó lại phán cùng người lần thứ hai rằng: Phàm vật chi Đức Chúa Trời đã làm cho sạch, thì chớ cầm bằng dơ dáy. Lời đó lặp lại ba lần; rồi vật ấy liền bị thâu lên trên trời.

Ma-thi-ơ 15:11 “Chẳng phải điều chi vào miệng làm dơ dáy người; nhưng điều chi ở miệng ra, ấy mới là điều làm dơ dáy người vậy!”

Tít 1:15 “Mọi sự là tinh sạch cho những người tinh sạch, nhưng, cho những kẻ dơ dáy và chẳng tin, thì không sự gì là tinh sạch cả; trái lại, tâm thần và lương tâm họ là dơ dáy nữa."

I Ti-mô-thê 4:4 “Vả, mọi vật Đức Chúa Trời đã dựng nên đều là tốt lành cả, không một vật chi đáng bỏ, miễn là mình cảm ơn mà ăn lấy thì được.”

Phiero 1 :15-18 nhung nhu Dang goi anh em la thanh, thi anh em cung fai nen thanh trong moi cach an o cua minh boi co chep rang fai nen thanh vi Ta la Thanh" nguyen tac nay van dc ap dung tu trong cuu uoc cho den Tan uoc! Tat ca chung ta deu la dan su cua Chua la thanh cua Chua .

Như đã trình bày trên đây: Thiên Chúa khiến cho chúng ta nên thánh bởi huyết của Đấng Christ, còn chúng ta tự mình nên thánh bởi sự tin và vâng lời Thiên Chúa. Tại sao một người tin và vâng theo Công Vụ Các Sứ Đồ 10:15-16 lại bị cho là không thánh?

Corinto II doan 6 :1 6 den doan 7 cau 1 " co the nao hiep den tho cua Dct voi den tho ta than vi chung ta la den tho cua Dct hang song…. Ta se o va di lai giua ho…."

Các câu trên đây không nói về thức ăn mà nói về "kẻ chẳng tin" và "hình tượng tà thần." Các câu trên đây dạy chúng ta phân rẽ khỏi những kẻ chẳng tin và hình tượng tà thần, không phải bảo chúng ta phân rẽ khỏi một thức ăn nào. Vì đối với thức ăn: I Ti-mô-thê 4:4 “Vả, mọi vật Đức Chúa Trời đã dựng nên đều là tốt lành cả, không một vật chi đáng bỏ, miễn là mình cảm ơn mà ăn lấy thì được.”

Galati 5: 16 tro di "vay toi noi rang hay buoc di theo Thanh Linh cho he lam tron nhung dieu ua muon cua xac thit, vi xac thit co nhungndieu ua muon trai voi nhung dieu cua Thanh Linh, Thanh Linh co nhung dieu ua muon trai voi xac thit, nen 2 ben trai nhau la duong ay….vi bang anh em nho Thanh Linh …..say sua, me an uong cung cac su khac giong nhu vay….he ai pham nhung viec the ay thi khong dc huong nuoc cua Dct…."

Liên quan đến ăn uống thì câu này nói về sự mê ăn uống, dù chúng ta chỉ ăn chay mà chúng ta mê ăn uống thì cũng là tội lỗi. Câu này tuyệt đối không hề lên án bất cứ thức ăn nào, vì: I Ti-mô-thê 4:4 “Vả, mọi vật Đức Chúa Trời đã dựng nên đều là tốt lành cả, không một vật chi đáng bỏ, miễn là mình cảm ơn mà ăn lấy thì được.”

Xac thit co su me an uong , say sua, an tat ca moi vat ko can biet la gi, ko can biet Chua dat gioi han , ma neu me an uong thi ko dc huong cua nc Dct , chung ta co the vien du moi ly le di nua,loi trong Kt van ro rang!

Khi ban co khach quan trong moi den nha, ban chac chan fai chuan bi don dep ,lau sach nha cua lai co phai ko? DCT co phai la vi khach quan trong so 1 hay ko? Chung ta can fai don dep sach se trong doi song tin kinh cua chung ta de thong cong voi Chua.

Vấn đề là Đức Chúa Trời đã ba lần phán "Phàm vật chi Đức Chúa Trời đã làm cho sạch, thì chớ cầm bằng dơ dáy." và Đức Thánh Linh đã dạy: “Vả, mọi vật Đức Chúa Trời đã dựng nên đều là tốt lành cả, không một vật chi đáng bỏ, miễn là mình cảm ơn mà ăn lấy thì được.” Vậy, tại sao chúng ta cứ khăng khăng cho rằng người nào ăn uống không kiêng cử theo như thời Cựu Ước thì người đó ô uế, tội lỗi và thậm chí không được hưởng sự sống đời đời?

Dct Dang Tao Hoa Toan Nang biet dieu gi tot nhat cho chung ta, neu chung ta nghe loi nhung nha khoa hoc mac nhung chiec ao trang y khoa ma chung ta con nghe loi ho, ma Dct la Vi Thay Thuoc dai tai so 1 cua vu tru nay, la Dang Tao Hoa da noi ma chung ta ko nghe dc sao?

Chính những người phủ nhận các câu Thánh Kinh dưới đây là những người không vâng theo Lời Chúa:

Công Vụ Các Sứ Đồ 10:15-16 "Tiếng đó lại phán cùng người lần thứ hai rằng: Phàm vật chi Đức Chúa Trời đã làm cho sạch, thì chớ cầm bằng dơ dáy. Lời đó lặp lại ba lần; rồi vật ấy liền bị thâu lên trên trời.

Ma-thi-ơ 15:11 “Chẳng phải điều chi vào miệng làm dơ dáy người; nhưng điều chi ở miệng ra, ấy mới là điều làm dơ dáy người vậy!”

Tít 1:15 “Mọi sự là tinh sạch cho những người tinh sạch, nhưng, cho những kẻ dơ dáy và chẳng tin, thì không sự gì là tinh sạch cả; trái lại, tâm thần và lương tâm họ là dơ dáy nữa."

I Ti-mô-thê 4:4 “Vả, mọi vật Đức Chúa Trời đã dựng nên đều là tốt lành cả, không một vật chi đáng bỏ, miễn là mình cảm ơn mà ăn lấy thì được.”

Ai co the khon hon loi cua DCT? Vi Chua biet dieu gi tot dep nhat va lau ben nhat doi voi chung ta, va Chua da de lai het trong Kt, tai sao chung ta lai ko nghe theo, chung ta co the ko hieu het moi dieu nhung se co ngay chung ta se co co hoi gapChua tren thien dang, de hoi nhung thac mac do, phai ko ban?

Đúng là không ai có thể khôn hơn Lời của Đức Chúa Trời. Nhưng có "những kẻ dốt nát và tin không quyết đem giải sai ý nghĩa, cũng như họ giải sai về các phần Thánh Kinh khác, chuốc lấy sự hư mất riêng về mình" (II Phi-e-rơ 3:16). Chẳng những họ tự làm hại chính mình mà họ còn làm hại biết bao nhiêu người tin theo sự giải sai Thánh Kinh của họ hơn là tin vào Lời Hằng Sống của Đức Chúa Trời.

Tôi mạn phép đưa sự trao đổi này lên trang www.biengiao.timhieutinlanh.net để rộng đường dư luận cho con dân Chúa. Tôi sẽ không ghi tên ______. Cám ơn sự nhiệt tình của ______ và cầu xin Đức Thánh Linh bao phủ ______ bằng lẽ thật của Lời Chúa. Nhiệm vụ của tôi là rao giảng lẽ thật của Lời Chúa. Việc còn lại thuộc về Chúa. A-men!


Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry.
Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

 

Đọc Tiếp →

Mạng Lệnh của Thiên Chúa về Thức Ăn của Loài Người

Huỳnh Christian Timothy

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?4yvf9157dubb7jn

Bấm vào nối mạng dới đây để nghe và tải xuống MP3 bài giảng này:
http://timhieutinlanh.net/node/1012

 

Dẫn Nhập

Gần đây, có vài anh chị em đang sinh hoạt trong Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm đã đến với khu mạng www.timhieutinlanh.net và đồng thuận về việc chúng tôi rao giảng rằng, con dân Chúa không được vi phạm Mười Điều Răn; nhưng phản đối việc chúng tôi rao giảng rằng, con dân Chúa thời Tân Ước không cần phải kiêng các thức ăn vốn bị xem là không tinh sạch trong thời Cựu Ước.

Vào năm 2007 chúng tôi đã có bài viết giải thích, vì sao con dân Chúa thời Hội Thánh không cần phải kiêng các thức ăn vốn bị xem là không tinh sạch nữa. Bài này được đăng trong mục Hỏi & Đáp của khu mạng www.tinlanhbiengiao.net. Nay chúng tôi xin viết lại đầy đủ hơn để quý con dân Chúa dùng làm tài liệu tham khảo.

Trước hết, chúng ta cần phân biệt các thời kỳ khác nhau về thức ăn trong lịch sử loài người. Từ khi sáng thế đến nay, loài người đã trải qua bốn thời kỳ:

  • Thời kỳ loài người được sống trong vườn Ê-đen.
  • Thời kỳ loài người bị đuổi ra khỏi vườn Ê-đen cho đến khi cơn Nước Lụt.
  • Thời kỳ sau cơn Nước Lụt cho đến khi Thiên Chúa thiết lập Cựu Ước.
  • Thời kỳ Cựu Ước.

Hiện nay, loài người đang ở trong thời kỳ Tân Ước. Thiên Chúa có những mạng lệnh rõ ràng, quy định các thức ăn cho con dân của Ngài trong mỗi thời kỳ.

Thời Kỳ Sống Trong Vườn Ê-đen

Đây là thời kỳ loài người chưa phạm tội, các thánh đồ của Chúa lúc bấy giờ chỉ có A-đam và Ê-va. Mạng lệnh của Thiên Chúa về thức ăn cho loài người và loài thú được Ngài phán truyền rất rõ ràng như sau:

Sáng Thế Ký 1:29-30

29 Thiên Chúa lại phán rằng: Nầy, Ta sẽ ban cho các ngươi mọi thứ cỏ kết hột mọc khắp mặt đất, và các loài cây sanh quả có hột giống; ấy sẽ là đồ ăn cho các ngươi.

30 Còn các loài thú ngoài đồng, các loài chim trên trời, và các động vật khác trên mặt đất, phàm giống nào có sự sống thì Ta ban cho mọi thứ cỏ xanh đặng dùng làm đồ ăn; thì có như vậy.

Trong thời kỳ này không có sự phân biệt giữa loài vật tinh sạch và loài vật không tinh sạch. Loài người ăn các loại cỏ (rau) có hột và các loại trái cây có hột. Loài thú ăn mọi thứ cỏ xanh. Thánh Kinh không cho chúng ta biết thời kỳ này kéo dài bao lâu.

Thời Kỳ Bị Đuổi Khỏi Vườn Ê-đen cho đến khi Cơn Nước Lụt

Sau khi A-đam và Ê-va phạm tội thì họ bị đuổi ra khỏi vườn Ê-đen. Từ đó, tội lỗi ngày càng gia tăng, cho đến khi Thiên Chúa dùng một cơn nước lụt toàn cầu để hủy diệt các loài thú và loài người, ngoại trừ gia đình tám người của Nô-ê và những thú vật cùng ông lánh nạn trên chiếc tàu, mà ông đã vâng lời Thiên Chúa xây dựng trong 120 năm. Thời kỳ này kéo dài khoảng 1,700 năm. Dù trong thời kỳ này đã có sự phân biệt giữa các loài vật tinh sạch với các loài vật không tinh sạch (Sáng Thế Ký 7:2) nhưng sự phân biệt này chỉ áp dụng cho việc dâng sinh tế lên Thiên Chúa (Sáng Thế Ký 8:20), không áp dụng cho thực phẩm của loài người. Trong suốt thời kỳ này, Thiên Chúa không hề cho phép loài người ăn thịt. Vì thế, thức ăn của loài người và loài thú vẫn như trong thời kỳ trước, lúc loài người còn sống trong vườn Ê-đen: Loài người ăn các loại cỏ (rau) có hột và các loại trái cây có hột. Loài thú ăn mọi thứ cỏ xanh.

Thời Kỳ sau Cơn Nước Lụt cho đến khi Thiên Chúa Thiết Lập Cựu Ước

Sau cơn Nước Lụt, liền sau khi gia đình Nô-ê và các loài thú vật ra khỏi tàu, thì Thiên Chúa đã truyền cho Nô-ê mạng lệnh thay đổi về thức ăn của loài người, như sau:

Sáng Thế Ký 9:3-4

3 Phàm vật chi hành động và có sự sống thì dùng làm đồ ăn cho các ngươi. Ta cho mọi vật đó như ta đã cho thứ cỏ xanh.

4 Song các ngươi không nên ăn thịt còn hồn sống, nghĩa là có máu.

So sánh Sáng Thế Ký 9:3 với nguyên ngữ Hê-bơ-rơ và Bản Dịch King James có kèm theo mã số Strong, chúng ta sẽ thấy ý nghĩa của từng chữ được dùng trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ của Thánh Kinh:

Gen 9:3
כלH3605רמשׂH7431אשׁרH834הואH1931חיH2416לכם יהיהH1961לאכלהH402כירקH3418עשׂבH6212נתתיH5414לכם אתH853כל׃H3605

Gen 9:3
EveryH3605moving thingH7431thatH834livethH2416shall beH1961meatH402for you; even as the greenH3418herbH6212have I givenH5414you(H853)all things.H3605

  • “kôl,” H3605 = Mỗi một, tất cả (every).
  • “remeś,” H7431 = bò, lướt tới: như chim bay trên trời, như cá lội dưới nước (moving).
  • “'ăsher,” H834 = vật chi (thing that).
  • “chay,” H2416 = sống (live, living).
  • “hâyâh,” H1961 = là (be).
  • “'ôklâh,” H402 = thức ăn, đồ ăn (food, meat).

Rõ ràng, mạng lệnh của Thiên Chúa bao gồm mọi loài thú vật sống động, không ngoại trừ những loài thú vật không tinh sạch, nhưng ngoại trừ loài thú vật đã chết (không sống động) và ngoại trừ việc ăn huyết. Vì thế, thức ăn của loài người trong thời kỳ này bao gồm các loài cỏ có hột, các loài trái cây có hột, và thịt các loài thú đang sống được làm cho ráo huyết khi xẻ thịt. Thời kỳ này kéo dài khoảng 1,100 năm.

Thời Kỳ Cựu Ước

Thời kỳ này bắt đầu từ khi Thiên Chúa ban hành Mười Điều Răn và luật pháp tại núi Si-na-i (năm 1446 TCN) và kéo dài cho đến khi Đức Chúa Jesus Christ hoàn thành sự chuộc tội cho nhân loại trên thập tự giá (năm 30) [1]. Trong thời kỳ này, Thiên Chúa một lần nữa phán truyền mệnh lệnh thay đổi về thức ăn của loài người (Lê-vi Ký 7:22-27; Lê-vi Ký 11). Loài người vẫn được ăn thịt nhưng ngoài việc kiêng cử thịt thú vật đã chết ngột và kiêng cử huyết, thì có thêm việc kiêng cử mỡ và thịt các loài thú vật không tinh sạch. Thời kỳ này kéo dài khoảng 1475 năm (không có năm 0 giữa năm 1 TCN và năm 1 CN).

Thời Kỳ Tân Ước

Thời kỳ này bắt đầu liền sau khi Đức Chúa Jesus Christ hoàn thành sự chuộc tội cho nhân loại trên thập tự giá vào năm 30 và kéo dài cho đến ngày hôm nay. Trong thời kỳ này, thức ăn dành cho loài người giống như trước thời Cựu Ước, bao gồm các loài cỏ có hột, các loài trái cây có hột, và thịt các loài thú vật đang sống được xẻ thịt và làm cho ráo huyết, chỉ ngoại trừ huyết, thịt thú vật chết ngột, và các thức ăn đã được dâng cúng cho thần tượng (Công Vụ Các Sứ Đồ 10:9-16; 15:29).

Công Vụ Các Sứ Đồ 10:9-16

9 Bữa sau, trong lúc ba người ấy đương đi đường và đã đến gần thành, vừa nhằm giờ thứ sáu Phi-e-rơ leo lên mái nhà để cầu nguyện.

10 người đói và thèm ăn; khi người ta đương dọn cho ăn, thì người bị ngất trí đi.

11 Người thấy trời mở ra, và có vật chi giống như một bức khăn lớn níu bốn chéo lên, giáng xuống và sa đến đất:

12 thấy trong đó có những thú bốn cẳng, đủ mọi loài, côn trùng bò trên đất, và chim trên trời.

13 Lại có tiếng phán cùng người rằng: Hỡi Phi-e-rơ, hãy dậy, làm thịt và ăn.

14 Song Phi-e-rơ thưa rằng: Lạy Chúa, chẳng vậy; vì tôi chẳng ăn giống gì dơ dáy chẳng sạch bao giờ.

15 Tiếng đó lại phán cùng người lần thứ hai rằng: Phàm vật chi Đức Chúa Trời đã làm cho sạch, thì chớ cầm bằng dơ dáy.

16 Lời đó lặp lại ba lần; rồi vật ấy liền bị thâu lên trên trời.

Công Vụ Các Sứ Đồ 15:28-29

29 ấy là Đức Thánh Linh và chúng ta đã ưng rằng chẳng gán gánh nặng nào khác cho anh em ngoài những điều cần dùng,

29 tức là anh em phải kiêng ăn của cúng thần tượng, máu, thú vật chết ngột, và chớ tà dâm; ấy là mọi điều mà anh em khá kiêng giữ lấy vậy. Kính chúc bình an.

Trong khải tượng Chúa ban cho Sứ Đồ Phi-e-rơ, được ghi lại trong Công Vụ Các Sứ Đồ 10:9-16 chúng ta nhận thấy những ý nghĩa sau đây:

  • Đức Chúa Trời đã làm sạch mọi thứ không tinh sạch, từ loài vật cho đến loài người. Đức Chúa Trời ba lần lập lại cùng một lời phán với Phi-e-rơ: “Phàm vật chi Đức Chúa Trời đã làm cho sạch, thì chớ cầm bằng dơ dáy.”
  • Từ đó trở đi, người Do-thái không được coi khinh các dân tộc khác là ô-uế, không tinh sạch vì cớ họ không chịu cắt bì.
  • Cũng không còn sự phân biệt các loài thú vật tinh sạch hoặc không tinh sạch. Các loài thú vật đều được dùng làm thực phẩm cho loài người như trước thời kỳ Cựu Ước.

Thẩm Quyền Tuyệt Đối của Đức Chúa Trời

Qua sự hiện thấy của Phi-e-rơ chúng ta học được một điều là: Khi Đức Chúa Trời muốn, Ngài có thể làm bất cứ điều gì, kể cả thay đổi các định luật, các quy chế… Nói cho cùng, Ngài là Đức Chúa Trời toàn năng cho nên Ngài muốn làm gì thì làm. Nhưng Ngài là tình yêu, cho nên bất cứ những gì Ngài làm đều không đi ngược lại thuộc tính yêu thương của Ngài, vì thế, Đức Chúa Trời là "thiện, sự nhân từ Ngài còn đến đời đời!" Đức Chúa Trời tùy theo từng giai đoạn trong lịch sử loài người mà ban hành những mệnh lệnh khác nhau về cùng một sự việc. Thánh Kinh dạy rõ những điều sau đây:

  • Trong các thời kỳ trước thời kỳ Cựu Ước, không hề có chuyện ngăn cấm anh chị em ruột kết hôn lẫn nhau; nhưng từ thời kỳ Cựu Ước đến nay thì anh chị em ruột không được kết hôn lẫn nhau.
  • Trong các thời kỳ trước cơn Nước Lụt, loài người không được ăn thịt; nhưng từ sau cơn Nước Lụt loài người được phép ăn thịt.
  • Trong thời kỳ Cựu Ước, loài người không được phép ăn thịt các loài thú vật không tinh sạch, thú vật chết ngột, mỡ và huyết. Trong thời kỳ Tân Ước, loài người chỉ bị cấm ăn huyết, thú vật chết ngột ,và thức ăn đã dâng cúng thần tượng.
  • Trong thời kỳ Cựu Ước, ai vi phạm trầm trọng luật pháp của Thiên Chúa thì bị dân chúng ném đá cho đến chết; nhưng trong thời kỳ Tân Ước thì Đấng Christ đã gánh thay án chết cho mọi tội nhân
  • Trong thời kỳ Cựu Ước, chỉ có thầy tế lễ thượng phẩm của dân I-sơ-ra-ên mới có thể mỗi năm một lần vào nơi chí thánh trong đền thờ dưới đất, để làm lễ chuộc tội cho con dân Chúa, ngoài ra, không một ai có thể vào trong nơi chí thánh. Trong thời kỳ Tân Ước, sau khi Đức Chúa Jesus Christ, là thầy tế lễ thượng phẩm đời đời, đã vào nơi chí thánh trên trời một lần để làm lễ chuộc tội cho toàn thể nhân loại, thì tất cả những ai tin nhận sự chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ đều được tự do vào trong nơi chí thánh trên trời (trong tâm thần).

Hê-bơ-rơ 10:19 “Hỡi anh em, vì chúng ta nhờ máu Đức Chúa Jesus được dạn dĩ vào nơi rất thánh.”

Vì Sao Có Sự Khác Biệt Về Các Loài Thú Vật Tinh Sạch và Không Tinh Sạch?

Dù Thánh Kinh không nói rõ nhưng chúng ta có thể hiểu rằng, sau khi loài người phạm tội, tội lỗi vào trong thế gian làm cho mọi loài xác thịt bị thoái hóa và dẫn đến sự chết. Hậu quả là, có những loài thú vật mang nhiều mầm bệnh, nhất là những loài ăn tạp, ăn cả phân hoặc xác chết các loài khác. Những loài thú đó bị xem là không tinh sạch, không thể dâng làm sinh tế lên Thiên Chúa.

Đến khi Thiên Chúa cho phép loài người được ăn thịt trong thời kỳ sau cơn Nước Lụt thì Ngài vẫn chưa ban hành lệnh cấm ăn thịt các loài thú vật không tinh sạch, có lẽ, vì lúc đó hệ thống miễn nhiễm của loài người chưa bị thoái hóa nhiều. Đến thời kỳ Cựu Ước thì mọi loài xác thịt đã bị suy thoái nhiều, các loài thú vật không tinh sạch thì càng mang thêm những mầm bệnh, còn loài người thì hệ thống miễn nhiễm cũng đã quá suy yếu. Vì thế, luật cấm anh chị em ruột kết hôn lẫn nhau và luật cấm ăn thịt các loài thú vật không tinh sạch được ban hành. Ngày nay, y khoa biết được: anh chị em ruột kết hôn lẫn nhau sẽ sinh ra con cái bị nhược trí, rối loạn thần kinh hoặc dị tật; các sinh vật mà Thánh Kinh xếp loại không tinh sạch là những sinh vật có chứa nhiều mầm bệnh, như: sán sơ-mít trong thịt heo, chất cholesterol xấu trong các loài tôm, cua…

Tuy nhiên, thời Tân Ước, Chúa đã phán rõ ràng ba lần về các loài thú vật không tinh sạch, rằng Ngài đã làm cho chúng trở nên tinh sạch. Vì thế, con dân Chúa có thể dùng “vật chi hành động và có sự sống” làm thức ăn theo tinh thần của Sáng Thế Ký 9:3; Công Vụ Các Sứ Đồ 10:15 và 15:29; nghĩa là: ăn mọi thứ thịt nhưng không ăn thịt chưa ráo máu, không ăn thịt thú vật chết ngột, không ăn huyết, và không ăn các thức ăn đã dâng cúng cho thần tượng.

Nhờ Đâu Các Loài Thú Vật Không Tinh Sạch Được Trở Nên Tinh Sạch?

Đức Chúa Trời đã làm điều đó qua sự Ngài chấp nhận huyết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ. Ví cớ loài người phạm tội mà muôn vật dưới quyền cai trị của loài người bị họa lây, cho nên, khi sự cứu chuộc tội lỗi của loài người được hoàn tất thì muôn vật cũng được tinh sạch:

Rô-ma 8:22 “Vì chúng ta biết rằng muôn vật đều than thở và chịu khó nhọc cho đến ngày nay.”

Cô-lô-se 1:20 “và qua Ngài mà phục hòa muôn vật với chính Ngài, dầu là những vật dưới đất hoặc những vật trong các tầng trời; bởi Ngài đã làm nên sự hòa bình thông qua máu của thập tự giá Ngài.”

Muôn vật, trong đó có loài người, được trở nên tinh sạch nhờ vào huyết của Đức Chúa Jesus Christ, nhờ đó mà muôn vật mới có thể phục hòa với Đấng Christ. Tuy nhiên, với loài người, thì mỗi người phải tiếp nhận sự thánh hóa và phục hòa mà Đấng Christ đã ban cho. Ngài đã ban cho sự tha tội, Ngài đã làm cho mỗi người được tinh sạch khỏi tội lỗi, nhưng mỗi người phải nhận lãnh cho chính mình.

Lý Luận của Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm

Giáo Hội Cơ-đốc Phục Lâm và một vài giáo hội khác cho rằng khải tượng của Sứ Đồ Phi-e-rơ chỉ có ý nghĩa, rằng Đức Chúa Trời đã làm cho dân ngoại được tinh sạch chứ không phải các loài thú vật. Tuy nhiên, câu hỏi được đặt ra là: Nếu Đức Chúa Trời vẫn không cho phép loài người ăn thịt các loài thú vật không tinh sạch thì tại sao Đức Chúa Trời lại bảo Phi-e-rơ hãy làm thịt và ăn các loài thú vật không tinh sạch. Nếu Đức Chúa Trời chỉ muốn truyền lệnh cho Phi-e-rơ đừng kỳ thị dân ngoại, xem họ là ô uế nữa, thì Ngài không cần bảo Phi-e-rơ hãy làm thịt và ăn các loài thú không tinh sạch. Ngài chỉ cần trực tiếp phán bảo ông hãy đi giảng Tin Lành cho dân ngoại, như Đức Chúa Jesus Christ đã phán cùng toàn thể môn đồ trong Ma-thi-ơ 28:19 “Vậy, hãy đi khiến cho muôn dân trở nên môn đồ, trong danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh hãy làm phép báp-tem cho họ;” hoặc cho ông có sự mạc khải tương tự như Ngài đã ban cho Sứ Đồ Phao-lô, được ghi lại trong Công Vụ Các Sứ Đồ 16:9-10 “Đương ban đêm, Phao-lô thấy sự hiện thấy; có một người Ma-xê-đoan đứng trước mặt mình, nài xin rằng: Hãy qua xứ Ma-xê-đoan mà cứu giúp chúng tôi. Phao-lô vừa thấy sự hiện thấy đó rồi, chúng ta liền tìm cách qua xứ Ma-xê-đoan, vì đã định rằng Chúa gọi chúng ta rao truyền Tin Lành ở đó.” Hơn nữa, Phi-e-rơ nhận được khải tượng trong khi ông đang đói và thèm ăn.

Đức Chúa Trời đã dùng cơ hội đó để dạy cho Hội Thánh, thông qua Phi-e-rơ, rằng huyết của Đấng Christ đã làm cho muôn vật được tinh sạch để muôn vật có thể phục hòa cùng Đấng Christ. Phủ nhận sự kiện các loài thú không tinh sạch đã được Đức Chúa Trời làm cho tinh sạch là phủ nhận ba lần lời phán của Đức Chúa Trời: “Phàm vật chi Đức Chúa Trời đã làm cho sạch, thì chớ cầm bằng dơ dáy” (Công Vụ Các Sứ Đồ 10:15-16), đồng thời phủ nhận luôn các câu Thánh Kinh sau đây:

Ma-thi-ơ 15:11 “Chẳng phải điều chi vào miệng làm dơ dáy người; nhưng điều chi ở miệng ra, ấy mới là điều làm dơ dáy người vậy!”

Cô-lô-se 1:19-20 “Vì chưng, mọi sự đầy dẫy được vui mà ở trong Ngài, và qua Ngài mà phục hòa muôn vật với chính Ngài, dầu là những vật dưới đất hoặc những vật trong các tầng trời; bởi Ngài đã làm nên sự hòa bình thông qua máu của thập tự giá Ngài.”

Tít 1:15 “Mọi sự là tinh sạch cho những người tinh sạch, nhưng, cho những kẻ dơ dáy và chẳng tin, thì không sự gì là tinh sạch cả; trái lại, tâm thần và lương tâm họ là dơ dáy nữa."

I Ti-mô-thê 4:4 “Vả, mọi vật Đức Chúa Trời đã dựng nên đều là tốt lành cả, không một vật chi đáng bỏ, miễn là mình cảm ơn mà ăn lấy thì được.”

Nếu trong thời Tân Ước vẫn còn phân biệt các loài thú vật tinh sạch hoặc không tinh sạch thì trong Công Vụ Các Sứ Đồ 15:29 Đức Thánh Linh đã phán rằng: Anh em phải kiêng ăn của cúng thần tượng, máu, thú vật chết ngột cùng các loài thú vật không tinh sạch… Nếu quả thật vẫn còn có sự phân biệt tinh sạch và không tinh sạch thì không có lý do gì Đức Thánh Linh nhắc đến máu và thú vật chết ngột mà lại không nhắc đến các loài thú vật không tinh sạch. Chúng ta cũng nhận thấy, trong thời kỳ Tân Ước mỡ cũng không còn bị cấm ăn, bởi vì, trong thời kỳ Tân Ước sự biệt riêng mỡ để dâng lên Thiên Chúa cũng không còn nữa. Huyết vẫn bị cấm ăn vì trong huyết có sự sống và thú vật bị chết ngột vẫn bị cấm ăn vì khi thú vật bị chết ngột thì huyết vẫn còn trong thân thể chúng.

Thái Độ Nên Có của Con Dân Chúa Đối Với Các Thức Ăn

Thánh Kinh đã dạy rõ cho con dân Chúa thái độ nên có đối với các thức ăn:

  • Không được ăn huyết.
  • Không được ăn thịt thú vật chết ngột.
  • Không được ăn các thức ăn đã dâng cúng cho thần tượng.
  • Ngoài ra, mọi sự là tinh sạch cho những người tinh sạch, tức là, đối cới con dân Chúa, không còn sự phân biệt tinh sạch và không tinh sạch đối với các loài thú vật dùng làm thức ăn: "Mọi sự là tinh sạch cho những người tinh sạch, nhưng, cho những kẻ dơ dáy và chẳng tin, thì không sự gì là tinh sạch cả; trái lại, tâm thần và lương tâm họ là dơ dáy nữa." (Tít 1:15)

Về sau, trong các thư tín, Sứ Đồ Phao-lô cũng dạy rằng, luật phân biệt các thức ăn tinh sạch với thức ăn không tinh sạch chẳng còn áp dụng cho tín đồ nữa. Tuy nhiên, nếu ai muốn tiếp tục kiêng cử thì cứ kiêng cử nhưng đừng xét đoán người không kiêng cử. Theo Phao-lô, người kiêng cử là người có đức tin yếu đuối (vì không dám tin vào khải tượng Chúa đã tỏ ra cho Phi-e-rơ):

Rô-ma 14:1-6

1 Hãy bằng lòng tiếp lấy kẻ kém đức tin, chớ cãi lẫy về sự nghi ngờ.

2 Người nầy tin có thể ăn được cả mọi thứ; người kia là kẻ yếu đuối, chỉ ăn rau mà thôi.

3 Người ăn chớ khinh dể kẻ không ăn; và người không ăn chớ xét đoán kẻ ăn, vì Đức Chúa Trời đã tiếp lấy người.

4 Ngươi là ai mà dám xét đoán tôi tớ của kẻ khác? Nó đứng hay ngã, ấy là việc chủ nó; song nó sẽ đứng, vì Chúa có quyền cho nó đứng vững vàng.

5 Người nầy tưởng ngày nầy hơn ngày khác, kẻ kia tưởng mọi ngày đều bằng nhau; ai nấy hãy tin chắc ở trí mình.

6 Kẻ giữ ngày là giữ vì Chúa; kẻ ăn là ăn vì Chúa, vì họ tạ ơn Đức Chúa Trời; kẻ chẳng ăn cũng chẳng ăn vì Chúa, họ cũng tạ ơn Đức Chúa Trời.

(Sự giữ ngày nói đến trong những câu trên đây không phải là sự giữ ngày Sa-bát theo điều răn của Đức Chúa Trời mà con dân Chúa trong mọi thời đại phải vâng giữ, kể cả thời ngàn năm bình an, nhưng là sự giữ ngày kiêng ăn, là điều Thánh Kinh không quy định, cho nên, ai muốn kiêng ăn vào ngày nào thì cứ kiêng ăn vào ngày đó. Ngay cả sự kiêng ăn, Thánh Kinh cũng không đặt thành điều răn, ngoại trừ việc kêu gọi tội nhân kiêng ăn trong sự ăn năn tội và kêu gọi con dân Chúa kiêng ăn để đuổi những thứ quỷ dữ.)

I Ti-mô-thê 4:1-5

1 Vả, Đức Thánh Linh phán tỏ tường rằng, trong đời sau rốt, có mấy kẻ sẽ bội đạo mà theo các thần lừa dối, và đạo lý của quỷ dữ,

2 bị lầm lạc bởi sự giả hình của giáo sư dối, là kẻ có lương tâm đã lì,

3 họ sẽ cấm cưới gả, và biểu kiêng các thức ăn Đức Chúa Trời đã dựng nên cho kẻ có lòng tin và biết lẽ thật, tạ ơn mà dùng lấy.

4 Vả, mọi vật Đức Chúa Trời đã dựng nên đều là tốt lành cả, không một vật chi đáng bỏ, miễn là mình cảm ơn mà ăn lấy thì được;

5 vì nhờ Lời Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được nên thánh.

Nhờ Lời Đức Chúa Trời tức là nhờ lời Ngài đã phán ba lần cùng Sứ Đồ Phi-e-rơ: “Phàm vật chi Đức Chúa Trời đã làm cho sạch, thì chớ cầm bằng dơ dáy” (Công Vụ Các Sứ Đồ 10:15). Nhờ lời cầu nguyện tức là nhờ lời mà chúng ta cảm tạ Chúa khi nhận lãnh thức ăn.

Kết Luận

Mỗi con dân Chúa là một đền thờ của Đức Chúa Trời có Đức Thánh Linh ngự trong thân thể mình. Vì là đền thờ của Chúa, đã được rưới bằng huyết của Chúa rồi (Khải Huyền 1:6), nên thân thể của chúng ta trở nên rất thánh. Vật chi đụng vào chúng ta thì cũng trở nên thánh:

Xuất Ê-díp-tô Ký 29:37 “…bàn thờ sẽ trở nên rất thánh, phàm vật chi đụng đến đều sẽ được nên thánh vậy.”

Các thức ăn không thể làm ô uế chúng ta. Chính Đức Chúa Jesus Christ đã phán dạy như vậy:

Ma-thi-ơ 15:11 “Chẳng phải điều chi vào miệng làm dơ dáy người; nhưng điều chi ở miệng ra, ấy mới là điều làm dơ dáy người vậy!”

Ngay cả người chồng hay người vợ chưa tin Chúa mà bằng lòng sống chung với chúng ta sau khi chúng ta tin nhận Chúa, và con cái của chúng ta có với họ, cũng đều nhờ chúng ta mà được nên thánh:

I Cô-rinh-tô 7:14 “Bởi vì, chồng không tin Chúa, nhơn vợ mình được nên thánh, vợ không tin Chúa, nhơn chồng mình tin Chúa được nên thánh; bằng chẳng vậy, con cái anh em nên chẳng sạch, song nay đều là thánh.”

(Sự nên thánh này không phải là sự nên thánh để được cứu rỗi, tức là sự được tha tội và làm cho sạch tội, mà là sự được Đức Chúa Trời biệt riêng [2] họ ra để chúng ta có thể sống chung với họ. Nếu họ không ăn năn tội và tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời thì họ vẫn ở trong địa vị bị hư mất đời đời. Câu Thánh Kinh này cũng không hàm ý cho phép con dân Chúa được kết hôn với người chưa tin Chúa. Đây là trường hợp của những cặp vợ chồng không tin Chúa, nhưng sau đó, một trong hai người tin nhận Chúa.)

Dầu trong thời Tân Ước, các loài thú vật đều đã được Đức Chúa Trời làm cho tinh sạch, nhưng không phải thức ăn nào cũng có ích cho chúng ta. Có người bị dị ứng với một số thức ăn và tham ăn thì sẽ làm hại sức khỏe. Vậy, chúng ta kiêng cử một số thức ăn là vì nó không hợp với khẩu vị của chúng ta hoặc không hợp với thể chất của chúng ta, chứ không phải vì tin rằng ăn thức ăn đó là vi phạm luật pháp của Thiên Chúa.

Nguyện Đức Thánh Linh luôn dắt chúng ta vào trong mọi lẽ thật của Lời Chúa. A-men!

Huỳnh Christian Timothy
09.10.2012

Ghi Chú

[A] Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012. Quý bạn có thể đọc trên mạng: www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.netwww.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

[B] Dùng hai nối mạng dưới đây để tra xem ý nghĩa trong Anh ngữ và nghe cách phát âm của một từ ngữ Hê-bơ-rơ trên Internet:

[C] Dùng hai nối mạng dưới đây để tra xem ý nghĩa trong Anh ngữ và nghe cách phát âm của một từ ngữ Hy-lạp trên Internet:

[1] Xem bài “Ngày Chúa Chết và Ngày Chúa Phục Sinh” tại đây: http://timhieutinlanh.net/node/579 hoặc tải xuống tại đây: http://www.divshare.com/download/15657691-93e

[2] Chữ thánh ngoài nghĩa tinh sạch còn có nghĩa là biệt riêng ra cho một mục đích nào đó.


Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry.
Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Đọc Tiếp →

Có Phải Người Đã Được Cứu Rỗi Thì Không Bao Giờ Bị Hư Mất?

Huỳnh Christian Timothy

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống bài viết này:
http://www.mediafire.com/view/?58g7swnm8mxwm95

Bấm vào nối mạng dới đây để nghe và tải xuống MP3 bài giảng này:
 

Xin đọc bài “Đức Tin Thể Hiện Qua Việc Làm” trước khi đọc bài này.
Đọc trên mạng: http://thanhoc.timhieutinlanh.net/node/295
Tải xuống: http://www.mediafire.com/view/?b5257uv6j575w3b

Dẫn Nhập

Giáo lý “Tin Chúa Một Lần Được Cứu Vĩnh Viễn” [1] với ý nghĩa “người đã được cứu rỗi thì không bao giờ bị hư mất” là một tà giáo. Gọi là tà giáo bởi vì giáo lý này không đúng với Thánh Kinh. Chúng ta có thể tra tìm khắp trong Thánh Kinh mà không bao giờ gặp câu nào nói rằng, một người đã được cứu rỗi thì không bao giờ bị hư mất. Trái lại, Thánh Kinh cho biết, người nào đã được cứu rỗi mà trở về sống trong tội lỗi thì sẽ bị hư mất và bị hình phạt nặng hơn người không bao giờ tin nhận Chúa.

Sự Trọn Vẹn của Đức Chúa Cha

Thiên Chúa nói chung và Đức Chúa Cha nói riêng là trọn vẹn trong sự yêu thương, thánh khiết, và công chính. Ngài yêu thương trọn vẹn nên hy sinh Con Một của Ngài để cứu chuộc nhân loại. Ngài thánh khiết trọn vẹn nên không thể chấp nhận một chút tội lỗi nào. Ngài công chính trọn vẹn nên mọi tội lỗi phải bị hình phạt cách nghiêm khắc. Như vậy, làm sao chúng ta có thể nói rằng một Đức Chúa Trời trọn vẹn có thể bỏ qua nếp sống tội lỗi của những kẻ xưng mình là con dân của Ngài?

Thánh Kinh thường dùng hình ảnh quan hệ vợ chồng để nói đến quan hệ giữa Chúa và con dân của Ngài. Chúng ta hãy suy nghĩ về trường hợp sau đây:

Một người vợ ưa thích tà dâm, lén lút ngoại tình, rồi bị tình nhân gạt bán vào ổ điếm. Người chồng đi tìm vợ và bỏ tiền ra chuộc vợ về, tha thứ và phục hồi địa vị làm vợ cho người vợ bất trung đó. Nay, có thể nào người vợ nói rằng, vì chồng tôi yêu tôi, tha thứ cho tôi, tìm chuộc tôi về và tôi tin nhận tình yêu, sự tha thứ và sự cứu chuộc của chồng tôi, cho nên, từ nay, dầu tôi có thỉnh thoảng ngoại tình theo sự ưa thích tà dâm của tôi thì tôi cũng sẽ không mất địa vị làm vợ?

Thánh Kinh luôn luôn răn đe việc một người đã tin Chúa mà bội đạo, không trung tín sống theo Lời Chúa, thì sẽ bị hư mất đời đời. Được cứu rỗi là được Đức Chúa Trời ban cho địa vị công bình và năng lực từ Đức Thánh Linh để chọn lựa sống và làm theo Lời Chúa hoặc sống và làm theo xác thịt. Sống và làm theo Lời Chúa thì sẽ nhận được sự sống đời đời cùng với các phần thưởng ban cho, tùy theo các việc lành đã làm. Sống và làm theo xác thịt thì sẽ bị hư mất đời đời và bị hình phạt, tùy theo mỗi việc tội lỗi đã làm. Không hề có chuyện một người đã được cứu rỗi, nếu sống trong tội mà không ăn năn thì bị mất phần thưởng nhưng vẫn được hưởng sự sống đời đời. Không một chỗ nào trong Thánh Kinh nói rằng một người không ăn năn tội mà được sự sống đời đời.

Lẽ Thật của Lời Chúa

Thánh Kinh không dùng một vài câu mà dành ra nhiều phân đoạn để dạy rõ rằng: Một người đã tin Chúa, đã nếm biết quyền phép của đời sau (tức là đã được tái sinh và ban cho Thánh Linh), mà trở về sống trong tội thì sẽ bị hư mất đời đời. Dưới đây là những phân đoạn Thánh Kinh đó:

Ga-la-ti 5:19-21

Vả, các việc làm của xác thịt là rõ ràng lắm: ấy là gian dâm, ô uế, luông tuồng, thờ hình tượng, phù phép, thù oán, tranh đấu, ghen ghét, buồn giận, cãi lẫy, bất bình, bè đảng, ganh gổ, say sưa, mê ăn uống, cùng các sự khác giống như vậy. Tôi nói trước cho anh em, như tôi đã nói rồi: hễ ai phạm những việc thể ấy thì không được hưởng vương quyền của Thiên Chúa.

Ê-phê-sô 5:3-7

Phàm những sự gian dâm, hoặc sự ô uế, hoặc sự tham lam, cũng chớ nên nói đến giữa anh em, theo như cách xứng đáng cho các thánh đồ. Chớ nói lời tục tỉu, chớ giễu cợt, chớ giả ngộ tầm phào, là những điều không đáng, nhưng thà cảm tạ ơn Chúa thì hơn. Vì anh em phải biết rõ rằng kẻ gian dâm, ô uế, tham lam, tức là kẻ thờ hình tượng, không một kẻ nào được dự phần kế nghiệp vương quốc của Đấng Christ là Thiên Chúa. Đừng để cho ai lấy lời giả trá phỉnh dổ anh em; vì ấy là nhơn những điều đó mà cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời giáng trên các con bạn nghịch. Vậy, chớ có thông đồng điều chi với họ hết.”

Phi-líp 3:17-19

Hỡi anh em, hãy bắt chước tôi, lại xem những kẻ ăn ở theo mẫu mực mà anh em thấy trong chúng tôi. Vì tôi đã thường nói điều nầy cho anh em, nay tôi lại khóc mà nói nữa: lắm người có cách ăn ở như là kẻ thù nghịch thập tự giá của Đấng Christ. Sự cuối cùng của họ là hư mất; họ lấy sự xấu hổ của mình làm vinh quang, chỉ tư tưởng về các việc thế gian mà thôi.”

Hê-bơ-rơ 6:4-8

Vì chưng những kẻ đã được soi sáng một lần, đã nếm sự ban cho từ trên trời, dự phần về Thánh Linh, Lời lành của Thiên Chúa, và năng lực của đời sau, nếu lại vấp ngã, thì không thể khiến họ lại ăn năn nữa, vì họ đóng đinh Con Đức Chúa Trời trên thập tự giá cho mình một lần nữa, làm cho Ngài sỉ nhục tỏ tường. Vả, một đám đất nhờ mưa đượm nhuần mà sanh cây cỏ có ích cho người cày cấy, thì đất đó hưởng phần phước lành của Đức Chúa Trời. Nhưng đất nào chỉ sanh ra những cỏ rạ, gai gốc, thì bị bỏ, và hầu bị rủa, cuối cùng phải bị đốt.”

Hê-bơ-rơ 10:26-31

Vì nếu chúng ta đã nhận biết lẽ thật rồi, mà lại cố ý phạm tội, thì không còn có tế lễ chuộc tội nữa, nhưng chỉ có sự đợi chờ kinh khiếp về sự phán xét, và lửa hừng sẽ đốt cháy kẻ bội nghịch mà thôi.Ai đã phạm luật pháp Môi-se, nếu có hai ba người làm chứng, thì chết đi không thương xót, huống chi kẻ giày đạp Con Đức Chúa Trời, coi máu của giao ước, tức là máu mà mình nhờ nên thánh, là ô uế, lại khinh lờn Đấng Thần Linh của ân điển, thì anh em há chẳng tưởng rằng người ấy đáng bị hình rất nghiêm đoán phạt hay sao? Vì chúng ta biết Đấng đã phán rằng: Sự trả thù thuộc về Ta; Ta sẽ báo ứng, ấy là lời Chúa phán. Lại rằng: Chúa sẽ xét đoán dân mình. Sa vào tay Thiên Chúa Hằng Sống là sự đáng kinh khiếp thay!”

II Phi-e-rơ 2

Dầu vậy, trong dân chúng cũng đã có tiên tri giả, và cũng sẽ có giáo sư giả trong anh em; họ sẽ truyền những đạo dối làm hại, chối Chúa đã chuộc mình, tự mình chuốc lấy sự hủy phá thình lình. Có nhiều kẻ sẽ theo họ trong những sự buông tuồng, và Đạo thật vì cớ họ sẽ bị gièm pha.

Họ sẽ bởi lòng tham mình, lấy lời dối trá khoét anh em; nhưng sự kêu án nghịch cùng họ đã nghị định từ lâu nay, và sự hư mất của họ chẳng ngủ. Vả, nếu Đức Chúa Trời chẳng tiếc các thiên sứ đã phạm tội, nhưng quăng vào trong vực sâu, tại đó họ bị trói buộc bằng xiềng nơi tối tăm để chờ sự phán xét; nếu Ngài chẳng tiếc thế gian xưa, trong khi sai nước lụt phạt đời gian ác nầy, chỉ gìn giữ Nô-ê là thầy giảng đạo công bình, với bảy người khác mà thôi; nếu Ngài đã đoán phạt thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ, hủy phá đi khiến hóa ra tro, để làm gương cho người gian ác về sau; nếu Ngài đã giải cứu người công bình là Lót, tức là kẻ quá lo vì cách ăn ở luông tuồng của bọn gian tà kia, (vì người công bình nầy ở giữa họ, mỗi ngày nghe thấy việc trái phép của họ bèn cảm biết đau xót trong lòng công bình mình), thì Chúa biết cứu chữa những người tôn kính khỏi cơn cám dỗ, và hành phạt kẻ không công bình, cầm chúng nó lại để chờ ngày phán xét, nhứt là những kẻ theo lòng tư dục ô uế mình mà ham mê sự sung sướng xác thịt, khinh dể quyền phép rất cao. Bọn đó cả gan, tự đắc, nói hỗn đến các bậc tôn trọng mà không sợ, dẫu các thiên sứ, là đấng có sức mạnh quyền phép hơn chúng nó, còn không hề lấy lời nguyền rủa mà xử đoán các bậc đó trước mặt Chúa.

Nhưng chúng nó cũng như con vật không biết chi, sanh ra chỉ làm thú vật để bị bắt mà làm thịt, hay chê bai điều mình không biết, rồi chết đi như con vật, dường ấy chúng nó lãnh lấy tiền công về tội ác mình. Chúng nó lấy sự chơi bời giữa ban ngày làm sung sướng, là người xấu xa ô uế, ưa thích sự dối trá mình đang khi ăn tiệc với anh em; cặp mắt chúng nó đầy sự gian dâm, chúng nó phạm tội không bao giờ chán, dỗ dành những người không vững lòng, chúng nó có lòng quen thói tham dục: ấy là những con cái đáng rủa sả. Chúng nó đã bỏ đường thẳng mà đi sai lạc theo đường của Ba-la-am, con trai Bô-sô, là kẻ tham tiền công của tội ác; nhưng người bị trách về sự phạm tội của mình, bởi có một con vật câm nói tiếng người ta, mà ngăn cấm sự điên cuồng của người tiên tri đó.

Ấy là những suối không nước, những đám mây bị luồng gió mạnh đưa đi và sự tối tăm mờ mịt đã để dành cho chúng nó. Chúng nó dùng những lời văn hoa hư đản, đem những điều ham muốn của xác thịt và điều gian dâm mà dỗ dành những kẻ mới vừa tránh khỏi các người theo đường lầm lạc; chúng nó hứa sự tự do cho người, mà chính mình thì làm tôi mọi sự hư nát; vì có sự chi đã thắng hơn người, thì người là tôi mọi sự đó.

Vả, chúng nó bởi sự nhận biết Chúa và Đấng Giải Cứu chúng ta là Đức Chúa Jesus Christ, mà đã thoát khỏi sự ô uế của thế gian, rồi lại mắc phải và suy phục những sự đó, thì số phận sau cùng của chúng nó trở xấu hơn lúc đầu. Chúng nó đã biết đường công bình, rồi lại lui đi về lời răn thánh đã truyền cho mình, thế thì thà rằng không biết là hơn. Đã xảy đến cho chúng nó như lời tục ngữ rằng: Chó liếm lại đồ nó đã mửa, heo đã rửa sạch rồi, lại lăn lóc trong vũng bùn.”

Ngoài ra, chính Đức Chúa Jesus Christ là Đấng chịu chết để chuộc tội cho nhân loại, cũng đã nhiều lần cảnh cáo các môn đồ qua những lời phán dạy và các ngụ ngôn:

Ngụ Ngôn về Muối

Các ngươi là muối của đất; song nếu mất mặn đi, thì sẽ lấy giống chi mà làm cho mặn lại? Muối ấy không dùng chi được nữa, chỉ phải quăng ra ngoài và bị người ta đạp dưới chơn” (Ma-thi-ơ 5:13).

Số Phận Những Kẻ Nhân Danh Chúa Làm Nhiều Phép Lạ Nhưng Không Làm Theo Lời Chúa

Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng Ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì đều được vào Vương Quốc Trời đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha Ta ở trên trời mà thôi. Ngày đó, sẽ có nhiều người thưa cùng Ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng tôi chẳng từng nhơn danh Chúa mà nói tiên tri sao? nhơn danh Chúa mà trừ quỷ sao? và lại nhơn danh Chúa mà làm nhiều phép lạ sao? Khi ấy, Ta sẽ phán rõ ràng cùng họ rằng: Hỡi những kẻ làm gian ác, Ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi Ta” (Ma-thi-ơ 7:21-23)!

Ngụ Ngôn về Đầy Tớ Không Thương Xót

Nếu mỗi người trong các ngươi không hết lòng tha lỗi cho anh em mình, thì Cha Ta ở trên trời cũng sẽ xử với các ngươi như vậy"  (Ma-thi-ơ 18:35).

Ngụ Ngôn về Tiệc Cưới

Vua vào xem khách dự tiệc, chợt thấy một người không mặc áo lễ, thì phán cùng người rằng: Hỡi bạn, sao ngươi vào đây mà không mặc áo lễ? Người đó làm thinh. Vua bèn truyền cho đầy tớ rằng: Hãy trói tay chơn nó lại, và quăng ra ngoài nơi tối tăm, là nơi sẽ có khóc lóc và nghiến răng. Bởi vì có nhiều kẻ được gọi, mà ít người được chọn(Ma-thi-ơ 22:11-14).

Ngụ Ngôn về Đầy Tớ Bất Trung

Ai là đầy tớ trung tín và khôn ngoan, mà người chủ đặt cai trị đầy tớ mình, đặng cho đồ ăn đúng giờ? Phước cho đầy tớ đó, khi chủ đến thấy làm như vậy! Quả thật, ta nói cùng các ngươi, chủ sẽ đặt kẻ ấy coi sóc cả gia tài mình. Nếu, trái lại, là một đầy tớ xấu, nó nghĩ thầm rằng: Chủ ta đến chậm, bèn đánh kẻ cùng làm việc với mình, và ăn uống với phường say rượu, thì chủ nó sẽ đến trong ngày nó không ngờ và giờ nó không biết. Chủ sẽ đánh xé xương và định phần nó đồng với kẻ giả hình. Đó là nơi sẽ có khóc lóc và nghiến răng (Ma-thi-ơ 24:45-51).

Ngụ Ngôn về Các Nữ Đồng Trinh

Chặp lâu, những người nữ đồng trinh khác cũng đến và xin rằng: Hỡi Chúa, hỡi Chúa, xin mở cho chúng tôi! Nhưng người đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, ta không biết các ngươi đâu” (Ma-thi-ơ 25:11-12).

Ngụ Ngôn về Các Ta-lâng

Còn tên đầy tớ vô ích đó, hãy quăng nó ra ngoài là chỗ tối tăm, ở đó sẽ có khóc lóc và nghiến răng(Ma-thi-ơ 25:30).

Số Phận Những Kẻ Không Có Lòng Thương Xót

Kế đó, Ngài sẽ phán cùng những người ở bên tả rằng: Hỡi kẻ bị rủa, hãy lui ra khỏi Ta; đi vào lửa đời đời đã sắm sẵn cho ma quỷ và những quỷ sứ nó. Vì Ta đã đói, các ngươi không cho ăn; Ta khát, các ngươi không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi không mặc cho Ta; Ta đau và bị tù, các ngươi không thăm viếng. Đến phiên các ngươi nầy bèn thưa lại rằng: Lạy Chúa, khi nào chúng tôi đã thấy Chúa, hoặc đói, hoặc khát, hoặc làm khách lạ, hoặc trần truồng, hoặc đau ốm, hoặc bị tù mà không hầu việc Ngài ư? Ngài sẽ đáp lại rằng: Quả thật, Ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi không làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy, ấy là các ngươi cũng không làm cho Ta nữa. Rồi những kẻ nầy sẽ vào hình phạt đời đời, còn những người công bình sẽ vào sự sống đời đời” (Ma-thi-ơ 25:41-46).

Ngụ Ngôn về Gốc Nho và Các Nhánh Nho

Ta là gốc nho thật; và Cha Ta là người trồng nho. Mỗi nhánh trong Ta mà không kết quả, thì chính Ngài chặt bỏ nó; và Ngài tỉa sửa từng nhánh nào kết quả, để nó được sai trái hơn… Nếu ai chẳng cứ ở trong Ta, thì bị ném ra ngoài, như một nhánh và bị khô đi; và người ta gom chúng lại, ném vào trong lửa, thì nó cháy” (Giăng 15:1-2, 6).

Lời Kêu Gọi và Cảnh Cáo Các Hội Thánh

Vậy, hãy nhớ lại ngươi đã sa sút từ đâu. Hãy cải hối và làm những việc ban đầu; nếu không, Ta sẽ mau chóng đến với ngươi và sẽ cất chân đèn ngươi khỏi chỗ nó, trừ khi ngươi cải hối” (Khải Huyền 2:5).

Ta đã cho nó thời gian để cải hối sự tà dâm nó mà nó chẳng chịu cải hối. Này, Ta sẽ quăng nó trên giường đau đớn và quăng những kẻ phạm tà dâm với nó vào cơn hoạn nạn lớn, trừ khi chúng cải hối những việc làm của chúng. Ta sẽ diệt con cái nó bằng sự chết và tất cả các Hội Thánh sẽ biết rằng: Ta là Đấng dò xét tâm can và sẽ báo cho mỗi các ngươi tùy theo những việc làm của các ngươi” (Khải Huyền 2:21-23).

Ta biết những việc làm ngươi. Ngươi không lạnh cũng không nóng. Ước gì các ngươi lạnh hoặc nóng! Vì ngươi hâm hẫm, không lạnh cũng không nóng, Ta sẽ mửa ngươi ra khỏi miệng Ta” (Khải Huyền 3:15-16).

Sự Dối Trá của Sa-tan

Các giáo sư giả, giảng dạy tà giáo “Người đã được cứu rỗi thì không bao giờ bị hư mất” bẻ cong ý nghĩa của một số câu Thánh Kinh để phục vụ cho mục đích gạt người của họ. Dưới đây là một số câu điển hình:

Giăng 10:28-29

Giăng 10:28-29 chép: “Ta ban cho chúng sự sống đời đời; chúng chẳng hư mất đời đời; và chẳng ai giựt chúng khỏi tay Ta. Cha Ta là Đấng lớn hơn hết đã ban chúng cho Ta, và chẳng ai có thể giựt chúng khỏi tay Cha Ta.” Khi đặt câu nói này của Chúa trong văn mạch thì chúng ta thấy chữ “chúng” trong hai câu này thay thế cho chữ “các chiên Ta” trong câu 27 trước đó: “Các chiên Ta nghe tiếng Ta, Ta biết chúng, và chúng theo Ta.”

Thế nào là “chiên của Chúa?” Chiên của Chúa nghe tiếng Chúa, tức là vâng theo mọi lời phán của Chúa như con cái nghe theo cha mẹ là con cái vâng theo mọi lời dạy của cha mẹ. Chiên của Chúa được Chúa biết đến chứ không phải như những kẻ không làm theo Lời Chúa nhưng cứ nhân danh Chúa nói tiên tri, trừ quỷ, và làm nhiều phép lạ mà Chúa phán với họ rằng: “Ta không biết các ngươi bao giờ” (Ma-thi-ơ 7:21-23). Chiên của Chúa theo Chúa, tức là sống theo Ngài, làm theo như Ngài đã làm, là vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời (I Giăng 2:3-6), là từ bỏ chính mình, vác thập tự giá mình mà theo Chúa mỗi ngày (Lu-ca 9:23).

Trong câu 26 Chúa phán: “Nhưng các ngươi không tin Ta, vì các ngươi chẳng phải là chiên của Ta,” đã cho chúng ta thấy rõ, chỉ những ai có đức tin nơi Chúa mới là chiên của Chúa, và được Chúa ban cho sự sống đời đời, chẳng hư mất bao giờ. Có đức tin nơi Chúa tức là “hiểu biết, công nhận và làm theo mọi lời Chúa phán.”

Để được làm chiên của Chúa, trở nên con cái của Đức Chúa Trời và ở lại trong địa vị con cái của Đức Chúa Trời thì một người phải vâng lời Chúa mà ra khỏi nếp sống tội lỗi. II Cô-rinh-tô 6:17-18 chép:

Bởi vậy Chúa phán rằng: Hãy ra khỏi giữa chúng nó, hãy phân rẽ ra khỏi chúng nó, đừng đá động đến đồ ô uế, Thì Ta sẽ tiếp nhận các ngươi: Ta sẽ làm Chúa các ngươi, các ngươi làm con trai con gái Ta, Chúa Toàn năng phán như vậy.”

Chính sự kiện đã ra khỏi nếp sống tội hay vẫn còn ở trong nếp sống tội là bông trái và ấn chứng rằng một người có hay không có sự cứu rỗi.

I Cô-rinh-tô 3:14-15

I Cô-rinh-tô 3:14-15 chép: “Ví bằng công việc của ai xây trên nền được còn lại, thì thợ đó sẽ lãnh phần thưởng mình. Nếu công việc họ bị thiêu hủy, thì mất phần thưởng. Còn về phần người đó, sẽ được cứu, song dường như qua lửa vậy.” Trước hết, chúng ta cần đặt hai câu Thánh Kinh này vào trong văn mạch của nó, bắt đầu từ câu 9 và chấm dứt ở câu 15.

9 Vả, chúng tôi là bạn cùng làm việc với Thiên Chúa; anh em là ruộng Thiên Chúa cày, nhà Thiên Chúa xây.
10 Theo ơn Đức Chúa Trời ban cho tôi, tôi đã lập nên như một tay thợ khéo, mà có kẻ khác cất lên trên; nhưng ai nấy phải cẩn thận về sự mình xây trên nền đó.
11 Vì, chẳng ai có thể lập một nền khác ngoài nền đã lập, là Đức Chúa Jesus Christ.
12 Nếu có kẻ lấy vàng, bạc, bửu thạch, gỗ, cỏ khô, rơm rạ mà xây trên nền ấy,
13 thì công việc của mỗi người sẽ bày tỏ ra. Ngày đến sẽ tỏ tường công việc đó; nó sẽ trình ra trong lửa, và công việc của mỗi người đáng giá nào, lửa sẽ chỉ ra.
14 Ví bằng công việc của ai xây trên nền được còn lại, thì thợ đó sẽ lãnh phần thưởng mình.
15 Nếu công việc họ bị thiêu hủy, thì mất phần thưởng. Còn về phần người đó, sẽ được cứu, song dường như qua lửa vậy.

Đoạn Thánh Kinh này nói đến nếp sống Đạo của một người đã tin nhận Chúa trong công tác xây dựng Hội Thánh của Chúa. Câu 9 nói đến “anh em là nhà của Đức Chúa Trời xây” là nói đến Hội Thánh vì Thánh Kinh gọi Hội Thánh là nhà của Đức Chúa Trời (I Ti-mô-thê 3:15). Câu 10 nói đến sự Sứ Đồ Phao-lô thành lập nền tảng cơ bản của Hội Thánh tại Cô-rinh-tô và các tín đồ tại Cô-rinh-tô có bổn phận tiếp tục xây dựng Hội Thánh trên nền tảng đó. Câu 11 nhấn mạnh nền tảng của Hội Thánh là Đấng Christ. Câu 12 so sánh việc xây dựng Hội Thánh của các tín đồ với các vật liệu khác nhau, từ các vật liệu quý như vàng, bạc, bửu thạch đến các vật liệu tầm thường như gỗ, cỏ khô, rơm rạ. Tất cả đều là những vật liệu có thể dùng trong sự xây cất nhưng sự tốt đẹp và mức độ bền vững khác nhau. Câu 13 cho biết sẽ có một ngày giá trị các vật liệu dùng để xây dựng Hội Thánh bị thử nghiệm. Sự thử nghiệm đó là công bình và nghiêm khắc. Công bình vì mỗi vật liệu đều được thử nghiệm cùng một cách là đưa qua lửa. Lửa tiêu biểu cho sự thánh khiết của Thiên Chúa và tiêu biểu cho sự thử nghiệm nghiêm khắc. Lửa thiêu đốt các tạp chất, nếu có, lẫn lộn trong các vật liệu quý và thiêu hủy các vật liệu rẽ tiền. Câu 14 nói đến phần thưởng dành cho những người đã dùng các vật liệu quý mà xây dựng Hội Thánh, vì việc làm của họ còn lại cho đến đời đời. Câu 15 nói đến những người xây dựng Hội Thánh bằng các vật liệu tầm thường sẽ không có phần thưởng, vì việc làm của họ không còn lại, dầu vậy, họ vẫn được cứu vì họ thật lòng từ bỏ tội và tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ. Phân đoạn Thánh Kinh này không hề dạy rằng những người dùng vật liệu tầm thường để xây dựng Hội Thánh là những người sống trong tội.

Lấy Lu-ca 21:1-4 để làm thí dụ về việc dâng hiến tiền bạc trong công việc xây dựng Hội Thánh, chúng ta sẽ thấy hai đồng tiền của một người đàn bà góa nghèo chính là “vàng, bạc, bửu thạch” còn vô số tiền dâng hiến của những người giàu có chỉ là “gỗ, cỏ khô, rơm rạ.” Một bên “đã dâng hết của mình có để nuôi mình,” còn một bên “lấy của dư mình mà làm của dâng.” Người đời chúng ta còn biết nói: “Cách cho hơn của cho,” Vậy thì, việc Đức Chúa Trời ban thưởng cho người đàn bà góa đã dâng hết của nuôi mình lên Ngài và không ban thưởng gì cho những người giàu có dâng của dư lên Ngài là điều công bình vậy. I Cô-rinh-tô 3:14-15 tuyệt đối không hề dạy rằng: “Người đã được cứu rỗi thì không bao giờ bị hư mất.”

I Cô-rinh-tô 5:5

I Cô-rinh-tô 5:5 chép: “rằng, một người như thế phải phó cho quỷ Sa-tan, để hủy hoại phần xác thịt, hầu cho linh hồn được cứu trong ngày Đức Chúa Jesus.” Các giáo sư giả dạy rằng, người đã tin Chúa rồi, nếu có tội mà không ăn năn, nghĩa là cứ tiếp tục sống trong tội, thì dù cho có bị cắt đứt ra khỏi Hội Thánh, bị Sa-tan hủy hoại thân xác trong đời này, nhưng khi Chúa đến thì người ấy vẫn được cứu. Nếu đúng như vậy thì Đức Chúa Jesus Christ không cần phải đến thế gian để chết chuộc tội cho loài người; vì một người có thể được cứu nếu thân xác bị Sa-tan hủy hoại! Như vậy, dưới trời ngoài danh của Đức Chúa Jesus Christ ra còn có danh Sa-tan để khiến cho một người được cứu!

Ý nghĩa của I Cô-rinh-tô 5:5 là: mục đích sự cắt đứt một người ra khỏi Hội Thánh và để mặc cho Sa-tan hủy hoại thân xác của người ấy, là để dẫn người ấy đến sự ăn năn như Thánh Kinh đã nói rõ trong Rô-ma 2:4. Nếu người ấy không ăn năn thì người ấy vẫn bị hư mất. Mục đích sự chết của Đức Chúa Jesus Christ là để những ai ăn năn tội thì được cứu, nhưng những ai không ăn năn tội thì đương nhiên vẫn bị hư mất đời đời. Chúng ta không thể nói rằng, Đức Chúa Jesus nhập thế làm người, chịu chết thay cho nhân loại tội lỗi, hầu cho nhân loại tội lỗi được cứu khỏi sự hư mất trong ngày phán xét, thì có nghĩa là: dù cho có ai không ăn năn tội, người ấy vẫn được cứu.

I Cô-rinh-tô 11:32

I Cô-rinh-tô 11:32 chép “Song khi chúng ta bị Chúa xét đoán, thì bị Ngài sửa phạt, hầu cho khỏi bị án làm một với người thế gian” là nói đến sự sửa phạt dẫn đến sự ăn năn. Nghĩa là: Chúa sửa phạt con dân Chúa để họ ăn năn tội, để họ được Ngài tha thứ và làm cho họ sạch mọi điều gian ác, nhờ đó, họ thoát khỏi bản án hư mất đời đời trong hồ lửa như người không tin Chúa. Câu này hoàn toàn không có nghĩa, một người phạm tội, sau khi bị Chúa sửa phạt mà vẫn không ăn năn, thì cũng không bị hư mất. Rô-ma 2:4-12 giải thích rõ ràng thái độ của Đức Chúa Trời đối với những kẻ không chịu ăn năn tội, dầu họ biết hay không biết Lời Chúa:

Hay là: ngươi xem thường chính sự giàu có của lòng nhân từ, chịu đựng, và nhẫn nại của Ngài, mà không nhận biết lòng nhân từ của Đức Chúa Trời dẫn ngươi đến sự cải hối?Nhưng, theo như sự cứng cỏi và lòng không cải hối của ngươi, ngươi dồn chứa cho chính mình sự thịnh nộ trong ngày thịnh nộ và phơi bày sự phán xét công chính của Đức Chúa Trời, Đấng sẽ trả cho mỗi người tùy theo những việc làm của họ. Thật vậy, những ai bởi sự bền lòng làm lành, tìm kiếm sự vinh quang, sự tôn trọng, và sự chẳng hề chết, thì được sự sống đời đời. Nhưng cơn giận và sự thịnh nộ thật dành cho những ai bởi lòng toan tính và không vâng phục lẽ thật mà vâng phục sự không công bình. Sự hoạn nạn và khốn khổ trên mỗi linh hồn của người làm việc dữ, thuộc về dân Do-thái trước và thuộc về cả dân Hy-lạp. Nhưng sự vinh quang, sự tôn trọng, và sự bình an cho mỗi người làm việc lành, cho dân Do-thái trước và cho cả dân Hy-lạp. Vì trước Đức Chúa Trời, Ngài không thiên vị. Vì hễ ai không luật pháp mà phạm tội, thì họ sẽ không luật pháp mà hư mất. Hễ ai trong luật pháp mà phạm tội, thì họ sẽ bị phán xét bởi luật pháp.”

Vì sự sửa phạt của Chúa nhằm dẫn kẻ có tội đến sự ăn năn để khỏi bị án làm một với người thế gian, cho nên, nếu kẻ bị sửa phạt mà không chịu ăn năn thì vẫn sẽ bị hư mất như người thế gian.Lời phán của Chúa trong Ma-thi-ơ 18:17 dạy cho Hội Thánh cách đối xử với kẻ có tội mà không chịu ăn năn như sau: “Nếu người không chịu nghe các người đó, thì hăy cáo cùng Hội Thánh, lại nếu người không chịu nghe Hội Thánh, thì hăy coi người như kẻ ngoại và kẻ thâu thuế vậy.” Đó là biện pháp sửa phạt cuối cùng để cho kẻ có tội vì sự đau khổ bị dứt ra khỏi Hội Thánh mà chịu ăn năn tội.

Trong I Cô-rinh-tô 11:30 liệt kê ra các mức độ khác nhau trong sự Chúa sửa phạt kẻ có tội: “Ấy vì cớ đó mà trong anh em có nhiều kẻ tật nguyền, đau ốm, và có lắm kẻ ngủ.” Chúng ta có thể tin rằng, khi một người tin Chúa phạm tội, Chúa sẽ dùng tật nguyền hoặc đau ốm để sửa phạt, hầu cho người ấy ăn năn tội. Nếu người ấy vẫn không chịu ăn năn tội thì Chúa sẽ cất đi mạng sống của người ấy, và người ấy chỉ còn chờ ngày sống lại để chịu chung án phạt với người thế gian.

Tất cả những ai xưng mình là môn đồ của Chúa, là con dân của Chúa mà vẫn sống trong tội và tin rằng: “Một người đã được cứu rỗi thì không bao giờ bị hư mất,” là đã để cho Ma Quỷ, các giáo sư giả lường gạt mình và tự mình cũng gạt lấy chính mình. Lời phán sau đây của Chúa dành cho họ: “Sao các ngươi gọi Ta: Chúa, Chúa, mà không làm theo lời Ta phán” (Lu-ca 6:46)? Lời phán của Chúa dành cho tất cả những ai tin nhận sự cứu rỗi của Ngài là: “Hãy đi, đừng phạm tội nữa” (Giăng 8:10)!

Lời của Chúa được ghi lại trong Khải Huyền 3:5: “Kẻ nào thắng, kẻ ấy sẽ được mặc áo trắng và Ta sẽ không xóa tên người khỏi Sách Sự Sống nhưng sẽ xưng tên người trước Cha Ta và trước các thiên sứ của Ngài,” hàm ý kẻ nào không thắng sẽ bị chính Đức Chúa Jesus Christ xóa tên khỏi Sách Sự Sống!

Tôi kêu gọi những người tin vào tà giáo “Một người đã được cứu rỗi thì không bao giờ bị hư mất,” hãy suy ngẫm lời phán sau đây của Đức Thánh Linh:

Chớ hề dối mình; Đức Chúa Trời không chịu khinh dể đâu; vì ai gieo giống chi, lại gặt giống ấy. Kẻ gieo cho xác thịt, sẽ bởi xác thịt mà gặt sự hư nát; song kẻ gieo cho Đấng Thần Linh, sẽ bởi Đấng Thần Linh mà gặt sự sống đời đời” (Ga-la-ti 6:7-8).

Kết Luận

Những kẻ đưa ra tà thuyết “Tin Chúa Một Lần Được Cứu Vĩnh Viễn” và những kẻ tin vào tà thuyết này là những người không thật lòng tin Chúa. Họ chỉ muốn sống trong tội lỗi, làm trọn những điều ưa muốn của xác thịt mà không muốn bị hình phạt. Vì thế, họ cho rằng Đức Chúa Jesus Christ đến thế gian chịu hình phạt thay cho họ để họ có thể tha hồ phạm tội mà không bị hư mất, chỉ cần họ mở miệng ra nói rằng họ tin nhận sự cứu rỗi của Ngài. Họ quên rằng, Đức Chúa Jesus Christ chịu chết để cứu họ ra khỏi tội chứ không phải để cho họ cứ ở trong tội. Họ cũng quên rằng, điều kiện để được cứu rỗi là phải ăn năn tội, tức là chịu từ bỏ tội.

Đức Thánh Linh chỉ được ban cho những ai vâng lời Chúa:

Còn chúng ta đây là kẻ làm chứng mọi việc đó, cũng như Đức Thánh Linh mà Đức Chúa Trời đã ban cho kẻ vâng lời Ngài vậy” (Công Vụ Các Sứ Đồ 5:32).

Sự cứu rỗi đời đời chỉ dành cho những ai vâng lời Chúa:

Dầu Ngài là Con, cũng đã học tập vâng lờibởi những sự khốn khổ mình đã chịu, và sau khi đã được làm nên trọn vẹn rồi, thì trở nên cội rễ của sự cứu rỗi đời đời cho kẻ vâng lời Ngài(Hê-bơ-rơ 5:8-9).

Sự an ninh đời đời trong ơn cứu rỗi chỉ dành cho những ai thật lòng ăn năn tội, từ bỏ tội, nghe theo Chúa, sống theo Chúa, chứ không phải cho những kẻ ngoài miệng thì nói tin Chúa nhưng trong lòng thì cứ chú về tội lỗi và sống một nếp sống không vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời.

Những kẻ mà trong lòng chỉ nghĩ đến những việc tội lỗi và tìm cách để phạm tội thì ngay cả lời cầu nguyện Chúa cũng không nghe, làm gì có chuyện những kẻ ấy được cứu rỗi, được sống đời đời?

Nếu lòng tôi có chú về tội ác, ắt Chúa chẳng nghe tôi” (Thi Thiên 66:18).

Số phận của những người tin Chúa mà vẫn sống trong tội là:

  • không thể khiến họ lại ăn năn nữa”
  • không còn có tế lễ chuộc tội nữa, nhưng chỉ có sự đợi chờ kinh khiếp về sự phán xét, và lửa hừng sẽ đốt cháy kẻ bội nghịch”
  • đáng bị hình rất nghiêm đoán phạt”
  • số phận sau cùng của chúng nó trở xấu hơn lúc đầu”

Nguyện mỗi con dân Chúa chỉ nương cậy vào lẽ thật rõ ràng của Lời Chúa thay vì tin vào các tư tưởng thần học nghịch Thánh Kinh. Nguyện Đức Thánh Linh dẫn dắt mỗi con dân Chúa vào trong lẽ thật của Lời Chúa, hầu cho, họ không bị Ma Quỷ mạo làm thiên sứ sáng láng và các tôi tớ của nó lường gạt mà bị diệt vong (II Cô-rinh-tô 11:14-15). A-men!

Huỳnh Christian Timothy
29.09.2012

Ghi Chú

[1] Trong tiếng Anh là “Once Saved Always Saved.”


Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry.
Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép,

Đọc Tiếp →

Sự Tiền Định của Đức Chúa Trời và Sự Tự Chọn của Loài Người

Huỳnh Christian Timothy

Bấm vào đây để download bài viết này
Bấm vào đây để nghe và download MP3 bài giảng

 

"Vì Ðức Chúa Trời yêu thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài,
hầu cho hễ ai tin nơi Con ấy không bị hư mất, mà được sự sống đời đời."
(Giăng 3:16)

"Vả, chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời,
tức là cho kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đã định.
Vì Ngài cũng đã định sẵn để nên giống như hình bóng con Ngài,
hầu cho con nầy được làm con cả ở giữa nhiều anh em;
còn những kẻ Ngài đã định sẵn, thì Ngài cũng đã gọi,
những kẻ Ngài đã gọi, thì Ngài cũng đã xưng là công bình,
và những kẻ Ngài đã xưng là công bình, thì Ngài cũng đã làm cho vinh quang."

(Rô-ma 8:28-30)

Dẫn Nhập

Tiền định có nghĩa là quy định từ trước. Số phận của một người do Đức Chúa Trời tiền định hay do người ấy tự do lựa chọn là một đề tài tranh cãi thần học từ hàng trăm năm nay trong Cơ-đốc Giáo. Nếu Đức Chúa Trời đã tiền định thì loài người không thể tự do lựa chọn. Nếu loài người được tự do lựa chọn thì chính loài người định lấy số phận của mình, và như vậy, không có sự tiền định của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, Thánh Kinh dạy rõ về sự tiền định của Đức Chúa Trời và quyền tự do lựa chọn của loài người. Giăng 3:16 dạy về sự tự do lựa chọn của loài người trong khi Rô-ma 8:28-30 dạy về sự tiền định của Đức Chúa Trời.

Làm sao chúng ta có thể dung hòa được hai lẽ thật dường như trái ngược này của Thánh Kinh?

Ý Nghĩa của Sự Cứu Rỗi

Sự cứu rỗi được nói đến trong Thánh Kinh là sự cứu tội nhân ra khỏi quyền lực của tội lỗi và hậu quả của tội lỗi. Quyền lực của tội lỗi là sức mạnh trong tâm linh bắt ép một người phải phạm tội. Hậu quả của tội lỗi là sự chết. Có sự chết thứ nhất và sự chết thứ nhì.

Sự chết thứ nhất có tính cách tạm thời, bao gồm sự chết thuộc thể và sự chết thuộc linh. Sự chết thuộc thể là thể xác bị phân cách với linh hồn và trở về nguyên thể bụi đất còn linh hồn bị tạm giam nơi âm phủ. Sự chết thuộc linh là tâm thần loài người bị phân cách với Thiên Chúa, không còn nhận biết Thiên Chúa, không còn thờ phượng Thiên Chúa.

Sự chết thứ nhì có tính cách vĩnh viễn, bao gồm thể xác đã được phục sinh và linh hồn mãi mãi xa cách Thiên Chúa và phải chịu khổ đời đời trong hỏa ngục.

Ngoại trừ Con Người Jesus, mỗi một người khi được sinh ra trong thế gian đều đã ở trong tình trạng chết thuộc linh lần thứ nhất và sẽ trải qua sự chết thuộc thể để chờ ngày phán xét, đi vào sự chết thứ hai. Nhưng Đức Chúa Trời là tình yêu, bởi lòng thương xót rất lớn của Ngài mà Ngài đã ban cho loài người cơ hội được cứu khỏi quyền lực và hậu quả của tội lỗi. Sự cứu rỗi đó có điều kiện. Điều kiện để được cứu rỗi là thật lòng ăn năn tội, và tin nhận sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ. Ăn năn tội tức là hết lòng từ bỏ nếp sống tội, không còn sống trong sự phạm tội. Tin nhận sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ tức là tin rằng Đức Chúa Jesus Christ đã hoàn thành công cuộc chuộc tội cho mình nên mình đã được Đức Chúa Trời tha tội.

Một người sau khi được cứu rỗi, nghĩa là được tha tội và làm cho sạch tội mà trở về với nếp sống tội lỗi thì sẽ bị hư mất đời đời vì không thể nào ăn năn để được tha tội nữa.

Sự Tiền Định Theo John Calvin

John Calvin (10.07.1559 – 27.05.1564), nhà thần học người Pháp thuộc Phong Trào Cải Chánh vào thế kỷ 16, dạy rằng: Từ trước khi sáng thế, Đức Chúa Trời đã tiền định số phận của mỗi người. Sự tiền định này là vô điều kiện, không hề tùy thuộc vào ý chí, sự lựa chọn, năng lực, cá tính, hay tấm lòng của mỗi người nhưng hoàn toàn bởi quyền chỉ định tuyệt đối của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời tiền định ai được cứu và ai không được cứu. Những người được cứu là những người được chọn.

Giáo lý của Calvin (Calvinism) dẫn đến những kết luận vô lý như sau:

·         Đức Chúa Trời đã tiền định cho một số ít người được cứu và nhiều người bị hư mất. Kết luận này nghịch lại Thánh Kinh, vì Thánh Kinh dạy rõ:

"Ngài muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật"(I Ti-mô-thê 2:4).

"Nhưng hiện bây giờ, sự công bình của Thiên Chúa, mà luật pháp và các đấng tiên tri đều làm chứng cho, đã bày tỏ ra ngoài luật pháp; tức là sự công bình của Thiên Chúa, bởi sự tin đến Đức Chúa Jesus Christ, cho mọi người nào tin, chẳng có phân biệt chi hết, vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh quang của Đức Chúa Trời, và họ nhờ ân điển Ngài mà được xưng công bình nhưng không, bởi sự chuộc tội đã làm trọn trong Đức Chúa Jesus Christ"(Rô-ma 3:21-24). (Xin chú ý đến chữ "họ" được dùng thay thế cho chữ "mọi người.")

·         Đức Chúa Trời đã tiền định một người bị hư mất thì dù người ấy có hết lòng muốn được cứu, hết lòng tin cậy và vâng phục Chúa, người ấy cũng vẫn bị hư mất đời đời trong hỏa ngục. Kết luận này nghịch lại Thánh Kinh, vì Thánh Kinh dạy rõ:

"Vì Ðức Chúa Trời yêu thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin nơi Con ấy không bị hư mất, mà được sự sống đời đời" (Giăng 3:16).

·         Đức Chúa Trời đã tiền định một người được cứu thì dù người ấy có sống một nếp sống tội lỗi đến đâu chăng nữa, người ấy cũng được cứu. Kết luận này nghịch lại Thánh Kinh, vì Thánh Kinh dạy rõ:

"Vì chưng những kẻ đã được soi sáng một lần, đã nếm sự ban cho từ trên trời, dự phần về Thánh Linh, Lời lành của Thiên Chúa, và năng lực của đời sau, nếu lại vấp ngã, thì không thể khiến họ lại ăn năn nữa, vì họ đóng đinh Con Đức Chúa Trời trên thập tự giá cho mình một lần nữa, làm cho Ngài sỉ nhục tỏ tường"(Hê-bơ-rơ 6:4-6).

"Hãy cầu sự bình an với mọi người, cùng tìm theo sự nên thánh, vì nếu không nên thánh thì chẳng ai được thấy Chúa"(Hê-bơ-rơ 12:14).

Sự Tiền Định Theo Thánh Kinh

Thánh Kinh dạy về sự tiền định của Đức Chúa Trời và giải thích rằng Ngài tiền định theo sự biết trước của Ngài. Nghĩa là, từ trước khi sáng thế, Đức Chúa Trời đã biết hết mọi sự trong mọi nơi, mọi lúc. Dựa vào sự biết trước đó mà Ngài thiết lập và ấn định những điều cần thiết để mọi sự diễn tiến theo thánh ý của Ngài.

Trước hết, Đức Chúa Trời biết trước thiên sứ và loài người mà Ngài dựng nên sẽ sa ngã, phạm tội và Ngài tiền định số phận của những ai phạm tội là sẽ bị hư mất đời đời trong hỏa ngục. Kế tiếp, Đức Chúa Trời biết trước sẽ có một số người sẵn lòng ăn năn tội, vâng phục Ngài nếu Ngài ban cho họ cơ hội, cho nên, Ngài thiết lập chương trình cứu rỗi nhân loại và tiền định cho những ai thật lòng ăn năn tội, tin nhận sự cứu rỗi của Ngài thì họ sẽ được cứu rỗi.

Dù Đức Chúa Trời biết trước chỉ có một số ít người thật lòng ăn năn tội và tin nhận sự cứu rỗi của Ngài nhưng Ngài vẫn ban sự cứu rỗi cho toàn thể nhân loại qua sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ:

"Vì tình yêu thương của Đấng Christ cảm động chúng tôi, và chúng tôi tưởng rằng nếu có một người chết vì mọi người, thì mọi người đều chết, lại Ngài đã chết vì mọi người, hầu cho những kẻ còn sống không vì chính mình mà sống nữa, nhưng sống vì Đấng đã chết và sống lại cho mình" (II Cô-rinh-tô 5:14, 15).

"Ấy chính Ngài làm của lễ chuộc tội lỗi chúng ta, không những vì tội lỗi chúng ta thôi đâu, mà cũng vì tội lỗi cả thế gian nữa"(I Giăng 2:2).

"Nhưng Đức Chúa Jesus nầy, mà đã ở dưới các thiên sứ một chút, chúng ta thấy Ngài, vì sự chết Ngài đã chịu được đội mão vinh hiển tôn trọng. Ấy vậy, bởi ân điển của Thiên Chúa, Đức Chúa Jesus đã vì mọi người nếm sự chết"(Hê-bơ-rơ 2:9).

Chính vì Đức Chúa Trời biết trước những ai sẽ tin nhận sự cứu rỗi của Ngài nên Ngài đã chọn họ và đưa họ đến với Đấng Christ để họ được Đức Thánh Linh thánh hóa, biệt riêng làm con dân của Ngài:

"Phi-e-rơ, sứ đồ của Đức Chúa Jesus Christ, gởi cho những người kiều ngụ rải rác trong xứ Bông, Ga-la-ti, Cáp-ba-đốc, A-si và Bi-thi-ni, là những người được chọn, theo sự biết trước của Thiên Phụ, thông qua sự nên thánh bởi thần quyền, đặng vâng phục Đức Chúa Jesus Christ và có phần trong sự rải huyết Ngài: nguyền xin ân điển và bình an thêm lên cho anh em"(I Phi-e-rơ 1:1, 2)!

"Chẳng ai có thể đến với Ta, nếu Cha, là Đấng đã sai Ta, không kéo người. Ta sẽ làm cho người đó sống lại nơi ngày sau rốt"(Giăng 6:44).

Như vậy, Đức Chúa Trời tùy theo sự lựa chọn của mỗi người mà tiền định số phận của họ, từ tuổi thọ của họ trong đời này cho đến số phận chung cuộc của họ trong đời sau:

"Mắt Chúa đã thấy thể chất vô hình của tôi; số các ngày định cho tôi, đã biên vào sổ Chúa trước khi chưa có một ngày trong các ngày ấy"(Thi Thiên 139:16).

Sự Tự Do Lựa Chọn của Loài Người

Mặc dù Đức Chúa Trời tiền định số phận của mỗi người nhưng sự tiền định đó dựa trên sự tự do lựa chọn của mỗi người mà Ngài biết trước. Người có quyền tự do lựa chọn là người hoàn toàn không bị giới hạn trong sự lựa chọn của mình. Sự lựa chọn nói đến ở đây là lựa chọn giữa sự ăn năn tội, tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời hoặc không chịu ăn năn tội, không chịu tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Sau khi lựa chọn sự ăn năn tội và tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa trời thì một người phải tiếp tục sự lựa chọn thứ hai, đó là lựa chọn sống một nếp sống thánh khiết, không phạm tội hoặc lựa chọn quay về sống trong tội.

Câu chuyện về cây sự sống và cây biết điều thiện điều ác tiêu biểu cho quyền tự do lựa chọn Đức Chúa Trời ban cho loài người. Sự lựa chọn của một người hoàn toàn do chính người đó chủ động. Ma Quỷ có thể cám dỗ loài người làm ra những lựa chọn sai lầm nhưng Ma Quỷ không thể ép buộc loài người phải lựa chọn theo ý của nó. Bà Ê-va đã chủ động trong sự lựa chọn không tin cậy và không vâng lời Đức Chúa Trời. Con Người Jesus đã chủ động trong sự lựa chọn "không theo ý con mà theo ý Cha" và vâng phục Đức Chúa Trời cho đến chết.

Sự lựa chọn tin cậy và vâng phục Chúa sẽ không bị một sự giới hạn nào, cho dù có bị Ma Quỷ tìm cách gây khó khăn. Sự lựa chọn phạm tội luôn luôn bị giới hạn trong mức độ mà Đức Chúa Trời cho phép, cho dù có được sự tiếp trợ từ Ma Quỷ. Khi cần, Đức Chúa Trời sẽ chấm dứt mạng sống của kẻ ác: "Hỡi Thiên Chúa, kẻ ham đổ máu và người giả ngụy sống chẳng đến được nửa số các ngày định cho mình; Chúa sẽ xô chúng nó xuống hầm diệt vong; Còn tôi sẽ tin cậy nơi Chúa" (Thi Thiên 55:23).

Kết Luận

Sự tiền định của Đức Chúa Trời về số phận của loài người và quyền tự do lựa chọn Ngài ban cho loài người không hề mâu thuẫn lẫn nhau. Trái lại, Đức Chúa Trời dựa trên sự tự do lựa chọn của loài người để tiền định số phận của họ. Đức Chúa Trời là tình yêu, Ngài không hề muốn cho một người nào bị hư mất nên Ngài đã ban sự cứu rỗi cho nhân loại. Bất cứ ai thật lòng ăn năn tội và tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời thì được cứu. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời là công chính, cho nên, Ngài đoán phạt những ai không ăn năn tội, không tin nhận sự cứu rỗi của Ngài. Giáo lý của John Calvin cho rằng Đức Chúa Trời tiền định một số người được cứu và một số người bị hư mất là hoàn toàn sai nghịch với lẽ thật của Thánh Kinh.

Huỳnh Christian Timothy
09.06.2012

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2012 Vietnamese Christian Mission Ministry. Thông Báo Tác Quyền: Mọi tác quyền thuộc về Vietnamese Christian Mission Ministry. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Ghi Chú: Tất cả những câu Thánh Kinh được trích dẫn trong bài này là từ Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Ngôi Lời www.ngoiloi.thanhkinhvietngu.net và Thánh Kinh Việt Ngữ Bản Dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2012 www.tt2012.thanhkinhvietngu.net.

Đọc Tiếp →

Những Lẽ Thật của Lời Chúa Đem Tôi Ra Khỏi Công Giáo

Phạm Đắc Quang

Trước đây tôi là người Công Giáo, một hôm đến thăm cô giáo hồi trung học, tôi được cô nói về Chúa và mời tôi đến dự buổi truyền giảng. Khi mục sư kêu gọi tôi lên tiếp nhận Chúa thì tôi nghĩ tôi đã tin Chúa rồi, trong đầu tôi luôn nhớ tới câu: "Chỉ có một Chúa, một đức tin, một phép báp-têm” Ê-phê-sô 4:6. Tôi nghĩ tôi tin vào Chúa, chỉ mình Ngài thôi và đã làm phép rửa nhân danh Ba Ngôi Đức Chúa Trời, chẳng có sự khác biệt nào cả giữa hai giáo hội.

Nhưng sau đó tôi vẫn tham gia một số buổi học Thánh Kinh và mượn sách về đọc, rất nhiều điều khác biệt dần xuất hiện. Tôi cố tìm lại và đọc giáo lý Giáo Hội Công Giáo và sách lịch sử Giáo Hội Công Giáo, thậm chí lên mạng để tìm hiểu “Tin Lành là gì?”

Trước tiên tôi nhận ra là giáo lý Công Giáo chỉ dưa trên một ít trên nền tảng Thánh Kinh còn phần lớn là dựa trên giáo luật, các sắc lệnh, hiến chế, tuyên ngôn. Đây rõ ràng là giáo lý của con người không đến từ Chúa, dù người ta luôn nói Thánh Kinh là lời của Chúa. Và người ta mỗi ngày đẻ ra thêm giáo lý, sắc lệnh mới chồng chất lên đến độ thành một bộ luật và phải học để được phong tiến sỹ luật hội thánh. Trong khi đó chính Lời Chúa là luật pháp người ta không học lại tự bày ra luật pháp để học với nhau và phong học vị cho nhau đến tiến sỹ.

Tạ ơn Chúa đã cứu tôi, Ngài đã làm mềm lòng để tôi đón nhận Chúa và đón nhận lời Ngài. Càng đọc Thánh Kinh tôi càng hiểu rõ về Chúa. Một điều làm tôi thức tỉnh là mọi người đều nói tin Chúa nhưng tin chúa là tin cái gì. Tôi được Chúa nhắc nhở trong Hê-bơ-rơ 11: "Vả, không có đức tin, thì chẳng hề có thế nào ở cho đẹp ý Ngài, vì kẻ đến gần Đức Chúa Trời phải tin rằng có Đức Chúa Trời, và Ngài là Đấng hay thưởng cho kẻ tìm kiếm Ngài”. Tin Chúa, đồng đi với Chúa, đến gần Ngài là tin Chúa thực hữu, thực tồn tại trên cuộc đời này và trong lòng mình, trên cuộc đời mình.

Một điều cơ bản nữa là tin vào chính Chúa chứ không phải vào tổ chức giáo hội con người. Chính Chúa là nền tảng, không phải là Phi-e-rơ hay một vị giáo chủ nào cả: “Hãy châm rễ và lập nền trong Ngài, lấy đức tin làm cho bền vững, tùy theo anh em đã được dạy dỗ, và hãy dư dật trong sự cảm tạ” Cô-lô-se 2:7. Hội Thánh cũng vậy nếu không đặt nền tảng chính Chúa, và chính Chúa làm đầu Hội Thánh thì Hội Thánh chỉ mỗi ngày đi lệch lạc con đường của Chúa và đánh mất đức tin vào Chúa mà thôi.

Tin vào Chúa tức là phải có mối tương giao với Chúa qua việc cầu nguyện. Đọc kinh và đi lễ không giúp ích gì, vì sau khi đi lễ và đọc kinh về người ta vẫn như cũ, vẫn phạm tội, vẫn độc ác với anh em, chỉ khi đọc Thánh Kinh được chính lời Chúa dạy bảo người ta làm theo thì mới có phước, làm thay đổi chính mình, trở nên giống Chúa hơn. Chỉ khi có mối tương giao với Chúa bằng việc cầu nguyện người ta mới nhận sức lực quyền năng của Chúa, mà tôi đang từng ngày cảm nghiệm và nghe ngóng Chúa phán bảo và nghe ngóng ơn phước Chúa xuống cho tôi. Theo tôi nghĩ, đức tin là một thực nghiệm, một sự cảm nhận phải thực hành phải cảm nhận chứ không phải học để biết về triết lý về các giá trị triết học mà tôi đã từng bị sa vào. Phải thực hành chứ không phải học để cho biết giáo lý ấy nói gì như người ta học triết học trong trường học.

Tôi học biết cách cầu nguyện, không phải cầu nguyện chỉ là xin ơn, nhưng trước tiên là tạ ơn, cảm tạ về tất cả những gì Chúa ban cho mình, dù là thuận cảnh hay nghịch cảnh, cầu thay cho mọi người sau đó là trình dâng những nhu cầu, những nan đề cho Chúa, xin Chúa giải quyết. Chính việc cầu nguyện là nói chuyện, trình dâng và phó thác công việc của mình cho Chúa, là bí quyết giúp tôi biết cầu nguyện, giúp tôi cầu nguyện khắp mọi nơi, lúc nào tôi cũng có thể cầu nguyện được.

Chính lời Chúa làm thay đổi cuộc đời, thay đổi suy nghĩ lối sống, tôi vui vẻ và bình an,vì nếu không đọc Thánh Kinh thì tôi chưa biết về sự dạy dỗ của Chúa; nhưng lời Chúa đã được ghi vào trong lòng mình, khiến tôi phải dè chừng không dám phạm tội. Những lúc yếu lòng muốn làm những điều theo xác thịt tôi nghĩ giá mà tôi không biết gì về lời Chúa thì có phải sung sướng không, nhưng chính lời Chúa và ơn Chúa đã kéo tôi trở lại.

Chính lúc làm theo lời Chúa tôi được bình an, đôi lúc có những ứng xử xã hội vì theo lời Chúa tôi phải thiệt thòi, nhưng tôi luôn nghĩ không phải cái tức thời nhưng là cái mai hậu Chúa sẽ ban cho tôi điều khác, Chúa sẽ ban cho tôi hơn cả những cái người ta lấy đi hay làm hại tôi và hơn hết đó là phần thưởng nước trời.

Chính lúc tôi tìm kiếm Chúa trong lời Ngài, tôi được chính lời Chúa giải đáp trước là cho tôi và sau nữa là cho gia đình tôi lý do tại sao tôi lại bỏ đạo, tức là bỏ Đạo Công Giáo.

Tôi xin xác quyết là tôi không bỏ Chúa nhưng tôi từ bỏ giáo hội tự xưng là giáo hội của Chúa nhưng không làm theo lời Chúa.

Chính lúc đọc Thánh Kinh tôi mới tránh việc thờ hình tượng mà trong Mười Điều Răn Giáo Hội Công giáo bỏ đi điều thứ hai và tách điều thứ mười thành hai điều cho đủ mười điều răn, Xuất Ê-dip-tô ký 20:3-17. Người Công Giáo không đọc Thánh Kinh, chỉ được nghe một khúc hay một đoạn ngắn trong Thánh Kinh mà thôi chứ không đọc toàn bộ cuốn Thánh Kinh. Mà Thánh Kinh là giao ước, có ai ký hợp đồng mà không đọc kỹ từng chữ, từng điều khoản không, có ai phân tích một tác phẩm văn học mà không đọc toàn bộ tác phẩm thì mới phân tích, đánh giá hay nhận xét . Nếu chỉ đọc một đoạn thì sẽ chỉ là những đánh giá thiên kiến, thiếu sót và sai lạc nữa.

Sau đây là những điều tôi tìm thấy trong lời Chúa đã giải đáp thắc mắc về niềm tin của tôi.

I. ĐỐI VỚI CHÚA

1. Chỉ có Chúa Jesus Christ là đấng trung gian giữa Thiên Chúa và con người:

“Chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung Bảo ở giữa Đức Chúa Trời và loài người, tức là Đức Chúa Jesus Christ”.1 Ti-mô-thê 2,5

“Đức Chúa Jesus Christ là Đấng đã chết, và cũng đã sống lại nữa, Ngài đang ngự bên hữu Đức Chúa Trời, cầu nguyện thế cho chúng ta” Roma 8,34

Phải gắn kết với Chúa không phải con người

“Ta là cây nho, các con là cành. Ai cứ ở trong Ta, và Ta trong người ấy thì sinh ra nhiều quả, vì ngoài Ta các con không làm gì được”. Giăng 5,15

“Hãy đâm rễ, lập nền trong Ngài, hãy mạnh mẽ trong đức tin như anh em đã được dạy dỗ, và càng gia tăng trong sự cảm tạ”. Cô-lô-se 2, 7

“Anh em phải kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em, phục vụ Ngài, gắn bó với Ngài và nhân danh Ngài mà thề nguyện”. Phục truyền luật lệ ký 10, 20 ; 11,22 ; 13,4

Chỉ có Chúa là Đấng cứu rỗi duy nhất

“Chẳng có sự cứu rỗi trong Đấng nào khác, vì ở dưới trời chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta nhờ đó mà được cứu”. Công vụ các sứ đồ 4, 12

Không được thờ lạy bất cứ loài thọ tạo nào, kể cả thiên sứ, không thờ hình tượng, dù là hình tượng Chúa vì không ai thấy Chúa

“Con không làm cho mình một hình tượng nào theo hình dạng của những vật trên trời cao, hoặc trong nước dưới mặt đất. Con không được cúi lạy trước các hình tượng đó hay phụng thờ chúng…”. Xuất Ai Cập ký 20, 4-5

“Họ đã đổi vinh quang của Đức Chúa Trời bất diệt để lấy hình tượng của loài người hư nát, hoặc của chim muông, thú vật, hay loài bò sát”. Rô-ma 1,23

“Đừng để bị lừa mà mất phần thưởng bởi những kẻ cố làm bộ khiêm nhường và thờ lạy các thiên sứ”. Cô-lô-se 2, 18

“Họ không liên hệ chặt chẽ với Đầu để nhờ Ngài mà toàn thân được nuôi dưỡng, được kết hợp với nhau bởi những khớp xương, dây liên kết, và tăng trưởng theo ý muốn của Đức Chúa Trời”. Cô-lô-se 2,19

“Tôi phủ phục dưới chân thiên sứ để thờ lạy, nhưng thiên sứ bảo: “Đừng làm như vậy, ta là bạn đồng lao với ngươi và các anh em ngươi, là những người giữ lời chứng của Đức Chúa Jesus. Hãy thờ lạy Đức Chúa Trời. Vì lời chứng của Đức Chúa Jesus là tinh thần của lời tiên tri”. Khải huyền 19,10

“Vậy, đã là dòng dõi của Đức Chúa Trời, thì chúng ta đừng nghĩ rằng Đấng thiêng liêng giống như hình tượng bằng vàng, bạc, hay đá do nghệ thuật và trí tưởng tượng của con người làm ra”. Công vụ các sứ đồ 17,29

“Chớ làm cho mình một hình tượng mang hình ảnh của bất cứ vật gì mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã cấm anh em. Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời  của anh em là một đám lửa thiêu đốt và là Đức Chúa Trời kỵ tà”. Phục truyền luật lệ ký 4, 23-24

“Vì anh em không thấy một hình dạng nào trong ngày Giê-hô-va Đức Chúa Trời phán với anh em từ giữa đám lửa tại Hô-rếp”. Phục truyền luật lệ ký 4, 15

2. Chỉ có Kinh Thánh có thẩm quyền tối thượng

Vì là Lời của Đức Chúa Trời

“Cả Kinh Thánh đều được Đức Chúa Trời cảm thúc, có ích cho sự dạy dỗ, khiển trách, sửa trị và huấn luyện trong sự công chính”. 2 Ti-mô-thê 3,16

“Vì không có lời tiên tri nào đến bởi ý người, nhưng người ta được Đức Thánh Linh cảm thúc nói ra từ Đức Chúa Trời”. 2 Phi-e-rơ 1, 21

“Vì lời của Đức Chúa Trời là lời sống động và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, xuyên thấu đến nỗi phân chia hồn với linh khớp với tủy, phán đoán các tư tưởng  và ý định trong lòng”. Hê-bơ-rơ 4,12

“Lấy lòng nhu mì tiếp nhận lời đã trồng trong lòng anh em, là lời có thể cứu chuộc linh hồn anh em”. Gia-cơ 1,21b

“Anh em được tái sinh không phải bởi hạt giống dễ hư hoại nhưng bởi hạt giống không hề hư hoại, đó là lời hằng sống và bền vững của Đức Chúa Trời” 1Phi-e-rơ 1,23

“Lời Chúa tồn tại đời đời. Lời đó là tin lành đã được công bố cho anh em” 1Phi-e-rơ 1,25

Truyền thống tông đồ chỉ xuất phát từ các tông đồ là những người  được chọn bởi chính Chúa Giêsu Cơ đốc, truyền thống này chỉ có thể tìm thấy trong Kinh Thánh và được viết bởi các tông đồ:

“Tôi khen anh em vì hay nhớ đến tôi trong mọi dịp, và lấy lòng trung tín mà giữ những điều tôi đã dạy dỗ anh em”1 Cô rinh tô 2, 5

“Nhưng nếu có ai, hoặc chính chúng tôi, hoặc thiên sứ trên trời truyền cho anh em một tin lành nào khác với tin lành chúng tôi đã truyền cho anh em , thì người ấy đáng bị nguyền rủa” Ga la ti 1, 8

“Hỡi anh em, vậy thì hãy đứng vững, hãy vâng giữ những điều dạy dỗ mà chúng tôi đã truyền cho anh em, hoặc bằng lời nói, hoặc bằng thơ từ của chúng tôi” 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2,15

Giáo hoàng không phải là tông đồ của Chúa Giêsu: Sứ đồ là người cùng sống với Chúa và dấu hiệu một sứ đồ là làm phép lạ.

“Vậy trong những người từng ở với chúng ta trong suốt thời gian Chúa là Đức Chúa Jesus đi lại giữa chúng ta”. Công vụ 1,21

“Những dấu hiệu của một sứ đồ đã được thể hiện giữa anh em rồi: nào là sự chịu đựng, nào là các dấu lạ, các phép màu, và các quyền năng” 2 Cô-rinh-tô 12,12

Giáo huấn của giáo hòang không có thẩm quyền tông đồ, vì Kinh Thánh là giao ước không ai được thêm vào hay bớt đi, và đức tin truyền cho các sứ đồ một lần đủ cả không thêm hay bớt điều gì cả.

“Khi một giao ước đã được lập dù là của con người, thì không một ai được quyền hủy bỏ hay thêm bớt điều gì”. Ga-la-ti 3, 15

“Anh em đừng thêm, đừng bớt điều gì mà tôi truyền cho anh em, nhưng phải giữ các điều răn của Giê-hô-va Đức Chúa Trời mà tôi đã truyền cho anh em”. Phục truyền luật lệ ký 4, 2
“Tôi nghĩ cần viết để khích lệ anh em chiến đấu vì đức tin, là đức tin truyền cho các thánh đồ một lần đủ cả”. Giu-đê 1,3

“Đây là thư thứ hai tôi viết cho anh em…để khắc ghi những lời tiên báo của các nhà tiên tri thánh cũng như những điều răn của Chúa và cứu Chúa  chúng ta do các sứ đồ truyền lại”. 2 Phi-e-rơ 3,1-2

“Về phần các con, hãy giữ điều các con đã nghe từ ban đầu ở trong các con. Nếu điều đã nghe từ ban đầu luôn ở trong các con thì các con sẽ ở trong Con và trong Cha”. 1 Giăng 2, 24

“Nếu ai thêm gì vào những lời này, thì Đức Chúa Trời sẽ thêm cho người ấy những tai họa đã ghi trong sách này. Còn nếu ai bớt điều gì trong các lời của sách tiên tri này, thì Đức Chúa Trời sẽ cất lấy phần của người ấy về cây sự sống và thành thánh đã được ghi trong sách này” Khải huyền 22,12

Chúa có giao quyền tha tội cho các sứ đồ không theo Giăng 20, 23: Quyền công bố phúc âm là nếu ai tin thì họ được cứu và ai không tin thì tội lỗi họ không được tha và họ đã từ chối sự sống đời đời.

“Hầu cho bởi đức tin nơi ta, họ nhận được sự tha tội và hưởng phần gia tài cùng với các thánh đồ” Công vụ các sứ đồ 26, 18b

“Nhưng vì anh em đã từ chối, và tự xét mình không xứng đáng nhận sự sống đời đời”. Công vụ các sứ đồ 13, 46

“Ai tin Con thì được sự sống đời đời, ai không tin Con  thì chẳng kinh nghiệm được sự sống đâu, nhưng cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người ấy”. Giăng 3,36

Chúa ban cho Hội Thánh quyền buộc và mở trong Ma-thi-ơ 18,18; Mt 16,19: Theo Ma-thi-ơ 18 câu 15 đến 17 nói rõ về cách xử lý với anh em phạm tội. Nếu họ có lỗi thì gặp riêng nói cho họ biết , nếu không nghe thì gọi thêm một hai người nữa , nếu lại không nghe thì trình với hội thánh, nếu còn không nghe nữa thì hãy xem như người ngoại và kẻ thu thuế. Đó là quyền xử sự với anh em phạm lỗi. Các sứ đồ đã thi hành quyền này được ghi lại trong Kinh Thánh là tùy theo tội nhân ăn năn hay không ăn năn sau khi khuyên bảo kẻ theo tà giáo một hai lần rồi thì lánh họ, phó cho quỉ sa tan, người như thế thì tự đoán xét mình và coi như kẻ chưa tin Chúa . Chìa khóa nước trời trong câu 19 có nghĩa là giao giảng tin lành, phúc âm, vì Chúa quở trách người Pha-ri-si :”Vì các ngươi đóng cửa thiên đàng trước mặt người ta; chẳng những chính các ngươi đã không vào mà lại còn ngăn cản những ai muốn vào nữa”. Ma-thi-ơ 23, 13.

“Vì có kẻ ăn nằm với vợ kế của cha mình…tôi đã lên án kẻ làm điều ấy, như thể tôi đang có mặt tại đó….Chúng ta phó kẻ như thế cho satan hủy hoại phần thân xác để phần tâm linh được cứu trong ngày của Chúa”. 1 Cô-rinh-tô 5, 1-5

“Có người vì đã chối bỏ lương tâm đó mà sụp đổ đức tin, trong số đó có Hy-mê-nê và A-léc-xan-đờ-ri-a mà ta đã phó mặc cho satan để họ học tập đừng phạm thượng nữa”. 1 Timô-thê 1, 19-20

“Sau khi đã khiển trách kẻ kẻ gây bè phái một đôi lần rồi thì hãy xa lánh họ, vì con biết rằng kẻ cứ lầm lạc và phạm tội như thế, thì đã tự kết án mình rồi”. Tít 3,10-11

Chúa lập hội thánh trên nền tảng nào?: Trên lời tuyên xưng của Phi-e-rơ” Thầy là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời hằng sống” Ma-thi-ơ 6, 15:

“Vì chẳng ai có thể đặt một nền móng khác, ngoài nền đã được đặt là Đức Chúa Jesus Christ”. 1 Cô-rinh-tổ, 11

“Ngài là đầu của thân thể, tức là hội thánh”. Cô-lô-se 1, 18

“Cũng như đấng Christ là đầu hội thánh, Hội Thánh là thân thể Ngài và chính Ngài là cứu Chúa của Hội Thánh”. Ê-phê-sô 5,23

“Hòn đá bị thợ xây loại ra đã trở nên đá góc nhà” 1 Phi-e-rơ 2, 7

“Tất cả  cùng uống một thức uống thiêng liêng, vì họ uống nơi một tảng đá thiêng liêng đi với họ, tảng đá ấy chính là Đấng Christ’ 1 Cô-rinh-tô 10, 4

“Ngài là hòn đá bị các ông là những thợ xây nhà loại ra, nhưng lại trở nên hòn đá góc nhà”. Công vụ các sứ đồ 4, 11

“Anh em được xây dựng trên nền các sứ đồ và các nhà tiên tri mà chính Đấng Christ Jesus là đá góc nhà” E-phê-sô 2, 20

Chúa là đá tảng:

Phục truyền 32,4 ; 32, 18
Samuen 23,3
Thi thiên 18, 31 ; 42,9 ; 62,2 ; 78,35 ; 95,1
Ha ba cuc 1,12
Esai 28,16

3. Chỉ có đức tin con người được cứu

Sự cứu rỗi là sự ban cho không của Đức Chúa Trời không do công đức của người ta.

“Vì nhờ ân điển, bởi đức tin mà anh em được cứu, điều này không đến từ anh em mà là tặng phẩm của Đức Chúa Trời, cũng không do việc làm của anh em, để không ai có thể tự hào”. Ephê-sô 2, 8-9

“Anh em nào muốn được xưng công chính bởi luật pháp thì đã lìa khỏi Đấng Christ, đánh mất ân điển rồi”. Ga-la-ti 5,4

“Vì chúng ta tin rằng  một người được xưng công chính  bởi đức tin  chứ không bởi việc làm theo pháp luật” Rô-ma 3,28.

“Hết thảy  các đấng tiên tri đều làm chứng nầy về Ngài rằng hễ ai tin Ngài thì được sự tha tội vì danh Ngài”. Công vụ các sứ đồ 10,43

“Vậy hỡi anh em , khá biết rằng nhờ Đấng đó mà sự tha tội được rao truyền cho anh em, lại nhờ Ngài mà hễ ai tin thì được xưng công chính về mọi điều theo theo luật pháp Môi-se chẳng có thể được xưng công chính”. Công vụ các sứ đồ 13,38-39

“Ngài chẳng phân biệt chúng ta với người ngoại đâu, vì đã lấy đức tin khiến cho long họ tinh sạch” Công vụ các sứ đồ 15, 9

“Chúng ta tin rằng  nhờ ơn Đức Chúa Jesus, chúng ta được cứu cũng như người ngoại vậy”. Công vụ các sứ đồ 15,11

“Vì chẳng có một người nào bởi việc làm theo luật pháp mà được kể là công chính trước mặt Ngài, vì nhờ luật pháp ngưới ta nhận biết tội lỗi”. Rô-ma 3,20

“Vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất vinh quang của Đức Chúa Trời, nhờ ân điển Ngài, bởi sự cứu chuộc trong Đấng Christ Jesus, họ được xưng công chính mà không phải trả một giá nào. Đức Chúa Trời đã lập Ngài làm sinh tế chuộc tội cho những ai có đức tin trong  Ngài”. Ro-ma 3,23-25

“Vì Đấng Christ là sự cuối cùng của luật pháp, để mọi người tin đều được xưng công chính”. Rô-ma 10,4

“Vậy nếu miệng anh em xưng Đức Chúa  Jesus là Chúa, và lòng anh em tin rằng  Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ cõi chết sống lại thì anh em sẽ được cứu. Vì ai tin trong lòng thì sẽ được xưng công chính, ai tuyên xưng nơi miệng thì được cứu rỗi”. Rô-ma 10, 9-10

“Chúng tôi biết rằng một người được xưng công chính không phải nhờ vào những công việc của luật pháp mà bởi đức tin trong Đức Chúa Jesus Christ” Ga-la-ti 2, 16

“Không phải bởi việc công chính chúng ta đã làm, nhưng bởi lòng thương xót của Ngài, qua việc thanh tẩy của sự tái sinh và đổi mới của Đức Thánh Linh, là Đấng mà Ngài đã tuôn đổ dồi dào trên chúng ta bởi Đức Chúa Jesus Christ, Cứu Chúa chúng ta, để chúng ta nhờ ân điển Ngài mà được xưng công chính, trở nên người  thừa kế niềm hy vọng  về sự sống đời đời" Tit 3,5-7

“Đức Chúa Trời đã cứu chúng ta, đã gọi chúng ta bằng sự kêu gọi thánh, không phải do việc làm của chúng ta, nhưng theo mục đích riêng của Ngài và ân điển mà Ngài ban cho chúng ta từ muôn đời trước trong Đấng Christ Jesus”. 2 Ti-mô-thê 1, 9

Không phải ai tin vào Chúa rồi cứ phạm tội mà được cứu: Vì con cái của Đức Chúa Trời thì không phạm tội và người thuộc về Chúa thì không làm điều bất chính

“Ai do Đức Chúa Trời sinh ra thì không phạm tội, vì hạt giống của Đức Chúa Trời ở trong người ấy, người ấy không thể cứ phạm tội vì đã được Đức Chúa Trời sinh ra” 1 Giăng 3,9

“Chúa biết những người thuộc về Ngài và người nào kêu cầu danh Chúa thì phải tránh xa điều bất chính” 2 Ti-mô-thê 2,19

Làm việc lành vì nhờ việc lành mà đức tin được trọn. Đức tin không có hành động là đức tin chết. Đức tin cần được thể hiện bằng hành động, không phải làm việc công đức để mua chuộc nước trời mua sự cứu rỗi của Chúa. Chính Chúa sẽ thấy hành động của con người có xuất phát từ tấm lòng không hay là hành động giả hình để được khen ngợi. Nếu nhờ cậy vào việc công đức thì tự từ chối ân điển cứu chuộc của Chúa Jesus rồi.

“Chẳng phải Ap-ra-ham, tổ phụ chúng ta, đã được xưng công chính bởi hành động khi ông  dâng con mình là I-sác trên bàn thờ sao?”. Gia-cơ 2,21

“Đức tin đi đôi với hành động, và nhờ hành động mà đức tin trở nên trọn vẹn”. Gia-cơ 2,22

“Cũng vậy, chẳng phải kỹ nữ Ra-háp đã được xưng công chính bởi hành động , khi bà tiếp rước các sứ giả và đưa họ đi bằng một con đường khác sao?”. Gia-cơ 2,24

“Đức tin cũng vậy, nếu đức tin không có hành động thì tự nó chết”. Gia-cơ 2,17

“Anh em thấy đó, người ta được xưng công chính bởi hành động chứ không chỉ bởi đức tin mà thôi”. Gia-cơ 2,24

Chúng ta được cứu nhờ ân điển của Chúa. Chúng ta được thưởng hay bị phạt do những điều chúng ta đã làm ở trên đất

“Vì nhờ ân điển, bởi đức tin mà anh em được cứu, điều này không đến từ anh em mà là tặng phẩm của Đức Chúa Trời, cũng không do việc làm của anh em, để không ai có thể tự hào” Ê-phê-sô 2, 8-9

“Vì tất cả chúng ta đều phải trình diện trước tòa án Đấng Christ để mỗi người nhận lãnh tùy theo điều thiện hoặc ác mình đã làm lúc còn trong than xác” 2 Cô-rinh-tô 5, 10

“Nầy ta đến mau chóng, đem phần thưởng theo với ta, để thưởng cho mỗi người tùy theo việc họ đã làm” Khải huyền 22,12

4. Chỉ do ân điển của Chúa con người được cứu

Chỉ có Chúa là Đấng tha tội, nhờ ân điển của Ngài mà ta được tha tội, được cứu, được chữa lành.

“Còn nếu chúng ta xưng tội mình thì Ngài là thành tín công chính sẽ tha tội cho chúng ta và tẩy sạch chúng ta khỏi mọi điều bất chính”. 1 Giăng 2,9

“Nếu chúng ta bước đi trong ánh sáng, cũng như chính Ngài ở trong ánh sáng, thì chúng ta được tương giao với nhau, và huyết của Đức Chúa Jesus, Con Ngài, tẩy sạch mọi tội lỗi chúng ta” 1 Giăng 1,7

“Hỡi các con bé nhỏ của ta, ta viết cho các con những điều này để các con không phạm tội. Nhưng nếu có ai phạm tội thì chúng ta có Đấng biện hộ với Đức Chúa Cha là Đức Chúa Jesus Christ, Đấng công chính. Chính Ngài là tế lễ chuộc tội chúng ta, không những vì tội của chúng ta mà thôi, nhưng còn vì tội  của cả thế gian nữa” 1 Giăng 2, 1-2

“Tât cả các nhà tiên tri đêu làm chưng răng ai tin Ngài thì nhơ danh Ngài đươc tha tôi”Công vụ các sư đô 10,43

“Không phải nhờ vào những vật dễ hư hoại như bạc hoặc vàng, mà anh em được chuộc khỏi lối sống phù phiếm từ tổ tiên mình truyền lại, nhưng bởi huyết báu của Đấng Christ, như huyết  của Chiên Con không khuyết tật, không tì vết đã được định sẵn từ trước khi tạo dựng vũ trụ” 1 Phi-e-rơ 1, 18-20

“Sao người này nói như vậy? Thật là phạm thượng! Ngoài Đức Chúa Trời , còn ai có thể tha tội được?” Mác 2,7

“Vì trong Đấng Christ, chúng ta được cứu chuộc bởi huyết Ngài, được tha tội theo sự phong phú ân điển Ngài” E-phê-sô 1, 7

“Hãy ăn năn, mỗi người phải nhân danh Đức Chúa Jesus nhận báp-têm để được tha tội mình rồi sẽ nhận lãnh quà tặng là Đức Thánh Linh”. Công vụ các sứ đồ 2, 38

“Anh em đã bởi phép báp têm được chôn với Ngài, thì cũng được sống lại với Ngài bởi đức tin trong quyền phép của Đức Chúa Trời, là Đấng đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại….vì đã tha thứ hết mọi tội lỗi chúng ta”. Cô-lô-se 2, 12-13

“Vậy, hãy ăn năn việc ác của anh và cầu nguyện với Chúa, để may ra Ngài sẽ tha thứ ý tưởng ấy trong lòng anh” Công vụ các sứ đồ 8, 22

“Con đã thú tội cùng Chúa, không giấu gian ác con; Con nói:” Con sẽ xưng các sự vi phạm con với Đức Giê-hô-va, và Chúa tha tội cho con”. Thi thiên 32,5

“Ngài có thể cứu toàn vẹn  những người nhờ Ngài mà đến gần Đức Chúa Trời, vì Ngài hằng sống để cầu thay cho những người ấy”. Hê-bơ-rơ 7, 25

“Ngài dâng chính mình Ngài làm sinh tế  một lần đủ cả” Hê-bơ-rơ 7, 27

“Ngài đã bước vào nơi Chí Thánh một lần đủ cả, không dâng máu dê đực và bò con, nhưng dâng chính huyết mình để đem đến sự cứu chuộc đời đời cho chúng ta”. Hê-bơ-rơ 9,12

“Ngài mang tội lỡi chúng ta trong thân thể Ngài trên cây gỗ, để chúng ta chết đối với tội lỗi và sống cho sự công chính, nhờ những vết thương của Ngài mà mà anh em được chữa lành” 1 Phi-e-rơ 2,24

Ân điển cứu những ai tin Ngài khi còn đang sống ở trên đất, khi chết hoặc xuống âm phủ hoặc lên thiên đàng, không có luyện ngục, những người còn sống trên đất không thể dùng công đức để mua chuộc sự cứu rỗi cho người thân ở âm phủ.

“Qủa thật, ta nói cùng ngươi, hôm nay ngươi sẽ được ở với ta trong nơi pa-ra-đi”Lu-ca 23,43

“Kẻ nào không được biên vào sách sự sống đều bị ném xuống hồ lửa”. Khải huyền 20,15

“Đọan, sự chết và âm phủ bị quăng xuống hồ lửa. Hồ lửa là sự chết thứ hai”. Khải huyền 20,10

“Như mây tan và biến mất, người xuống âm phủ không còn trở lên được nữa. Họ không trở về nhà mình nữa, nơi họ ở chẳng còn ai biết đến”. Gióp 7,9-10

“Họ sẽ chẳng bao giờ được dự phần gì trong mọi việc xảy ra dưới ánh mặt trời”. Truyền đạo 9,6

“Hơn nữa, có một vực sâu lớn được phân định giữa chúng ta với con đến nỗi ai muốn từ đó qua đây cũng không được”. Lu-ca 16,26

“Không ai chuộc được anh em mình hoặc trả giá chuộc người ấy nơi Đức Chúa Trời”. Thi thiên 49, 7

“Vì giá chuộc mạng sống quá đắt, người ấy không thể trả nổi”. Thi thiên 49, 9

II. ĐỐI VỚI ANH EM: Nếp sống của tín đồ

1. Hãy bỏ con người cũ mặc lấy con người mới

“Chớ nói dối nhau vì đã lột bỏ người cũ cùng các công việc của nó mà mặc lấy người mới, là người đang được đổi mới trong nhận thức theo hình ảnh Đấng tạo dựng người ấy”
Co-lo-se 3, 9-10

“Chớ lấy ác trả ác cho ai, phải chăm tìm điều thiện trước mặt mọi người. Nếu có thể được, thì hãy hết sức mình mà hòa thuận với mọi người. Hỡi kẻ rất yêu dấu của tôi ơi, chính mình chớ trả thù ai, nhưng hãy nhường  cho cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời, vì có chép lời Chúa phán rằng: Sự trả thù thuộc về ta, ta sẽ báo ứng” Rô-ma 12,17-19

“Phàm những kẻ tà dâm, kẻ thờ hình tượng , kẻ ngoại tình, kẻ làm dáng điệu, kẻ đắm nam sắc, kẻ trộm cướp, kẻ hà tiện kẻ say sưa, kẻ chửi rủa, kẻ chắt bóp đều chẳng được hưởng nước Đức Chúa Trời đâu”. 1 Cô-rinh-tô 6, 10

“Phải bỏ khỏi anh em những sự cay đắng, buồn giận, tức mình, kêu rêu, mắng nhiếc, cùng mọi điều hung ác. Hãy ở với nhau cách nhân từ, đầy dẫy long thương xót, tha thứ nhau như Đức Chúa Trời đã tha thứ anh em trong Đấng Christ vậy”. Ê-phê-sô 4,31-32

“Đừng say rượu , vì rượu xui cho luông tuồng, nhưng phải đầy dẫy Đức Thánh Linh”. Ê-phê-sô 5,18

“Chớ dùng men cũ là men hiểm độc và gian ác, mà hãy dùng bánh không men của sự thành thật và chân lý” 1 Cô-rinh-tô 5,8

2. Mặc lấy con người mới

“Trái của Thánh Linh là yêu thương, vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, khiêm nhu, tiết độ”. Ga-la-ti 5,22

“Hãy  vui mừng trong hy vọng, kiên nhẫn trong hoạn nạn, bền lòng mà cầu nguyện” Ro-ma 12,12

“Vì trái của ánh sáng là mọi điều nhân từ, công chính và chân thật” Ê-phê-sô 5,9

“Hãy bước đi trong sự yêu thương “ Ê-phê-sô 5, 2

“Đừmg làm điều gì vì lòng ích kỷ, hoặc vì hư vinh, nhưng hãy khiêm nhường, xem người khác như tôn trọng hơn mình”. Phi-líp 2, 3

“Chúa biết những ai thuộc về Ngài và người nào kêu cầu danh Ngài thì phải tránh xa điều bất chính” 2 Ti-mô-thê 2,19

“Mọi người phải mau nghe, chậm nói, chậm giận, vì cơn giận của loài người không thực hiện sự công chính của Đức Chúa Trời”. Gia-cơ 1,19-20

“Vậy, hãy loại bỏ mọi điều ô uế và gian ác đang lan tràn, lấy long nhu mì tiếp nhận lời đã trồng  trong anh em , là lời có thể cứu chuộc anh em”. Gia-cơ 1,21

“Ai không vấp phạm trong lời nói, đó là người trọn vẹn, có thể kiềm chế được cả thân thể mình”. Gia-cơ 3,2

“Đức Chúa Trời chống cự kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ân điển cho người khiêm nhường’ Gia-cơ 4,6

“Đức Chúa Trời chống cự kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho người khiêm nhường” 1 Phi-e-rơ 5,5

“Khi bị nguyền rủa, Ngài không nguyền rủa lại, lúc chịu đau khổ, Ngài không hề hăm dọa, nhưng phó thác chính mình cho Đấng phán xét công minh “. 1 Phi-e-rơ 2, 23

“Đừng phiền trách nhau, để anh em khỏi bị đoán xét, kìa Đấng phán xét đang đứng trước cửa”. Gia-cơ 5,9

“Đừng nói xấu nhau”. Gia-cơ 4,11

“Vậy, ai biết điều tốt cần phải làm mà không làm, thì phạm tội”. Gia-cơ 4,17

“Đừng thề gì hết” Ma-thi-ơ 5,34

“Đừng xét đoán ai để các con khỏi bị xét đoán. Vì các con xét đoán họ thế nào thì họ cũng xét đoán các con thế ấy, các con lường cho họ mực nào thì họ sẽ lường cho các con mực ấy’ Ma-thi-ơ 7,1

“Phải khiêm nhường đến điều, mềm mại đến điều, phải nhịn nhục, lấy lòng thương yêu mà chiều nhau, dùng dây hòa bình mà giữ gìn sự hiệp một của Thánh Linh”. E-phê-sô 4,2

“Đừng chống cự kẻ ác. Trái lại, nếu ai vả má bên phải, hãy đưa luôn má bên kia cho người ấy, nếu ai muốn kiện con để lấy áo ngoài, hãy cho người ấy luôn áo trong; Nếu ai bắt con đi một dặm, hãy đi với người ấy hai dặm. Ai xin, hãy cho, ai mượn của con thì đừng từ chối. Ma-thi-ơ 5, 39-42

“Hãy thương yêu kẻ thù nghịch, và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các con” Ma-thi-ơ 5, 44

“Nếu các con tha lỗi cho người ta, thì Cha các con ở trên trời cũng sẽ tha thư cho các con” Ma-thi-ơ 6, 14

“Khi con làm việc từ thiện, đừng cho tay trái biết tay phải làm gì để việc từ thiện con được kín đáo, và Cha con, Đấng thấy trong nơi kín đáo, sẽ ban thưởng cho con” Ma-thi-ơ 6, 3-4

“Mọi người phải vâng phục các đấng cầm quyền trên mình, vì chẳng có quyền nào mà không đến bởi Đức Chúa Trời, các quyền bởi Đức Chúa Trời chỉ định”. Ro-ma 13, 1

“Hãy trả cho mọi người điều mình mắc nợ: nộp thuế cho kẻ mình phải nộp, đóng lợi tức cho người mình phải đóng, sợ kẻ mình phải sợ, tôn trọng người đáng tôn trọng” Rô-ma 13, 7

“Đừng mắc nợ ai điều gì, ngoại trừ món nợ yêu thương nhau, vì ai yêu người lân cận mình là đã làm tr

Đọc Tiếp →

Nhận Định về Lời Chứng “Hãy Chuẩn Bị Gặp Chúa của Bạn” của Angelica Elizabeth Zambrano Mora

Copyright Notice: All Rights Reserved © 2011 Vietnamese Christian Mission Ministry Church, Inc. Mọi người có thể sao chép, phổ biến dưới mọi hình thức nhưng xin giữ đúng nguyên văn, kể cả thông báo về tác quyền này.

Huỳnh Christian Timothy

Bấm vào đây để download bài viết này
Bấm vào đây để download bài viết này cho Kindle

Bấm vào đây để nghe âm thanh – phần 1
Bấm vào đây để nghe âm thanh – phần 2

Dẫn Nhập

Thánh Kinh xác định: "Đức Chúa Trời phán: Trong những ngày sau rốt, Ta sẽ đổ Thần Ta khắp trên mọi xác thịt; con trai và con gái các ngươi đều sẽ nói lời tiên tri, bọn trai trẻ sẽ thấy điềm lạ, và các người già cả sẽ có chiêm bao. Phải, trong những ngày đó, Ta sẽ đổ Thần Ta khắp trên các đầy tớ trai và gái Ta, chúng nó đều nói lời tiên tri" (Công Vụ Các Sứ Đồ 2:17, 18; Giô-ên 2:28, 29).

"Những ngày sau rốt" khởi đầu từ khi Đức Thánh Linh được ban cho Hội Thánh, rồi sẽ kết thúc khi Đấng Christ tái lâm để phán xét thế gian và thiết lập vương quốc ngàn năm của Ngài trên đất. Vì thế, sự kiện con dân Chúa sẽ được thần cảm để thấy điềm lạ hoặc có chiêm bao để nói lời tiên tri là điều đương nhiên. Tuy nhiên, Thánh Kinh cũng cho biết có thần cảm giả mạo (II Tê-sa-lô-ni-ca 2:2) và Sa-tan giả làm thiên sứ sáng láng (II Cô-rinh-tô 11:14). Chính Đức Chúa Jesus Christ đã cảnh giác con dân của Ngài: "Vì nhiều christ giả và tiên tri giả sẽ dấy lên, làm những dấu lớn, phép lạ, nếu có thể được thì họ cũng đến dỗ dành chính những người được chọn. Nầy, Ta đã bảo trước cho các ngươi." (Ma-thi-ơ 24:24, 25).

Thánh Kinh đã dạy cho chúng ta biết là chớ tin cậy mọi thần, nhưng phải thử các thần: "Hỡi kẻ rất yêu dấu, chớ tin cậy mọi thần, nhưng hãy thử cho biết các thần có phải đến bởi Đức Chúa Trời chăng; vì có nhiều tiên tri giả đã hiện ra trong thiên hạ" (I Giăng 4:1). Phương cách để thử các thần là cầu xin Đức Thánh Linh dùng chính Thánh Kinh để chỉ ra cho chúng ta những gì không thuộc về lẽ thật.

Sa-tan và các tà linh của nó có thể hiện ra như một thiên sứ sáng láng của Đức Chúa Trời, thậm chí, hiện ra giả làm Đấng Christ và mạo danh Chúa để "phán truyền, ban mạc khải," và làm ra đủ các thứ dấu kỳ, phép lạ, đến nổi có thể gọi lửa từ trời rơi xuống đất (Khải Huyền 13:13). Vì thế, nếu chúng ta chỉ dựa vào hình thể sáng láng, dựa vào các dấu kỳ, phép lạ, và những lời nói mang danh Chúa, thì chúng ta sẽ bị gạt một cách dễ dàng.

Nguyên tắc duy nhất để xác định một người, một thần, một sự việc có phải đến từ Chúa hay không, là đối chiếu chúng với Thánh Kinh. Chỉ cần có một chi tiết không đúng với Thánh Kinh, thì toàn bộ là sản phẩm giả mạo của loài người hoặc Sa-tan.

Trong bài này, người viết sẽ dùng Lời Chúa để chỉ ra những chi tiết không đúng với Thánh Kinh trong lời làm chứng: "Hãy Chuẩn Bị Gặp Chúa của Bạn" của Angelica Elizabeth Zambrano Mora.

Angelica Elizabeth Zambrano Mora là một thiếu nữ người Ecuador, Nam Mỹ, cô đã làm chứng rằng: Vào ngày 7 tháng 11 năm 2009, Chúa đã làm cho cô chết trong 23 tiếng đồng hồ. Sau đó, Chúa đã dẫn cô vào hỏa ngục và thiên đàng để cô xem thấy những điều đang xảy ra tại hai nơi đó. Rồi, Chúa cho cô sống lại và sai cô thuật những điều đã thấy cho thế gian. Lời làm chứng của cô: "Hãy Chuẩn Bị Gặp Chúa của Bạn," đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, phát hành đi khắp nơi trên thế giới, và cho đến năm 2011 thì cô trở thành nhà truyền giáo nổi tiếng.

Bản dịch Việt ngữ có thể download tại đây: http://www.divinerevelations.info/Documents/Prepare_to_meet_your_God/Vietnamese_Prepare_to_meet_your_God.pdf

Bản dịch Anh ngữ có thể download tại đây: http://www.divinerevelations.info/Documents/Prepare_to_meet_your_God/English_Prepare_to_meet_your_God.pdf

Những câu trích dẫn Anh ngữ dưới đây được trích dẫn từ trang mạng nêu trên và được người viết bài này dịch sang tiếng Việt.

Ba Mươi Điều Không Đúng với Thánh Kinh Trong Lời Chứng của Angelica

Điều 1:Những việc "lớn và khó" được đề cập trong Giê-rê-mi 33:3 không phải là thiên đàng và hỏa ngục.

Angelica:

Tôi đã xin một dấu hiệu rằng, Ngài ở với tôi, và Chúa đã cho tôi Giê-rê-mi 33:3: "Hãy kêu cầu Ta, Ta sẽ trả lời cho; Ta sẽ tỏ cho ngươi những việc lớn và khó, là những việc ngươi chưa từng biết." Tôi nói: "Lạy Chúa, có phải Ngài vừa phán với con?" Vì tôi nghe rõ tiếng nói của Ngài và có sự nhìn thấy những chữ đã được viết trong Giê-rê-mi 33:3.

Tôi hỏi: "Lạy Chúa, có phải đó là cho con?" Tôi giữ điều ấy cho chính mình, trong khi mọi người khác đang làm chứng những gì Chúa đã cho họ và những gì họ đã thấy. Tôi giữ bí mật điều đó và nghĩ rằng, những chữ "Kêu cầu Ta," có nghĩa là cầu nguyện, nhưng "những việc lớn và khó," có nghĩa gì? Tôi nghĩ: "Điều này chỉ có nghĩa là thiên đàng và hỏa ngục." Vậy nên, tôi nói: "Lạy Chúa, con chỉ muốn Ngài cho con thấy thiên đàng chứ không là hỏa ngục, bởi vì, con từng nghe rằng, đó là nơi khủng khiếp!" Nhưng rồi tôi hết lòng cầu nguyện: "Lạy Chúa, nếu ý Ngài là cho con thấy những gì Ngài phải cho thấy, thì xin hãy làm như vậy, nhưng xin thay đổi con trước. Con muốn Ngài làm ra một sự khác biệt trong con; con muốn được trở nên khác biệt."

I asked for a sign that He was with me, and the Lord gave me Jeremiah 33:3, "Call to Me and I will answer you and tell you great and unsearchable things you do not know." I said, "Lord, did You just talk to me?” Because I heard His audible voice and had a vision of the words written in Jeremiah 33:3.

I said, "Lord, is that for me?" I kept it to myself, while everyone else was testifying what the Lord had given them and what they had seen. But I kept it secret and would only meditate on the words: "Call unto Me" means to pray, but what did"great and mighty things" mean? I thought, "This can only mean heaven and hell." So I said, "Lord, I only want You to show me heaven, but not hell, because I've heard that it is a horrible place." But I then prayed with all my heart, "Lord if it is Your will to show me what You must, then do so, but change me first. I want You to make a difference in me; I want to be different.”

Nếu "những việc lớn và khó" trong Giê-rê-mi 33:3 là thiên đàng và hỏa ngục, thì ý nghĩa của câu Thánh Kinh đó sẽ là: Hễ Giê-rê-mi kêu cầu Chúa, thì Ngài sẽ cho ông thấy thiên đàng và hỏa ngục! Nên nhớ, đây là lời Chúa phán trực tiếp đến Tiên Tri Giê-rê-mi, lúc ông đang bị giam trong hành lang của cung điện Vua Sê-đê-kia, nước Giu Đa (Giê-rê-mi 32:2; 33:1), trong khi quân lính Ba-by-lôn đang bao vây thành Giê-ru-sa-lem, để phá thành và bắt dân Giu-đa đi lưu đày 70 năm. Sự cứng lòng của dân Giu-đa dẫn đến sự sửa phạt nặng nề của Thiên Chúa trên vương quốc Giu-đa, đang xảy ra trước mắt Giê-rê-mi; nhưng Chúa bảo ông hãy kêu cầu Chúa, thì Chúa sẽ tỏ cho ông những việc lớn và khó, mà Ngài sẽ làm cho dân của Ngài.

Nghĩa đen của Giê-rê-mi 33:3, hiểu theo văn cảnh của toàn đoạn 33 và toàn sách Giê-rê-mi, có nghĩa là: Nếu Giê-rê-mi kêu cầu Chúa thì Chúa sẽ tỏ cho ông về sự Thiên Chúa sẽ tha thứ, giải cứu, và phục hồi hai vương quốc I-sơ-ra-ên và Giu-đa: "Nầy, Ta sẽ ban sức mạnh cho nó, và chữa lành; Ta sẽ chữa lành chúng nó, sẽ tỏ cho chúng nó thấy dư dật sự bình an và lẽ thật. Ta sẽ khiến những phu tù Giu-đa và phu tù I-sơ-ra-ên trở về; gây dựng lại chúng nó như hồi trước. Ta sẽ làm cho sạch mọi sự gian ác chúng nó đã phạm nghịch cùng Ta; Ta sẽ tha mọi sự gian ác chúng nó đã phạm nghịch cùng Ta, và đã phạm pháp nghịch cùng Ta" (Giê-rê-mi 33:6-8).

Nghĩa ứng dụng thuộc linh của Giê-rê-mi 33:3 là: Hễ ai kêu cầu Chúa thì Ngài sẽ đáp lời họ, tỏ cho họ năng lực và sự mầu nhiệm của Tin Lành về sự Thiên Chúa sẽ tha thứ, giải cứu, và phục hồi những ai thật lòng ăn năn, từ bỏ tội, và tin nhận Đấng Christ.

Điều 2: Đức Chúa Trời không hề giải thích Thánh Kinh theo ý loài người.

Angelica:

Tôi đã cầu nguyện suốt cả tháng 8 và rồi trong tháng 11, một tôi tớ của Chúa đã đến nhà chúng tôi và nói: "Nguyện Chúa ban phước cho cô." Tôi đáp lời: "A-men!" Ông bèn nói: "Tôi đến đây để mang cho cô một sứ điệp từ Đức Chúa Trời… cô phải chuẩn bị chính mình, vì Chúa sẽ tỏ cho cô những việc lớn và khó mà cô chưa từng biết. Ngài sẽ tỏ cho cô thiên đàng và hỏa ngục, bởi vì cô đã cầu xin theo Giê-rê-mi 33:3." Tôi hỏi: "Vâng, làm sao ông biết được? Tôi chưa hề nói điều đó với ai cả." Ông ta trả lời: "Chính Đức Chúa Trời mà cô hầu việc và tôn vinh, chính Đức Chúa Trời đó mà tôi cũng tôn vinh đã nói cho tôi mọi sự."

I prayed during all of August and then in November, a servant of the Lord came to our house and said, "May the Lord bless you." I replied, "Amen." He then said, "I am here to bring you a message from God…you must prepare yourself, because the Lord will show you great and mighty things which you do not know. He is going to show you Heaven and Hell because you have been asking, from Jeremiah 33:3." I asked, "Yes, how did you know? I haven't told that to anyone." He responded, "The same God that you serve and praise, that very same God I also praise told me everything."

Mọi lời tiên tri trong Thánh Kinh đều không thể giải thích theo ý riêng: "Trước hết, phải biết rõ rằng chẳng có lời tiên tri nào trong Thánh Kinh lấy ý riêng giải nghĩa được. Vì chẳng hề có lời tiên tri nào từng bởi ý một người nào, nhưng những người thánh của Thiên Chúa đã cảm động bởi Thánh Linh mà nói ra" (II Phi-e-rơ 1:20, 21). Thế nhưng, trong lời làm chứng trên đây của Angelica, chúng ta thấy cô đã tự ý giải thích: "những việc lớn và khó" là "thiên đàng và hỏa ngục." Tiếp theo, Angelica nói một "tôi tớ Chúa" đã đến nhà của cô và nói với cô rằng, Chúa sẽ cho cô thấy thiên đàng và hỏa ngục như lời cô đã cầu nguyện theo Giê-rê-mi 33:3. Và như vậy, theo cô, điều đó có nghĩa là sự hiểu của cô về "những việc lớn và khó" trong Giê-rê-mi 33:3 đã được một "tôi tớ Chúa" ấn chứng là đến từ "Chúa."

Một khi Lời Chúa bị giải thích sai trật thì dù cho có bao nhiêu người "xác chứng" cũng không thể biến những sai trật đó thành lẽ thật. Chính sự kiện một người rao giảng Lời Chúa đúng với Thánh Kinh tỏ cho biết người ấy là tôi tớ Chúa; còn một người dù có địa vị và bằng cấp cao trọng trong các giáo hội, nhưng giảng sai Lời Chúa, thì không thể là tôi tớ Chúa mà chỉ là giáo sư giả và tiên tri giả, mạo làm kẻ giúp việc công bình (II Cô-rinh-tô1:15). Họ cũng có thể nhân danh Chúa để nói tiên tri, trừ quỷ, và làm nhiều phép lạ, nhưng Chúa không hề biết họ (Ma-thi-ơ 7:21, 22). Họ và những kẻ nghe theo họ sẽ bị hư mất đời đời.

"Đức Chúa Trời" mà một người hầu việc và tôn vinh không hẳn là Đức Chúa Trời của Thánh Kinh. Phải chăng Sa-tan đã ranh mãnh chơi chữ với những người bị rơi vào trong sự dối gạt của nó?

Điều 3: Thánh Kinh không hề nói các thiên sứ của Chúa được sai đến tiếp xúc với loài người có cánh.

Angelica:

Họ cao và đẹp với những bộ cánh xinh đẹp. Họ to lớn và chiếu sáng, dường như trong suốt và rực rỡ như vàng. Họ mang những giầy bằng thủy tinh và mặc những trang phục thánh. "Tại sao các ngươi ở đây?" Họ mĩm cười và đáp: "Chúng tôi ở đây vì chúng tôi có nhiệm vụ phải thi hành… Chúng tôi ở đây vì cô phải viếng thăm thiên đàng và hỏa ngục; và chúng tôi sẽ chẳng rời khỏi cho đến khi mọi việc này được hoàn tất." Tôi đáp lời: "Tốt lắm, nhưng tôi chỉ muốn viếng thiên đàng mà không viếng hỏa ngục." Họ mĩm cười và cứ ở đó, nhưng họ không nói gì thêm. Sau khi chúng tôi chấm dứt buổi cầu nguyện, tôi vẫn có thể nhìn thấy họ ở đó.

They were tall and beautiful; with beautiful wings. They were large and shining, and seemed transparent, brilliant as gold. They wore crystal sandals and had on holy garments. "Why are you here?" They smiled and said, "We are here because we have a task to carry out…We are here because you must visit Heaven and Hell and we will not leave until all of this comes to pass." I responded, “very well, but I only want to visit heaven, not hell." They smiled, and stayed there, but did not say anything more. After we finished prayer, I could still see them there.

Thánh Kinh chỉ nói đến các Chê-ru-bin và Sê-ra-phin là có cánh. Họ là những sinh vật kề bên ngai Chúa. Các Chê-ru-bin và Sê-ra-phin không phải là hàng thiên sứ được Chúa sai đến, tiếp xúc với loài người. Chê-ru-bin ở phía dưới ngai còn Sê-ra-phin thì bao phủ ở phía trên ngai của Thiên Chúa. Thánh Kinh không dùng từ ngữ "thiên sứ" để gọi các sinh vật này mà chỉ dùng từ ngữ "các sinh vật."

Ngoài ra, Xa-cha-ri 5:9 nói đến khải tượng về hai tà linh có hình dáng người đàn bà và có cánh như cánh cò (chim cò thuộc loài vật ô uế), được Thiên Chúa dùng làm công cụ để sửa phạt vương quốc Giu-đa. Hai người đàn bà có cánh này tiêu biểu cho tà linh cầm quyền trên dân Canh-đê và dân Ba-by-lôn, là hai giống dân thuộc đế quốc Ba-by-lôn, được Chúa dùng để sửa phạt dân Giu-đa.

Khái niệm cho rằng các thiên sứ có cánh và các thánh đồ trong Thánh Kinh có vòng hào quang bao chung quanh đầu ra từ những tranh tượng của các Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống.

Sự hiện thấy của Angelica về hai "thiên sứ" có cánh đến xác chứng với cô rằng, "những việc lớn và khó" là việc Chúa sẽ cho cô viếng thăm "thiên đàng và hỏa ngục," một lần nữa, cho chúng ta thấy Sa-tan chuẩn bị thật kỷ từng chi tiết, để khiến người ta tin vào sự dối trá của nó.

Điều 4: Thánh Kinh không hề ghi lại sự kiện một người có thể nhìn thấy Đức Thánh Linh như cách nhìn thấy thiên sứ.

Angelica:

Tôi cũng bắt đầu nhìn thấy Đức Thánh Linh. Ngài là bạn tốt nhất của tôi. Ngài là thánh, Ngài biết hết mọi sự, Ngài ở khắp mọi nơi. Tôi có thể nhìn thấy Ngài, vừa trong suốt vừa rực rỡ, với một dung mạo chói sáng. Tôi có thể nhìn thấy nụ cười của Ngài và cái nhìn yêu thương của Ngài. Tôi khó mà diễn tả Ngài, vì Ngài xinh đẹp hơn các thiên sứ nhiều.

I also started to see the Holy Spirit; He is my best friend; He is Holy, He is omniscient; He is omnipresent! I could see Him, transparent and brilliant at the same time; with a brilliant countenance, I could see His smile and His loving gaze! I can hardly describe Him, because He is more beautiful than angels.

Loài người có thể nhìn thấy các thiên sứ của Chúa hoặc nhìn thấy các tà linh lấy hình loài người hiện ra, và chỉ có thể nhìn thấy Thiên Chúa trong hình thể của loài người qua Đức Chúa Jesus, vì Đức Chúa Jesus đã có một thân thể xác thịt như loài người. Sau khi Đức Chúa Jesus phục sinh từ cõi chết, loài người cũng có thể nhìn thấy Ngài và sờ chạm Ngài. Trong khải tượng được ghi lại trong sách Khải Huyền, Sứ Đồ Giăng cũng nhìn thấy Đức Chúa Jesus trong hình thể của loài người. Tuy nhiên, Thánh Kinh không hề ghi lại sự kiện một người có thể nhìn thấy Đức Chúa Cha hoặc Đức Thánh Linh trong hình thể của loài người. Vì thế, lời chứng trên đây của Angelica không có một hậu thuẩn nào từ Thánh Kinh. Nếu chúng ta tin vào tất cả những gì  không được ấn chứng của Thánh Kinh, thì chúng ta sẽ không còn tiêu chẩn để phân biệt thật giả.

Điều 5: Công Vụ của Đức Thánh Linh trên đất, giữa Hội Thánh, trong lòng người tin Chúa không phải để chơi với tín đồ và hiện ra cho tín đồ nhìn thấy hoặc làm theo lời sai khiến của tín đồ.

Angelica:

Tôi có thể nhìn thấy, chơi với, và ngay cả trò chuyện với Đức Thánh Linh. Nhưng các thiên sứ thì không trò chuyện với tôi, mà họ chỉ tôn vinh Chúa. Tôi có thể nói: "Đức Thánh Linh, xin hãy đến với con và làm điều này hay làm điều kia," thì Ngài liền ở đó. Tôi có thể nhìn thấy Ngài, cảm nhận Ngài. Tôi nhìn thấy Ngài khi Ngài đứng dậy, đến nổi tôi dọn một chỗ cho Ngài ngồi. Mặc dù nhiều người không thể nhìn thấy Ngài, Ngài vẫn ở đây.

I could see; play with, and even talk to the Holy Spirit. But the angels would not talk to me, but they would praise the Lord. I would say, "Holy Spirit come along with me to do this or that" and He would be there. I could feel and see Him. I saw Him when He would rise to His feet, and would even prepare a seat for Him. Although many can't see Him, He is here!

Lời chứng trên đây của Angelica cũng tương tự như lời chứng vừa nêu trên trong điều 4, hoàn toàn không có sự hậu thuẩn của Thánh Kinh. Chúng ta có thể nói: Angelica đang thấy tà linh và chơi với tà linh.

Điều 6: Thánh Kinh không hề ghi lại sự kiện: khi một người nhìn thấy khải tượng từ Chúa thì bị đau đớn trong thân thể.

Angelica:

Trong khi cầu nguyện, tôi cảm thấy hụt hơi, tôi không thể thở được. Tôi cảm thấy đau đớn trong bụng và trong tim. Tôi cảm thấy máu của tôi sắp ngưng tuần hoàn và một cơn đau đớn khủng khiếp lan khắp thân thể tôi. Tôi chỉ có thể nói: "Lạy Chúa, xin thêm sức cho con, xin thêm sức cho con," vì tôi cảm thấy tôi không còn chịu nổi nữa. Tôi không còn sức lực, nó đã lìa khỏi tôi. Khi tôi nhìn lên trời, trong cõi thuộc linh, không phải với đôi mắt vật lý của tôi, tôi đã nhìn thấy thiên đàng mở ra. Tôi nhìn thấy các thiên sứ, không phải hai hay mười, nhưng hàng triệu vị đang nhóm họp với nhau. Giữa hàng triệu thiên sứ, tôi nhìn thấy một ánh sáng, sáng chói gấp 10,000 lần mặt trời. Và tôi nói: "Lạy Chúa, đó chính là Ngài, Đấng đang đến!"

During prayer, I felt shortness of breath; I couldn't breathe. I felt a pain in my abdomen and in my heart. I felt my blood going dormant, and tremendous pain all over my body. All I could say was, "Lord, give me strength, give me strength!" because I felt I couldn't go on. I had no strength, it was leaving me! When I looked up to heaven, in the spiritual realm, not with my physical eyes, I saw heaven opening up. I saw angels, not two nor ten, but millions of them gathering together. In the midst of the millions of angels, I saw a Light, 10,000 times brighter than the sun. And I said, "Lord that is You who is coming!"

Điều 7: Thánh Kinh không hề ghi lại rằng Đức Chúa Jesus tự xưng danh Ngài là Giê-hô-va.

Angelica:

Vào giây phút đó, tôi nghe tiếng của Chúa, một giọng nói yêu thương như sấm vang: "Đừng sợ! Hỡi con gái! Vì Ta là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của con. Ta phải đến đây để tỏ cho con điều mà Ta đã hứa với con. Hãy chổi dậy, vì Ta là Giê-hô-va, Đấng nắm giữ con bởi tay phải con và phán với con rằng, đừng sợ, vì Ta sẽ giúp con!"

At that moment I hear the Lord's voice, a beautiful voice with thunder and love, "Fear not, Daughter, for I am Jehovah, Your God, and I have come here to show you what I have promised you. Arise, for I am Jehovah, who holds you by your right hand and tells you, Fear not, I will help you."

Mặc dù chúng ta biết Giê-hô-va là tên riêng của Thiên Chúa Ba Ngôi, nghĩa là: Đức Chúa Cha là Giê-hô-va, Đức Chúa Con là Giê-hô-va, và Đức Thánh Linh là Giê-hô va. Ê-sai 6:1-5 ghi lại sự kiện Tiên Tri Ê-sai nhìn thấy Đức Giê-hô-va ngồi trên ngôi cao sang, và Giăng 12:41 cho biết là Ê-sai đã thấy Đức Chúa Con. Thế nhưng Thánh Kinh không hề ghi lại rằng, Đức Chúa Jesus tự xưng danh Giê-hô-va khi phán với loài người. Ngay trong Khải Huyền là cuốn sách ghi lại những mạc khải cuối cùng của Thiên Chúa ban cho loài người, Đức Chúa Jesus cũng chỉ xưng: "Ta là Jesus" (Khải Huyền 22:16)!

Vì thế, lời chứng trên đây của Angelica cũng không có sự hậu thuẩn của Thánh Kinh. Càng nhiều chi tiết "ly kỳ," khác thường nhưng không có trong Thánh Kinh bao nhiêu, chỉ càng giúp cho con dân chân thật của Chúa, là "những người đã được chọn," càng dễ nhìn ra sự dối trá của Sa-tan.

Điều 8: Khải Huyền 1:14 ghi rằng đầu và tóc của Chúa trắng như lông chiên, không phải tóc Ngài là vàng chói sáng.

Angelica:

Khi tôi bắt đầu bước đi thì các thiên sứ mở ra một lối đi. Có một ánh sáng mạnh mẽ chiếu ra và tôi nhìn vào đó, tôi cảm thấy bình an. Khi tôi nhìn, tôi thấy một người đàn ông xinh đẹp, cao, thanh lịch, vạm vỡ; ánh sáng phát ra từ Ngài. Có quá nhiều ánh sáng nên tôi không thấy mặt Ngài, nhưng tôi có thể thấy mái tóc xinh đẹp bằng vàng chói sáng của Ngài và một trang phục trắng với thắt lưng vàng ngang ngực; trên đó có hàng chữ: Vua muôn vua và Chúa muôn chúa!

As I started walking, the angels began to open a path. There was a strong light shining, and as I gazed at it, I felt peace. As I looked, I saw a beautiful, tall, elegant, muscular man. Light was projecting from Him. There was too much light for me to see His face! But I could see His beautiful hair of brilliant gold and a white garment with a wide golden girdle that crossed His chest. It read, "KING OF KINGS AND LORD OF LORDS."

Điều 9: Đức Chúa Jesus khẳng định với Đức Chúa Cha, Ngài đã ban sự vinh quang của Ngài cho những ai thuộc về Ngài: "Con đã ban cho họ sự vinh quang mà Ngài đã ban cho con, để họ trở nên một cũng như chúng ta là một" (Giăng 17:22 – Bản Dịch Ngôi Lời).

Vì thế, hễ những ai thuộc về Ngài thì có vinh quang của Ngài và nhận biết Ngài là thật, nhận biết vinh quang của Ngài là thật. Vậy, tại sao gần hai ngàn năm sau, Chúa lại phải tỏ cho Angelica thấy vinh quang của Ngài và nhờ cô bảo với con dân Ngài, rằng: Ngài là thật và vinh quang của Ngài là thật? Nếu một người không tin Ngài là thật thì làm sao trở thành con dân của Ngài? Nếu một người đã là con dân Ngài mà không nhận biết sự vinh quang của Ngài, (tức là: tình yêu, sự công chính, và sự thánh khiết của Ngài), là thật thì làm sao có thể chiếu sáng vinh quang của Ngài qua thân thể và đời sống của người đó (I Cô-rinh-tô 6:20)?

Angelica:

Và, Ta cũng sẽ tỏ cho con sự vinh quang của Ta, để con nói với dân Ta hãy chuẩn bị, vì sự vinh quang của Ta là thật và Ta là thật!"

And also, My glory will I show you, for you to tell My people to be prepared, for My glory is real and I am real."

Điều 10: Thánh Kinh không hề diễn tả hỏa ngục với những màn tra tấn, hành hạ khủng khiếp bởi quỷ dữ để người ta sợ.

Angelica:

Ngài phán: "Hỡi con gái, Ta sẽ ở với con. Ta sẽ chẳng lìa con trong nơi đó và Ta sẽ tỏ cho con nơi đó, bởi vì, có nhiều người biết hỏa ngục có thật nhưng họ không sợ. Họ tin nó là một trò chơi, rằng hỏa ngục là chuyện đùa, và nhiều người không biết về nó. Đó là lý do Ta sẽ tỏ cho con nơi ấy, bởi vì, có nhiều người hư mất hơn là vào trong sự vinh quang của Ta."

He said, "Daughter, I will be with you. I will not leave you in that place and I am going to show you that place because there are many who know that hell exists, but they have no fear. They believe it's a game, that hell is a joke, and many don't know about it. That is why I am going to show you that place, because there are more that perish than those that are entering My glory."

Thánh Kinh đã nói đến sự có thật của hỏa ngục và số phận hư mất đời đời của những ai không tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jesus Christ. Chỉ Tin Lành của Đức Chúa Trời mới có năng quyền để cứu tất cả những ai tin nhận Tin Lành ấy (Rô-ma 1:16), chứ không phải sự thật khủng khiếp về hỏa ngục mới khiến người ta được cứu rỗi. Rao giảng về sự khủng khiếp của hỏa ngục với mục đích muốn cho người ta tin Chúa tức là rao giảng một thứ "tin lành khác," không có trong Thánh Kinh (II Cô-rinh-tô 11:4; Ga-la-ti 1:6, 7).

Điều 11: Thánh Kinh không hề dạy mỗi con quỷ ở trong hỏa ngục được ban cho tên của một người và một phi tiêu, để chúng lên mặt đất dùng phi tiêu hủy diệt người đó và mang người đó vào hỏa ngục.

Điều 12: Thánh Kinh chép: "Nhưng mỗi người bị cám dỗ khi mắc tư dục xui giục mình. Đoạn, lòng tư dục cưu mang, sanh ra tội ác; tội ác đã trọn, sanh ra sự chết" (Gia-cơ 1:14, 15). Nếu quả thật, mỗi tà linh được ban cho quyền hủy diệt nhân loại để đem họ vào hỏa ngục, thì nhân loại không có trách nhiệm về sự hư mất của họ.

Điều 13: Thánh Kinh dạy rằng: Sa-tan là thần của đời này (II Cô-rinh-tô 4:4) và các thần dữ của nó đang hành động trong chốn không trung (Ê-phê-sô 2:2; 6:12), còn các thiên sứ phạm tội khác bị xiềng lại trong vực sâu để chờ ngày bị phán xét (II Phi-e-rơ 2:4). Thánh Kinh không dạy ma quỷ từ hỏa ngục có thể tiến lên mặt đất để tấn công loài người, ngoại trừ một lần duy nhất trong thời đại nạn, chúng sẽ được thả ra từ vực sâu không đáy, lên trên mặt đất để hành hại những người theo Anti-Christ (Khải Huyền 9).

Điều 14: Thánh Kinh không hề dạy ma quỷ đem linh hồn của tội nhân vào hỏa ngục. Chính Chúa nhốt các thiên sứ phạm tội vào vực sâu, chính Chúa sẽ ném Anti-Christ và tiên tri giả của nó vào hỏa ngục, và chính Chúa cũng sẽ ném Sa-tan vào hỏa ngục. Sau khi Sa-tan bị ném vào hỏa ngục thì Chúa mới xét xử những người không có sự cứu rỗi, rồi mới ném họ xuống hỏa ngục (Khải Huyền 2011-15). Thánh Kinh cho biết các thiên sứ làm nhiệm vụ thu thập những kẻ ác ra khỏi vương quốc của Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 13:39, 41, 49).

Điều 15: Thánh Kinh không hề dạy Chúa khóc vì những linh hồn bị hư mất trong hỏa ngục. Nếu Chúa khóc vì những linh hồn bị hư mất trong hỏa ngục thì Ngài sẽ khóc đến đời đời.

Angelica:

Tôi nhìn thấy những con quỷ kinh khiếp, đủ loại, cả lớn lẫn nhỏ. Chúng nó chạy thật nhanh và cầm vật chi đó trong tay chúng. "Lạy Chúa, tại sao chúng chạy như vậy và chúng cầm vật gì trong tay?" Ngài đáp: "Hỡi con gái, chúng chạy vì chúng biết thời giờ của chúng sắp hết, vì không còn bao nhiêu thời gian để hủy diệt nhân loại, đặc biệt là dân Ta. Những vật chúng cầm trong tay chúng là những phi tiêu dùng để hủy diệt nhân loại, bởi vì mỗi con quỷ được ban cho một tên người và tùy theo tên người đã ban cho nó, nó có một phi tiêu để hủy diệt người đó và đem người đến nơi này. Mục đích của nó là hủy diệt người đó và đem người vào hỏa ngục." Và tôi có thể thấy những con quỷ chạy ra, hướng về địa cầu; và Ngài phán với tôi: "Chúng nó đến địa cầu để mang và ném nhân loại vào trong chốn này!" Trong khi phán lời này, Ngài đã khóc. Ngài khóc rất nhiều. Ngài khóc suốt buổi và tôi cũng khóc nữa.

I saw horrible demons, of all types, both large and small. They were running so fast, and carrying something in their hands. "Lord, why are they running like that and what are they carrying?" He answered, “Daughter, they run that way because they know their time is running out, because time is so short to destroy humanity and especially My people. That which they carry in their hands are darts to destroy humanity, because each demon is given a name and according to the name that is given to them, they have a dart to destroy that person and bring them to this place; their goal is to destroy that person and bring them to hell." And I would see the demons running and exiting toward Earth and He told me. "They are going to Earth to bring and throw humanity into this place." As He said this He would weep, He would weep so very much. He was weeping all the time and I would cry too.

Điều 16: Số 666 của con thú trong Khải Huyền 13 là dấu hiệu mà một người thờ lạy nó, tình nguyện chịu mang lấy trên trán hoặc trên tay phải. Việc đó sẽ xảy ra trong thời đại nạn, sau khi Chúa đã đem Hội Thánh ra khỏi thế gian. Hiện nay, không ai có thể nhận con dấu của con thú vì con thú chưa xuất hiện.

Điều số 17: Thánh Kinh dạy rất rõ, là sau khi Sa-tan bị ném vào hỏa ngục, những người không tin nhận Chúa sẽ bị phán xét tùy theo mỗi việc họ đã làm, rồi mới bị ném vào hỏa ngục (Khải Huyền 20:11-15). Vậy, tại sao hiện nay người thanh niên trong lời chứng của Angelica đã chịu hình phạt ở trong hỏa ngục? Trớ trêu là ngay trong lời nói của tà linh mà Angelica gọi là "Chúa Jesus," cũng khẳng định rõ sự phán xét chỉ xảy ra trong ngày cuối cùng, không phải trong hiện tại.

Angelica:

Chúa phán với tôi: "Con đã sẵn sàng để xem điều mà Ta sẽ tỏ ra cho con chăng?" Tôi đáp: "Vâng, thưa Chúa!" Ngài đem tôi đến một phòng giam mà tôi có thể nhìn thấy một thanh niên đang bị khổ giữa lửa. Tôi để ý thấy phòng giam được đánh số, mặc dầu tôi không thể hiểu những con số, hình như chúng được viết ngược. Có một tấm bảng lớn trong phòng giam đó và người thanh niên có số "666" trên trán anh ta. Anh ta cũng có một tấm bảng lớn bằng kim loại được khảm vào da của anh ta. Những con sâu đang ăn anh ta nhưng không thể làm hư tấm bảng; lửa cũng không cháy nó. Anh ta kêu la: "Lạy Chúa, xin thương xót con. Xin đem con ra khỏi chốn này. Xin tha thứ con, Chúa ơi!" Nhưng Đức Chúa Jesus đáp: "Trể rồi! đã quá trể! Ta đã ban cho ngươi nhiều cơ hội mà ngươi đã không ăn năn." Tôi hỏi Đức Chúa Jesus: "Lạy Chúa, tại sao anh ta ở đây?" Rồi, tôi nhận ra anh ta. Trên đất, người thanh niên này biết Lời Chúa, nhưng bỗng nhiên anh ta rời xa Chúa, chọn rượu, ma túy, và đi vào con đường sai trái. Anh ta đã không muốn đi theo con đường của Chúa. Đức Chúa Jesus đã cảnh cáo anh nhiều lần về việc điều gì sẽ xảy đến cho anh. Đức Chúa Jesus phán: "Hỡi con gái, anh ta ở trong chỗ này bởi vì bất kỳ ai chối bỏ Lời Ta thì đã có một thẩm phán. Lời mà Ta đã phán sẽ phán xét anh ta trong ngày cuối cùng."

The Lord said to me, "Are you ready to see what I am going to show you?" "Yes, Lord," I said. He took me to a cell where I could see a young man being tormented among the flames. I noticed that the cell was enumerated, though I couldn't understand the numbers, they seemed to be backward. There was a huge plaque in that cell, and the young man had the number "666" on his forehead. He also had a big metallic plate that was encrusted into his skin. The worms that were eating him, were unable to damage that plate; neither did the flames burn it. He screamed, "Lord, have mercy on me. Take me out of this place. Forgive me, Lord!" But Jesus would respond, "It's late, too late: I gave you opportunities and you would not repent." I asked Jesus, "Lord, why is he here?" Then I recognized him. On Earth, this young man knew the Word of God, but abruptly he walked away from the Lord, preferring alcohol, drugs and walking on the wrong path. He did not want to follow the way of the Lord. Jesus warned him many times on what could happen to him. Jesus said, "Daughter, he is in this place because anyone who rejects My Word already has a judge: The Word that I have spoken will judge him in that last day,"

Điều 18: Hỏa ngục là nơi Chúa dựng nên để hình phạt ma quỷ (Ma-thi-ơ 25:41), không phải là nơi để ma quỷ hành hạ những người bị hư mất. Hiện nay chưa có ai trong hỏa ngục vì chưa đến kỳ phán xét.

Angelica:

Tôi không bao giờ tưởng tượng sẽ nhìn thấy một người thân của mình trong phòng giam đó. Tôi nhìn thấy một người đàn bà đang bị hành hạ. Bà có những con sâu ăn hết khuôn mặt của bà và những con quỷ phóng một thứ như cây giáo vào thân thể của bà. Bà ta kêu la: "Không! Lạy Chúa, xin thương xót con, xin tha thứ con, xinđem con ra khỏi nơi này chỉ một phút mà thôi!"

I never could have imagined seeing a relative of mine in that cell. I saw this woman being tormented, she had worms that would eat her face off, and demons would plunge a type of spear into her body. She would scream, "No, Lord, have mercy on me, forgive me, please, take me out of this place for one minute!"

So về mức độ phạm tội thì ma quỷ phạm tội trầm trọng hơn và nhiều hơn loài người, vì ma quỷ được tận mắt nhìn thấy sự vinh quang của thi

Đọc Tiếp →

A Catholic Nun’s Testimony

Quý bạn đọc có thể dùng Google Translate để dịch bài viết sau đây sang tiếng Việt: http://translate.google.com/#en|vi|

A Nun's Testimony

by
Sister Charlotte Keckler

        I was reared in a devout Roman Catholic home and, although our home contained many religious items, we never had a Bible there. Consequently, I never heard of God's wonderful plan of salvation by faith in the Lord Jesus. No one ever explained to me that I only had to invite Him into my heart and ask Him to save me from all my sins to be born again (Revelation 3:20). Instead, I only knew what I was taught in the catechisms and in the institution which we attended faithfully.
        Unknown Object
        I had a deep love and devotion to the God I did not really know personally and I yearned to give my life to Him completely. According to the teaching I received, the way to do this was to become a nun and enter a convent. My parish priest pressed this idea on me as did the nuns who taught in my parochial school.

        How well I remember the day two nuns from my school accompanied me home. The parish priest joined them there for a conference with my father and mother. In my family, children did not interrupt grown-ups but asked to speak. When given permission I told my father simply, "Dad, I want to go into the convent." Both parents wept for joy at this because they had been thoroughly indoctrinated to believe that to give a child to the convent in this matter was a great service to God.

        They were thrilled that one of their girls had decided to give her life to the convent in order to pray for lost humanity. It was all so exciting and religious, and none of us had any idea what was involved or implied in all this. Tragically, both my parents and I had been cleverly manipulated by carefully trained recruiters, representatives of the Roman Catholic system, whom we trusted. Not for one moment did we suspect the deception, lies and horror which lay behind the convent doors. We believed what we had been taught. Like sheep we were led to the slaughter, totally unaware of the fate planned for us.

        Twelve months went by and the year 1910 came, when I was to leave home. My mother and I busied ourselves with preparations. The priest said that they had no place for me near home; therefore, my parents had to take me a thousand miles crosscountry to enter me in the convent boarding school. I was then three months from my thirteenth birthday, an immature child, being snatched from my parents at a critical time in my growing up.

        Never had I been away from my parents, not even overnight. When they left after staying with me for three days, I was smitten with an aching loneliness and homesickness. In all of the planning for the move, I didn't really realize that I was going to be separated from my parents, never to see them again. I was miserable and unhappy.

        Catholic priests select children at the confessional box and begin to plant the seed to steer them into the convents and the priesthood. Even when I was seven, I would go immediately to the statue of the Virgin Mary when I entered the church to pray, believing she would help me to make a good confession. My childish heart was very honest and the priest always heavily emphasized the absolute necessity of making a good confession. We could keep back nothing if we expected absolution from our sins.

        I entered what was classified as a sister of the open order, until I took my white veil at the age of sixteen and one half. Everything was beautiful, and I had no fears or doubts in my mind. The things I was taught were in line with what I had been told earlier before entering the convent. There was no reason to suspect that there were vast areas which were hidden and had been deliberately misrepresented.

        Shortly after arrival at the convent, I resumed my schooling. I had just graduated from eighth grade and they had promised me a high school education plus college. Actually, I got little beyond the high school level, other than some nurse's training. The schooling I received was under duress and terrible difficulties. Following this, I was pushed into the crucial training required of all noviates entering the convent.

        Six months before I was fourteen, the Mother Superior began to urge me to take the white veil. She made it all sound so glamorous, romantic and fascinating. I would take the white veil, dressed in a beautiful white wedding dress. An actual marriage ceremony would follow and I would receive a ring and become the spouse or bride of Christ. It was not difficult for an impressionable teenager to be swayed into eager agreement.

        Mother Superior then wrote my father to tell him how much money he must send to pay for my wedding dress. Because he was wealthy, it was a sizeable amount. I learned later that it was customary to demand three to five times the cost of the dress. The nuns bought the material and made the dress so that the actual cost was small and the rest of the money could be pocketed. No opportunity was overlooked to milk funds from the faithful.

        I was always devout and often walked the fourteen stations of the cross, but after deciding to take the white veil, my fervency increased. In my anxiety to be holy enough to be worthy to become the bride of Christ, I began to crawl the stations of the cross each Friday. Surely this would draw me closer to God and prepare me to take the step I planned.

        My heart was bursting with idealistic devotion and love toward the false goals I had been taught would please and honor God in my life. Hundreds of innocent girls go down this trail into the maw of the convents annually, starry eyed and desiring to give their hearts, minds and souls in unselfish service, praying for lost humanity.

        With the wedding ceremony behind them, nuns are treated as married woman. We were taught that our family would be saved if we continued to live in the convent, serving the Roman Catholic system. A child's concern for family members, especially erring ones, is often manipulated by the father confessor to convince him/her to go into religious vocations. As a child, I looked on my father confessor as God and others with whom I have talked did the same thing. This gives his insinuations and suggestions tremendous power and influence. I thought of him as being holy and infallible, totally incapable of lying.

        After I took the white veil, everything continued, rosy, religious and beautiful. Everyone was good to me and I lived in the open order convent I saw nothing to lead me to believe it would not continue this way. No girl is subject to the priest until she is twenty-one, but I knew nothing of this for all was carefully hidden and covered. There was no clue to cause one to guess what lay behind the black veil and those double locked doors of the closed, cloistered convent.

        Up until I took the black veil I was allowed to receive one letter per month from my family and was permitted to write one to them from the convent. When I wrote I knew that much of it would be censored and marked out by the Mother Superior who read all incoming and outgoing mail. My letters from home were always so marked out until virtually nothing was left to read. I used to weep over all those inked out sections, wondering and worrying over what my mother had been trying to tell me, but there was no way I could ever know.

        No one imprisoned behind those walls ever comes out to tell the awful story. Priests will glibly pooh, pooh the idea that there is anything amiss. They will tell you that in this country and elsewhere sisters can walk out of the convents anytime they please. That is a lie! I was shut up for twenty-two years and tried everything to escape. I even carried tablespoons to the dungeons and desperately dug in their dirt floors attempting to find a way out. Why a tablespoon? All the other tools were locked up or carefully supervised. They were used to dig the tunnels and underground chambers. Convents are constructed like prisons to thwart the escape of the nuns.

        As I approached eighteen, Mother Superior began to work on me again. Remember that these ruthless women are carefully selected and trained for their jobs. I was making my plans to come out of the convent after taking the white veil to become a nursing sister in the Roman Catholic system. However, she had noted my endurance and devotion so she called me into her office for a conference.

        "Charlotte," she said, "I have been watching you. You have a strong body and the devotion to make a good nun, a cloister nun. I believe you are the type who would be willing to give up home and everything you love in the world to hide yourself away behind convent doors. I believe that you would be willing to sacrifice and live in crucial poverty in order to be able to pray for lost humanity. You would have to be willing to suffer in order to achieve this."

        We were constantly taught that living loved ones as well as those already in purgatory would be delivered sooner by the nun's suffering here. Mother Superior had observed that I was willing to suffer without murmuring or complaining, therefore she broached the idea of my taking the black veil. Of course I had no idea what the cloistered nuns did or how they lived so she began to tell me about the cloisters.

        Mother Superior told me that in the cloisters, I would have to shed my own blood as Jesus did on Calvary. I would have to be willing to endure heavy penances and live in crucial poverty the rest of my life. Already I was living in poverty, but if this would make me holier, draw me closer to God and a better nun, I thought it would be worth it to accept this crucial poverty, whatever it was.

        Two months before my twenty-first birthday I was summoned into Mother Superior's office and papers were shown to me in which I would sign away any and all inheritance I would ever have to the Roman Catholic system. Priests work hard to entice girls from wealthy families into the convents, for the system is enriched by their inheritances. I told her I needed some more time to think about it.

        For two years I seriously considered it. If I took my perpetual vows it would mean going behind closed doors in a cloistered convent, and there all my life would belong to God. It would be one of study, devotion, meditation and prayer; however I would be able to win many more souls to God because I would have more time to pray. I believed and accepted all that she said and one day informed her that I had decided to go into cloister.

        To begin, I would be required to lie for nine hours in a casket, dying to the world. Never again would I see my people or return home, for I would be bound by the cloister's convent. This was a tremendous price for a twenty-one year old girl to pay, to give up all that she loved and held dear in the world, but this had to be done in order to win souls to God. I was dressed in a dark red velvet funeral shroud for this wedding ceremony which was performed by the bishop. Both the dress and coffin had been made by the nuns in the cloister.

        I knew that when I came out of that coffin, I would never see or hear from my family again; never leave the convent; and would be buried there when I died. I walked to the casket, climbed in and stretched out. Two little nuns came and covered the entire casket with heavy black draperies which reeked of incense. I thought I would surely suffocate. On one side of the room were the usual statues and on the other, Mother Superior, the nuns and priests were seated. For the nine long hours I lay in the coffin they kept vigil and chanted constantly.

        The one purpose of being in the coffin was to learn to hate my mother, father and all other earthly ties–all for the love of God. I must forget them, hate them, crowd them completely from my heart, mind and life. All this was to enable me to be a better wife to God.

        Lying there, I reminisced about my childhood at home. I remembered the dresses my mother had made for me, but I would never again wear one. I thought of delicious meals, warm beds, and all of the rich and full family life I had had. Of course I wept bitterly and sobbed as my heart ached for those loved ones I would never see again. It was an agonizing experience and I think I loved them more than I ever had before.

        I wrung out and spilled every tear in my body. It was so hard to give up everything. In my agony and anguish I shuddered and groaned until there simply were on more tears left. After several hours of this, I regained my composure somewhat. I resolved, "Charlotte, you are going to make the best Carmelite nun who ever was, because both inside and outside the convent you always do your very best."

        When the ordeal finally ended, a bell was tapped and two little nuns immediately lifted the black drapes from the casket. When I stepped from it I was ushered into a room where I was to take my perpetual vows of poverty, chastity, and obedience. Mother Superior opened a place in my ear lobe and drew out blood, for these must be signed in my own blood.

        I vowed to be willing to live in crucial poverty for the balance of my life (although I did not know then what this meant). Next the vow of chastity bound me never to legally marry because I was now the wife of God (by virtue of the wedding ceremony performed earlier). Then the one of obedience, the hardest of all. I promised absolute, unquestioning obedience to the Pope, all the prelates of the Roman Catholic hierarchy, to the Mother Superior of the convent and to the rules of that convent. I was totally ignorant of how sweeping these commitments were and had no realistic concept of the things to which I was pledging myself.

        After I had signed all the vows, Mother Superior whacked off all my long hair with the scissors. This was to be sold to the highest bidder, for human hair brings a good market price and they commercialize on everything. (This explains the unbelievable wealth of the church.) After cutting the hair, she took clippers and shaved me bald. For the rest of my life, every two months the clippers would go on my head to shave me bald. The heavy nun's headgear would be very cumbersome if she kept her hair. Besides, there was neither time nor facilities to wash hair in the convents.

        The next step in dehumanizing and disorientation was to take away my entire family name and replace it with the name of a patron saint. As she did this Mother Superior emphasized that, although I was not holy enough to stand in the presence of God, I could always pray to my patron saint and she would intercede to get my prayers through to God. I accepted all this as truth because I did not know any better. Following this if someone had inquired about me at the convent by my given name, they would have been informed that no such person was inside the convent.

        Next, Mother read this statement: "As Jesus suffered here on earth, so must we suffer as nuns. We must live our lives as martyrs in the convent. In the Garden of Olives, Jesus shed 62,700 tears for you and me; He shed 98,600 drops of blood for you and me; He received 667 strokes on His body; on His cheek, 110 strokes; on His neck, 107 strokes; on His back, 180 strokes; on His breast, 77 strokes; on His head, 108 strokes; on His side, 32 strokes. They spit in His face 32 times; pulled His beard many times and threw Him to the ground 38 times. By the crown of thorns He received 100 wounds; pleaded for our salvation 900 times, and carried the cross to Calvary 320 steps." I believed all these religious lies, which years later I learned were the invention of a corrupt Pope.

        The last statement she read said, "You will receive a plenary indulgence for your sins and entirely escape the pains of purgatory. Reward them as martyrs who spill their blood for the faith." She said that if we lived in the convent without breaking a rule, one day when we died we would not go to purgatory but go directly to be with Jesus. What she did not tell us was that it is humanly impossible to live in a convent without breaking rules.

        After the vows were signed all of my personal identification was destroyed. Sixty days before, Mother Superior had laid a sheet of paper in front of me. She said I was not to read it, just to sign at the bottom. I didn't realize then how completely I was signing away any and all inheritances which might ever come to me. They were all assigned to the convent. When my brother was ordained as Roman Catholic priest he also signed everything over to the hierarchy. There is not a lawyer in the land who can break this confiscation assignment, for I have checked it out.

        When I took my perpetual vows and signed away my life and possessions I had sold my soul for a mythical mess of pottage. Not only are the nuns systematically destroyed in body but hundreds have their minds shattered and die premature deaths under the cruel and heartless convent bondage. To make it even worse the poor creatures sacrifice all of this and then go out to meet God, Christless and lost for all eternity. How we need to pray for those closed off from the world and the gospel all over the world in these terrible prisons called cloistered convents.

        Mother Superior next locked her arm in mine and we walked down the center of another room. A Roman Catholic priest, dressed in holy habit, came to meet us from the other end of the room. When we met, Mother dropped my arm and the priest stepped around and attempted to lock his arm in mine.

        I recoiled in horror at this intimacy, for never, in all my years in the convent had a priest ever approached me like this. Always they had been kind, considerate and very polite. Something about the familiarity of his touch and the lecherous look in his eyes repulsed and insulted me although I did not understand exactly why. I jerked loose, blushing with embarrassment and exploded, "Shame on you." I felt violated and threatened. He turned red in the face and became very angry at my rejection of his overtures to lead me to the "bridal chamber."

        Evidently Mother Superior overheard the exchange for she quickly returned, called by my church name, and informed me that after I had been in the convent a while I would not feel this way. She said all nuns felt the same in the beginning and sternly reminded me of the wedding ceremony I had gone through and of my obligation. She said a priest's body was sanctified and what they did was not sin. I was terrified, and sobbed hysterically, my mind reeling and I refused to accept what she said.

        She became very angry and stiffly said, "As the Holy Ghost placed the seed in the Virgin Mary's womb and Jesus Christ was born, even so the priest represents the Holy Ghost, therefore it is not a sin for nuns to bear his children."

        I could scarcely believe my ears. I had been deceived and it was too late to turn back! This ghastly statement made me frantic. When she finally gave me permission to speak I burst out, "Mother Superior, why didn't you tell me this before I took my perpetual vows?" She pursed her lips tightly but said nothing.

        Needless to say, I was in a state of numbed shock and horror at what she was saying. It was like an unbelievable nightmare. All my bridges were burned and there was no way back. I could not get out of the convent. Hysterically, I sobbed and told the priest that I wanted to go home. I begged him to call my father to come and get me. I did not want to go any further with this. All my illusions had been shattered and I could not bear the picture which was looming up before me.

        I related how three months before I left home to come to the convent (at age 13) my mother told me she would rather dig my grave with her own hands and bury me than to hear that I had lost my virtue. Because I knew nothing of sex, she had then explained it to me. When I related this to Mother and the priest, they stood and laughed at me like fools. They found my naivety and innocent gullibility hilarious.

        When this sort of betrayal happens I can tell you that you stand absolutely alone. Communication with your loved ones and friends has already been cut off. Sealed off, you have no one to understand or help and soon the numbing realization of the utter hopelessness of your situation sets in. It is like waking up and finding that an unbearable nightmare is not a dream but a dreadful reality.

        I now belonged to Rome and the Pope and Mother Superior had turned me over to a lustful priest who leeringly invited me to join him in the "bridal chamber." I did not enter the convent to become a bad, but a holy woman, by giving my heart and life to God. I firmly rejected his sexual advances and was strong enough to put up quite a fight had he insisted. I was prepared to struggle to my last drop of blood to preserve my virtue.

        When I signed those vows with my own blood I did not realize the enormity of what I had done. I had surrendered away every human right, in order to become a mechanical, robot-like person. From henceforth I would not be able to sit, stand, or speak without permission. I could not lie down, eat or do anything else unless authorized by my superiors. I was allowed to see, hear and feel only what they permitted and ordered. I had become a helpless puppet of the Roman Catholic hierachy.

        The next step was my initiation and for this I had to go to my convent. They had my passport all signed and tickets ready to ship me out to a foreign country. Two priests met us at the boat and we were taken, heavily veiled, out into the mountains to be put in a cloistered convent, one story underground. (Of course when the priest sat in our living room at home he never told my dad I would live for years one or two stories underground in a foreign land).

        I faced initiation penances, so after three or four days at the new convent, about 9:00 o'clock one morning the Mother Superior told me to come with her. She told me were going to do penance and I would begin my initiation as a Carmelite nun. I remember when she walked me down that dark tunnel and into the room one story below ground level. I had always lived on the first floor, but after taking the black veil I was to live one or two stories underground. When we entered the cold, dark room it was hard to see, for all the light came from seven flickering candles. I was frightened and apprehensive, not knowing what to expect, nor what she planned to do to me.

        As we came closer, I could make out a nun lying on a board six feet long (a cooling board). I realized with a shock that she was dead. Although I was not afraid of the dead nun my heart ached for her. When I signed those perpetual vows I had unknowingly signed away every human right. I was not allowed to see, to hear, to complain, to feel or to murmur. I had ears but was to be deaf; eyes but must not see; feelings but soon would be brainwashed so they would be blotted out. As I stood looking at the body, many thoughts and questions raced through my mind but I was bound to silence. How and why did she die?

        Mother Superior ordered me to stand vigil over the dead body for one hour, then she went away. I was required to walk over to the frail body frequently, sprinkle it with ashes and holy water and say repeatedly, "Peace be unto you." In an hour a bell was to be tapped somewhere and out of the mysterious darkness behind me another nun came to relieve me. Because she was barefooted on the dirt floor there was no sound. We were forbidden to speak, therefore my relief reached out and touched me on the shoulder. I leaped with fright and began screaming hysterically at the top of my voice.

        This loss of control meant I must be punished by being tossed into a dark and dirty dungeon. There I lay for three days and nights, without food or water, just because I had shrieked in fear – a terrible crime. I assure you I never screamed again. You learn fast in a convent to observe the rules.

        On the fourth day, again Mother Superior told me we were going to do penance and we went deep under the convent into another dark chamber. We started through the tunnels (there were 35 miles of them under this convent) and, other than candles, there was no light in the rooms we passed. She marched me into a large penance chamber, arm in arm, on our toes, with downcast eyes.

        In the flickering candlelight I saw the usual statues of Jesus and Mary in the room. There was also a large eight foot cross, made of heavy, rough timber, lying on its side. She took me near the foot of it and proceeded to strip my clothes off down to the waist. Then she bent my body down over the cross, pulled my hands down below it and fastened them securely to my knees, under the cross.

        This was where I was to begin to spill my blood as Jesus had shed His on Calvary. I had been told earlier that I would shed my blood for lost humanity, but they never gave me any idea of how this would be accomplished. Now I was to learn one of the many ways this was to take place. Two other nuns were given flagellation whips fashioned from six leather straps fastened to a wooden handle. In the ends of the thongs were embedded a number of sharp, jagged bits of metal. They began to flog me methodically with these cruel instruments until my bare flesh was thoroughly lacerated from hundreds of cuts and my blood ran all over the floor.

        Twist and writhe as I might, there was no escape from the relentless, fiery bite of the ruthless whips. Let me tell you they did a thorough job on me and I was aflame with awful pain and agony. Sobbing and screaming did not stop them, nor were they affected by pitiful cries for mercy. They were well trained and utterly heartless and I was swallowed up in a sea of pain and awful despairing. It was unbelievable, yet it was happening. I thought the beating would never stop. I was helpless and totally without defenses.

        Mother Superior released my hands from my knees after I had slumped into a moaning, suffering heap and she was satisfied I had spilled enough blood for this time. She drug me to my feet but did not bathe me nor treat the mass of bleeding wounds on my body. She simply pulled my clothes back on and I was forced to work all day, until 9:15 that night. Needless to say, the day was one of agony, but no one seemed to notice. with a sickening horror I realized the meaning of the teachings I had received that God is made happy by this penance and other sufferings. This was supposed to make us holier.

        That day was a living hell for me, but this was only the beginning of hundreds of such days. When night came I stood in front of my cell bed where we were required to undress, with our backs to each other. I could not remove my clothing. The garments stained with blood had dried and were stuck tightly to my gaping wounds. It was several nights before I could take them off, and then it was an agonizing and bloody procedure. At mealtime I was not hungry because of the terrible misery I was suffering.

        Ordinarily I would have undressed and have slipped into a muslin nightgown, and then enter my cell to be locked in for the night. For a bed we had only a slab of wood–no mattress, springs, pillow or blanket. Before we were permitted to lie down we were required to kneel on a penance prayer board. This contained hundreds of upright, sharp wires to pierce the knees. The upper section where we were to prostrate ourselves upon our arms was also a mass of sharp wires.

        Another day the Mother Superior took me through a long, dark tunnel hall for my next initiation penance. As we entered the chamber, again there were seven candles. As she marched me up under the candles I spotted some ropes dangling from the ceiling with some sort of metal clamps on the ends. She made me stand very close, facing the wall and extending my arms in the air. Quickly she snapped the metal bands securely around each thumb. She then stepped to one side and began to turn a crank which took the ropes straight up until I was slowly hoisted from the floor. When I was suspended on the tips of my bare toes she fastened the handle, walked out without a word and slammed and locked the door. The weight of my body on those thumbs and my toes was excruciating.

        I was already whimpering and moaning in misery. I had no idea how long I would stay there. Always in these things, you hung there wondering if you might die before they came back to free you. In the white heat of the waves of unbearable pain which wrack the body and mind, death would be a blessed way out.

        As hours stretched interminably into days and nights there was no way to calculate how long you had been there. There was no sun; no sounds other than your own fevered sobbings and screams. It was like being buried alive without food or water. Torment and delirium causes you to loose track of reality and nothing seems real except the ever present torture and pain.

        This was another part of their brainwashing technique. I could do nothing but to stand there, screaming and crying. No one would hear or help me or even care. Three, four, six and finally ten agonizing hours crept by and every bone, muscle and nerve in my tortured body was screaming for relief. The maddening, unending pain is indescribable and I also grew hungry and thirsty. When my hands and arms began to swell tightly I believed I was going to die.

        I had desperately prayed to all the statues in the room. Eventually I realized the Virgin Mary was not hearing a word I sobbed. Hysterically I shouted and pleaded for help from my patron saint; from St. Jude, St. Bartholomew, and every other idol or saint I could ever remember hearing about. I was surrounded by an unearthly silence, broken only by my own fevered screams and groans and the sputtering candles.

        There I hung, wracked with pain and saturated in my own human filth, for there was no break in the torture regime for toilet facilities. Just as I felt I was going completely insane, Mother Superior walked in. Directly on the wall in front of me was an adjustable shelf which she raised to the level of my face. On it she placed a pan of water and a pan containing one small potato.

        I was starving for water and food but how was I to get it? Painfully I scooted on my toes, tilting first one arm, then the other, straining to reach the pans. When I managed to reach them, I felt the tissues in my lungs tearing with terrible pain. As a matter of fact, many nuns contract tuberculosis after going through this torture. However, only by enduring such pain and strain could I manage to get water or food. I bumped and spilled most of it.

        Nine days later Mother Superior came and released first one thumb and then the other and I collapsed in a faint to the floor. My limbs were swollen and shrieking with pain. My eyes felt as if they were being pushed out of my head and my arms were swollen to three times normal size. No part of my anatomy was free from the throbbing pain and soreness.

        Of course I could not move. Two nuns picked me up by the shoulders and feet and took me, moaning incoherently, into the infirmary and laid me on a slab of wood. They cut off all my clothes for I was saturated with my own urine and bowel movements. This was another part of the carefully planned brutalization and dehumanization program, designed to produce mindless robots. Following this episode I could not even walk for two and a half months and would have been happy to die.

        One day I was called out and again marched down those dread tunnels, not knowing what misery and pain I faced. She marched me into a room with a straight chair with a high back. Pushing me down into the chair, she then removed my headdress and shoved my head forward in my lap and placed my hands on my knees. Quickly she fastened my head and wrists in stocks so I could not move. This done she positioned a faucet directly over my bare head and adjusted it so that it began on my head, a drop at a time.

        I cringed in anticipation for I had witnessed others who had been subjected to this for ten long hours. After a short time the drops hitting in the same spot will break the strongest person. Often I and others would writhe and twist against the binding of the stocks, desperately trying to escape that pounding drop of water, even foaming at the mouth. Screaming and crying is never absent from these horror holes, deep under the ground, where no one with an ounce of humanity or compassion will ever hear. Pleas for mercy only bring longer and worse penances.

        Many a nun has gone stark raving mad after being repeatedly subjected to this penance. Do not worry, the convent takes care of this too. The world outside will never know the truth. There are underground dungeons for those who have nervous or mental breakdowns. There will be reports and records of the nun and how she died, all lies.

        You must realize that this entire religious structure is based on lies and deception and it is small wonder that at all costs, even human life, the hypocritical cloak of righteousness of the Roman Catholic system must be maintained. They will stop at nothing to protect it. Slander, lies, frame-ups, changing and destroying documents, injury and even murder are standard and acceptable procedure. The average person with a conscience and some sort of moral code will struggle to grasp the enormity and inhuman demonic intelligence which drives this religious monster.

        Once I was taken to one of the filthy dungeons with dirt floors. I then had my ankles fastened securely to leather straps in the rings at the top of rods mounted in cement. I was standing with my feet in those rings until my strength failed or I fainted. When that happened I just crumpled over with my chest touching my ankles. After getting to a certain stage of pain and exhaustion there is nothing you can do. I must then stay in this cramped position for two or three days, depending on the whims of my tormentors. No one will come and there was no food, water, or toilet facilities. Bugs crawled over my body.

        It is no wonder there is such a cry against such horrors being uncovered and revealed.

        The loneliness in the convent is inhuman and cruel, for there are no friends there. Everyone is set up to spy on everyone else and the slightest infraction of rules brings instant and harsh punishment. There were on friendships among the nuns. Suspicion and separation was the order of the day for convent living. We were taught to trust no one and depend upon no one, by a methodical and systematic isolation. The victims could never be allowed to unite to do something about conditions.

        Communists followed a similar program in Korean prisoner-of-war camps to prevent any closeness or cooperation between the inmates. Each nun is taught to be a policeman to watch and inform on all others. Betrayal of others causes the informer to be in good standing with Mother Superior. Her approval is desired so strongly that often the sisters make up and exaggerate things in order to gain this kind of favor. Absolute obedience in everything is demanded in the convent and you are wise to learn to obey quickly and without question.

        Each time I came in my cell I was required to kneel there, praying for lost humanity, while I suffered and shed more of my blood. Only after this could I lie down on the slab which served as a bed. Promptly at seven minutes before midnight a bell was always tapped and cells unlocked so we all could gather in the inner chapel to pray another hour for lost humanity. At seven minutes till one o'clock we returned to our cells to be locked up again until 4:30 a.m. At this time a bell was tapped and we had exactly five minutes to get dressed and report for duty, barefooted. This is a daily routine. To be late in dressing brought severe punishments.

        Each night at 8:00 p.m. we were required to go down a long, dark hall to do a penance in the meditation room. Located there was a tiny room about four foot square, which contained a human skull and candle on a small table. We were to slip to our knees, gaze into the skull and meditate for one hour on death. When this hour was over, a bell was tapped and we returned to our cells where we dropped all our clothes. We then took three interlaced chains with sharp edges (which hung in our cells) and began to lay stripes on our own bodies in imitation of the stripes of Christ on earth.

        Sometimes, because of lack of food and strength it was difficult to lay on many stripes. If Mother Superior suspected this, she would order you to strip and have two other nuns to whip you viciously. Following this you would lose all desire for your coffee, bread, or anything else for a few days, because of being in such misery.

        This was cloistered convent life, where a merciless system of brainwashing was employed, just as Russia does in the concentration camps. It is exactly the same brutal barbarism, but Rome rides under the banner of religion while communist Russia is openly atheistic.

        In the refractory where our meals were served, were two long wooden tables and each nun was assigned a certain place to sit. No one ever sits in another's place. For breakfast we were given only a big tin cup of strong black coffee with a piece of black bread which weighed exactly four ounces. Although we worked very hard all day there was no lunch, and about 5:00 p.m. we would gather again in the refractory, if we could walk under our own power.

        For supper fresh vegetables were cooked together, making a tasteless, watery soup, without seasonings of any kind. This was served in a pie tin with two ounces of black bread and a tin cup of strong black coffee. Two or three times per week we were given one-half glass of skim milk.

        This was our monotonous diet, 365 days per year. The only exception was Christmas day when we were each given one tablespoon of molasses. My, what a delight that was, and we ate it very slowly, savoring each drop. All year long we looked forward to this treat.

        With the limited food rations, three hundred sixty-five days per year, we never went to bed without gnawing hunger pains. For years I would roll and toss at night, unable to sleep, and wondering how much longer I could endure this continued torment. I assure you that it is sheer misery to live on the brink of controlled starvation constantly. Of course starving persons are weaker and can be more easily coerced and forced into every form of degrading obedience and subservience. This was executed with fiendish delight and a definite purpose to crush the human spirit.

        With such a horribly restricted diet, torture, bloodshed and long, hard hours, it is little wonder that bodies fail and become sickly and many nuns die young in the cloistered convents. Remember there are cloistered convents in the United States.

        In preparing vegetables, potatoes were boiled with skins on and peeled after cooking. Once while on kitchen duty, I was throwing a pile of these potato peelings in the garbage. I was so hungry I quickly snatched two handfuls from the can and hid them in my clothing. I told no one, for in the convent everyone is watching each other and there are informers everywhere who betray others. That night, in my cell, greedily I gobbled down the potato skins because I was so starved.

        The next morning at 9:00 sharp Mother Superior announced with a smirk that I was to do penance and I knew this was not a regular penance day. With sinking heart I went with her to one of the torture chambers. It was a huge room with the usual seven candles. When she tapped a bell, two little nuns appeared, quickly binding my hands and feet together. Mother then ordered one to pinch my nostrils tightly so that I was forced to open my mouth to breathe. She then dumped a heaping tablespoon of hot cayenne pepper in my mouth and I had to choke it down in order to breathe. For two days after this I was plagued with itching, burning hives all over my body. This, for eating a bit of garbage!

        Another time I saw a piece of bread lying on a table, and watched it for several days. Finally I took the bread, ate it in my cell, and the next morning Mother Superior again said we were going to do penance. Somehow she found out about the scrap of bread. This time I was taken to a room with a square table and was made to stand at the edge with my hand and wrist strapped on a board.

        It was very dark and my eyes adjusted slowly in the dim light. She moved over to one side to manipulate some sort of control and suddenly another heavy board smashed down on the hand and wrist. The blinding pain caused me to slump to the floor, but I could not get loose and was dangling by the helpless, injured hand. Stealing even a mouthful of stale bread was treated as a heinous crime and drew swift and cruel retribution.

        As the years dragged by I learned to use a hammer, saw, shovel and anything else a man normally does. We worked very hard, performing heavy manual labor, digging out underground rooms and tunnels, building walls, plastering, etc. Often we were two, three or four miles back in the tunnels. Sometimes we wondered if we even had voices because of the strict rule of silence, and would speak in whispers to each other. The very next morning Mother Superior would call the offenders out and say, "You are going to do penance." We wondered how she could have heard us. One day we learned that all thirty-five miles of tunnel under the convent were wired so she could hear every whisper.

        Working back in the tunnels we listened for the tap of the bell which signaled us to come in for meals. Sometimes, due to fatigue or distance we would arrive late. Because each was in her own place, it was obvious who was tardy. When this happened, we had to ask a nun to hand us our tin cup, pan and tablespoon. We then had to crawl behind each nun, begging for one tablespoon of her food. After crawling to each one, the offenders sat on the floor to eat. This is supposed to humble them by breaking their wicked pride, and also to promote promptness.

        Our day in the convent began at 4:30 in the morning when Mother Superior tapped a bell. This signal meant we had exactly five minutes to get dressed. In the beginning I was late a half a minute, but the punishment was so severe for this minor infraction of rules that I never was late again. Raw terror and cruel punishment bring absolute and unquestioning obedience in the convent to every rule and order, no matter how unreasonable or trivial. Lies and deceit covering and concealing such infractions to avoid the dire consequences become a way of life for the nuns.

        When we finished dressing, we would march on tiptoes, with downcast eyes, to report to the Mother Superior. There she assigned us our daily chores. These could be scrubbing, washing clothes, ironing, cooking, or other heavy and hard labor assignments.

        Washing was done in twelve old-fashioned washtubs with rubboards. We ironed with cast iron flatirons, heated on a stove. Not only did we do the laundry and ironing for our convent but the local priests were free to load us with all of their linens and clothing, which they did. After all, the service, performed by slave labor, was free to them.

        Down in the laundry room there were rough cement floors and the heavy washing in twelve tubs caused a lot of soapy water to be sloshed on the floor. We walked around in our bare feet because shoes and stockings were a luxury we were denied in the convent. Suddenly Mother Superior would glide up, terrifying everyone because there is no way to know why she had come. When she made such an appearance, someone invariably had to suffer. Because things were done so quietly in a convent, we learned to sense her presence before she arrived.

        One of her favorite tricks in the laundry room was to order one or more nuns to prostrate themselves on the cold, wet, soapy, floor. This done, with a cruel sneer she would order that the victim lick long crosses on the rough cement with her tongue. She watched intently to see if there was the slightest flicker of anger, distaste or hesitation on the face of the one forced to lick the crosses. If she did, she would assign ten to twenty-five more crosses to be done. Believe me, the tongue was always raw and bleeding before she was satisfied, and the victim would be unable to eat or drink for a day or two because of the mangled tongue. Many times Mother would return the very next day, seize the same victim and force her to repeat the crosses again.

        Hard manual labor was advocated as a good physical discipline. In our emaciated condition because of the constant torture and systematic starvation we were driven and kept in a state of chronic fatigue and exhaustion. We were property of the Pope and the system, to be worked to death for their pleasure. All the crying and pleading we did would never be heard by anyone who would lift a finger to help us.

        Another favored punishment was to compel us to crawl up and down an aisle ten times, upright on the knees. After I made it five or six times my knees were killing me. Drained of strength, I could not continue but collapsed in a faint. Mother Superior shook me roughly, pulled me back on my knees and commanded me to resume crawling. Desperately I tried to finish my assignment. The next day she might order me to do the same thing again and this would rip off the scabs from my injured knees, further bruising and tearing them.

        This is typical of torments and tortures to which the little nuns are subjected day after day, year in and year out. There is no mercy, only heartless cruelty and this multiplies and reinforces the dreary hopelessness and despair which grips the entire cloister.

        Continually we were told that doing such "penance" was pleasing and brought happiness to God, Who looked down on our misery and suffering, and smiled His approval. Although this was hard to believe, heathens who know no better simply believe what they are taught. Never having read the Bible, we had no way to learn the truth.

        Most of us were reared in Roman Catholic teachings and traditions and snatched away from family and friends at an early age. It took a while for the awful truth and scope of the deception to soak in. When it did, it produced atheists who hated anything associated with God or the saints. Vicious hatred and violence then floods the disillusioned and embittered heart.

        There was no bath tub in this convent, only a metal, horse watering tank and we were only permitted to have a bath when Mother Superior ordered it. Even when bathing I wore my scapular, although I shed all my other clothes. We were taught that the first Saturday after the death of a Roman Catholic the Virgin Mary descends into purgatory. Whoever she finds there wearing a scapular, she will release. I was bound by these and other religious fables and lies, but did not know any better. I was taught to accept as truth everything Mother Superior said.

        In the convent there was a huge painting in a certain room which depicted all horrors of tormented men, women, children and even babies in the awful flames of purgatory. The agony and misery was so graphically portrayed that it actually seemed real. We were marched in on occasion to meditate on the tortures of the damned for a long period. After this session Mother Superior would address the nuns and say that they had better go and work another penance on their bodies, because those poor people were begging to escape the awful burning flames there.

        There were many days when I would deliberately burn my own body and spill some more of my blood because of my conviction that as I suffered it would help these miserable people to be delivered. I often say that if the mass and purgatory were taken from the Roman Catholic system it would eliminate 90% of her income and she would starve to death. This evil Babylonian system drains both the living and the dead for funds to finance her cancerous spread throughout the world.

        The nuns cells were bare except for a statue of the Virgin Mary holding an infant Jesus. As I dropped on the sharp wires which lined the prayer board and prostrated my arms on still other penetrating wire, I would pray earnestly for lost humanity. I had been taught that my suffering and bloodshed would help to save them. I believed that my poor old grandmother would be released sooner from purgatory (our family priest had assured us she went there at death) because of my sufferings. Often, in spite of the misery, I was spurred on to continue in this painful posture longer, fervently hoping to speed her release.

        We were taught that for every drop of blood we shed in the convent we would have 100 days less to spend in purgatory. When nuns worked in the kitchen or other places underground they often wounded themselves to spill blood for this purpose. We had it hammered into our thinking that, as we spilled our own blood, as we whipped and lacerated our bodies, tortured and tormented them, we were gaining indulgence for ourselves and others from purgatory. Remember there is no hope in a convent; nothing to look forward to except continuous pain, exhaustion, starvation and finally death. (Leviticus 19:28).

        To those who have been taught the truth of salvation through faith in Jesus Christ and know of the marvelous grace of God, it may seem incredible that anyone could be so deluded and ignorant. I remind you that if you had been taught nothing else all your life and, if as an impressionable child you had been spirited away to be brainwashed and finally imprisoned in a convent, you would not know any better either.

        It took ten terrible years in the convent before I finally realized the awful truth that I had been duped. I was finally convinced that the Virgin Mary, Jesus, Joseph, St. Peter, and all the other saints were simply unfeeling metal, wood or plaster statues. It was a shock when I knew they could do nothing to answer all the fervent prayers poured out to them by faithful and deluded people all over the world.

        It is surprising how tenacious my faith in all those false idols was. How long it took to really realize the bitter truth about them and the deception in which we had been snared. Bitterly, I came to believe that, if there was a God, He certainly either was dead or cared nothing about humanity. Oh, the hours I and others have spent in earnest, sobbing prayer at the feet of these dumb statues. (Jeremiah 10:19).

        One regular monthly event we always dreaded was the visit of the father confessor to the convent. Each time it was a different priest but they were all basically the same. I hated going and always attempted to get in the back row. I lived in a convent so long that I would never trust any priest. All of the ones I met were rotten and vile. The ordeal of confession sometimes took all day. One by one the nuns had to file in to the room where the priest was waiting. Never did I see a priest in the convent who had not been drinking.

        The room was bare except for the inevitable statue of the Virgin Mary. The priest perched in a straight-backed chair and the nun must come in and kneel before him. If she got out without being defiled and forced into some unspeakable depravity she was fortunate. No one ever interrupted the priest and the woman, no matter what transpired. One after another the nuns would enter and leave the room.

        At other times it was not unusual for the Mother Superior to usher in a drunken priest who would pick out a nun and take her to a cell with him for more liquor and sex. The Mother Superior was a hard and carnal woman who had borne numbers of illegitimate children of priests and usually she drank with the visitors. The priest was well fed, healthy, and strong and lived a relatively easy life; therefore a poor, weakened nun was no match for him, to fight him off. Because she was helpless, he did whatever he pleased and violated her any way he chose. There is no one to defend or help her and none to even care about her being forced into harlotry. Because Mother Superior locked the cell there was no way to escape.

        Often I have

Đọc Tiếp →

Huyền Bí Vatican, Sự Hiện Ra của Bà Ma-ri Đã Bộc Lộ

Nguyên tác: “Vatican Occult, Marian Apparitions Exposed” trong YouTube, của Kyte Cutter

Chuyển ngữ: Mã Thiên Ân

Phép lạ thật là có sức mạnh khủng khiếp đã lôi cuốn con người còn hơn cả những lẽ thật trong Thánh Kinh. Sự hiện ra của bà Maria đã lôi cuốn hằng triệu người trên thế giới thờ lạy bà, nhất là những người không hiểu biết lẽ thật trong Thánh Kinh, hoặc có thể bị phép lạ của bà hấp dẫn quá nên đã lôi cuốn khiến họ quên đi lẽ thật. Những nơi bà hiện ra hằng năm có hằng triệu khách hành hương đến thăm viếng và xin dấu lạ của bà. Có nhiều người đã nhận được phép lạ và về làm chứng cho mọi người nghe. Ai núp sau bức tuợng của Maria ? Chắc các bạn đã đoán ra ai rồi, phải không? (Người dịch).

Sự hiện ra khắp trên thế giới và những dấu kỳ phép lạ của bà Maria đã lừa dối Giáo Hội Công Giáo La Mã và hằng triệu người trên thế giới (trong đó có cả Vietnam).

Giáo hoàng Giáo hội CGLM thuộc về chế độ Tân Thế Giới đã xúc tiến Hòa Bình Thế Giới vào tháng giêng năm 2004. Tại thành phố Vatican, Giáo hoàng Gio-an Phao-lô đệ nhị vào đầu năm đã nhấn mạnh rằng hòa bình có thể thực hiện, và ngài kêu gọi thành lập một chế độ Tân Quốc Tế. Tờ CNN nói: “Giáo hoàng kêu gọi thành lập Chế độ Tân Thế Giới vào thứ năm, ngày 1 tháng 1 năm 2004.

Tại thành phố Vatican, Giáo hoàng Gioan Phaolô đệ nhị đã kéo chuông vào đầu năm mới với lời kêu gọi hòa bình Trung Đông, Phi Châu và thành lập một chế độ Tân Thế Giới dựa trên căn bản phẩm giá con người và bình đẳng giữa các quốc gia. Năm nay GH tiếp tục nhắc đến sự xung đột quanh địa cầu, nhưng ngài nhấn mạnh về hòa bình và chú trọng việc thành lập luật pháp quốc tế và chế độ Tân Quốc Tế dựa trên những mục tiêu của Liên Hiệp Quốc. Ngài đã kêu gọi thực hiện một chế độ có thể giải quyết những nan đề hiện nay dựa trên phẩm giá con người và một xã hội phát triển, để củng cố các quốc gia giàu và nghèo, chia xẻ những tài nguyên, và thành quả của khoa học kỹ thuật.

Làm sao họ có thể đạt được điều này ? Nhờ vào dấu kỳ phép lạ của bà Maria chăng ?

Còn về phần Đức Chúa Jêsus là ai và làm gì ? Thánh kinh nói rằng:

  • Đức Chúa Jêsus gánh tội lỗi cho chúng ta (Ga-la-ti 3:13; I Giăng 1:9)
  • Tiếp nhận Đức Chúa Jêsus, chúng ta không còn bị Thiên Chúa đoán phạt (Rô-ma 8:1)
  • Đức Chúa Jêsus đã vì mọi người mà nếm trải sự chết (Hê-bơ-rơ 2:8,9)
  • Đức Chúa Jêsus trở nên người tội lỗi vì chúng ta để chuộc tội cho chúng ta (II Cô-rinh-tô 5:21).

Theo Giáo hội Công giáo La Mã, nếu ai không nhờ vào bà Maria thì sẽ bị hư mất.

Bà Maria được gọi là Cửa Thiên Đàng, không ai có thể vào Vương quốc đó mà không qua bà. Con đường cứu rỗi duy nhất chỉ qua bà Maria mà thôi. Khi đọc kinh cầu nguyện, người Công giáo nhắc đến bà Maria nhiều nhất.

Trái lại Thánh Kinh khẳng định rằng: “Vì chỉ có một Thiên Chúa và chỉ có một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người là Đức Giê-su Kitô cũng là người thật.” (I Ti-mô-thê 2:5) Và “Thầy là đường lối, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Cha, nếu không qua Thầy.” (Gio-an 14:5b) Hai câu KT trên trích từ Bản dịch Tân Uớc của Hồng y giám mục Trịnh văn Căn.

Theo Công giáo, sự cứu rỗi tất cả tùy thuộc vào ân huệ và sự bảo vệ của bà Maria. Ai được Maria bảo vệ thì được cứu, còn không thì bị hư mất (CG gọi là mất linh hồn).

 Họ nói:” Sự cứu độ của chúng tôi thuộc về Mẹ…Thiên Chúa sẽ cứu chúng tôi qua sự cầu thay của Mẹ Maria..”

Trên thế giới có hai phía đang thành hình:

  • Một phía nói rằng: “Mẹ Maria cứu chúng tôi”.
  • Còn phe theo Thánh Kinh nói rằng: “Đức Chúa Jêsus cứu chúng tôi.”

Bạn theo về phía nào, theo Phúc Âm (tin lành) đời đời hay theo sự hiện ra của bà Maria ?

Nhà thần học Karl Rahner đã bày tỏ, càng lúc thiên hạ càng sẵn sàng tiến về sự can thiệp của thần thánh có hiệu quả thực tiễn và dễ tin hơn là đi theo sự dạy dỗ của thần học sáng suốt và Hội Thánh. Những sự hiện ra của bà Maria xảy ra khắp nơi trên thế giới, và những phép lạ của bà như là Mẹ Chảy Nước Mắt, Mẹ Chảy Máu, Mẹ nhấp môi, Mẹ Vỗ Tay, Mẹ Chớp Mắt, Tà áo Mẹ bay bay….và ngay cả Mình Thánh Chúa Giêxu cũng chảy máu nữa…đã lôi kéo hằng triệu người thờ lạy bà.

Thánh Kinh cho chúng ta biết, vào thời kỳ cuối cùng Ma quỷ sẽ làm ra những dấu kỳ phép lạ để thiên hạ hiếu kỳ mà chạy theo thờ phượng nó:

     “Vì nhiều Ki-tô giả (Christ giả) và tiên tri giả sẽ xuất hiện, họ sẽ làm những phép lạ to lớn khả dĩ lừa dối, nếu có thể cả những kẻ lành nữa (người được cứu) Tin mừng theo Thánh Mathêu 24:24 Bản dịch của Hồng y Trịnh văn Căn.

     “Chúng là những linh của Ma quỷ làm được các phép lạ đến cùng các vua trên đất của toàn thế gian để nhóm họ lại trên chiến trận vào ngày lớn của Đức Chúa Trời, Đấng Toàn Năng. Phước cho kẻ tỉnh thức và giữ áo xống mình, để không bước đi lõa lồ, và bị người ta nhìn thấy sự hổ thẹn mình ” (Khải Huyền 16:14, 15 Bản dịch Ngôi Lời).

Tóm lại phép lạ là thứ dễ dàng cám dỗ người ta nhất, nếu họ không nắm chắc được lẽ thật trong Thánh Kinh đã báo trước cho mình đề phòng sự lừa dối này. Kẻ không biết lẽ thật có thể cho rằng những phép lạ đó đến từ Thiên Chúa, rồi thờ lạy Thiên Chúa qua kẻ làm phép lạ. Riêng tôi khi nhận thấy phép lạ do Ma quỷ làm thì tôi lại càng tin chắn có một Đấng Chân Thần mình đang trông đợi về sống với Ngài hưởng phước hạnh đời đời.

                                                                                        Mã Thiên Ân phóng dịch

Đọc Tiếp →